Dân số người cao tuổi tại Việt Nam được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong những thập niên sắp tới. Chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu các gánh nặng bệnh tật cho người cao tuổi. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của người cao tuổi tại khu vực phía Nam. Vì vậy, nghiên cứu với mục tiêu xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của người cao tuổi tại vùng nông thôn khu vực phía Nam.
Trang 1KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
BAN ĐẦU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VÙNG NÔNG THÔN
KHU VỰC PHÍA NAM
Nguyễn Thúy Ngọc*, Nguyễn Ngọc Duy*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong những
thập niên sắp tới. Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu các gánh nặng bệnh tật cho NCT. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT tại khu vực phía Nam.
Mục tiêu: Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT tại vùng nông thôn khu vực phía Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến
Tre vào năm 2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 520 NCT dựa trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn và phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng là trưởng trạm và nhân viên trạm y tế xã. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16; p <0,05 được chọn làm mức ý nghĩa thống kê.
Kết quả: Có 27% NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ; 12,2% NCT mù chữ; 14,7% sống một mình;
73,4% mắc ít nhất một bệnh mạn tính; 15,8% có hạn chế vận động và 79% gặp vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần qua. Đối với việc sử dụng các dịch vụ CSSK, 34,3% NCT có đi khám sức khỏe tổng quát; 77,6% có khám theo dõi bệnh mạn tính, trong đó gần một nửa có theo dõi định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ; 30,7% đi khám khi có vấn
đề về sức khỏe. Các yếu tố bao gồm trình độ học vấn, kiến thức về chăm sóc sức khỏe, thu nhập, bảo hiểm y tế, tự đánh giá tình trạng sức khỏe bản thân của NCT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc sử dụng các loại dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT còn thiếu, chất lượng của các dịch vụ hiện có cũng không đáp ứng được một cách có hiệu quả do sự hạn chế về nguồn nhân lực, kinh phí, trang thiết bị và sự xuống cấp của một số cơ sở.
Kết luận: Dịch vụ CSSKBĐ cho NCT thiếu cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng tiếp cận của NCT. Một số yếu tố trong đó trình độ học vấn và tình trạng bảo hiểm y tế có mối liên quan mạnh với việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT.
Từ khóa: tiếp cận, dịch vụ CSSKBĐ, người cao tuổi, vùng nông thôn
ABSTRACT
ACCESS TO PRIMARY HEALTH CARE SERVICES BY OLDER PEOPLE IN RURAL AREAS
OF SOUTHERN VIETNAM
Nguyen Thuy Ngoc, Nguyen Ngoc Duy
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 500 – 506
Background: The older population in Vietnam is projected to rapidly increase in the next decades. Primary
health care (PHC) plays an important role in reducing disease burdens among older people. However, there have been few studies related on access to PHC services, especially by older people in southern Vietnam.
Objectives: To measure the access to PHC services by older people and associated factors in rural areas of
southern Vietnam.
* Viện Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: Ths.Bs. Nguyễn Thúy Ngọc ĐT: 0989876176 Email: nguyenthuyngoc@ihph.org.vn
Trang 2Methods: A cross‐sectional study was conducted at Giong Trom district, Ben Tre province in 2013. The
study included a quantitative survey with structured questionnaire on 520 elderly and a qualitative interview on the heads and healthcare staff of four commune health stations. Epidata 3.1 software was used for data entry and SPSS16 was applied for data analysis. p <0.05 was considered as a statistical significance.
Result: The propotion of older people in the age of 80 and above was 27%. Nearly 70% of older people were
female, 12.2% were illiteracy, 14.7% were living alone, 73.4% had suffered from at least one chronic disease, 15.8% had somelimitations in their daily activities,and 79% had health troubles within the last four weeks.In terms of the utilisation of health care services, 34.3% of older people had general examination, 77.6% had chronic disease follow‐up examination of those nearly half used the examination regularly, and 30.7%used health examination services when having health troubles. Factors including educational levels, knowledge on health care, income, health insurance, self‐evaluated health status of older people were significantly associated with the utilisation of health care services. Results from commune health station surveys showed that PHC services for older peole were inadequate and the quality of available services were low as a result of limitations of personnel, infrastructure and financial resources at several commune health stations.
