Nội dung của bài viết trình bày về vấn đề Vitamin D có liên quan đến bất lợi với sức khỏe và tình trạng Vitamin D ở bệnh nhân gãy xương lớn tuổi ‐ đối tượng nguy cơ cao thiếu Vitamin D, khảo sát tình hình thiếu Vitamin D ở bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi nằm viện và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
Trang 1Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG TRÊN 50 TUỔI TẠI KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Võ Khắc Khôi Nguyên*, Đỗ Phước Hùng * , Kim Xuân Loan*
TÓM TẮT
Tình hình và mục đích nghiên cứu: Vitamin D có liên quan đến bất lợi với sức khỏe. Tình trạng Vitamin
D ở bệnh nhân gãy xương lớn tuổi‐ đối tượng nguy cơ cao thiếu Vitamin D chưa được chứng minh. Nghiên cứu này khảo sát tình hình thiếu Vitamin D ở bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi nằm viện và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tình hình thiếu Vitamin D và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 390 bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi điều trị
nội trú tại Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình Bệnh Viện Chợ Rẫy. Thiếu Vitamin D được định lượng với nồng độ
25(OH) Vitamin D3 dưới 50 nmol/L.
Kết quả và bàn luận: Độ tuổi trung bình của mẫu là 67,91 ± 12,31 (trung bình ± SD). Giá trị trung bình
25(OH) Vitamin D3 là 49,17 ± 19,87 nmol/L. 55,38% bệnh nhân thiếu Vitamin D ở các mức độ, trong số này có đến 26,85% thiếu trung bình và nặng. Các biến số có mối liên quan đến tình trạng thiếu Vitamin D phổ biến và mức độ thiếu Vitamin D trầm trọng là: nhóm tuổi cao, nữ giới, gãy đầu trên xương đùi, thiếu Calcium máu toàn phần, cơ chế chấn thương năng lượng thấp, và không tập thể dục. Các biến số chỉ có mối liên quan tình trạng thiếu Vitamin D phổ biến: có yếu tố nguy cơ loãng xương. Chưa có mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với hút thuốc lá, uống rượu, bệnh nội khoa đi kèm, nguyên nhân chấn thương, các vị trí gãy xương nơi khác (ngoại trừ gãy đầu trên xương đùi).
Kết luận: Tình hình thiếu Vitamin D ở bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi là phổ biến và khá trầm trọng. Vì
nồng độ 25(OH) Vitamin D3 trung bình của đối tượng này xấp xỉ ngưỡng thấp nhất của mức bình thường. Nếu không can thiệp, nồng độ này sẽ tiếp tục sụt giảm. Nhóm tuổi cao, nữ giới, gãy đầu trên xương đùi, thiếu Calcium máu toàn phần, cơ chế chấn thương năng lượng thấp, và không tập thể dục có mối liên quan đến tình trạng thiếu Vitamin D phổ biến và khuynh hướng trầm trọng.
Từ khóa: thiếu vitamin D, 50 tuổi, gãy xương
ABSTRACT
ASSESSMENT OF VITAMIN D DEFICIENCY IN PATIENTS OVER 50 YEARS OLD FRACTURES
AT ORTHOPEDIC DEPARTMENT CHO RAY HOSPITAL
Vo Khac Khoi Nguyen, Do Phuoc Hung, Kim Xuan Loan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 464 ‐ 471
Background and Aims: Vitamin D insufficiency is adversely associated with health outcomes. Vitamin D
status in fracture of elderly populations is not well documented. This study sought to assess vitamin D status and relationship with clinical characteristics, laboratory.
Method and materials: This cross‐sectional study involved 390 men and women over age 50 years
* Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Trang 2treatment at the Department of Orthopaedic Cho Ray Hospital. Vitamin D deficiency is the concentration of the 25(OH) Vitamin D3 below 50 nmol/L.
