1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi tại vùng nông thôn khu vực phía Nam

7 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 408,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân số người cao tuổi tại Việt Nam được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong những thập niên sắp tới. Chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu các gánh nặng bệnh tật cho người cao tuổi. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi tại khu vực phía Nam. Vì vậy, nghiên cứu với mục tiêu xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của người cao tuổi tại vùng nông thôn khu vực phía Nam.

Trang 1

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE  

BAN ĐẦU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VÙNG NÔNG THÔN  

KHU VỰC PHÍA NAM 

Nguyễn Thúy Ngọc*, Nguyễn Ngọc Duy* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong những 

thập niên sắp tới. Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu các  gánh nặng bệnh tật cho NCT. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về khả năng tiếp cận dịch vụ  CSSKBĐ của NCT tại khu vực phía Nam. 

Mục tiêu: Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT tại vùng nông thôn khu vực phía Nam.  Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến 

Tre vào năm 2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 520 NCT dựa trên bộ câu hỏi thiết kế  sẵn và phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng là trưởng trạm và nhân viên trạm y tế xã. Số liệu được nhập bằng  phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16; p <0,05 được chọn làm mức ý nghĩa thống kê. 

Kết quả: Có 27% NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ; 12,2% NCT mù chữ; 14,7% sống một mình; 

73,4% mắc ít nhất một bệnh mạn tính; 15,8% có hạn chế vận động và 79% gặp vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần  qua. Đối với việc sử dụng các dịch vụ CSSK, 34,3% NCT có đi khám sức khỏe tổng quát; 77,6% có khám theo dõi  bệnh mạn tính, trong đó gần một nửa có theo dõi định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ; 30,7% đi khám khi có vấn 

đề về sức khỏe. Các yếu tố bao gồm trình độ học vấn, kiến thức về chăm sóc sức khỏe, thu nhập, bảo hiểm y tế, tự  đánh giá tình trạng sức khỏe bản thân của NCT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc sử dụng các loại  dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT còn thiếu, chất  lượng của các dịch vụ hiện có cũng không đáp ứng được một cách có hiệu quả do sự hạn chế về nguồn nhân lực,  kinh phí, trang thiết bị và sự xuống cấp của một số cơ sở.  

Kết luận: Dịch vụ CSSKBĐ cho NCT thiếu cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng không nhỏ đến khả 

năng tiếp cận của NCT. Một số yếu tố trong đó trình độ học vấn và tình trạng bảo hiểm y tế có mối liên quan  mạnh với việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT.  

Từ khóa: tiếp cận, dịch vụ CSSKBĐ, người cao tuổi, vùng nông thôn 

ABSTRACT 

ACCESS TO PRIMARY HEALTH CARE SERVICES BY OLDER PEOPLE IN RURAL AREAS 

OF SOUTHERN VIETNAM 

Nguyen Thuy Ngoc, Nguyen Ngoc Duy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 500 – 506 

Background: The older population in Vietnam is projected to rapidly increase in the next decades. Primary 

health care (PHC) plays an important role in reducing disease burdens among older people. However, there have  been few studies related on access to PHC services, especially by older people in southern Vietnam.  

Objectives: To measure the access to PHC services by older people and associated factors in rural areas of 

southern Vietnam. 

* Viện Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: Ths.Bs. Nguyễn Thúy Ngọc  ĐT: 0989876176  Email: nguyenthuyngoc@ihph.org.vn 

Trang 2

Methods: A cross‐sectional study was conducted at Giong Trom district, Ben Tre province in 2013. The 

study included a quantitative survey with structured questionnaire on 520 elderly and a qualitative interview on  the heads and healthcare staff of four commune health stations. Epidata 3.1 software was used for data entry and  SPSS16 was applied for data analysis. p <0.05 was considered as a statistical significance.  

