1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm về tình trạng mất ngủ ở người cao tuổi

8 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 329,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này với mục tiêu nhằm nghiên cứu về đặc điểm giấc ngủ của người cao tuổi, có 306 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, các đối tượng tham gia đều được điều tra đầy đủ như nhau về các đặc điểm dịch tể học, các bệnh lý nội khoa, tâm thần, các yếu tố môi trường, các thói quen cá nhân và các đặc điểm của giấc ngủ của họ.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM VỀ TÌNH TRẠNG MẤT NGỦ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Đỗ Thị Xuân Hương*, Nguyễn Minh Đức**, Nguyễn Văn Trí **, Ngô Tích Linh ***

TOM TẮT

Mở đầu: Ngày nay, chứng mất ngủ đã được thừa nhận là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng

đến sức khỏe cũng như chất lượng sống của người cao tuổi.Để xác định thế nào là ngủ đủ, giấc ngủ phải đạt chất lượng tức là đủ về số lượng, ít bị thức giấc, ít mộng mị và phải đạt hiệu suất tức là ít buồn ngủ ban ngày đồng thời hoạt động ban ngày có hiệu quả Mục tiêu bài này nghiên cứu về đặc điểm giấc ngủ của người cao tuổi

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả có đối chứng Có 306 bệnh nhân tham gia nghiên

cứu phân thành 2 nhóm: nhóm mất ngủ (161) và nhóm chứng (145) Các đối tượng tham gia đều được điều tra đầy đủ như nhau về các đặc điểm dịch tể học, các bệnh lý nội khoa, tâm thần, các yếu tố môi trường, các thói quen

cá nhân và các đặc điểm của giấc ngủ của họ

Kết quả: Mất ngủ mãn tính, đa số từ 1 đến 5 năm Chất lượng giấc ngủ: đa số là khó duy trì giấc ngủ, tiếp

đến là mất ngủ đầu giấc và ít nhất là mất ngủ cuối giấc, trung bình bệnh nhân đi ngủ lúc 22 giờ, phải mất trung bình 75 phút mới đi vào giấc ngủ, thức giấc 3-4 lần một đêm, sau thức 30 phút mới ngủ lại được, sáng thức dậy khoảng 4 giờ sáng và trung bình một đêm trung bình ngủ được 4 giờ 30 phút

Hiệu suất ngủ: tuy mất ngủ nhưng 82,6% trong số họ cảm giác bình thường, chỉ 16,8% cảm giác còn buồn ngủ sau thức dậy buổi sáng, 26,7% có những lúc ngủ thiếp ban ngày và 17,4% gặp khó khăn trong công việc hàng ngày vì hậu quả của mất ngủ

Kết luận: Ở người cao tuổi đa số mất ngủ mãn tính, mặc dù mất ngủ nhưng đa số họ cảm giác bình

thường, chỉ số ít cảm giác còn buồn ngủ sau thức dậy buổi sáng, có những lúc ngủ thiếp ban ngày và gặp khó khăn trong công việc hàng ngày vì hậu quả của mất ngủ

Từ khóa: mất ngủ, người cao tuổi

ABSTRACT

THE CHARACTERISTICS OF INSOMNIA STATE IN THE ELDERLY

Do Thi Xuan Huong, Nguyen Minh Duc, Nguyen Van Tri, Ngo Tich Linh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 106 - 113

Introduction: Today, insomnia has been acknowledged as one of the causes affecting the health and quality

of life of the elderly To determine what is enough sleep, quality of sleep means to have sufficient quantity, be less awaken, dreaming and be efficient which is less daytime sleepiness and effective daytime activities The objective of this study is to investigate the sleep characteristics of the elderly

Research methodology: A cross-sectional study There are 306 patients in the study divided into two

groups: insomnia (161) and control group (145) The participants were equally under full investigation of the epidemiological characteristics, other medical conditions, mental, environmental factors, personal habits and characteristics of their sleep

Results: Chronic insomnia is mostly from 1 to 5 years Quality of the sleep: the majority is difficult to

* BV Nguyễn Tri Phương,** Bộ Môn Lão Khoa, ĐHYD TP HCM,*** Bộ Môn Tâm Thần, ĐHYD TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS Đỗ Thị Xuân Hương ĐT: 0903883573 Email: thxuanh@yahoo.com.vn