Results and discussion: The average age of the sample was 67.91 ± 12.31 (mean ± SD). The average value
25(OH) Vitamin D3 was 49.17 ± 19.87 nmol/L. 55.38 % of patients with Vitamin D deficiency, of which there are 26.85 % average and serious. These variables can be associated with Vitamin D deficiency and related popular trend Vitamin D deficiency is severe: high age, female gender, early fracture on the femur, whole blood calcium deficiency, injury mechanism low energy, and do not exercise. The only variables that may be associated with Vitamin D deficiency common: have risk factors for osteoporosis, have accompanied injuries. No association between vitamin D deficiency with smoking, alcohol, concomitant medical illness, causes of injury, the location of fractures elsewhere (except in the femoral head fracture).
Conclusion: Vitamin D deficiency in patients over 50 years old fractures are common and quite serious.
Because concentrations of 25(OH) Vitamin D3 is approximately the average of the lowest thresholds to normal levels. Without intervention, these concentrations will continue to decrease. Older age groups, women, breaking the femur head, complete blood calcium deficiency, injury mechanisms and low energy, and not exercising relation to Vitamin D deficiency common and serious trends.
Keywords: Vitamin D deficiency, 50 years old, fractures
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vitamin D thường được biết đến như một
“nguyên liệu” quan trọng trong việc thúc đẩy và
duy trì sức khỏe bộ xương. Thiếu Vitamin D làm
tăng nguy cơ nhuyễn xương, loãng xương, gãy
xương và làm tăng chu chuyển xương, qua đó
ảnh hưởng đến quá trình lành xương khi có biến
cố gãy xương xảy ra.
Ở các vùng có vĩ độ cao như Bắc Âu và Bắc
Mĩ, tỉ lệ thiếu Vitamin D trong dân số khá cao
(50‐70%). Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, tỉ lệ thiếu
Vitamin D lên đến 80‐90%. Trong khu vực Đông
Nam Á, các nước như Thái Lan, Malaysia… tỉ lệ
thiếu Vitamin D trong dân số chung xấp xỉ 50%.
Việt Nam, một nước có khí hậu nhiệt đới gió
mùa, tình hình thiếu Vitamin D cũng không khả
quan gì hơn. Tỉ lệ hiện mắc của người trưởng
thành sống tại nước ta là 30%‐ 46% ở nữ và 16%‐
20% đến ở nam giới trưởng thành.
Tình trạng thiếu Vitamin D trong cộng đồng
ở Việt Nam là phổ biến. Vitamin D lại có vai trò
quan trọng đối với sức khỏe bộ xương nói chung
và trong sự lành xương nói riêng. Tuy nhiên cho
đến nay không chỉ Việt Nam mà còn các nước
trên thế giới có rất ít các công trình nghiên cứu
về thiếu Vitamin D trên bệnh nhân gãy xương,
đặc biệt là ở người có tuổi – một trong những
nhóm đối tượng có nguy cơ thiếu hụt Vitamin D nhiều nhất. Nhiều câu hỏi được đặt ra xoay quanh vấn đề này. Tình trạng thiếu Vitamin D ở bệnh nhân trên 50 tuổi gãy xương phổ biến như thế nào ? Mức độ thiếu hụt trầm trọng ra sao? Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng này có liên quan gì đến tình trạng thiếu hụt hay không? Vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Khảo sát tình trạng thiếu Vitamin D ở bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi tại Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình Bệnh Viện Chợ Rẫy”.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi điều trị nội trú tại Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình Bệnh Viện Chợ Rẫy, đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đã được điều trị Vitamin D, hoặc các chất dẫn xuất của Vitamin D, thuốc chống động kinh, thuốc gây độc tế bào, thyroxin trong
3 tháng trước khi nhập viện. Bệnh nhân bị cắt dạ dày, viêm đường tiêu hóa mạn tính, viêm khớp dạng thấp, bất thường hệ cơ xương khớp bẩm
Trang 3Các bước tiến hành nghiên cứu
Hỏi bệnh
Thu thập biến số tuổi, giới tính, nơi cư ngụ,
thói quen sinh hoạt (hút thuốc lá, uống rượu, tập
thể dục), nguyên nhân chấn thương, bệnh nội
khoa đi kèm và yếu tố nguy cơ loãng xương
(qua việc hỏi tiền căn).
