1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2

7 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 409,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ, mức độ rối loạn chức năng tâm tương thất trái trên bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu tiến hành trên 227 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đến khám tại Trung tâm Y Khoa Medic thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011.

Trang 1

TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI  

BỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 

Nguyễn Văn Tân*, Trần Ngọc Mạnh* 

TÓM TẮT 

Cơ sở: Rối loạn chức năng tâm trương thất trái là một yếu tố nguy cơ dẫn đến suy tim tâm trương, là một 

yếu tố dự báo diễn tiến nặng của bệnh tim mạch và tử vong trong dân số chung. Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường  (ĐTĐ) ngày càng gia tăng, trong đó có gia tăng theo tuổi. Ở người cao tuổi bị bệnh ĐTĐ, khả năng có ảnh  hưởng trên tim mạch rất cao, trong đó có chức năng tâm trương thất trái. Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử  dụng siêu âm Doppler mô để đánh giá chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh ĐTĐ típ 2. 

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ, mức độ rối loạn chức năng tâm tương thất trái trên bệnh nhân cao 

tuổi bị đái tháo đường típ 2. 

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, cắt ngang mô tả trên 227 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đến khám tại 

trung tâm  y  khoa  Medic  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  từ  tháng  11/2010  đến  tháng  4/2011  và  được  chia  thành  2  nhóm: nhóm nghiên cứu (n=150, nhóm I) là những bệnh nhân ≥ 60 tuổi được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 có hoặc  không có bệnh tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ đi kèm; nhóm chứng (n= 77, nhóm II) là những bệnh  nhân ≥ 60 tuổi không có bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch, đồng ý làm siêu âm tim. 

Kết quả: Tuổi trung bình trong 2 nhóm nghiên cứu là 67,58 ± 6,6 (nhóm I), 68,16 ± 6,16 (nhóm II). LVMI 

(g/m2) trung bình trong nhóm I là 77,30 ± 20,69, nhóm II là 62,64 ± 14,65 (p < 0,001); vận tốc sóng A tăng  (86,91 ± 10,5 ở nhóm I so với 82,92 ± 11,5 ở nhóm II với p = 0,012). Nhóm bệnh có sự giảm vận tốc sóng e’m  (7,39 ± 1,95 so với 8,23 ± 1,95, p = 0,003) và tăng tỷ số E/e’m (9,75 ± 2,74 so với 8,86 ± 2,41, p = 0,013) so với  nhóm chứng; còn e’l (9,68 ± 2,25 so với 10,24 ± 2,18 với p = 0,056) và tỷ số E/e’l (7,35 ± 1,89 so với 7,0 ± 1,6, p =  0,16) thì không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái qua khảo sát bằng  siêu âm Doppler qua phổ van 2 lá ở nhóm I là 50% (n = 75), nhóm II là 35,1% (n = 27) với p = 0,032; bằng  Doppler mô ở nhóm I là 68,7% (n = 103), nhóm II là 39% (n = 30) với p < 0,001. Tỷ lệ các mức độ rối loạn chức  năng tâm trương ở nhóm I thường gặp nhất là độ I (rối loạn dạng thư giãn) với tỷ lệ 50,3%, trong khi đó ở  nhóm II có rối loạn dạng thư giãn là 33,8%, với p < 0,05. Không ghi nhận rối loạn chức năng tâm trương thất  trái độ III ở cả hai nhóm nghiên cứu  

Kết luận: Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở nhóm bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2 

cao hơn nhóm bệnh nhân cao tuổi không bị đái tháo đường típ 2 qua đánh giá bằng siêu âm Doppler phổ qua van 

2 lá và Doppler mô. Mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái thường gặp nhất trên bệnh nhân cao tuổi bị  đái tháo đường típ 2 là dạng rối loạn thư giãn. Siêu âm Doppler mô cải thiện khả năng phát hiện rối loạn chức  năng tâm trương thất trái của siêu âm ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh đái tháo đường típ 2. 

Từ khóa: siêu âm tim, rối loạn chức năng tâm trương, người cao tuổi, đái tháo đường típ 2. 

* Bộ môn Lão khoa – ĐHYD TP.HCM 

Tác giả liên lạc: Ths.BS.Nguyễn Văn Tân   ĐT: 0903739273   Email: nguyenvtan10@yahoo.com  

Trang 2

THE RATE AND THE LEVEL OF LEFT VENTRICULAR DIASTOLIC DYSFUNCTION ON ELDERLY 

TYPE 2 DIABETES PATIENTS 

Nguyen Van Tan, Tran Ngoc Manh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 164 ‐ 170 

Background: Left ventricular diastolic dysfunction is a factor that leads to diastolic heart failure, as well as a 

factor  that  precedes  the  deterioration  of  heart  disease  and  death  in  the  population.  The  prevalence  of  type  2  diabetes  is  increasing,  in  which  there  is  an  increase  being  proportionate  to  the  ageing.  In  the  elderly  type  2  diabetes  patients,  the  probability  of  its  having  the  effects  on  the  heart  is  very  high,  in  which  case  the  left  ventricular  diastolic  function  is  affected.  In  Viet  Nam,  there  has  not  been  any  research  using  tissue  Doppler  ultrasonography to evaluate the left ventricular function on the elderly type 2 diabetes patients. 