Trang 2

maintain sleep, the next is insomnia at the beginning of the sleep and insomnia in the end of the sleep is at least, the patients averagely go to bed at 22 o'clock, take about 75 minutes before falling asleep, awake 3-4 times a night, then take 30 minutes to be back to sleep, wake up in the morning at around 4 am and have the duration of sleep per night of 4 hours and 30 minutes on average - Sleep efficiency: Although insomnia happens, 82.6% of them feel normal, only 16.8% also feel sleepy after waking in the morning, 26.7% have times falling asleep during the day and 17.4% have difficulty in dealing with the daily affair because of insomnia Conclusion: In most elderly people, chronic insomnia happens at majority, although there is insomnia, most of them feel normal, only small number also feel sleepy after waking in the morning, sometimes day-time fall asleep and feel difficult in their daily work because of the consequences of insomnia

Key words: insomnia, elderly

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giấc ngủ là trạng thái sinh lý của cơ thể

nhằm cân bằng trở lại các yếu tố nội sinh và

ngoại sinh Giấc ngủ có đặc trưng là nhịp điệu

ngày/ đêm, đảm bảo cho sự phục hồi các chức

năng của cơ thể Hầu hết những người cao tuổi

khi đến phòng khám bệnh đều phàn nàn với bác

sỹ họ bị khó ngủ hoặc mất ngủ Ngày nay,

chứng mất ngủ đã được thừa nhận là một trong

những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức

khỏe cũng như chất lượng sống của người cao

tuổi

Để xác định thế nào là ngủ đủ, giấc ngủ phải

đạt chất lượng tức là đủ về số lượng, ít bị thức

giấc và mộng mị và phải đạt hiệu suất tức là ít

buồn ngủ ban ngày đồng thời hoạt động ban

ngày có hiệu quả

Mục tiêu

Mục tiêu bài này nghiên cứu về đặc điểm

giấc ngủ của người cao tuổi bị mất ngủ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Tất cả bệnh nhân cao tuổi ≥ 60 tuổi có mất

ngủ và không mất ngủ đến khám và điều trị nội

ngoại trú tại BV Thống Nhất và BV Nguyễn Tri

Phương từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 5 năm

2010 vì những nguyên nhân khác nhau

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Nhóm bệnh: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥ 60

tuổi) có vấn đề về mất ngủ đồng ý tham gia

nghiên cứu:

Thời gian đi vào giấc ngủ kéo dài trên 30 phút

Trong giấc ngủ, thời gian tỉnh giấc nhiều lần, thời gian tổng cộng trên 30 phút

Thức dậy buổi sáng quá sớm

Cảm giác mệt mỏi sau khi thức dậy và ngủ ngày quá nhiều

Những rối loạn nầy xảy ra ít nhất 3 lần trong

1 tuần, kéo dài ít nhất 1 tháng, gây ra những khó chịu và biến chứng trong ngày

Khó duy trì tình trạng thức ngủ hay chu kỳ thức ngủ hằng định

Có các vấn đề khác gây cản trở giấc ngủ Nhóm chứng: Tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥

60 tuổi) có vấn đề về nội khoa, tâm thần đến

BV khám và điều trị nhưng không bị mất ngủ

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có rối loạn tri giác hoặc hôn mê Bệnh nhân bệnh tâm thần thuộc nhóm loạn thần đã được chẩn đoán xác định trước đó và đang điều trị

Cỡ mẫu

Được tính theo công thức sau:

         

2

2

1 2

n

P P

        

n = 121 người cho mỗi nhóm bệnh và chứng Thực tế chúng tôi thu thập được 161 BN nhóm mất ngủ và 145

BN nhóm chứng

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Trang 3

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có đối chứng

Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Trực tiếp thu thập dữ liệu từ bệnh nhân đến

khám tại Khoa Khám bệnh, Khoa Lão, các Khoa

Nội Tổng hợp BV Nguyễn Tri Phương và BV

Thống Nhất với các tiêu chuẩn chọn bệnh và các

tiêu chuẩn loại trừ nêu trên

Các BN được chọn vào mẫu nghiên cứu sẽ

được:

* Khám lâm sàng đánh giá tình trạng mất

ngủ và không mất ngủ

* Thực hiện bảng câu hỏi khảo sát về RLGN

và các thang điểm đánh giá tình trạng tâm thần

Hạn chế của nghiên cứu này là không thực

hiện được đồng loạt các test chuyên biệt về giấc

ngủ như đa miên đồ (PSG), test ghi nhận thời

gian tiềm khởi đầu giấc ngủ (MSLT) để xác định

chẩn đoán và mức độ nghiêm trọng của RLGN

Sau đó nhóm BN này được tiếp tục tái khám

và theo dỏi ít nhất 2 lần sau đó để xác định tình

trạng mất ngủ

Công cụ thu thập số liệu

* Bảng câu hỏi khảo sát về RLGN

* Thang buồn ngủ EPWORTH

Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS

13.0 for Windows

KẾT QUẢ

Đặc điểm về giấc ngủ

Thời gian mất ngủ

Bảng 1: Thời gian mất ngủ

Đặc điểm về kiểu mất ngủ (nhóm mất ngủ)

Bảng 2: Đặc điểm về kiểu mất ngủ (nhóm mất ngủ)

Thời gian ngủ đêm < 6 giờ 161 (100) Mất ngủ đầu giấc (thời gian vào giấc ngủ > 30’) 133 (82,6) Khó duy trì giấc ngủ (hay thức lúc ngủ) 140 (87,0) Mất ngủ cuối giấc (Thức giấc sớm buổi sáng) 111 (68,9)

Bảng 3 Số loại mất ngủ trên cùng một bệnh nhân

Đặc điểm về chất lượng và hiệu suất giấc ngủ

Bảng 4 Chất lượng giấc ngủ

chứng

P

Thời điểm đi ngủ 22,03 

1,06

21,17  0,95

< 0,001

Đi ngủ cùng thời điểm hàng

đêm

99 (60,4%) 65 (39,6%) 0,004

Thời gian đi vào giấc ngủ

(phút)

74,81  47,55

13,34  3,01

< 0,001

Số lần thức dậy mỗi tối 3,51  1,41 1,70  0,45 < 0,001

Dễ ngủ lại 21 (13,4) 141 (97,2) < 0,001 Thời gian đi ngủ lại (phút) 29,71 

13,24

7,96  3,84 < 0,001

Thời điểm thức giấc buổi sáng (giờ)

4,19  0,99 5,37  0,49 < 0,001

Thời gian trung bình của giấc ngủ/1 đêm

3,98  0,77 6,41  0,53 < 0,001

Bảng 5: Hiệu suất giấc ngủ

Cảm giác khi thức dậy buổi

sáng:

< 0,001

- Còn buồn ngủ 27 (16,8) 4 (2,8)

- Bình thường 133 (82,6) 140 (96,6) Các rối loạn khác trong giấc

ngủ:

Ngủ thiếp ban ngày 43 (26,7) 7 (4,8) < 0,001 Mất tập trung làm việc 18(11,3) 3(2,1) 0,002 Khó khăn trong công việc

hàng ngày

28 (17,4) 6 (4,1)

< 0,001

Bảng 6: Buồn ngủ ban ngày (Thang EPWORTH)

Buồn ngủ ban ngày

Trang 4

Không 133 83,1 130 89,7

2 = 2,732, p = 0,098

Bảng 7: Mối liên quan giữa BMI và mất ngủ

BMI

Nhóm

(95%KTC)

NC (%) Chứng

(%) Béo phì 21 (13) 34 (23,4)

0,018 0,49 (0,27-0,9) Bình thường 140 (87) 111

(76,6)

Bảng 8: Mối liên quan giữa BMI và ngủ ngày quá độ

(95%KTC)

0,019 0,424.(0,2

0-0,88) Bình thường 221(84) 29(69)

Những rối loạn xảy ra trong lúc ngủ

Bảng 9: Các rối loạn trong lúc ngủ

(95%KTC)

Ngáy 45 (28,0) (26,2) 38 0,732 1,09 (0,66 -1,81)

Ngưng thở 3 (1,9) 0 0,099 1,92 (1,72 –

2,14) Ngộp thở 49 (30,4) 14 (9,7) < 0,001 4,094 (2,15 –

7,81) Nhức đầu buổi

sáng 57 (35,4) 3 (2,1) < 0,001

25,94 (7,91 – 85,12) Khó khăn về tình

1,92 (1,72 – 2,14) Tiểu đêm > 2 lần 130

(80,7) 5 (3,4) < 0,001

117,42 (44,32 – 311,07) Xoay trở nhiều 133

(82,6)

16 (11,0) < 0,001

38,29 (19,79 – 74,12)

Tê rần hai chân (67,7) 109 (39,3) 57 < 0,001 3,24 (2,02 – 5,17)

Đá chân 19 (11,8) 11 (7,6) 0,216 1,63 (0,75 –

3,55)