Khám lâm sàng
Khám tổng quát, khám tìm các triệu chứng
gãy xương: vị trí đau, điểm đau chói, biến dạng,
cử động bất thường. Từ đây chúng ta thu thập
được biến số bệnh nội khoa đi kèm (qua việc
khám lâm sàng), vị trí gãy xương, chấn thương
đi kèm.
Xét nghiệm cận lâm sàng
‐ Chụp X quang để xác định chẩn đoán vị trí
gãy xương. Khi có chẩn đoán xác định, ta thu
thập hoàn chỉnh các biến số: bệnh nội khoa đi
kèm, vị trí gãy xương, chấn thương đi kèm.
‐ Xét nghiệm nồng độ 25(OH) Vitamin D3 trong
máu.
Thực hiện trên máy Maplap Plus năm 2004
của Italy tại khoa sinh hóa bệnh viện Chợ Rẫy.
Xét nghiệm được thực hiện theo phương
pháp ELISA dựa trên nguyên lý phản ứng cạnh
tranh giữa 25(OH)Vitamin D3 của mẫu với chất
đánh dấu biotinylated 25(OH)Vitamin D3 gắn
trên protein mang (VDBP, Gc globulin). Bước
này thu thập được hai biến số: nồng độ
25(OH)Vitamin D3, phân độ nồng độ
25(OH)Vitamin D3.
‐ Định lượng nồng độ Calcium toàn phần trong
máu
Xét nghiệm như sinh hóa máu thường quy,
lấy mẫu máu vào sáng sớm. Ở bước này, thu
thập được biến số: nồng độ Calcium toàn phần
trong máu, phân độ nồng độ Calcium toàn
phần trong máu, yếu tố nguy cơ loãng xương
(thiếu Calcium máu).
KẾT QUẢ
Từ tháng 7/2012 đến tháng 04/2013, đã khảo sát được 390 bệnh nhân trên 50 tuổi bị gãy xương.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của mẫu nghiên cứu
Giới tính
Nữ nhiều gấp 1,52 lần so với nam.
Tuổi
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu 67,91 ±
12,31, của nam 64,73 ± 12,896, của nữ 70,00 ± 11,462.
Thói quen sinh hoạt
Tỉ lệ bệnh nhân có hút thuốc lá là 20,51%, có
uống rượu là 6,67%, có tập thể dục là 41,54%.
Bệnh nội khoa đi kèm, yếu tố nguy cơ loãng xương, chấn thương đi kèm
87,68% bệnh nhân có nội khoa đi kèm. 95,13% bệnh nhân có yếu tố nguy cơ loãng xương.
46,15% trường hợp có chấn thương đi kèm.
Nguyên nhân và cơ chế chấn thương
Nguyên nhân chấn thương do tai nạn giao thông (36,92%), tai nạn sinh hoạt (61,03%), tai nạn lao động (2,05%). 47,95% do cơ chế chấn thương năng lượng cao, 52,05% chấn thương năng lượng thấp. 126/144 (87,5%) trường hợp tai nạn giao thông là cơ chế chấn thương năng lượng cao. Có 185/238 (77,7%) trường hợp tai nạn sinh hoạt là cơ chế chấn thương năng
lượng thấp.
Vị trí gãy xương
Số lượng bệnh nhân phân bố không đồng đều giữa các nhóm vị trí gãy xương. Nhiều nhất
là nhóm gãy đầu trên xương đùi (chiếm tỉ lệ 34,6%), gãy nhiều xương (chiếm tỉ lệ 20,5%). Kế đến là gãy thân xương cẳng chân, thân xương đùi. Còn lại gãy xương các vùng khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Nồng độ Calcium toàn phần trong máu
Nồng độ Calcium toàn phần trong máu trung bình là 2,04 ± 0,214 mmol/L.