Result: The propotion of older people in the age of 80 and above was 27%. Nearly 70% of older people were 

female,  12.2%  were  illiteracy,  14.7%  were  living  alone,  73.4%  had  suffered  from  at  least  one  chronic  disease,  15.8%  had  somelimitations  in  their  daily  activities,and  79%  had  health  troubles  within  the  last  four  weeks.In  terms of the utilisation of health care services, 34.3% of older people had general examination, 77.6% had chronic  disease  follow‐up  examination  of  those  nearly  half  used  the  examination  regularly,  and  30.7%used  health  examination services when having health troubles. Factors including educational levels, knowledge on health care,  income,  health  insurance,  self‐evaluated  health  status  of  older  people  were  significantly  associated  with  the  utilisation of health care services. Results from commune health station surveys showed that PHC services for  older peole were inadequate and the quality of available services were low as a result of limitations of personnel,  infrastructure and financial resources at several commune health stations.  

Conclusion: PHC services for older peole were inadequate in terms of both quantity and quality. That might 

influence  the  access  to  health  care  services  by  older  people.  Some  associated  factors  were  found  in  which  educational  levels  and  health insurance  status  had  strongly  significant  associations  with  the  use  of health  care  services by older peole.  

Keywords: access, primary health care, older people, rural areas 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam 

ngày càng gia tăng nhanh chóng trong những 

thập  niên  gần  đây.  Tỷ  lệ  NCT  (từ  60  tuổi  trở 

lên)  chỉ  vào  khoảng  7,3%  vào  năm  1990  đã 

tăng  lên  8,4%  vào  năm  2010  và  ước  tính  lên 

đến  18,3%  vào  năm 2030(6).  Việc  di  chuyển  số 

người trong độ tuổi lao động từ nông thôn ra 

thành thị  đã  làm  tăng  tỷ  lệ  NCT  sống  ở  vùng 

nông thôn và NCT sống neo đơn. Bên cạnh đó, 

trên  2/3  số  NCT  sống  tại  các  khu  vực  nông 

thôn có trình độ học vấn thấp, điều kiện sống 

còn  nhiều  thiếu  thốn,  và  mắc  các  bệnh  mạn 

tính như tim mạch, tăng huyết áp, các bệnh về 

mắt,  cơ  xương  khớp  cũng  như  các  bệnh  phổi 

mạn  tính(1,3).  Điều  này  làm  cho  nhóm  dân  số 

NCT  ở  nông  thôn  trở  nên  dễ  tổn  thương  hơn 

so với các nhóm dân số khác. 

Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng 

vai  trò  quan  trọng  trong  việc  làm  giảm  thiểu 

gánh nặng bệnh tật của NCT. CSSKBĐ ước tính 

có  thể  giảm  tới  70%  gánh  nặng  bệnh  tật  toàn 

cầu(8).Nhận thức được điều này, chính phủ Việt 

Nam  đã  ban  hành  Luật  Người  Cao  Tuổi  số 

16/2009‐L‐CTN  quy  định  CSSKBĐ  là  một  trong  những  chiến  lược  chăm  sóc  hàng  đầu  để  nâng  cao  sức  khỏe  NCT(7).  Luật  này  đã  quy  định  rõ  trách nhiệm của trạm y tế xã trong việc cung cấp  các  dịch  vụ  CSSKBĐ  cho  NCT  bao  gồm  truyền  thông,  giáo  dục  sức  khỏe;  quản  lý  hồ  sơ  sức  khỏe;  khám  sức  khỏe  định  kỳ  (phối  hợp  với  bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện); chăm sóc  sức  khỏe  tại  nhà  cho  NCT  già  yếu,  tàn  tật;  và  được ưu tiên khi khám bệnh tại trạm. 

Cho  đến  nay,  một  số  nghiên  cứu  về  khả  năng  tiếp  cận  với  dịch  vụ  CSSKBĐ  được  thực  hiện  tại  Việt  Nam  trên  nhóm  dân  số  nói  chung 

đã cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ CSSKBĐ còn  thấp.  Nguyên  nhân  chủ  yếu  cản  trở  người  dân  tiếp  cận  dịch  vụ  CSSKBĐ  chính  là  chất  lượng  dịch  vụ  còn  thấp(5,6).  Trước  thực  trạng  trên  và  trong  bối  cảnh  Luật  người  cao  tuổi  được  ban  hành và có hiệu lực từ năm 2010, chúng tôi tiến  hành nghiên cứu này.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ  của NCT tại vùng nông thôn và các yếu tố liên 