CG không cử

động được 23 (14,3)

30 (20,7) 0,139

0,64 (0,35 – 1,16)

CG nóng rát

thượng vị

119 (73,9)

23 (15,9) < 0,001

15,03 (8,52 – 26,51)

(67,1)

52 (35,9) < 0,001

3,64 (2,27 – 5,84)

Ảo giác, chiêm

21 (14,5) 0,223

0,65 (0,33 – 1,30)

Khám và điều trị mất ngủ

Bảng 10: Nguyên nhân đến khám vì mất ngủ (nhóm

mất ngủ)

Đến khám vì mất ngủ 32 (19,9) 129 (80,1)

Đã khám chuyên khoa về rối loạn

giấc ngủ

8 (5,0) 153 (95,0)

Bảng 11: Số bệnh nhân có điều trị mất ngủ (nhóm mất ngủ)

Điều trị mất ngủ 44 (27,3) 117 (72,7)

Sử dụng thuốc ngủ liên tục 24 (15,0) 136 (85,0)

BÀN LUẬN-KẾT LUẬN Đặc điểm về giấc ngủ

Thời gian bị mất ngủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh nhân mất ngủ từ 1 năm đến 5 năm 53,4% chiếm

tỷ lệ cao nhất, mất ngủ dưới 1 năm chỉ chiếm 14,9% và mất ngủ trên 5 năm chiếm tỷ lệ không nhỏ 31,1% Thời gian mất ngủ ít nhất là 2 tháng

và dài nhất là 20 năm

Thời gian này cũng tương tự các báo cáo nghiên cứu khác:

Nghiên cứu của F Holagen & cs(4)

(Germany) hơn 80% số bệnh nhân trong lô nghiên cứu bị mất ngủ từ 1 đến 5 năm hoặc hơn nữa

Nghiên cứu của Pearson NJ & cs(13) (Mỹ) có 17,4% mất ngủ kéo dài 1 năm

Nghiên cứu của Morrin CM & cs(11) (Canada)

có đến 74% mất ngủ ít nhất 1 năm, 46% mất ngủ kéo dài dai dẳng 3 năm

Đặc điểm về kiểu mất ngủ (nhóm mất ngủ)

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tất

cả đều có thời gian ngủ một đêm ít hơn 6 giờ.Mô hình kiểu mất ngủ, các bệnh nhân có kiểu mất ngủ đầu giấc (82,6%), cao nhất là khó duy trì giấc ngủ (87%) và thấp nhất là mất ngủ cuối giấc (68,9%)

So sánh với các nghiên cứu khác

Mô hình này tương tự mô hình nghiên cứu của Kim K & cs(6) (Nhật) tỉ lệ khó duy trì giấc ngủ cao nhất (15%), kế đến là khó đi vào giấc ngủ (8,3%) và thấp nhất là khó ngủ cuối giấc (8%)

Trang 5

Nghiên cứu của Gílason T & cs(3), tỉ lệ khó

duy trì giấc ngủ cao nhất (37% ở nam, 30% ở

nữ), khó khởi đầu giấc ngủ 9,6% và khó ngủ

cuối giấc 16,7%

Nghiên cứu của Ohayon MM, Hong SC(12),

khó khởi đầu giấc ngủ (4%) khó duy trì giấc ngủ

(11,5%), và mất ngủ cuối giấc 1,8%

Nghiên cứu của Li RH ở Trung Quốc(8)

cũng cho kết quả tương tự là khó khởi đầu

giấc ngủ 4,5%, khó duy trì giấc ngủ 6,9% và

mất ngủ cuối giấc 4%

Nghiên cứu của Yu –Tao Xiang & cs(16)