Phân độ nồng độ Calcium toàn phần trong
Trang 4Đa số các bệnh nhân bị thiếu Calcium toàn
phần trong máu (chiếm 61,79%). Các bệnh
nhân có thừa Calcium toàn phần trong máu
chiếm tỉ lệ thấp nhất (1,79%).
Tình hình thiếu Vitamin D trong mẫu nghiên
cứu
Nồng độ 25(OH)Vitamin D3 trung bình
trong máu: Nồng độ trung bình trong máu của
mẫu nghiên cứu là 49,17 ± 19,87 nmol/L. Nồng
độ 25(OH)Vitamin D3 trung bình ở giới nam
cao hơn giới nữ.
Phân độ nồng độ 25(OH)Vitamin D3
Bảng 1: Tỉ lệ các phân độ nồng độ thiếu Vitamin D
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D và
một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với
giới tính
Bảng 2: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với giới tính
Giới tính
25(OH)VitaminD3
trong máu
Tổng
Không
thiếu
Thiếu
n (%) n (%)
Nam 105 (67,74) 50
(32,26)
155 (100,0)
2,19 (1,72 – 2,79)
<0,001
Nữ 69 (29,36) 166
(70,64)
235 (100,0) Tổng
cộng 174 (44,62)
216 (55,38)
390 (100,0)
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương
Tỉ lệ thiếu Vitamin D ở nữ gấp 2,19 lần so
với nam (χ2, p< 0,001).
Bảng 3: Mối liên quan giữa phân độ nồng độ
25(OH)Vitamin D3 với giới tính
Bình thường 104 (67,10) 69 (29,36) 173(44,36) Thiếu nhẹ 40 (25,80) 118 (50,21) 158 (40,51) Thiếu trung bình 10 (6,45) 44 (18,72) 54 (13,85)
Tổng cộng 155 (100,0) 235 (100,0) 390 (100,0)
p< 0,001
Kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương khuynh hướng, p<0,001 là giá trị chung cho cả bảng
Nữ có khuynh hướng thiếu Vitamin D trầm trọng hơn nam (χ2 khuynh hướng, p< 0,001).
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với nhóm tuổi
Bảng 4: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với
nhóm tuổi
Nhóm tuổi
25(OH)VitaminD3 trong máu
PR p Không
n (%) n (%)
50- <60 74 (56,06) 58 (43,94) 1
0,027
60- <70 34 (40,96) 49 (59,04) 1,34 (1,03 –
1,75)
70- <80 33 (37,50) 55 (62,50) 1,42 (1,11 –
1,83)
80- <90 28 (38,89) 44 (61,11) 1,39 (1,07 –
1,82)
≥ 90 5 (33,33) 10 (66,67) 1,51 (1,01 –
2,28)
(44,62) 216 (55,38)
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương, p= 0,027 là giá trị chung cho cả bảng
Nhóm tuổi càng cao, mức độ thiếu Vitamin
D càng trầm trọng (χ2 khuynh hướng, p= 0,004).
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với thói quen sinh hoạt
Không có mối liên quan giữa hút thuốc lá, uống rượu với thiếu Vitamin D. Bệnh nhân không tập thể dục thiếu Vitamin D cao gấp 3 lần (1/0,33) so với bệnh nhân có tập thể dục (χ2, p<0,001).
Trang 5Thói quen sinh hoạt
25(OH)VitaminD3 trong máu
Tổng cộng PR p Không thiếu Thiếu
Uống rượu
0,165
Hút thuốc lá
0,112
Tập thể dục
0,33 (0,25 – 0,43) <0,001
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với
bệnh nội khoa đi kèm
Không có mối liên quan giữa bệnh nội khoa
đi kèm và thiếu Vitamin D (χ2, p= 0,856).
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với yếu
tố nguy cơ loãng xương.
Tỉ lệ thiếu Vitamin D ở nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ loãng xương là cao gấp 1,79 lần ở nhóm bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ loãng xương (χ2, p= 0,032).