Trang 3

quan. Mục tiêu cụ thể: (1) Xác định các đặc điểm 

dân số học, tình trạng sức khỏe và kiến thức về 

chăm  sóc  sức  khỏe  của  NCT;  (2)  Xác  định  khả 

năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT trên ba 

khía cạnh: khả năng sẵn có, khả năng chi trả và 

khả năng chấp nhận; và (3) Xác định các yếu tố 

liên  quan  đến  khả  năng  tiếp  cận  dịch  vụ 

CSSKBĐ của NCT.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  cắt  ngang  mô  tả  tiến  hành  tại 

huyện  Giồng  Trôm,  tỉnh  Bến  Tre  vào  tháng  1 

năm  2013.  Nghiên  cứu  sử  dụng  phương  pháp 

khảo sát định lượng trên 520 NCT được lựa chọn 

theo phương pháp lấy mẫu phân tầng hai bậc tại 

bốn xã trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, phương 

pháp  khảo  sát  định  tính  cũng  được  sử  dụng 

trong  nghiên  cứu  để  tìm  hiểu  về  sự  sẵn  có  của 

các  dịch  vụ  CSSKBĐ  cho  NCT  tại  trạm  y  tế  xã 

cũng  như  những  thuận  lợi/khó  khăn  khi  triển 

khai/không triển khai các dịch vụ này.  

Khảo  sát  định  lượng  sử  dụng  bộ  câu  hỏi 

thiết  kế  sẵn  bao  gồm  các  câu  hỏi  về  đặc  điểm 

dân  số  xã  hội  học,  kiến  thức  về  chăm  sóc  sức 

khỏe, tình trạng sức khỏe (có bệnh mạn tính, hạn 

chế  vận  động,  có  các  vấn  đề  sức  khỏe  trong  4 

tuần qua), tình trạng sử dụng các dịch vụ chăm 

sóc  sức  khỏe  (khám  sức  khỏe  tổng  quát,  khám 

theo  dõi  bệnh  mạn  tính,  khám  theo  dõi  bệnh 

mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ 

và khám khi có các vấn đề về sức khỏe) và tình 

trạng bảo hiểm y tế. Khảo sát định tính sử dụng 

bộ câu hỏi mở để phỏng vấn sâu các nhóm đối 

tượng là trưởng trạm y tế và nhân viên của trạm. 

Ngoài ra, một bảng kiểm được sử dụng để khảo 

sát về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trạm y 

tế trong nghiên cứu. 

Số  liệu  sau  khi  được  thu  thập  được  nhập 

bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng 

phần  mềm  SPSS16.  Thống  kê  mô  tả  bao  gồm 

bảng phân phối tần suất đối với biến định tính 

và  trung  bình  và  độ  lệch  chuẩn  đối  với  biến 

định  lượng.  Để  kiểm  tra  mối  liên  quan  giữa 

khả năng sử dụng dịch vụ CSSKBĐ và các đặc 

điểm  của  NCT,  sử  dụng  phép  kiểm  χ2  hoặc  Fisher’s exact test. P <0,05 được chọn làm mức 

ý nghĩa thống kê.  

KẾT QUẢ‐BÀN LUẬN  Đặc điểm dân số xã hội học của đối tượng  tham gia nghiên cứu 

Bảng 1:Đặc điểm dân số xã hội học của NCT  

Đặc điểm của đối tượng Kết quả

n %

Tuổi (N=520)

Giới (N=520)

Trình độ học vấn (N=518)

Dân tộc (N=516)

Tôn giáo (N=518)

Tình trạng hôn nhân (N=516)

Tình trạng sống (N=518)

Tình trạng lao động (N=518)

Thu nhập/trợ cấp(N=518)

Trang 4

Đặc điểm của đối tượng Kết quả

n %

Nguồn thu nhập/trợ cấp (N=373)

Tổng thu nhập/trợ cấp mỗi tháng

(N=362)

2.000.000 VND- <3.000.000 đồng 45 12,4

Loại thẻ bảo hiểm y tế (N=432)