Trung quốc các con số tương ứng là 7%, 8% và

4,9%

Ngược lại, trong nghiên cứu của

Mohamed M & cs(10) ở người cao tuổi Ai Cập

thì tỉ lệ khó bắt đầu giấc ngủ chiếm cao nhất

65%, khó duy trì giấc ngủ 50,8% và mất ngủ

cuối giấc chỉ chiếm 28,2%

Qua các nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy

rằng ở Việt Nam cũng như ở các nước Châu Á

đa số bệnh nhân bị khó duy trì giấc ngủ, tiếp

đến là khó khởi đầu giấc ngủ và ít nhất là mất

ngủ cuối giấc

Nhận xét này cũng giúp các Bác sỹ lâm sàng

có cơ sở chọn loại thuốc ngủ nào phù hợp với

loại mất ngủ của bệnh nhân của mình

Số loại mất ngủ trên một bệnh nhân

Trong nghiên cứu của chúng tôi có đến

47,8% bệnh nhân mất ngủ bị cùng lúc 3 loại mất

ngủ (mất ngủ đầu giấc, khó duy trì giấc ngủ,

mất ngủ cuối giấc), 42,9% bị 2 loại mất ngủ cùng

lúc và chỉ 9,3% bị 1 loại mất ngủ

So sánh với các nghiên cứu khác

Trong một nghiên cứu về mất ngủ ở dân số

chung Trung Quốc của Yu- Tao Xiang & cs(16) thì

cũng cho một tỷ lệ tương ứng theo thứ tự nhưng

con số thì thấp hơn 4% bị 3 loại mất ngủ cùng

lúc, 2,9% bị 2 loại và 2,4% bị 1 loại mất ngủ Tỷ

lệ thấp này là do mẫu nghiên cứu của chúng tôi

là người cao tuổi, lấy trong bệnh viện, còn mẫu

nghiên cứu của Yu- Tao Xiang là dân số chung

Ngược lại, trong một nghiên cứu ở Mỹ(16), tỷ

lệ có phần khác biệt về thứ tự so với nghiên cứu của chúng tôi và Yu- Tao Xiang là 7,4% mắc 3 loại, 9% mắc 2 loại mất ngủ cùng lúc và cao nhất 12,8% mắc chỉ 1 loại mất ngủ Tỷ lệ này trái ngược với các nước Châu Á có lẽ do ở Mỹ người dân quan tâm đến giấc ngủ nhiều hơn không để mất ngủ tiến triển từ 1 đến 2 đến 3 loại cùng lúc Qua nghiên cứu này, ta thấy ở người cao tuổi khả năng mắc cùng lúc 3 loại và 2 loại mất ngủ rất cao, tỷ lệ mắc 1 loại mất ngủ đơn độc ít hơn nhiều, từ đó có những biện pháp can thiệp

và thuốc ngủ phù hợp

Đặc điểm về chất lượng và hiệu suất giấc ngủ

Chất lượng giấc ngủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi:

Về chất lượng giấc ngủ, trong nhóm mất ngủ trung bình đi ngủ lúc 22 giờ, 60% trong số

họ đi ngủ cùng thời điểm hàng đêm, phải mất khoảng 75 phút mới ngủ được, trung bình mỗi đêm thức dậy 3-4 lần, sau khi thức giấc khoảng

30 phút sau mới ngủ lại được, thức dậy buổi sáng khá sớm lúc 4 giờ và tính trung bình mỗi đêm ngủ được 4 giờ - 4 giờ 30 phút

Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống

kê p < 0,001

So sánh với các nghiên cứu khác

Nghiên cứu của Liu X, Liu L(9) về các thói quen khi đi ngủ và mất ngủ ở người cao tuổi Trung Quốc đã nhận xét rằng thời điểm đi ngủ (lên giường ngủ) của họ là 21: 18 ± 2,2 sớm hơn

so với nghiên cứu của chúng tôi 22: 03±1,06 và thời điểm thức dậy buổi sáng là 5: 42 ± 1 trễ hơn

so với nghiên cứu của chúng tôi là 4: 19±0,99

Hiệu suất giấc ngủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi

Về hiệu suất ngủ, trong nhóm mất ngủ đa số (82,6%) có cảm giác bình thường sau khi thức