Conclusion: PHC services for older peole were inadequate in terms of both quantity and quality. That might
influence the access to health care services by older people. Some associated factors were found in which educational levels and health insurance status had strongly significant associations with the use of health care services by older peole.
Keywords: access, primary health care, older people, rural areas
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam
ngày càng gia tăng nhanh chóng trong những
thập niên gần đây. Tỷ lệ NCT (từ 60 tuổi trở
lên) chỉ vào khoảng 7,3% vào năm 1990 đã
tăng lên 8,4% vào năm 2010 và ước tính lên
đến 18,3% vào năm 2030(6). Việc di chuyển số
người trong độ tuổi lao động từ nông thôn ra
thành thị đã làm tăng tỷ lệ NCT sống ở vùng
nông thôn và NCT sống neo đơn. Bên cạnh đó,
trên 2/3 số NCT sống tại các khu vực nông
thôn có trình độ học vấn thấp, điều kiện sống
còn nhiều thiếu thốn, và mắc các bệnh mạn
tính như tim mạch, tăng huyết áp, các bệnh về
mắt, cơ xương khớp cũng như các bệnh phổi
mạn tính(1,3). Điều này làm cho nhóm dân số
NCT ở nông thôn trở nên dễ tổn thương hơn
so với các nhóm dân số khác.
Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) đóng
vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu
gánh nặng bệnh tật của NCT. CSSKBĐ ước tính
có thể giảm tới 70% gánh nặng bệnh tật toàn
cầu(8).Nhận thức được điều này, chính phủ Việt
Nam đã ban hành Luật Người Cao Tuổi số
16/2009‐L‐CTN quy định CSSKBĐ là một trong những chiến lược chăm sóc hàng đầu để nâng cao sức khỏe NCT(7). Luật này đã quy định rõ trách nhiệm của trạm y tế xã trong việc cung cấp các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT bao gồm truyền thông, giáo dục sức khỏe; quản lý hồ sơ sức khỏe; khám sức khỏe định kỳ (phối hợp với bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện); chăm sóc sức khỏe tại nhà cho NCT già yếu, tàn tật; và được ưu tiên khi khám bệnh tại trạm.
Cho đến nay, một số nghiên cứu về khả năng tiếp cận với dịch vụ CSSKBĐ được thực hiện tại Việt Nam trên nhóm dân số nói chung
đã cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ CSSKBĐ còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu cản trở người dân tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ chính là chất lượng dịch vụ còn thấp(5,6). Trước thực trạng trên và trong bối cảnh Luật người cao tuổi được ban hành và có hiệu lực từ năm 2010, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT tại vùng nông thôn và các yếu tố liên
Trang 3quan. Mục tiêu cụ thể: (1) Xác định các đặc điểm
dân số học, tình trạng sức khỏe và kiến thức về
chăm sóc sức khỏe của NCT; (2) Xác định khả
năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT trên ba
khía cạnh: khả năng sẵn có, khả năng chi trả và
khả năng chấp nhận; và (3) Xác định các yếu tố
liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ
CSSKBĐ của NCT.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến hành tại
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào tháng 1
năm 2013. Nghiên cứu sử dụng phương pháp
khảo sát định lượng trên 520 NCT được lựa chọn
theo phương pháp lấy mẫu phân tầng hai bậc tại
bốn xã trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, phương
pháp khảo sát định tính cũng được sử dụng
trong nghiên cứu để tìm hiểu về sự sẵn có của
các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT tại trạm y tế xã
cũng như những thuận lợi/khó khăn khi triển
khai/không triển khai các dịch vụ này.
Khảo sát định lượng sử dụng bộ câu hỏi
thiết kế sẵn bao gồm các câu hỏi về đặc điểm
dân số xã hội học, kiến thức về chăm sóc sức
khỏe, tình trạng sức khỏe (có bệnh mạn tính, hạn
chế vận động, có các vấn đề sức khỏe trong 4
tuần qua), tình trạng sử dụng các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe (khám sức khỏe tổng quát, khám
theo dõi bệnh mạn tính, khám theo dõi bệnh
mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ
và khám khi có các vấn đề về sức khỏe) và tình
trạng bảo hiểm y tế. Khảo sát định tính sử dụng
bộ câu hỏi mở để phỏng vấn sâu các nhóm đối
tượng là trưởng trạm y tế và nhân viên của trạm.
Ngoài ra, một bảng kiểm được sử dụng để khảo
sát về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trạm y
tế trong nghiên cứu.
Số liệu sau khi được thu thập được nhập
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng
phần mềm SPSS16. Thống kê mô tả bao gồm
bảng phân phối tần suất đối với biến định tính
và trung bình và độ lệch chuẩn đối với biến
định lượng. Để kiểm tra mối liên quan giữa
khả năng sử dụng dịch vụ CSSKBĐ và các đặc
điểm của NCT, sử dụng phép kiểm χ2 hoặc Fisher’s exact test. P <0,05 được chọn làm mức
ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ‐BÀN LUẬN Đặc điểm dân số xã hội học của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 1:Đặc điểm dân số xã hội học của NCT
Đặc điểm của đối tượng Kết quả
n %
Tuổi (N=520)
Giới (N=520)
Trình độ học vấn (N=518)
Dân tộc (N=516)
Tôn giáo (N=518)
Tình trạng hôn nhân (N=516)
Tình trạng sống (N=518)
Tình trạng lao động (N=518)
Thu nhập/trợ cấp(N=518)
Trang 4Đặc điểm của đối tượng Kết quả
n %
Nguồn thu nhập/trợ cấp (N=373)
Tổng thu nhập/trợ cấp mỗi tháng
(N=362)
2.000.000 VND- <3.000.000 đồng 45 12,4
Loại thẻ bảo hiểm y tế (N=432)
Trong 520 NCT tham gia nghiên cứu, có 27%
NCT trên 80 tuổi và gần 70% là phụ nữ. Nhóm
đối tượng này chính là những nhóm dễ bị tổn
thương hơn so với các nhóm tuổi khác. Theo số
liệu của Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bến Tre, sự phân
bố tuổi và giới của NCT trong nghiên cứu này
đại diện cho dân số NCT chung của tỉnh. Ngoài
hai yếu tố tuổi và giới, một số đặc điểm khác của
NCT trong nghiên cứu được phân bố như sau:
83% NCT có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống;
gần 100% là người Kinh; 48% đã mất vợ/chồng;
khoảng 32% sống một mình hoặc sống với
vợ/chồng hoặc sống với cháu. Hơn 50% NCT
vẫn đang làm việc và gần 40% có thu nhập từ
công việc đang làm. Tỷ lệ NCT có thẻ bảo hiểm y
tế là 84% trong đó 2/3 là thẻ bảo hiểm y tế miễn
phí được cấp cho NCT.
Tình trạng sức khỏe của đối tượng tham
gia nghiên cứu
Tỷ lệ NCT mắc ít nhất một bệnh mạn tính là
73%, bị hạn chế trong một số hoạt động là 16%
và có các vấn đề về sức khỏe trong 4 tuần qua là
gần 80%. Khi được hỏi về tình trạng sức khỏe
của bản thân, 23% NCT tự đánh giá sức khỏe
bản thân tốt hoặc rất tốt; 46% là trung bình và 31% là kém hoặc rất kém.