Trong 520 NCT tham gia nghiên cứu, có 27% 

NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ. Nhóm 

đối  tượng  này  chính  là  những  nhóm  dễ  bị  tổn 

thương hơn so với các nhóm tuổi khác. Theo số 

liệu của Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bến Tre, sự phân 

bố  tuổi  và  giới  của  NCT  trong  nghiên  cứu  này 

đại diện cho dân số NCT chung của tỉnh. Ngoài 

hai yếu tố tuổi và giới, một số đặc điểm khác của 

NCT  trong  nghiên  cứu  được  phân  bố  như  sau: 

83% NCT có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống; 

gần 100% là người Kinh; 48% đã mất vợ/chồng; 

khoảng  32%  sống  một  mình  hoặc  sống  với 

vợ/chồng  hoặc  sống  với  cháu.  Hơn  50%  NCT 

vẫn  đang  làm  việc  và  gần  40%  có  thu  nhập  từ 

công việc đang làm. Tỷ lệ NCT có thẻ bảo hiểm y 

tế là 84% trong đó 2/3 là thẻ bảo hiểm y tế miễn 

phí được cấp cho NCT.  

Tình  trạng  sức  khỏe  của  đối  tượng  tham 

gia nghiên cứu 

Tỷ lệ NCT mắc ít nhất một bệnh mạn tính là 

73%, bị hạn chế trong một số hoạt động là 16% 

và có các vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần qua là 

gần  80%.  Khi  được  hỏi  về  tình  trạng  sức  khỏe 

của  bản  thân,  23%  NCT  tự  đánh  giá  sức  khỏe 

bản  thân  tốt  hoặc  rất  tốt;  46%  là  trung  bình  và  31% là kém hoặc rất kém.  

Bảng 2: Tình trạng sức khỏe của NCT  

n %

Bệnh mạn tính (N=518)

Loại bệnh mạn tính (N=380)

Thời gian mắc bệnh (N=380)

Hạn chế vận động (N=518)

Các loại vận động bị hạn chế (N=82)

Mức độ hạn chế (N=81)

Vấn đề sức khỏe trong 4 tuần qua (N=518)

Các triệu chứng gặp phải (N=409)

Mức độ triệu chứng (N=407)

Trang 5

n %

Kiến  thức  về  chăm  sóc  sức  khỏe  của  đối 

tượng tham gia nghiên cứu 

Bảng 3:Kiến thức về chăm sóc sức khỏe của NCT  

n %

Trong  nghiên  cứu  này,  NCT  có  kiến  thức 

được định nghĩa là khi biết ít nhất một phương 

pháp nâng cao sức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh 

mạn tính. Chỉ có 1/3 NCT biết một số loại thực 

phẩm  tốt  cho  việc  phòng  ngừa  bệnh  mạn  tính 

như cao huyết áp, đái tháo đường hoặc biết cách 

nâng cao sức khỏe như tập dưỡng sinh.  

Thực  trạng  tiếp  cận  dịch  vụ  CSSKBĐ  của 

NCT 

Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch 

vụ  CSSKBĐ  dành  cho  NCT  theo  như  quy  định 

tại Luật Người cao tuổi còn thiếu cả về số lượng 

và  chất  lượng.  Khám  chữa  bệnh  là  hoạt  động 

chủ yếu của các trạm y tế. Tuy nhiên, không có 

hoạt động khám chữa bệnh nào dành riêng cho 

NCT  và  chỉ  có  một  trong  số  bốn  trạm  y  tế  có 

dành ưu tiên cho NCT khi khám chữa bệnh tại 

trạm. Vấn đề truyền thông và giáo dục sức khỏe 

cũng như hướng dẫn các kỹ năng chăm sóc sức 

khỏe, phòng ngừa bệnh tật có được tiến hành tại 

các  trạm  y  tế  nhưng  không  thường  xuyên.  Các 

hoạt động khác như chăm sóc sức khỏe tại nhà, 

quản lý và theo dõi hồ sơ sức khỏe và khám sức 

khỏe  định  kỳ  không  được  triển  khai  thực  hiện. 

Nguyên  nhân  chính  của  việc  thiếu  về  số  lượng 

và kém về chất lượng của các dịch vụ này là do 

các trạm y tế bị hạn chế về nguồn nhân lực cũng 

như kinh phí hoạt động; họ không có nhân viên 

chuyên  trách,  không  đủ  thuốc,  trang  thiết  bị, 

không  được  cấp  kinh  phí  để  triển  khai  hoạt 

động. Ngoài ra, nhiều nhân viên y tế không thấy 

được  trách  nhiệm  của  họ  trong  việc  tiến  hành 

các  hoạt  động  CSSKBĐ  cho  NCT;  một  số  thậm  chí còn không biết về Luật Người cao tuổi. 

Bảng 4:Tình hình sử dụng dịch vụ CSSKBĐ của 

NCT  

n %

Khám sức khỏe định kỳ (N=516)

Khám theo dõi bệnh mạn tính (N=379)

Khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ (N=380)

Khám khi có vấn đề về sức khỏe (N=409)

Khi phỏng vấn NCT về tình hình sử dụng  dịch vụ CSSKBĐ, kết quả cho thấy có khoảng  1/3  số  NCT  đi  khám  sức  khỏe  ít  nhất  1  lần  trong  vòng  1  năm  qua.  Trong  số  NCT  mắc  bệnh mạn tính có 77,6% sử dụng dịch vụ khám  theo dõi bệnh mạn tính và gần một nửa trong 

số  này  sử  dụng  dịch  vụ  khám  theo  dõi  bệnh  mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sĩ.  Trong số NCT có vấn đề về sức khỏe như nhức  đầu, chóng mặt, đau lưng…trong vòng 4 tuần  qua  thì  chỉ  có  30,7%  đến  cơ  sở  y  tế  để  khám  bệnh. Cơ sở y tế họ đến khám chủ yếu là bệnh  viện đa khoa tỉnh và huyện.  

Các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận  dịch vụ CSSKBĐ của NCT  

Việc thiếu các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT cả 

về số lượng và chất lượng của trạm y tế xã được  xem như là rào cản chính cho NCT tiếp cận với  các  dịch  vụ.  Khi  được  hỏi  về  mong  muốn  của  bản  thân  trong  việc  chăm  sóc  sức  khỏe,  nhiều  NCT  đã  trả  lời  rằng  họ  muốn  được  khám  sức  khỏe định kỳ ít nhất một lần trong một năm; một 

số người mong được nhân viên y tế hướng dẫn, 

tư vấn về cách chăm sóc sức khỏe; môt số muốn  được  khám  chữa  bệnh  tại  nhà;  một  số  muốn  được  khám  và  phát  thuốc  miễn  phí…Bên  cạnh 

đó, một số NCT nói rằng họ sẽ không sử dụng 

Trang 6

dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế mà sẽ tới 

các  cơ  sở  y  tế  khác  vì  họ  không  tin  tưởng  vào 

chất lượng dịch vụ. 

Các yếu tố trình độ học vấn và thu nhập của 

NCT  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với 

việc  sử  dụng  các  dịch  vụ  khám  sức  khỏe  tổng 

quát  và  khám  khi  có  các  vấn  đề  về  sức  khỏe. 

Nhóm  NCT  không  đi  học  có  tỷ  lệ  sử  dụng  các 

dịch vụ khám sức khỏe tổng quát thấp hơn hẳn 

(26,2%) so với nhóm đã học xong cấp 1 (44,2%) 

và nhóm có trình độ từ cấp 2 trở lên (45.5%) (p 

<0,001).  Tương  tự,  nhóm  NCT  không  đi  học  đi 

khám khi có vấn đề về sức khỏe cũng thấp hơn 

so  với  2  nhóm  còn  lại  (p  <0,05).  Đối  với  yếu  tố 

thu nhập, khi xét 2 nhóm có thu nhập và không 

có thu nhập nói chung thì tỷ lệ NCT có thu nhập 

sử  dụng  các  dịch  vụ  nêu  trên  thấp  hơn  so  với 

nhóm  không  có  thu  nhập.  Tuy  nhiên,  khi  xét 

theo nguồn thu nhập thì tỷ lệ NCT có thu nhập 

từ  lương  hưu  sử  dụng  dịch  vụ  khám  sức  khỏe 

tổng  quát  cao  gần  gấp  đôi  nhóm  không  có  thu 

nhập và ngược lại tỷ lệ NCT có thu nhập từ công 

việc đang làm ít sử dụng dịch vụ hơn nhóm còn 

lại. Điều này có thể lý giải rằng đối tượng NCT 

có  thu  nhập  từ  lương  hưu  là  những  người  đã 

từng làm việc cho các đơn vị nhà nước, thường 

có nhận thức về tầm quan trọng của việc khám 

sức khỏe tổng quát cao hơn các đối tượng khác; 

NCT  có  thu  nhập  từ  công  việc  đang  làm  ít  đi 

khám bệnh hơn có thể do họ cảm thấy sức khỏe 

tốt  hơn  hoặc  họ  không  có  thời  gian  để  đi  kiểm 

tra sức khỏe. Tổng thu nhập hàng tháng cũng có 

mối  liên  quan  với  sử  dụng  dịch  vụ  trong  đó 

NCT có thu nhập ≥ 3 triệu đồng sử dụng dịch vụ 

cao hơn so với các nhóm có thu nhập khác. Điều 

này dễ lý giải khi người giàu có hoặc khá giả sẽ 

có  nhiều  cơ  hội  để  sử  dụng  dịch  vụ  sức  khỏe 

hơn so với người nghèo, và họ cũng thường có 

trình độ học vấn và nhận thức về chăm sóc sức 

khỏe tốt hơn. 

Bên cạnh các yếu tố về trình độ học vấn và 

thu nhập, yếu tố tự đánh giá tình trạng sức khỏe 

của  bản  thân  cũng  có  mối  liên  quan  có ý  nghĩa 

thống  kê  với  việc  khám  sức  khỏe  tổng  quát  và 

việc  khám  theo  dõi  các  bệnh  mãn  tính  định  kỳ  hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ. Trên 40% NCT tự  đánh giá sức khỏe của mình kém có sử dụng hai  loại  dịch  vụ  nêu  trên,  cao  hơn  hơn  10%  so  với  nhóm tự đánh giá sức khỏe bình thường hoặc tốt  (p <0,01). Sự khác biệt này có thể là do nhóm tự  đánh giá sức khỏe của mình kém là nhóm đang 

có  bệnh  mạn  tính  nên  họ  sẽ  thường  xuyên  đi  khám và theo dõi tình hình bệnh tật hơn là các  nhóm còn lại. 

Trong nghiên cứu này, các yếu tố có mối liên  quan  đến  việc  sử  dụng  dịch  vụ  khám  theo  dõi  bệnh mạn tính định kỳ là yếu tố có kiến thức về  nâng  cao  sức  khỏe,  phòng  ngừa  bệnh  tật  và  có  thẻ bảo hiểm y tế. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ này là  59,5% ở nhóm NCT có kiến thức so với 39,5% ở  nhóm  không  có  kiến  thức  (p  <0,05);  gần  81%  ở  nhóm có thẻ bảo hiểm y tế so với khoảng 56% ở  nhóm  không  có  (p  <0,001).  Yếu  tố  có  kiến  thức 

và có thẻ bảo hiểm y tế có thể được xem như là  một yếu tố thúc đẩy NCT sử dụng dịch vụ khám  theo dõi bệnh mãn tính định kỳ.  

Khi  có  các  vấn  đề  về  sức  khỏe,  yếu  tố  tự  đánh  giá  mức  độ  của  triệu  chứng  (nặng,  vừa,  nhẹ)  có  mối  liên  quan  mạnh  với  việc  đi  khám  bệnh hay để các triệu chứng tự qua đi. Tỷ lệ đi  khám khi có các vấn đề về sức khỏe ở nhóm tự  đánh giá mức độ của vấn đề là nhẹ là 24,4%; vừa 

là 50,3% và nặng là 61,5%. Sự khác biệt này có ý  nghĩa thống kê với p <0,001. 

KẾT LUẬN 

Các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT tại trạm y tế  thiếu  cả  về  số  lượng  và  chất  lượng,  ảnh  hưởng  tới khả năng tiếp cận của NCT; trình độ học vấn 

và kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa  bệnh  tật  có  mối  liên  quan  với  việc  sử  dụng  các  dịch vụ khám sức khỏe tổng quát và khám theo  dõi bệnh mạn tính định kỳ; nhóm NCT có lương  hưu  hoặc  thu  nhập  trên  3  triệu/tháng  có  khả  năng sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tổng quát  cao hơn các nhóm khác; nhóm NCT tự đánh giá  sức khỏe bản thân kém có khả năng đi khám sức  khỏe tổng quát và khám theo dõi bệnh mạn tính 

Trang 7

định kỳ cao hơn các nhóm khác; tỷ lệ nhóm NCT 

đi khám bệnh khi có vấn đề về sức khỏe ở nhóm 

tự đánh giá mức độ của vấn đề là vừa và nặng 

cao hơn ở nhóm chỉ cảm thấy ở mức độ nhẹ; tình 

trạng có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng 

ngừa bệnh tật và tình trạng có bảo hiểm y tế có 

mối liên quan chặt chẽ với việc sử dụng dịch vụ 

khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ. 

KIẾN NGHỊ 

Chính  phủ  nên  xem  xét  và  đưa  hoạt  động 

CSSKBĐ  cho  NCT  trở  thành  một  chương  trình 

mục tiêu y tế quốc gia. Chính quyền địa phương 

cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể để 

tạo điều kiện cho các trạm y tế triển khai các dịch 

vụ CSSKBĐ cho NCT, đồng thời dành ngân sách 

riêng cho các hoạt động này hàng năm. Ngoài ra, 

việc  nâng  cao  nhận  thức  cho  nhà  quản  lý  và 

nhân viên y tế về trách nhiệm thực hiện các hoạt 

động  CSSKBĐ  cho  NCT  cần  được  thực  hiện 

sớm.  Trong  các  nghiên  cứu  tiếp  theo,  cần  tập 

trung  hơn  vào  nhóm  NCT  thuộc  các  dân  tộc 

thiểu số vì đây là nhóm có trình độ học vấn thấp 

nhất  và  nghèo  nhất  ở  Việt  Nam.  Bên  cạnh  đó, 

những  rào  cản  về  ngôn  ngữ  và  văn  hóa  khiến 

cho  các  nhóm  dân  tộc  thiểu  số  trở  thành  nhóm 

dễ  bị  tổn  thương  và  cần  được  quan  tâm  hơn 

trong việc chăm sóc sức khỏe.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Hoi LV, Chuc NTK, Lindholm L (2010). Health‐related quality 

of  life  and  its  determinants,  among  older  people  in  rural  Vietnam. BMC Public Health, 10.354‐367. 

2 IFA  (2008).  Vietnam  summary  report:  Looking  after  and  increasing the role of aging in Vietnam. http://www.ifa‐fiv.org.  Accessed on 3 November 2012 

3 Ninh  HT,  Nhat  PD,  et  al.  (2010).  Health  and  nutritional  status  and related factors of elderly people in urban and rural areas in  Southern provinces in 2010. Bulletin on Social Determinants of  Health, 2, 48‐56. 

4 Tam  DTM,  Nhat  PD,  et  al.  (2010).  Utilization  of  healthcare  services  in  urban  and  rural  areas  in  Can  Tho  city  and  Hau  Giang  provinces,  2010.  Bulletin  on  Social  Determinants  of  Health. 2, 48‐56 

5 Thuan, NTB, Lofgren C, Lindholm L, Chuc NTK (2008). Choice 

of  healthcare  provider  following  reform  in  Vietnam.  BMC 

http://www.biomedcentral.com/content/pdf/1472‐6963‐8‐ 162.pdf. Accessed on April 15, 2012. 

http://esa.un.org/wpp/unpp/panel_indicators.htm.  Accessed  on  Apil 15, 2012. 

http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0& zone=4&ID=3845. Accessed on April 21, 2012. 

8 WHO (2008). World Health Report 2008: Primary Health Care:  Now More Than Ever. Geneve. Pp 56‐78. 

  Ngày nhận bài báo: 15/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/6/2014 Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w