Trang 6

dậy buổi sáng, chỉ 16,8% còn cảm giác buồn

ngủ; 26,7% có ngủ thiếp ban ngày, 11,3% bị mất

tập trung khi làm việc và 17,4% gặp khó khăn

trong công việc hàng ngày

Các rối loạn xảy ra trong giấc ngủ chiếm tỷ

lệ tương đối nhỏ: mộng du 0%, hoảng sợ 1,9%,

ác mộng 7,5%, rung giật cơ về đêm 1,2%

Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống

kê p< 0,001 ở các điểm trên, trừ hoảng sợ và

rung giật cơ về đêm

So sánh với nghiên cứu của các tác giả khác

Nghiên của Gíslason T & cs(3) tỉ lệ ngủ thiếp

ban ngày là 50% ở nam và 31% ở nữ Tương tự,

nghiên cứu của Ohayon MM, Hong SC(12) tỉ lệ

này là 50% Tỉ lệ này thấp hơn trong nghiên cứu

của Liu X, Liu L(9) ở Trung Quốc là 44,2% ở nam

và 28% ở nữ (OR=1,5) và cũng nghiên cứu này

ghi nhận 8,9% những bệnh nhân mất ngủ có

những hậu quả ban ngày đáng kể

Nghiên cứu của Foley DJ & cs(2) 7%-15%

trong số bệnh nhân mất ngủ hiếm khi hoặc

không bao giờ có cảm giác khỏe khoắn sau thức

dậy vào buổi sáng

Nghiên của Kim K & cs(7) ghi nhận những

than phiền về tâm thể và tâm lý có liên quan

với mất ngủ gây khó khăn cho công việc ban

ngày: cảm giác yếu đuối (fatigue) (31,4%,

OR=1,7), cáu gắt (OR=1,4), mất tập trung trong

công việc (OR=1,8)

Nghiên cứu của Ohayon MM, Hong SC(12) có

đến 50% bệnh nhân mất ngủ có hậu quả ban

ngày đáng kể và 20% có những hậu quả trung

bình và nhẹ

Nghiên cứu của Zailinawati A & cs(16) ghi

nhận rằng những bệnh nhân mất ngủ có tần

suất cao cảm giác chán nản (12,7%), mất tập

trung (19,1%), trí nhớ kém (9,2%), giảm năng

suất làm việc (6,4%), kiệt sức (17,2%) và tình

trạng sức khỏe kém (40,9%) với p<0,05

Mất ngủ kéo dài sẽ dẫn đến giảm trí nhớ,

khó tập trung chú ý, giảm sút khả năng lao

động và hậu quả tất yếu là giảm tính tích cực

trong cuộc sống, hiệu quả lao động thấp và làm

giảm chất lượng sống Ngoài ra, mất ngủ còn có nguy cơ phát sinh một số bệnh hoặc làm nặng thêm bệnh đang mắc

Thang EPWORTH

Mối liên quan giữa mất ngủ và thang EPWORTH

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về buồn ngủ ban ngày quá độ giữa 2 nhóm mất ngủ (16,9%)

và nhóm chứng (10,3%) với p=0,098

So sánh với các nghiên cứu khác

Nhưng nếu tính tỉ lệ thì trong một nghiên cứu ở Malaysia của ZailinawaitiA, Ariff K, Nurjahan M, Teng C(16) tỉ lệ ngủ ngày quá độ (theo thang điểm Epworth) là 22,2% cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi (16,9%), lý do có

lẽ do trong nhóm này sử dụng thuốc an thần (9,9%) thấp hơn trong nhóm của chúng tôi (27,3%), điều này dẫn đến mất ngủ ban đêm và ngủ ngày quá nhiều

Ngược lại, trong nghiên cứu của Sardar Ijlal Balar & cs(15) thì tỉ lệ ngủ ngày quá độ là 8,9% thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi và hiện tượng này được ghi nhận có liên quan đến rối loạn hô hấp về đêm, trầm cảm, bệnh Parkinson và sử dụng Digital

Một nghiên cứu về ngủ ngày quá độ trong dân số chung của Kaneita Y & cs(5) (Nhật) đã đưa ra một kết quả là tỉ lệ này chiếm 2,5% (nam 2,8%, nữ 2,2%) và có sự liên quan với những yếu

tố nguy cơ như: giới nam, tuổi trẻ, thời gian ngủ ngắn, cảm giác bứt rứt 2 chân, căng thẳng tâm lý

và đặc biệt là ngáy hoặc ngưng thở khi ngủ là yếu tố liên quan mạnh nhất (OR=2,46)

Mối liên quan giữa BMI với mất ngủ và thang EPWORTH

Có mối liên quan giữa BMI với mất ngủ (p=0,018) và ngủ ngày quá độ (p=0,019)

Theo nghiên cứu của Resta O & cs(1) (Italy), 29% các bệnh nhân béo phì cho thấy có giảm thông khí về đêm và có thể kết hợp với ngủ

Trang 7

ngày quá nhiều, ngay cả trong trường hợp

không có ngưng thở khi ngủ

Những rối loạn xẩy ra trong lúc ngủ

Sự khác biệt tỷ lệ các triệu chứng ngộp thở,

nhức đầu buổi sáng, tiểu đêm >2 lần, xoay trở

nhiều, tê rần hai chân, cảm giác nóng rát thượng

vị và cảm giác đau của cơ thể giữa hai nhóm

nghiên cứu có ý nghĩa thống kê p<0,001

So sánh với các nghiên cứu khác

Nghiên cứu của Su TP & cs có sự tương

quan mạnh giửa mất ngủ với tiểu đêm (>2 lần)