Bảng 2: Tình trạng sức khỏe của NCT
n %
Bệnh mạn tính (N=518)
Loại bệnh mạn tính (N=380)
Thời gian mắc bệnh (N=380)
Hạn chế vận động (N=518)
Các loại vận động bị hạn chế (N=82)
Mức độ hạn chế (N=81)
Vấn đề sức khỏe trong 4 tuần qua (N=518)
Các triệu chứng gặp phải (N=409)
Mức độ triệu chứng (N=407)
Trang 5n %
Kiến thức về chăm sóc sức khỏe của đối
tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 3:Kiến thức về chăm sóc sức khỏe của NCT
n %
Trong nghiên cứu này, NCT có kiến thức
được định nghĩa là khi biết ít nhất một phương
pháp nâng cao sức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh
mạn tính. Chỉ có 1/3 NCT biết một số loại thực
phẩm tốt cho việc phòng ngừa bệnh mạn tính
như cao huyết áp, đái tháo đường hoặc biết cách
nâng cao sức khỏe như tập dưỡng sinh.
Thực trạng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của
NCT
Kết quả khảo sát trạm y tế cho thấy các dịch
vụ CSSKBĐ dành cho NCT theo như quy định
tại Luật Người cao tuổi còn thiếu cả về số lượng
và chất lượng. Khám chữa bệnh là hoạt động
chủ yếu của các trạm y tế. Tuy nhiên, không có
hoạt động khám chữa bệnh nào dành riêng cho
NCT và chỉ có một trong số bốn trạm y tế có
dành ưu tiên cho NCT khi khám chữa bệnh tại
trạm. Vấn đề truyền thông và giáo dục sức khỏe
cũng như hướng dẫn các kỹ năng chăm sóc sức
khỏe, phòng ngừa bệnh tật có được tiến hành tại
các trạm y tế nhưng không thường xuyên. Các
hoạt động khác như chăm sóc sức khỏe tại nhà,
quản lý và theo dõi hồ sơ sức khỏe và khám sức
khỏe định kỳ không được triển khai thực hiện.
Nguyên nhân chính của việc thiếu về số lượng
và kém về chất lượng của các dịch vụ này là do
các trạm y tế bị hạn chế về nguồn nhân lực cũng
như kinh phí hoạt động; họ không có nhân viên
chuyên trách, không đủ thuốc, trang thiết bị,
không được cấp kinh phí để triển khai hoạt
động. Ngoài ra, nhiều nhân viên y tế không thấy
được trách nhiệm của họ trong việc tiến hành
các hoạt động CSSKBĐ cho NCT; một số thậm chí còn không biết về Luật Người cao tuổi.
Bảng 4:Tình hình sử dụng dịch vụ CSSKBĐ của
NCT
n %
Khám sức khỏe định kỳ (N=516)
Khám theo dõi bệnh mạn tính (N=379)
Khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ (N=380)
Khám khi có vấn đề về sức khỏe (N=409)
Khi phỏng vấn NCT về tình hình sử dụng dịch vụ CSSKBĐ, kết quả cho thấy có khoảng 1/3 số NCT đi khám sức khỏe ít nhất 1 lần trong vòng 1 năm qua. Trong số NCT mắc bệnh mạn tính có 77,6% sử dụng dịch vụ khám theo dõi bệnh mạn tính và gần một nửa trong
số này sử dụng dịch vụ khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sĩ. Trong số NCT có vấn đề về sức khỏe như nhức đầu, chóng mặt, đau lưng…trong vòng 4 tuần qua thì chỉ có 30,7% đến cơ sở y tế để khám bệnh. Cơ sở y tế họ đến khám chủ yếu là bệnh viện đa khoa tỉnh và huyện.
Các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKBĐ của NCT
Việc thiếu các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT cả
về số lượng và chất lượng của trạm y tế xã được xem như là rào cản chính cho NCT tiếp cận với các dịch vụ. Khi được hỏi về mong muốn của bản thân trong việc chăm sóc sức khỏe, nhiều NCT đã trả lời rằng họ muốn được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong một năm; một
số người mong được nhân viên y tế hướng dẫn,
tư vấn về cách chăm sóc sức khỏe; môt số muốn được khám chữa bệnh tại nhà; một số muốn được khám và phát thuốc miễn phí…Bên cạnh
đó, một số NCT nói rằng họ sẽ không sử dụng
Trang 6dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế mà sẽ tới
các cơ sở y tế khác vì họ không tin tưởng vào
chất lượng dịch vụ.
Các yếu tố trình độ học vấn và thu nhập của
NCT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với
việc sử dụng các dịch vụ khám sức khỏe tổng
quát và khám khi có các vấn đề về sức khỏe.
Nhóm NCT không đi học có tỷ lệ sử dụng các
dịch vụ khám sức khỏe tổng quát thấp hơn hẳn
(26,2%) so với nhóm đã học xong cấp 1 (44,2%)
và nhóm có trình độ từ cấp 2 trở lên (45.5%) (p
<0,001). Tương tự, nhóm NCT không đi học đi
khám khi có vấn đề về sức khỏe cũng thấp hơn
so với 2 nhóm còn lại (p <0,05). Đối với yếu tố
thu nhập, khi xét 2 nhóm có thu nhập và không
có thu nhập nói chung thì tỷ lệ NCT có thu nhập
sử dụng các dịch vụ nêu trên thấp hơn so với
nhóm không có thu nhập. Tuy nhiên, khi xét
theo nguồn thu nhập thì tỷ lệ NCT có thu nhập
từ lương hưu sử dụng dịch vụ khám sức khỏe
tổng quát cao gần gấp đôi nhóm không có thu
nhập và ngược lại tỷ lệ NCT có thu nhập từ công
việc đang làm ít sử dụng dịch vụ hơn nhóm còn
lại. Điều này có thể lý giải rằng đối tượng NCT
có thu nhập từ lương hưu là những người đã
từng làm việc cho các đơn vị nhà nước, thường
có nhận thức về tầm quan trọng của việc khám
sức khỏe tổng quát cao hơn các đối tượng khác;
NCT có thu nhập từ công việc đang làm ít đi
khám bệnh hơn có thể do họ cảm thấy sức khỏe
tốt hơn hoặc họ không có thời gian để đi kiểm
tra sức khỏe. Tổng thu nhập hàng tháng cũng có
mối liên quan với sử dụng dịch vụ trong đó
NCT có thu nhập ≥ 3 triệu đồng sử dụng dịch vụ
cao hơn so với các nhóm có thu nhập khác. Điều
này dễ lý giải khi người giàu có hoặc khá giả sẽ
có nhiều cơ hội để sử dụng dịch vụ sức khỏe
hơn so với người nghèo, và họ cũng thường có
trình độ học vấn và nhận thức về chăm sóc sức
khỏe tốt hơn.
Bên cạnh các yếu tố về trình độ học vấn và
thu nhập, yếu tố tự đánh giá tình trạng sức khỏe
của bản thân cũng có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê với việc khám sức khỏe tổng quát và
việc khám theo dõi các bệnh mãn tính định kỳ hoặc theo lịch hẹn của bác sỹ. Trên 40% NCT tự đánh giá sức khỏe của mình kém có sử dụng hai loại dịch vụ nêu trên, cao hơn hơn 10% so với nhóm tự đánh giá sức khỏe bình thường hoặc tốt (p <0,01). Sự khác biệt này có thể là do nhóm tự đánh giá sức khỏe của mình kém là nhóm đang
có bệnh mạn tính nên họ sẽ thường xuyên đi khám và theo dõi tình hình bệnh tật hơn là các nhóm còn lại.
Trong nghiên cứu này, các yếu tố có mối liên quan đến việc sử dụng dịch vụ khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ là yếu tố có kiến thức về nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và có thẻ bảo hiểm y tế. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ này là 59,5% ở nhóm NCT có kiến thức so với 39,5% ở nhóm không có kiến thức (p <0,05); gần 81% ở nhóm có thẻ bảo hiểm y tế so với khoảng 56% ở nhóm không có (p <0,001). Yếu tố có kiến thức
và có thẻ bảo hiểm y tế có thể được xem như là một yếu tố thúc đẩy NCT sử dụng dịch vụ khám theo dõi bệnh mãn tính định kỳ.
Khi có các vấn đề về sức khỏe, yếu tố tự đánh giá mức độ của triệu chứng (nặng, vừa, nhẹ) có mối liên quan mạnh với việc đi khám bệnh hay để các triệu chứng tự qua đi. Tỷ lệ đi khám khi có các vấn đề về sức khỏe ở nhóm tự đánh giá mức độ của vấn đề là nhẹ là 24,4%; vừa
là 50,3% và nặng là 61,5%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001.
KẾT LUẬN
Các dịch vụ CSSKBĐ cho NCT tại trạm y tế thiếu cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận của NCT; trình độ học vấn
và kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật có mối liên quan với việc sử dụng các dịch vụ khám sức khỏe tổng quát và khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ; nhóm NCT có lương hưu hoặc thu nhập trên 3 triệu/tháng có khả năng sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tổng quát cao hơn các nhóm khác; nhóm NCT tự đánh giá sức khỏe bản thân kém có khả năng đi khám sức khỏe tổng quát và khám theo dõi bệnh mạn tính
Trang 7định kỳ cao hơn các nhóm khác; tỷ lệ nhóm NCT
đi khám bệnh khi có vấn đề về sức khỏe ở nhóm
tự đánh giá mức độ của vấn đề là vừa và nặng
cao hơn ở nhóm chỉ cảm thấy ở mức độ nhẹ; tình
trạng có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, phòng
ngừa bệnh tật và tình trạng có bảo hiểm y tế có
mối liên quan chặt chẽ với việc sử dụng dịch vụ
khám theo dõi bệnh mạn tính định kỳ.
KIẾN NGHỊ
Chính phủ nên xem xét và đưa hoạt động
CSSKBĐ cho NCT trở thành một chương trình
mục tiêu y tế quốc gia. Chính quyền địa phương
cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể để
tạo điều kiện cho các trạm y tế triển khai các dịch
vụ CSSKBĐ cho NCT, đồng thời dành ngân sách
riêng cho các hoạt động này hàng năm. Ngoài ra,
việc nâng cao nhận thức cho nhà quản lý và
nhân viên y tế về trách nhiệm thực hiện các hoạt
động CSSKBĐ cho NCT cần được thực hiện
sớm. Trong các nghiên cứu tiếp theo, cần tập
trung hơn vào nhóm NCT thuộc các dân tộc
thiểu số vì đây là nhóm có trình độ học vấn thấp
nhất và nghèo nhất ở Việt Nam. Bên cạnh đó,
những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa khiến
cho các nhóm dân tộc thiểu số trở thành nhóm
dễ bị tổn thương và cần được quan tâm hơn
trong việc chăm sóc sức khỏe.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoi LV, Chuc NTK, Lindholm L (2010). Health‐related quality
of life and its determinants, among older people in rural Vietnam. BMC Public Health, 10.354‐367.
2 IFA (2008). Vietnam summary report: Looking after and increasing the role of aging in Vietnam. http://www.ifa‐fiv.org. Accessed on 3 November 2012
3 Ninh HT, Nhat PD, et al. (2010). Health and nutritional status and related factors of elderly people in urban and rural areas in Southern provinces in 2010. Bulletin on Social Determinants of Health, 2, 48‐56.
4 Tam DTM, Nhat PD, et al. (2010). Utilization of healthcare services in urban and rural areas in Can Tho city and Hau Giang provinces, 2010. Bulletin on Social Determinants of Health. 2, 48‐56
5 Thuan, NTB, Lofgren C, Lindholm L, Chuc NTK (2008). Choice
of healthcare provider following reform in Vietnam. BMC
http://www.biomedcentral.com/content/pdf/1472‐6963‐8‐ 162.pdf. Accessed on April 15, 2012.
http://esa.un.org/wpp/unpp/panel_indicators.htm. Accessed on Apil 15, 2012.
http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0& zone=4&ID=3845. Accessed on April 21, 2012.
8 WHO (2008). World Health Report 2008: Primary Health Care: Now More Than Ever. Geneve. Pp 56‐78.
Ngày nhận bài báo: 15/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 14/11/2014