Objects:  To  define  the  rate  and  level  of  left  ventricular  diastolic  dysfunction  on  elderly  type  2  diabetes 

patients. 

Research method: Prospectively, cross description of 227 patients from 60 years of age or above checked up 

at the Ho Chi Minh City Medic medical center over the period 11/2010 to 4/2011, divided into 2 groups: research  group (n = 150, group  I)  was  the  patients   60  years  old  and  who  were  diagnosed  as  type  2  diabetes  with  or  without hypertension, ischemic heart disease accompanied; control group (n = 77, group II) was the patients 60  years old who were without diabetes and heart disease, and agreed to undergo ultrasonography.  

Results: The mean age in the 2 groups was 67.58 ± 6.6 (group I), 68.16 ± 6.16 (group II). Mean LVMI 

(g/m2) in group I was 77.30 ± 20.69, in group II being 62.64 ± 14.65 (p < 0.001); increased A wave velocity 

(86.91 ± 10.5 in group I compared to 82.92 ± 11.5 in group II, p = 0.012). Group I had the decrease in e’m wave 

velocity  (7.39 ±  1.95  compared  to  8.23 ±  1.95,  p  =  0.003)  and  had  the  increase  in  E/e’m  ratio  (9.75 ±  2.74 

compared to 8.86 ± 2.41, p = 0.013) compared to the control group; while e’l (9.68 ± 2.25 compared to 10.24 ± 

2.18, p= 0.056) and E/e’l ratio (7.35 ± 1.89 compared to 7.0 ± 1.6, p = 0.16) had no significant difference between 

2 groups. Left ventricular diastolic dysfunction rate on the investigation by Doppler ultrasonography over mitral  valvular spectrum in the group I was 50% (n = 75), in group II being 35.1% (n = 27) with p = 0.032; by tissue  Doppler ultrasonography in group I was 68.7% (n = 103), in group II being 39% (=30), p < 0.001. The most  prevalent  diastolic  dysfunction  level  in  group  I  was  level  I  (relax  type  dysfunction)  with  the  rate  of  50.3%,  meanwhile the rate of relax type dysfunction in group II was 33.8%, p < 0.05. There was no level III ventricular  diastolic dysfunction in 2 groups. 

Conclusions: The rate of left ventricular diastolic dysfunction in the elderly type 2 diabetes patients was 

higher than those without type 2 diabetes by Doppler ultrasonography over mitral valvular spectrum and tissue  Doppler ultrasonography. The most prevalent level of left ventricular diastolic dysfunction in the elderly type 2  diabetes  patients  was  relax  type  dysfunction.  Tissue  Doppler  ultrasonography  improves  the  probability  of  detection of left ventricular diastolic dysfunction in elderly type 2 diabetes patients. 

Key words: Doppler ultrasonography, diastolic dysfunction, elderly, type 2 diabetes. 

MỞ ĐẦU 

Rối  loạn  chức  năng  tâm  trương  thất  trái  là 

một yếu tố nguy cơ dẫn đến suy tim tâm trương, 

là  một  yếu  tố  dự  báo  diễn  tiến  nặng  của  bệnh 

tim  mạch  và  tử  vong  trong  dân  số  chung(1).  Có 

nhiều nguyên nhân gây rối loạn chức năng tâm 

trương,  trong  số  đó  có  đái  tháo  đường  và  tuổi  cao.  Siêu  âm  tim  Doppler  là  một  trong  những  công  cụ  đánh  giá  chức  năng  tâm  trương  khá  chính  xác,  không  xâm  lấn,  chi  phí  không  cao.  Đặc biệt là siêu âm Doppler mô (đo vận tốc vận  động  vòng  van  2  lá)  đánh  giá  chức  năng  tâm 

Trang 3

trương  ít  phụ  thuộc  vào  tiền  tải  hơn  siêu  âm 

Doppler qui ước. Ngày nay, các khuyến cáo đã 

sử dụng siêu âm Doppler mô để đánh giá chức 

năng tâm trương thất trái và kết hợp với siêu âm 

Doppler  qui  ước  để  phân  loại  mức  độ  rối  loạn 

chức  năng  tâm  trương(2,5).  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  đái 

tháo đường (ĐTĐ) ngày càng gia tăng, trong đó 

có gia tăng theo tuổi. Ở người cao tuổi bị  bệnh 

đái tháo đường, khả năng có ảnh hưởng trên tim 

mạch rất cao, trong đó có chức năng tâm trương 

thất trái. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử 

dụng  siêu  âm  Doppler  mô  để  đánh  giá  chức 

năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân cao tuổi 

bị bệnh ĐTĐ típ 2. Xuất phát từ những  vấn  đề 

đã nêu trên, chúng tôi sử dụng siêu âm Doppler 

mô kết hợp với siêu âm Doppler qui ước để thực 

hiện  nghiên  cứu  này  nhằm  xác  định  tỷ  lệ  và 

đánh giá mức độ rối loạn chức năng tâm trương 

thất  trái  ở  bệnh  nhân  cao  tuổi  bị  bệnh  đái  tháo 

đường típ 2. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Tiền cứu, cắt ngang mô tả. 

Dân số nghiên cứu 

Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đến khám tại 

trung  tâm  y  khoa  Medic  thành  phố  Hồ  Chí 

Minh  từ  tháng  11/2010  đến  tháng  4/2011  và 

được chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu (n 

=  150,  nhóm  I)  là  những  bệnh  nhân  ≥  60  tuổi 

được  chẩn  đoán  ĐTĐ  típ  2  có  hoặc  không  có 

bệnh tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ 

đi  kèm;  nhóm  chứng  (n  =  77,  nhóm  II)  là 

những bệnh nhân ≥ 60 tuổi không có bệnh đái 

tháo  đường  và  bệnh  tim  mạch,  đồng  ý  làm 

siêu âm tim. Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu 

những trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh 

nhưng có bệnh van tim nặng, bệnh cơ tim phì 

đại,  bệnh  màng  ngoài  tim,  rối  loạn  nhịp  tim 

(nhịp  tim  nhanh,  rung  nhĩ,  cuồng  nhĩ),  phân 

suất  tống  máu  (EF)  <  50%,  những  bệnh  nhân 

có cửa sổ siêu âm quá kém. 

Cỡ mẫu 

77 bệnh nhân khỏe mạnh không bệnh ĐTĐ 

và bệnh tim mạch, 150 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có  hoặc  không  có  bệnh  tăng  huyết  áp,  bệnh  tim  thiếu máu cục bộ đi kèm. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Những  bệnh  nhân  thỏa  tiêu  chuẩn  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu  sẽ  được  thăm  khám  lâm  sàng,  đo  điện  tâm  đồ  và  làm  siêu  âm  tim.  Về  siêu  âm,  chúng  tôi  sử  dụng  máy  siêu  âm  ALOKA PROSOUND £6 với các số liệu cần thu  thập như chỉ số siêu âm tim TM: EF, khối lượng 

cơ thất trái (LVM), chỉ số Doppler xung đánh giá  lưu lượng qua van hai lá: VE, VA, E/A, thời gian  giảm  tốc  sóng  E  (DT),  thời  gian  giãn  đồng  thể  tích  (IVRT),  chỉ  số  Doppler  mô  sóng  xung  cơ  tim: e’m, e’l (e’: vận tốc cơ tim đầu thời kỳ tâm 

trương; e’m: e’ medial = e’ septal, e’l: e’ lateral). 

Định nghĩa các biến số 

Tuổi là một biến số liên tục, được tính bằng  cách  lấy  năm  bệnh  nhân  tham  gia  nghiên  cứu  trừ đi năm sinh, đơn vị tính là năm. Người cao  tuổi là người từ 60 trở lên (theo WHO 1998). Cân  nặng  là  một  biến  số  liên  tục,  được  xác  định  tại  thời điểm khám, đơn vị đo là kilogram (kg). Chỉ 

số khối cơ thể (BMI) là một biến số liên tục, được  tính  bằng  công  thức:  cân  nặng  x  10000/(chiều  cao)2, đơn vị đo là kg/m2. 

Tăng huyết áp (THA) là một biến số không  liên tục, có 2 giá trị là có và không. Một người bị  bệnh  THA  khi  có  tiền  căn  chẩn  đoán  bị  bệnh  THA  và  đang  dùng  thuốc  hạ  áp  hoặc  có  huyết 

áp  tâm  thu  (HATThu)  ≥  140  mmHg  và  hoặc  huyết  áp  tâm  trương  (HATTr)  ≥  90  mmHg  ở  2  lần  đo  cách  nhau  ít  nhất  30  phút  và  không  có  dùng  chất  kích  thích  thần  kinh  trước  đó  (JNC  VII). Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương là  những biến số liên tục, được đo lúc khám, đơn 

vị đo là mmHg. Đái tháo đường là một biến số  không liên tục, có 2 giá trị là có hoặc không. Một  người bị bệnh ĐTĐ típ 2 khi đã được chẩn đoán 

bị  ĐTĐ  típ  2  trước  đó  và  đang  dùng  thuốc  hạ  đường  huyết  hoặc  có  đường  huyết  đói  ≥  126 

Trang 4

mg/dl  ở  2  lần  đo  khác  nhau  và  có  những  đặc 

điểm của ĐTĐ típ 2(6). 

Bệnh  tim  thiếu  máu  cục  bộ  là  một  biến  số 

không  liên  tục,  có  2  giá  trị  là  không  và  có. 

Những  bệnh  nhân  được  xem  là  có  bệnh  tim 

thiếu  máu  cục  bộ  khi  có  triệu  chứng  đau  ngực 

điển  hình  (đau  sau  xương  ức  với  tính  chất  và 

thời gian điển hình và xảy ra khi gắng sức hoặc 

stress  và  giảm  khi  nghỉ  hoặc  khi  sử  dụng 

nitroglycerine)  hoặc  có  triệu  chứng  đau  ngực 

không điển hình và có thay đổi đoạn ST‐T trên 

điện tim (ST chênh lên ≥ 2 mm ít nhất 2 chuyển 

đạo liên tiếp ở chuyển đạo trước ngực, ≥ 1 mm ít 

nhất 2 chuyển đạo ở chuyển đạo ngoại biên hoặc 

ST chênh xuống > 0,5 mm kiểu ngang hoặc lõm 

xuống trong cơn đau, và/ hoặc T đảo trên 3mm 

ở ít nhất 5 chuyển đạo), và/ hoặc có sóng Q của 

NMCT cũ (rộng ≥ 0,4 giây hoặc cao > 1/4 sóng R 

cùng chuyển đạo) và/hoặc bệnh nhân có tiền sử 

NMCT phải nằm viện và hoặc có bằng chứng bị 

thiếu máu cơ tim qua siêu âm tim gắng sức, điện 

tâm đồ gắng sức, chụp mạch vành, siêu âm tim 

có hình ảnh của NMCT cũ(8). 

Phân suất tống máu là một biến số liên tục, 

có  đơn  vị  đo  là  %.  Vận  tốc  sóng  đổ  đầy  tâm 

trương  sớm  (VE),  vận  tốc  sóng  đổ  đầy  tâm 

trương muộn (VA) là những biến số liên tục, có 

đơn vị đo là cm/s. Tỷ số E/A là một biến số liên 

tục,  được  tính  bằng  công  thức  VE/VA.  Vận  tốc 

của  sóng  vận  động  thành  cơ  tim  trong  kỳ  tâm 

trương sớm (e’m, e’l) là những biến số liên tục, 

có  đơn  vị  đo  là  cm/s.  Tỷ  số  E/e’  là  một  biến  số 

liên tục, được tính bằng công thức VE/Ve’. 

Khối lượng cơ thất trái (LVM) là một biên số 

liên tục, được tính theo công thức qui ước Penn: 

LVM = 1,04 [(Dd+IVSd+LPWP)3‐Dd3]‐13,6 đơn vị 

tính  bằng  gram  (g).  Chỉ  số  khối  lượng  cơ  thất 

trái  (LVMI)  là  một  biến  số  liên  tục,  được  tính 

theo  công  thức:  LVMI  =  LVM/BSA,  đơn  vị  tính 

bằng  g/m2.  Dày  thất  trái  là  một  biến  số  không 

liên tục, có 2 giá trị là có và không. Bệnh nhân có 

dày  thất  trái  khi  LVMI  >95  g/m2  ở  nữ,  LVMI 

>115 g/m2 ở nam(6). 

Phân độ rối loạn chức năng tâm trương dựa  vào  siêu  âm  tim  Doppler(9):  Độ  I:  rối  loạn  thư  giãn (impaired relaxation), e’m <8 cm/s và E/A <  0,8  hoặc  DT  >  200  ms;  Độ  II:  giả  bình  thường  (pseudonormal),  e’m  <  8  cm/s  và  0,8  ≤  E/A  ≤  2  hoặc 160 ≤ DT ≤200 ms; Độ III: đổ đầy hạn chế  (restrictive filling), e’m < 8 cm/s và E/A > 2 hoặc 

DT < 160 ms. 

Phân tích số liệu 

Các  số  liệu  sẽ  được  mã  hóa,  nhập  và  xử  lý  bằng phần mềm SPSS 11.5. Các số liệu thu thập  được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch  chuẩn đối với biến số liên tục. Biến số không liên  tục  được  trình  bày  dưới  dạng  tỷ  lệ  phần  trăm.  Những  biến  số  liên  tục  có  phân  phối  chuẩn  sử  dụng  phép  kiểm  T,  ANOVA  để  so  sánh  các  trung  bình,  các  biến  số  có  giá  trị  phân  phối  không  chuẩn  thì  sử  dụng  phép  kiểm  MANN‐ WHITNEY  WILCOXON,  KRUSKAL‐WALLIS 

để  so  sánh.  Những  biến  số  không  liên  tục  thì  dùng  phép  kiểm  χ2  để  so  sánh.  Các  phép  kiểm 

có ý nghĩa khi p < 0,05. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu 

Từ  tháng  11/2010  đến  tháng  04/2011  chúng  tôi thu thập được 150 bệnh nhân đái tháo đường  típ  2  từ  60  tuổi  trở  lên  thỏa  tiêu  chuẩn  nhóm  nghiên cứu (nhóm I = nhóm bệnh) và 77 người  không bị bệnh tim mạch và ĐTĐ từ 60 tuổi trở  lên thỏa tiêu chuẩn nhóm chứng (nhóm II). Một 

số  đặc  điểm  về  dịch  tễ  và  lâm  sàng  của  hai  nhóm được trình bày trong bảng 1. 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của 2 nhóm 

nghiên cứu: 

Nhóm chứng

n=77

Nhóm ĐTĐ n=150

p

Tuổi (năm) 68,16±6,16 67,58±6,6 p > 0,05

BMI (kg/m 2 ) 20,45±2.8 22,89±2.4 p < 0,001

BSA (m 2 ) 1,49±0.12 1,56±0.14 p = 0,009

HATThu (mmHg) 121,06±10.1 123,24±9.6 p > 0,05 Thời gian ĐTĐ

(năm)

3,66±0.63

Tỷ lệ bệnh nhân thừa cân (%)

Trang 5

Nhóm chứng

n=77

Nhóm ĐTĐ n=150

p

Tỷ lệ dày thất trái

(%)

BMI  trung  bình  và  tỷ  lệ  thừa  cân  ở  nhóm  I 

cao hơn nhóm II một cách có ý nghĩa thống kê. 

Tỷ  lệ  dày  thất  trái  ở  nhóm  I  cao  hơn  nhưng 

không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, tỷ lệ dày 

thất trái ở phân nhóm ĐTĐ là 2,6%, phân nhóm 

ĐTĐ+THA là 14,7% và phân nhóm ĐTĐ + THA 

+ bệnh tim thiếu máu cục bộ là 30%. 

Đặc  điểm  siêu  âm  tim  của  hai  nhóm 

nghiên cứu 

Bảng 2. Giá trị các thông số siêu âm Doppler phổ qua 

van 2 lá giữa 2 nhóm: 

Nhóm chứng

n = 77

Nhóm ĐTĐ

n = 150

p

LVMI (g/m2) 62,64± 14,65 77,30± 20,69 <0,001

EF (%) 70,57± 7,02 72,51± 7,30 >0,05

VA (cm/s) 82,92±11,5 86,91±10,5 0,012

DT (ms) 199,12±31,45 206,47±26,98 0,1

Kết  quả  phân  tích  cho  thấy  chỉ  có  vận  tốc 

sóng A tăng và tỷ lệ E/A giảm ở nhóm bệnh so 

với  nhóm  chứng  là  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Các 

thông  số  VE,  DT,  IVRT  không  khác  biệt  giữa  2 

nhóm (bảng 2). Nhóm bệnh của chúng tôi có sự 

giảm vận tốc sóng e’m và tăng tỷ số E/e’m so với 

nhóm chứng có ý nghĩa thống kê, còn e’l và tỷ số 

E/e’l  thì  không  có  sự  khác  biệt  giữa  2  nhóm 

(bảng 3). 

Bảng 3. Các thông số siêu âm Doppler mô giữa 2 

nhóm 

Nhóm bệnh

(n = 150)

Nhóm chứng (n = 77)

p

E/e’m 9,75±2,74 8,86±2,41 0,013

E/e’l 7,35±1,89 7,0±1,6 0,16

Đặc điểm rối loạn chức năng tâm trương 

Bảng 4. Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất 

trái ở 2 nhóm 

Nhóm bệnh

(n = 150)

Nhóm chứng (n = 77)

p

Siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá

50% (n = 75) 35,1% (n = 27) 0,032

Siêu âm Doppler

68,7% (n = 103)

39% (n = 30) <0,001

Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương ở nhóm  bệnh  cao  hơn  nhóm  chứng  dù  sử  dụng  tiêu  chuẩn siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá (50% so  với  35,1%)  hay  siêu  âm  Doppler  mô  (68,7%  so  với 39%). Từ kết quả này cũng cho thấy siêu âm  Doppler  mô  phát  hiện  rối  loạn  chức  năng  tâm  trương nhiều hơn siêu âm Doppler phổ qua van 

2 lá ở cả nhóm bệnh (68,7% so với 50%) và nhóm  chứng (39% so với 35,1%). 

Bảng 5. Tỷ lệ các mức độ rối loạn chức năng tâm 

trương 

Nhóm bệnh

(n = 150)

Nhóm chứng (n = 77)

p

Qua số liệu trên cho thấy, ở cả 2 nhóm mức 

độ RLCNTTr chủ yếu là nhẹ (rối loạn thư giãn),  không có ghi nhận trường hợp nào có RLCNTTr  mức độ nặng. 

BÀN LUẬN 

Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là  68,85 ± 7,41, thấp nhất là 60 tuổi, cao nhất là 91  tuổi.  Độ  tuổi  trung  bình  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  hơi  thấp  hơn  nghiên  cứu  của  tác  giả  Châu Trần Phương Tuyến (70,3 ± 7,2) và tác giả  Russo C (70,4 ± 9,6)(9,3), cao hơn tác giả Boyer JK  (46,63 ± 7,7)( ). Điều này có thể do sự khác biệt ở  địa điểm lấy mẫu. Nghiên cứu của tác giả Châu  Trần Phương Tuyến và Russo, dân số chọn mẫu 

là  những  bệnh  nhân  nằm  viện,  những  bệnh  nhân này có tuổi cao hơn nhóm nghiên cứu của  chúng tôi có thể là vì tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc  nhiều  bệnh  và  bị  biến  chứng  của  những  bệnh  mạn tính nhiều hơn nên tỷ lệ nằm viện cao hơn. 

Trang 6

vì  tác  giả  chỉ  nghiên  cứu  ở  những  người  <60 

tuổi. 

LVMI  của  nhóm  nghiên  cứu  trung  bình  là 

77,3  ±  20,6  thấp  hơn  nghiên  cứu  của  tác  giả 

CTPTuyến( ).(110 ± 31,45) và tác giả Russo() (95,2 

± 22,2). Sự khác về LVMI sẽ làm ảnh hưởng đến 

sự khác biệt về tỷ lệ dày thất trái giữa các tác giả. 

Tỷ  lệ  dày  thất  trái  trong  nhóm  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  là  12,67%.  THA  là  nguyên  nhân 

thường gặp gây phì đại thất trái. Thời gian THA 

càng  dài,  tỷ  lệ  dày  thất  trái  càng  cao.  Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tỷ  lệ  dày  thất  trái  ở 

phân  nhóm  ĐTĐ  là  2,6%,  phân  nhóm 

ĐTĐ+THA là 14,7% và phân nhóm ĐTĐ + THA 

+ bệnh tim  thiếu  máu  cục  bộ  là  30%.  Tỷ  lệ  dày 

thất trái ở nhóm nghiên cứu của chúng tôi thấp 

hơn  so  với  nghiên  cứu  của  tác  giả  CTPTuyến 

(39,8%) điều này có thể do sự khác biệt về thời 

gian  bị  ĐTĐ,  mức  độ  kiểm  soát  đường  huyết, 

mức độ kiểm soát huyết áp, do kỹ thuật và chủ 

quan của người làm siêu âm. 

Các  chỉ  số  VE,  VA,  E/A,  DT  là  kết  quả  của 

siêu  âm  Doppler  phổ  qua  van  2  lá,  phản  ánh 

chức năng tâm trương thất trái, sự thay đổi của 

những  chỉ  số  này  phản  ảnh  sự  thay  đổi  chức 

năng tâm trương theo các mức độ. Ở giai đoạn 

rối loạn chức năng tâm trương nhẹ (rối loạn thư 

giãn),  khi  thất  trái  thư  giãn  chậm  làm  cho  lưu 

lượng  đổ  đầy  tâm  trương  sớm  chậm  hơn  bình 

thường, biểu hiện trên siêu âm là VE giảm, DT 

kéo  dài.  Do  sự  chậm  trễ  trong  pha  tâm  trương 

sớm  làm  cho  máu  ứ  lại  nhĩ  trái  ở  pha  nhĩ  thu 

nhiều hơn bình thường, tim sẽ bù trừ bằng cách 

tăng co bóp nhĩ để tống lượng máu dư về thất, 

kết  quả  này  cho  thấy  trên  siêu  âm  là  VA  tăng. 

VE giảm, VA tăng kéo theo tỷ lệ E/A giảm (giai 

đoạn  I).  Với  tiến  triển  của  rối  loạn  chức  năng 

tâm  trương  làm  cho  độ  chênh  áp  lực  giữa  nhĩ 

trái và thất trái ngày càng tăng lên, kết quả làm 

tăng  lưu  lượng  qua  van  2  lá  đầu  thời  kỳ  tâm 

trương,  biểu  hiện  trên  siêu  âm  là  tăng  vận  tốc 

sóng E, điều này làm cho tỷ lệ E/A tăng dần trở 

lại  giống  với  lúc  chức  năng  tâm  trương  bình 

thường, DT cũng trở về bình thường (giai đoạn 

II  hay  giai  đoạn  giả  bình  thường).  Kết  quả  nghiên  cứu  trình  bày  ở  bảng  2,  chúng  tôi  nhận  thấy ở nhóm nghiên cứu có sự tăng vận tốc sóng 

A, tỷ lệ E/A giảm, điều này cho thấy bệnh nhân  ĐTĐ có RLCNTTr kiểu rối loạn thư giãn. 

Ở phân nhóm ĐTĐ, chúng tôi nhận thấy có 

sự giảm vận tốc sóng E, tăng vận tốc sóng A và 

tỷ  lệ  E/A  giảm,  DT  kéo  dài  (kiểu  rối  loạn  thư  giãn)  so  với  nhóm  chứng.  Tuy  nhiên  sự  khác  biệt này không có ý nghĩa (bảng 2), có lẽ do cỡ  mẫu ở phân nhóm ĐTĐ của chúng tôi còn thấp,  cũng  có  thể  là  ĐTĐ  không  làm  thay  đổi  các  thông  số  siêu  âm  Doppler  phổ  qua  van  2  lá  so  với người cao tuổi. Do đó cần cỡ mẫu lớn hơn để  xác định giả thuyết này. Kết quả của nghiên cứu  chúng tôi cũng tương tự tác giả Russo. 

Kết quả nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  siêu âm Doppler mô phát hiện RLCNTTr nhiều  hơn  Doppler  phổ  qua  van  2  lá  ở  cả  2  nhóm  (bảng 4). Kết quả nghiên  cứu  của  tác  giả  Boyer 

JK cũng đã cho thấy điều này (63% so với 46%). 

Ở nhóm nghiên cứu thì e’m và tỷ lệ E/e’m giảm  hơn nhóm chứng có ý nghĩa. Điều này cho thấy  rằng  dù  tuổi  cao  thì  ĐTĐ,  THA  vẫn  có  ảnh  hưởng  lớn  trên  các  thông  số  siêu  âm  Doppler 

mô  đánh  giá  chức  năng  tâm  trương.  Kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả  Russo  cũng  tương  tự  chúng tôi(). 

Hiện nay các khuyến cáo về siêu âm hướng  dẫn  đánh  giá  chức  năng  tâm  trương  đều  sử  dụng siêu âm Doppler mô để chẩn đoán và kết  hợp  với  siêu  âm  Doppler  phổ  qua  van  2  lá  để  phân loại mức độ RLCNTTr, điều này đã khẳng  định lợi ích của siêu âm Doppler mô trong đánh  giá chức năng tâm trương thất trái. 

Tỷ  lệ  RLCNTTr  của  nhóm  nghiên  cứu  là  68,7%.  Nhìn  chung,  kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  tương  tự  so  với  tác  giả  C.T.PTuyến()  (68,7%  so  với  71%).  Kết  quả  của  chúng  tôi  cao  hơn tác giả Russo (68,7% so với 60%) do sự khác  biệt  ở  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  RLCNTTr.  Tác  giả  chọn mốc e’m <7 cm/s để chẩn đoán RLCNTTr  còn  chúng  tôi  chọn  mốc  e’m  <  8  cm/s.  Kết  quả 

Trang 7

nghiên  cứu  của  tác  giả  Boyer  JK  (63,2%  so  với 

63%)  phải  chăng  tỷ  lệ  RLCNTTr  ở  bệnh  nhân 

ĐTĐ  típ  2  ở  người  cao  tuổi  không  khác  biệt  so 

với người trẻ tuổi. Để khẳng định điều này cần 

có cỡ mẫu lớn hơn để so sánh. 

Về  mức  độ  RLCNTTr,  trong  nhóm  nghiên 

cứu chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân rối loạn thư giãn 

(độ  I)  chiếm  50,3%  dân  số,  những  bệnh  nhân 

RLCNTTr  độ  II  chiếm  18,1%  dân  số,  không  có 

bệnh nhân nào bị rối loạn kiểu hạn chế, điều này 

phù  hợp  với  những  thay  đổi  của  các  thông  số 

đánh  giá  chức  năng  tâm  trương  như  đã  phân 

tích ở trên chủ yếu là rối loạn thư giãn. 

Hạn chế của nghiên cứu 

Do những bệnh nhân trong nghiên cứu của 

chúng tôi có nguy cơ cao bị bệnh tim mạch, hơn 

nữa do điều kiện ở phòng khám nên chúng tôi 

chỉ  phân  loại  những  bệnh  nhân  bị  bệnh  tim 

thiếu máu cục bộ chủ yếu dựa vào tiền sử nhồi 

máu  cơ  tim,  chụp  mạch  vành  trước  đó,  triệu 

chứng  khám  hiện  tại  và  hình  ảnh  trên  siêu  âm 

nên có thể còn bỏ sót nhiều trường hợp. Do đó 

kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  thể  khác 

biệt  so  với  những  nghiên  cứu  của  tác  giả  khác 

khi họ giải quyết tốt yếu tố này. Kết quả siêu âm 

cũng chịu ảnh hưởng bởi người làm siêu âm. Do 

cơ sở chỉ có 1 máy siêu âm có chức năng TDI nên 

chúng tôi khó có thể so sánh tính khách quan về 

kết  quả  siêu  âm  giữa  người  lấy  mẫu  và  bác  sĩ 

siêu âm khác.  Tuy  nhiên,  chúng  tôi  đã  cố  gắng 

tránh  sai  số  do  tính  chủ  quan  này  bằng  cách 

chúng  tôi  đã  chọn  người  có  kinh  nghiệm  làm 

siêu âm nhiều năm và đã từng làm nhiều trường 

hợp về siêu âm Doppler mô để thực hiện. 

KẾT LUẬN 

Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái 

ở  nhóm  bệnh  nhân  cao  tuổi  bị  đái  tháo  đường 

típ 2 cao hơn nhóm bệnh nhân cao tuổi không bị 

đái tháo đường típ 2 qua đánh giá bằng siêu âm 

Doppler phổ qua van 2 lá và Doppler mô. Mức 

độ  rối  loạn  chức  năng  tâm  trương  thất  trái 

thường gặp nhất trên bệnh nhân cao tuổi bị đái 

tháo đường típ 2 là dạng rối loạn thư giãn. Siêu 

âm Doppler mô cải thiện khả năng phát hiện rối  loạn chức năng tâm trương thất trái của siêu âm 

ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh đái tháo đường típ 

2. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Aurigemma  GP,  Gottdiener  JS,  Shemanski  L  ,  Gardin  J,  Kitzman  D  (2001),  ʺPredictive  value  of  systolic  and  diastolic  function  for  incident  congestive  heart  failure  in  the  elderly: 

the Cardiovascular Health Studyʺ. J Am Coll Cardiol (37), pp. 

1042‐1048. 

2 Boyer JK, Thanigaraj S, et al. (2004). ʺPrevalence of Ventricular  Diastolic  Dysfunction  in  Asymptomatic,  Normotensive 

Patients  With  Diabetes  Mellitusʺ.  American  Journal  of 

Cardiology, 93(1), pp. 870‐874. 

3 Châu Trần Phương Tuyến (2008). Khảo sát hình thái và chức  năng tâm trương thất trái bằng siêu âm tim ở bệnh nhân đái  tháo đường týp 2. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại Học 

Y Dược TP.Hồ Chí Minh. 

4 Ho  YC  (2007),  ʺEchocardiographic  Assessment  of  Diastolic  Function.  In:  Solomon  D  Scott,  ed.  Essential  Echocardiographyʺ. New Jersey: Humana Press, pp. 119‐131. 

5 Hunt SA, Baker DW, Chin MH (2001), ʺACC/AHA guidelines  for the evaluation and management of chronic heart failure in  the  adult:  executive  summary.  A  report  of  the  American  College  of  Cardiology/American  Heart  Association  Task  Force  on  Practice  Guidelines  (Committee  to  Revise  the  1995  Guidelines  for  the  Evaluation  and  Management  of  Heart  Failure);  developed  in  collaboration  with  the  International  Society for Heart and Lung Transplantation; endorsed by the 

Heart Failure Society of Americaʺ. Circulation, (104), pp. 2996‐

3007. 

6 Lang  RM,  Bierig  M,  et  al  (2005).  ʺRecommendations  for  chamber quantification: a report from the American Society of  Echocardiographyʹs  Guidelines  and  Standards  Committee  and  the  Chamber  Quantification  Writing  Group,  developed 

in  conjunction  with  the  European  Association  of  Echocardiography,  a  branch  of  the  European  Society  of  Cardiologyʺ. J Am Soc Echocardiogr, 18, p. 1440‐1463. 

7 Mai  Thế  Trạch  ,  Nguyễn  Thy  Khuê  (2003).  Bệnh  Đái  Tháo  Đường. Nội Tiết Học Đại Cương. Nxb Y Học, tr. 375‐376. 

8 Phạm Nguyễn Vinh (2002). Siêu Âm  Tim  và  Bệnh  Học  Tim  Mạch. Nxb Y Học, tr. 161. 

9 Russo  C,  Zhezhen  J  (2010).  ʺEffect  of  diabetes  and  hypertension  on  left  ventricular  diastolic  function  in  a  high‐

risk population without evidence of heart diseaseʺ. European 

Journal of Heart Failure, 12, pp. 454‐461. 

10 Sherif  F,  Nagueh  MD,  et  al  (2009).  ʺGuidelines  And  Standards:  Recommendations  for  the  Evaluation  of  Left  Ventricular Diastolic Function by Echocardiographyʺ. Journal 

of the American Society of Echocardiography, 22(2), p. 127.   

Ngày nhận bài báo      01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:  01‐8‐2013 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w