(OR=20,6), cũng như với cảm giác đau của cơ thể

(OR=2,6)

Khám và điều trị mất ngủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi các lí do

nhập viện rất đa dạng trong nhóm mất ngủ

nhưng lí do đến khám vì mất ngủ chỉ chiếm

19,9% và chỉ có 5% trước đó đã có khám chuyên

khoa về RLGN

So sánh với các nghiên cứu khác

Kết quả này tương đối cao hơn so với một

nghiên cứu về chứng mất ngủ ở Trung Quốc

của Yu-tao Xiang, MD, PhD(16) chỉ có 5,4%

những bệnh nhân bị mất ngủ báo cáo triệu

chứng này với Bác sỹ thực hành và cũng chỉ có

2,1% đến khám với các chuyên gia về sức khỏe

tâm thần Tỉ lệ này cũng rất thấp trong nghiên

cứu của Ohayon MM(12) là 6,8%

Trong một nghiên cứu ở Mỹ của PersonNJ,

Johnson LL, Nahin RL(13) thì tỉ lệ báo cáo về

chứng mất ngủ với Bác sỹ là 17,4%, tương

đương với nghiên cứu của chúng tôi

Theo một nghiên cứu được công bố ở tạp chí

Lão khoa của Mỹ thực hiện trên 1.503 người

bệnh từ 60 tuổi trở lên thì có đến 69% bệnh nhân

có ít nhất một lần, 49% có hai hoặc nhiều hơn số

lần phàn nàn về giấc ngủ và 45% số bệnh nhân

nói rằng họ thường xuyên khó ngủ Và mặc dù

những bệnh nhân cao tuổi có phiền toái về giấc

ngủ chiếm tỷ lệ cao nhưng chỉ có 19% số lần

phàn nàn của họ được các Bác Sỹ ghi chép trên

biểu đồ theo dõi bệnh Theo tác giả Karthyn

Reid, phó giáo sư Thần kinh trường đại học y ở

miền bắc Feinberg nói:“Các Bác sỹ có thể cho rằng việc hỏi bệnh nhân về giấc ngủ là điều không cần thiết, theo họ những trục trặc đó là vấn đề bình thường của tuổi tác và gần như không thể làm gì nhiều để cải thiện” Nhưng thực tế thì những vấn đề về giấc ngủ như giấc ngủ không sâu- khuynh hướng xảy ra do tuổi tác hay giấc ngủ không ngon không phải là điều không thể tránh được của tuổi tác Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy trong số những người già có sức khỏe tốt, chỉ có 1% có khó khăn

về giấc ngủ

Theo chúng tôi, tỷ lệ BN mất ngủ quan tâm

và điều trị những vấn đề về rối loạn giấc ngủ ở nước ta cũng như ở các nước Châu Á thấp có thể do các lý do sau:

Thứ nhất: bệnh nhân thường có quan niệm mất ngủ là một hiện tượng bình thường xảy ra tất yếu ở người cao tuổi nên họ không quan tâm khám và điều trị như là những vấn đề bệnh lý khác

Thứ hai: các phòng khám chuyên khoa về giấc ngủ còn quá ít, bản thân bệnh nhân và người thân có muốn khám, tư vấn và điều trị cũng không biết nơi nào

Thứ ba: các BS lâm sàng ít quan tâm hỏi về giấc ngủ của bệnh nhân, có khi lại thoải mái cho bệnh nhân một viên thuốc ngủ buổi tối để ngủ ngon hơn mặc dù họ không bị mất ngủ

Sự quan tâm của bệnh nhân đến việc điều trị mất ngủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi thì ở nhóm BN mất ngủ chỉ có 27,3% là có điều trị

và 15% có sử dụng thuốc ngủ liên tục

KẾT LUẬN

Ở người cao tuổi: Mất ngủ mãn tính, đa số

từ 1 đến 5 năm

Chất lượng giấc ngủ: đa số là khó duy trì giấc ngủ, tiếp đến là mất ngủ đầu giấc và ít nhất

là mất ngủ cuối giấc, trung bình bệnh nhân đi ngủ lúc 22 giờ, phải mất trung bình 75 phút mới