Bảng 8: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với bệnh nội khoa đi kèm
Bệnh nội khoa đi
kèm
25(OH)VitaminD3 trong máu
Tổng cộng PR p Không thiếu Thiếu
1,03 (0,78 – 1,35)
0,856
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương
Bảng 9: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với yếu tố nguy cơ loãng xương
Yếu tố nguy cơ
loãng xương
25(OH)VitaminD3 trong máu
Tổng cộng PR p Không thiếu Thiếu
1,79 (0,92 – 3,50)
0,032
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với
nguyên nhân, cơ chế chấn thương
Tỉ lệ thiếu Vitamin D ở các nguyên nhân
chấn thương khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (χ2, p= 0,674).
Tỉ lệ thiếu Vitamin D ở nhóm cơ chế chấn thương năng lượng thấp cao hơn nhóm chấn thương năng lượng cao (χ2, p< 0,001).
Bảng 10: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với nguyên nhân, cơ chế chấn thương
25(OH)VitaminD3 trong máu
Tổng cộng PR p Không thiếu Thiếu
Trang 6chấn thương TNSH 102 (42,86) 136 (57,14) 238 (100,0) 1,08 (0,90 – 1,31)
Cơ chế chấn
thương
1,60 (1,32 – 1,94) <0,001
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương, p=0,674 là giá trị chung cho cả 3 nhóm nguyên nhân chấn thương
Bảng 11: Mối liên quan giữa phân độ nồng độ 25(OH)Vitamin D3 với cơ chế chấn thương
Phân độ nồng độ 25(OH)VitaminD3
Cơ chế chấn thương
Tổng cộng
p < 0,001
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương khuynh hướng, p<0,001 là giá trị chung cho cả bảng.
Ở nhóm cơ chế chấn thương năng lượng
thấp, tỉ lệ Vitamin D bình thường giảm dần,
mức độ thiếu Vitamin D mức nhẹ, trung bình và
nặng tăng dần (χ2 khuynh hướng, p<0,001).
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với vị
trí gãy xương
Tỉ lệ thiếu vitamin D cao nhất ở nhóm bệnh nhân gãy xương cổ bàn ngón tay (100%), thấp nhất ở nhóm gãy đầu dưới xương đùi (21,43%). Tuy nhiên, sự khác biệt giữa tất cả các vị trí gãy không có ý nghiã thống kê (χ2, p=
0,674). Đáng lưu ý vị trí gãy đầu trên xương đùi có p= 0,061, là trị số p thấp nhất trong các
vị trí gãy xương.
Bảng 12: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với gãy đầu trên xương đùi
Không thiếu n (%) Thiếu n (%)
1,26 (1,06 – 1,50) 0,013
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương
Tỉ lệ thiếu Vitamin D ở nhóm bệnh nhân gãy
đầu trên xương đùi cao gấp 1,26 lần ở nhóm bệnh
nhân gãy xương nơi khác (χ2, p= 0,013).
Bệnh nhân gãy đầu trên xương đùi có
khuynh hướng thiếu Vitamin D trầm trọng hơn
người bị gãy nơi khác (χ2 khuynh hướng,
p<0,001).
Bảng 13: Mối liên quan giữa phân độ nồng độ
25(OH)Vitamin D3 với gãy đầu trên xương đùi
25(OH)VitaminD3 Gãy nơi
khác
Gãy đầu trên xương đùi
cộng
Bình thường 124 (48,82) 49 (36,03) 173 (44,36) Thiếu nhẹ 104 (40,94) 54 (39,71) 158 (40,51) Thiếu trung bình 25 (9,84) 29 (21,32) 54 (13,85)
Tổng cộng 254 (100,0) 136 (100,0) 390 (100,0)
p = 0,001
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương khuynh hướng, p=0,001 là giá trị chung cho cả bảng.
Trang 7Bảng 14: Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với phân độ nồng độ Calcium toàn phần trong máu
Phân độ nồng độ
Calcium
25(OH)VitaminD3 trong máu
Không thiếu Thiếu
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương, p=0,002 là giá trị chung cho cả bảng.
Tỉ lệ thiếu Vitamin D phân bố theo các
nhóm phân độ nồng độ Calcium toàn phần
trong máu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (χ2, p= 0,002).
Bảng 15: Mối liên quan giữa phân độ nồng độ 25(OH) Vitamin D3 với phân độ nồng độ Calcium toàn phần
trong máu
Phân độ 25(OH)Vitamin D3
Phân độ nồng độ Calcium
Tổng cộng
p = 0,001
Ghi chú: kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương khuynh hướng, p=0,001 là giá trị chung cho cả bảng.
Người có Calcium máu toàn phần càng thấp
thì có khuynh hướng thiếu Vitamin D càng trầm
trọng (χ2 khuynh hướng, p= 0,001).
BÀN LUẬN
Ở bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi, tình
hình thiếu Vitamin D ở người lớn tuổi gãy
xương nằm viện là phổ biến. Trung bình cứ 50
bệnh nhân lớn tuổi gãy xương nằm viện thì có
31 bệnh nhân bị thiếu Vitamin D ở các mức độ
khác nhau. Sự phổ biến này cũng tương đồng
với ghi nhận của y văn thế giới. Mức độ thiếu
Vitamin D ở đối tượng này cũng khá trầm trọng.
Trong nhóm bệnh nhân bị thiếu Vitamin D,
đáng chú ý hơn cả khi có một tỉ lệ khá cao bệnh
nhân thiếu Vitamin D mức độ trung bình và
nặng, có 58/216 ca chiếm tỉ lệ 26,85%.
Tỉ lệ hiện mắc của thiếu Vitamin D ở bệnh
nhân nữ lớn tuổi gãy xương nằm viện nhiều gấp
2,19 lần ở bệnh nhân nam. Đồng thời, nữ giới có
khuynh hướng thiếu Vitamin D trầm trọng hơn
nam giới. Tuổi càng cao, tình trạng thiếu Vitamin D càng phổ biến và mức độ thiếu hụt Vitamin D càng trầm trọng. Điều này cũng giống với ghi nhận của y văn trong nước và thế giới.
Tỉ lệ thiếu Vitamin D trong nhóm người đến
từ tỉnh khác phổ biến hơn và có mức độ thiếu hụt Vitamin D trầm trọng hơn nhóm bệnh nhân
ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
Không có mối liên quan giữa hút thuốc lá, uống rượu và thiếu Vitamin D. Nhưng tập thể dục có mối liên quan về tính phổ biến và mức độ trầm trọng với thiếu Vitamin D.
Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ loãng xương cũng sẽ làm tăng 1,79 lần nguy cơ thiếu Vitamin D so với người không có yếu tố nguy
cơ loãng xương.
Không có mối liên quan giữa thiếu Vitamin
D và nguyên nhân chấn thương nhưng cơ chế chấn thương có mối liên quan về tính phổ biến
Trang 8Bệnh nhân bị gãy đầu trên xương đùi có
nguy cơ thiếu Vitamin D nhiều hơn và trầm
trọng hơn so với gãy xương nơi khác.
Người có Calcium máu toàn phần càng
thấp thì có tình trạng thiếu Vitamin D càng
phổ biến và mức độ thiếu Vitamin D càng
trầm trọng hơn. Người có nồng độ Calcium
máu toàn phần bình thường sẽ giảm 73% nguy
cơ thiếu Vitamin D so với bệnh nhân thiếu
Calcium máu. Điều này cũng tương đồng với
ghi nhận của y văn thế giới.
KẾT LUẬN
Với các đặc điểm nêu trên, chúng tôi kết
luận:
Tình hình thiếu Vitamin D ở bệnh nhân
gãy xương trên 50 tuổi là phổ biến và khá
trầm trọng
55,38% bệnh nhân gãy xương trên 50 tuổi bị
thiếu Vitamin D, nhiều gấp 1,24 lần bệnh nhân
không thiếu Vitamin D. Nồng độ
25(OH)Vitamin D3 trung bình trong máu của
mẫu nghiên cứu là 49,17 ± 19,87 nmol/L. Nồng
độ này ở mức thiếu hụt. Trong số các bệnh nhân
thiếu Vitamin D, có đến 26,85% thiếu mức trung
bình và nặng.
Mối liên quan giữa thiếu Vitamin D với
các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Liên quan đến tình trạng thiếu Vitamin D
phổ biến và liên quan khuynh hướng với mức
độ thiếu Vitamin D trầm trọng là các biến số:
nhóm tuổi cao, nữ giới, thiếu Calcium máu
toàn phần.
Chúng tôi chưa có cơ sở để xác nhận mối
liên quan giữa thiếu Vitamin D với bệnh nội
khoa đi kèm, nguyên nhân chấn thương, các vị
trí gãy xương ngoài cột sống (ngoại trừ gãy đầu trên xương đùi).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Allali F, El Aichaoui S, Khazani H, Benyahia B, Saoud B, El Kabbaj S, Bahiri R, Abouqal R, Hajjaj‐Hassouni N (2009), High prevalence of hypovitaminosis D in Morocco: relationship to lifestyle, physical performance, bone markers, and bone mineral density, Semin Arthritis Rheum, (2009) Jun;38(6):444‐51
2 Bischoff‐Ferrari HA (2011), The role of falls
in fracture prediction. Curr Osteoporos Rep, 2011 Sep;9(3): 116‐
21.
3 Girgis CM, Clifton‐Bligh RJ, Hamrick MW, Holick MF, Gunton JE (2013), The Roles of Vitamin D in Skeletal Muscle: Form, Function, and Metabolism, Endocr Rev 2013 34(1): 33‐
83.
4 Houston DK, Tooze JA, Neiberg RH, Hausman DB, Johnson
MA, Cauley JA, Bauer DC, Shea MK (2012) Low 25‐ Hydroxyvitamin D status and change in physical performance and strength in older adults: the Health, Aging, and Body Composition Study. Am J Epidemiol. 176(11):1025‐
34.
5 Houston DK, Neiberg RH, Tooze JA, Hausman DB, Johnson
MA, Cauley JA, Bauer DC, Shea MK, Schwartz GG, Williamson JD, Harris TB, Kritchevsky SB (2013). Low 25‐ Hydroxyvitamin D predicts the Onset of Mobility Limitation and Disability in Community‐Dwelling Older Adults: The
Health ABC Study.Gerontol A Biol Sci Med Sci. 68(2): 181‐187.
6 Forrest KY, Stuhldreher WL (2011), Prevalence and correlates
of vitamin D deficiency in US adults, Nutr Res, 2011 Jan;
31(1):48‐54.
7 Ho‐Pham LT, Nguyen ND, Lai TQ, Eisman JA, Nguyen TV (2010), Vitamin D status and parathyroid hormone in a urban
population in Vietnam, Osteoporos Int, 2011 Jan;22(1):241‐8. doi: 10.1007/s00198‐010‐1207‐4. Epub 2010 Apr 23.
8 Glowacki J, Harris MB, Simon J, Wright J, Kolatkar NS, Thornhill TS, Leboff MS (2010), Brigham Fracture Intervention Team Initiatives for Hospital Patients with Hip
Fractures, A Paradigm Shift International Journal of
Endocrinology Volume 2010 (2010), Article ID 590751, 7 pages.
9 Larrosa M, Gomez A, Casado E, Moreno M, Vázquez I, Orellana C, Berlanga E, Ramon J, Gratacos J (2012), Hypovitaminosis D as a risk factor of hip fracture severity,
Osteoporos Int, 2012 Feb;23(2):607‐14.
Ngày nhận bài báo: 24/10/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24/10/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014