đi vào giấc ngủ, thức giấc 3-4 lần một đêm, sau

Trang 8

thức 30 phút mới ngủ lại được, sáng thức dậy

khoảng 4 giờ sáng và trung bình một đêm trung

bình ngủ được 4 giờ 30 phút

Hiệu suất ngủ: tuy mất ngủ nhưng 82,6%

trong số họ cảm giác bình thường, chỉ 16,8%

cảm giác còn buồn ngủ sau thức dậy buổi sáng,

26,7% có những lúc ngủ thiếp ban ngày và

17,4% gặp khó khăn trong công việc hàng ngày

vì hậu quả của mất ngủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Babar IS, Enright PL, et al (2000), “Sleep Disturbances and their

correlates in elderly Japanese American Men residing in

Hawaii”, The Journal of Gerontology series A: Biological

sciences and medical sciences 55:, The Gerontological Society of

America M406-M411

2 Foley DJ, Monjan AA, Brown SL, Simonsick EM, Wallace RB,

Blazer DG (1995), Sleep complaints among elderly persons: an

epidemiologic study of three communities.1995 Jul;18(6):425-32

3 Gíslason T, Reynisdóttir H, Kristbjarnarson H, Benediktsdóttir

B.(1993), Sleep habits and sleep disturbances among the

elderly-an epidemiological survey J Intern Med, 1993 Jul;234(1):31-9

4 Hohagen F, Kappler C, et al (1994), “Prevalence of insomnia in

elderly general practice attenders and the current treatment

modalities”, Abstract, Acception for publication, Digital Object

Identifier (DOI) pp.102-8

5 Kaneita Y, Ohida T, et al (2005), “Excessive daytime sleepiness

among the Japanese general population”, Department of Public

Heath, School of Medicine, Nihon University, Tokyo, Japan,

kaneita@med.nihon-u.ac.jp, J Epidemiol, 15(1): 1-8

6 Kim K, Uchiyama M, et al (2000), “An epidemiological study of

insomnia among the Japanese general population”, Department

of psychophysiology, National institute of mental health NCNP,

Ichikawa-City, Chiba, Japan, Sleep, 23(1): 41-7

7 Kim K, Uchiyama M, Liu X, et al (2001), “Somatic and psychological complaints and their correlates with insomnia in the Japanese general population”, Psychosom Med., 63(3): 441-6

8 Li RH, Wing YK, et al (2002), “Gender differences I n insomnia-a study in the Hong Kong Chinese population”, Department of Psychiatry, Prince of Wales Hospital The Chinese University of Hong Kong, Shatin, Hong Kong, China, J Psychosom Res, 53(1): 601-9

9 Mohamed M, et al (2007), “Insomnia symptoms and their correlates among the elderly in geriatric homes in Alexandria, Egypt”, Journal Sleep and Breathing, Springer Berlin/Heidelberg, Volum 11, No 3, 187-194

10 Morin CM, Bélanger L, LeBlanc M, et al (2009), “The natural history of insomnia: a population-based 3-year longitudinal study”, Arch Intern Med; 169(5): 447-53

11 Ohayon MM, Hong SC (2002), “Prevalence of insommia and associated factors in South Korea”, J Psychosom Res,

53(1):593-600

12 Pearson NJ, Johnson LL, Nahin RL (2006), “Insomnia, trouble sleeping, and complementary and alternative medicine: Analysis

of the 2002 national health interview survey data”, Arch Intern Med, 166(16): 1775-82

13 Resta O, Foschino-Barbaro MP, Legari G, Talamo S, Bonfitto P, Palumbo A, Minenna A, Giorgino R, De Pergola G (2001),

“Sleep-related breathing disorders, loud snoring and excessive daytime sleepiness in obese subjects”, Int J Obes Relat Metab Disord, 25(5):669-75

14 The HealthDay Bác sỹ ít khi chú ý đến giấc ngủ ở người già Cổng thông tin điện tử BV Bạch Mai-Hà nội

15 Xiang YT, MD, PhD, Xin Ma MD, et al (2008), “The prevalence

of insomnia, its sociodemographic and clinical correlates, and treatment in rural and urban regions of Beijing, China: A general population-based survey”, Sleep, Vol 31, No 12: 1655-1662

16 Zailinawati A, Ariff K, et al (2008), “Epidemiology of insomnia

in Malaysian adults: a community-based survey in 4 urban areas”, International Medical University, Jalan, Kuala Lumpur, Malaysia zailina@nasioncom.net, Asia Pac J Public Health, 20(3): 224-33

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm