1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu kiểm soát lipid máu ngắn hạn ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất

7 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 310,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh tim mạch do vữa xơ động mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát lipid máu để hạn chế vữa xơ động mạch còn chưa thỏa đáng và ở nước ta còn ít nghiên cứu về vấn đề này ở người cao tuổi. Bài viết nhằm nghiên cứu kiểm soát lipid máu ngắn hạn ở người cao tuổi thực hiện trong thời gian 1 tháng, 6 tháng và 1 năm.

Trang 1

NGHIÊN CỨU KIỂM SOÁT LIPID MÁU NGẮN HẠN

Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Trương Văn Trị*, Nguyễn Đức Công*

TÓM TẮT

Cơ sở: Bệnh tim mạch do vữa xơ động mạch (VXĐM) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế

giới Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát lipid máu để hạn chế VXĐM còn chưa thỏa đáng và ở nước ta còn ít nghiên cứu về vấn đề này ở người cao tuổi

Mục tiêu: Nghiên cứu kiểm soát lipid máu ngắn hạn ở người cao tuổi

Phương pháp: Tiến cứu, mô tả, can thiệp, theo dõi dọc trong thời gian 1 tháng, 6 tháng và 1 năm

Kết quả: Trong nghiên cứu này, 412 bệnh nhân (272 nam, 140 nữ) từ 60 tuổi trở lên có RLLM được

xét nghiệm lipid máu ít nhất 4 lần: trước điều trị, sau điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm; dùng thuốc statin và/ hoặc fibrate với liều chuẩn Kết quả nghiên cứu cho thấy: nồng độ CT, TG và LDL-c giảm sau điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm so với ban đầu (p < 0,05), nồng độ HDL-c tăng chỉ sau điều trị 6 tháng,

1 năm so với ban đầu (p < 0,05); kiểm soát lipid máu các mức tốt, khá, trung bình sau 1 tháng điều trị là: 54,4%, 19,4%, 2,2%; sau 6 tháng điều trị lần lượt là: 58,9%, 10,7%, 2,4%; sau 1 năm điều trị lần lượt là: 49,8%, 8,5%, 0,5%; và chưa đạt mục tiêu kiểm soát lipid máu: sau 1 tháng 24,0%; sau 6 tháng 27,9% và sau 1 năm 41,3%); tỷ lệ kiểm soát lipid máu đạt mục tiêu ở nhóm tuổi 60 - 69 và nhóm tuổi ≥ 70 không có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tại các thời điểm trên (p > 0,05)

Kết luận: Điều trị tích cực RLLM sẽ làm tăng tỷ lệ bệnh nhân đạt lipid máu mục tiêu, góp phần hạn chế

nguy cơ VXĐM

Từ khóa: Kiểm soát lipid máu, rối loạn lipid máu

ABSTRACT

SHORT - TIME LIPID CONTROL OF THE ELDERLY DYSLIPPIDEMIA IN THONG NHAT HOSPITAL

Truong Văn Tri, Nguyen Đuc Cong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 25 - 31

Background: Cardiovascular disease (CAD) due to artherosclerosis is the first reason of mortality in the

world However, the observation of the elderly lipid control was not studied enough in Vietnam

Objective: Studying of short time lipid control in the elderly dyslipidemia

Method: Prospective, descriptive study with observation during 1 year

Results: The data was reported 412 patients over 60 years old (272 males, 140 females) They were examined

lipid blood by statin and/ or fibrate allowing 1 year treatment The CT, TG and LDL-c level were decreased from before and according to 1month, 6 months to 1 year (p < 0.05); HDL-c level were only increased from before and according to 6 months to 1 year (p < 0.05) The ratio of patients attaining lipid goals in group 60-69 years old and

≥ 70 years old was relatively similar The ratio of patients not attaining lipid goals was 24% after 1 month, 27.9% after 6 months and 41.3% after 1 year

Conclusion: Intensive treatment of the elderly dysipidemia is more effective at attaining lipid goals,

* Bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS BS Trương văn Trị ĐT: 0903018537 Email: truongtritn@gmail.com

Trang 2

preventing artherosclerosis

Keywords: Lipid control, dyslipidemia

ĐẶT VẤN ĐỀ

RLLM là một trong những YTNC chính của

bệnh lý tim mạch do VXĐM Tử vong do bệnh

tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu

trên toàn thế giới, đang ngày càng gia tăng, cả

những nước phát triển và đang phát triển, nhất

là ở người cao tuổi, tạo ra gánh nặng kinh tế - xã

hội, làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe(2,3)

Ở nước ta, tai biến mạch máu não và bệnh

mạch vành (BMV), hậu quả của RLLM và

VXĐM, đang trở thành những nhóm bệnh chính

gây tử vong và nhập viện Vì vậy, vấn đề điều

trị và kiểm soát tốt lipid máu để dự phòng biến

cố tim mạch càng trở nên quan trọng và cấp

thiết

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu về

đặc điểm RLLM nói chung và trên bệnh nhân có

BMV, đái tháo đường (ĐTĐ), tăng huyết áp

(THA) Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng còn

nhiều bệnh nhân chưa được kiểm soát lipid máu

đạt mục tiêu theo khuyến cáo của Hội Tim mạch

học Quốc gia Việt Nam và nghiên cứu về điều

trị RLLM ở đối tượng người cao tuổi chưa

nhiều Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: Đánh giá hiệu quả kiểm soát lipid máu ngắn

hạn ở bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Thống Nhất,

nhằm mục đích và ý nghĩa nêu trên

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm 412 bệnh nhân (272 nam, 140 nữ),

tuổi từ 60 trở lên, có RLLM đến khám và điều trị

tại Khoa khám bệnh A, Bệnh viện Thống Nhất,

Thành phố Hồ Chí Minh Tất cả bệnh nhân đều

được xét nghiệm lipd máu ít nhất 4 lần: lần

trước điều trị; lần 2, 3 và 4 được xét nghiệm sau

lần đầu 1 tháng, 6 tháng và 1 năm

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Có RLLM theo Khuyến cáo của Hội Tim

mạch Quốc gia Việt Nam giai đoạn (2006 –

LDL-c: ≥ 3,34 mmol/l (130 mg%) CT: ≥ 5,20 mmol/l (200 mg%) HDL-c: ≤ 1,03 mmol/ l (40 mg%) TG: ≥ 1,73 mmol/l (150 mg%)

Có RLLM đã ngừng thuốc điều trị RLLM trên 4 tuần

Tuổi từ 60 trở lên

Tiêu chuẩn loại trừ

Hội chứng thận hư, suy thận mạn tính và cấp tính

Suy tuyến giáp

Bệnh gan mật cấp và mạn tính

Đang sử dụng các thuốc làm ảnh hưởng đến các thành phần lipid máu như: progestin, anabolic steroid, ức chế thụ thể β, hypothiazide…

Bệnh nhân đang hoặc mới ngừng thuốc điều trị RLLM dưới 4 tuần

Bệnh nhân đang có bệnh lý cấp tính hoặc các bệnh mạn tính nặng, giai đoạn cuối

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân không đầy đủ xét nghiệm theo

yêu cầu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, mô tả, theo dõi dọc, so sánh trước và sau điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm

Nội dung nghiên cứu

Lập bệnh án theo mẫu cho từng bệnh nhân Thiết kế câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân

Ghi kết quả khám lâm sàng và cận lâm sang Thông tin trong bệnh án được ghi chép đầy

đủ, chính xác để tiến hành nghiên cứu từng đối tượng và bảo đảm yếu tố khách quan

Trang 3

và một số xét nghiệm sinh hóa, huyết học cần

thiết khác để phát hiện bệnh phối hợp Tất cả

bệnh nhân được xét nghiệm 4 thành phần lipid

máu tại 4 thời điểm nêu trên

Đánh giá cơ cấu RLLM

Bệnh nhân có RLLM khi có ít nhất một trong

4 tiêu chuẩn sau

LDL-c ≥ 3,34 mol/l (130 mg%)

CT ≥ 5,20 mol/l (200 mg%)

HDL-c ≤ 1,03 mol/l (40 mg%)

TG ≥ 1,73 mol/l (150 mg%)

Đánh giá mức độ RLLM

Theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học

Quốc gia Việt Nam (2006-2010)

Dùng thuốc điều trị RLLM và thuốc điều

trị bệnh kết hợp

Nhóm Statin: khi tăng CT nguyên phát hay

RLLM hỗn hợp

Atorvastatin (Lipitor): 20 mg/ ngày

Rosuvastatin (Crestor): 10 mg/ ngày

Uống sau khi ăn, uống 1 lần trong ngày,

buổi tối trước khi ngủ

+ Nhóm fibrate (Lipanthyl supra): dùng khi

tăng TG nguyên phát

Fenofibrate 160 mg/ngày Uống lần trước

bữa ăn

+ Dùng phối hợp statin + fibrate

Sau khi dùng Statin 1 tháng mà TG ≥ 3,5

mmol/l (300 mg%) thì phối hợp thêm Lipanthyl

supra 160 mg/ngày

- Thuốc điều trị duy trì RLLM

Sau hàng tháng kiểm tra lipid máu, nếu các

thành phần lipid máu đã trở về bình thường hay

gần bình thường thì tiếp tục duy trì thuốc ở liều

½ liều ban đầu Ngừng điều trị khi có các tác

dụng không mong muốn và các chỉ số lipid máu

ở mức tối ưu Sau đó bệnh nhân vẫn tái khám

định kỳ hàng tháng và xét nghiện lại lipid máu

sau 1 tháng ngừng thuốc Nếu xét nghiệm lần

này đủ tiêu chuẩn chẩn đoán RLLM thì tiếp tục điều trị lại như phác đồ trên

- Phối hợp các thuốc hạ HA, ĐTĐ, suy vành và các bệnh lý khác kèm theo (nếu có)

Tiêu chuẩn đánh giá kiểm soát lipid máu

Theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2006-2010)

Xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý theo các thuật toán sử dụng trong y sinh học bằng phần mềm chương trình thống kê Stata 10.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1: Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên

cứu

(n = 412)

Nam (n = 272)

Nữ

Trung bình

Theo lớp tuổi

60 – 69 tuổi 223 (54,13) 137 (50,37) 86 (61,43)

< 0,05

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nhóm

tuổi 60 - 69 cao hơn nam và tỷ lệ bệnh nhân nam

trong nhóm tuổi ≥ 70 cao hơn nữ

Bảng 2: Đặc điểm các chỉ số nhân trắc

(n = 272)

Nữ

BMI

VB

VB/VM

Nhận xét: Giá trị trung bình của VB và chỉ số

VB/VM của nam cao hơn nữ, nhưng tỷ lệ tăng hai giá trị này ở nữ cao hơn nam (p < 0,05) Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng BMI ở hai giới tương

đương nhau

Trang 4

Bảng 3: Rối loạn các thành phần lipid máu theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi

TG

HDL-c

Nhận xét: Nồng độ trung bình TG ở nhóm

60 - 69 tuổi cao hơn nhóm ≥ 70 tuổi (p < 0,05)

Nồng độ trung bình HDL-c của nhóm 60 - 69

tuổi thấp hơn nhóm ≥ 70 tuổi (p < 0,05) Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn 4 thành phần lipid máu ở nhóm tuổi 60 - 69 và ≥ 70 là tương đương nhau

Đánh giá hiệu quả kiểm soát ngắn hạn lipid máu

Bảng 4: Kết quả xét nghiệm lipid máu trước và sau điều trị

*: p < 0,05 khi so sánh trước điều trị với sau điều trị 1 tháng **: p < 0,05 khi so sánh trước điều trị với sau điều trị 6 tháng

#: p < 0,05 khi so sánh trước điều trị với sau điều trị 1 năm

Nhận xét: Nồng độ CT, TG và LDL-c giảm

sau điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm so với

ban (p < 0,05).Nồng độ HDL-c chỉ tăng sau

điều trị 6 tháng, 1 năm so với ban đầu (p < 0,05)

Bảng 5: Mức độ kiểm soát lipid máu giữa 2 nhóm tuổi

Sau 1

tháng

Sau 6

tháng

Sau 1 năm

Nhận xét:- Sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm

điều trị, nhóm tuổi 60 - 69 có tỷ lệ kiểm soát

lipid tốt hơn nhóm ≥ 70 tuổi (p > 0,05)

Tỷ lệ chung bệnh nhân không đạt lipid máu

mục tiêu tăng dần qua các thời điểm 1tháng, 6 tháng và 1 năm theo thứ tự là: 24%; 27,9% và 41,3 và không có sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi

Trang 5

Bảng 6: Mức độ kiểm soát lipid máu theo giới

Sau 1 tháng

Sau 6 tháng

Sau 1 năm

Nhận xét: Nữ giới có tỷ lệ kiểm soát lipid

máu ở mức tốt sau 6 tháng điều trị so với nam (p

< 0,05) Tỷ lệ các mức độ kiểm soát lipid máu

khác sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

BÀN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên 412 bệnh nhân

cao tuổi, có RLLM, chia thành 2 nhóm tuổi:

nhóm 60 - 69 tuổi (223 BN), nhóm ≥ 70 tuổi (189

BN); trong đó, có 140 đối tượng nữ chiếm

33,98% và 272 đối tượng nam chiếm 66,02%

Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là: 69,0 ±

5,8; trong đó tuổi trung bình của nữ thấp hơn

nam khoảng 1,5 tuổi Nghiên cứu của chúng tôi

cho thấy giá trị trung bình và tỷ lệ tăng chỉ số

khối cơ thể (BMI) của hai giới gần tương đương

nhau Nguyễn Thị Loan (2008), nghiên cứu trên

225 bệnh nhân có độ tuổi từ 20 đến 79 cũng có

kết quả tương tự(5) Trong nghiên cứu này, tỷ lệ

bệnh nhân bị rối loạn CT (66,36%) là chủ yếu, tỷ

lệ rối loạn TG (58,88%) và LDL-c (56,48%) cũng

khá cao, tỷ lệ rối loạn thấp nhất là HDL-c

(33,09%) Nguyễn Trung Chính và cộng sự

nghiên cứu rối loạn lipoprotein ở 43 bệnh nhân

THA trên 63 tuổi nhận thấy có rối loạn từ 3 đến

5 chỉ số lipid máu (CT, TG, LDL-c, HDL-c,

TC/HDL-c) chiếm tỷ lệ 73,08%, cũng gần tương

đương với kết quả nghiên cứu của chúng tôi(6)

Nồng độ trung bình của các thành phần lipid

được đánh giá ngay từ đầu nghiên cứu, lần lượt

là: CT (5,62 ± 1,08) mmol/l, TG (2,31 ± 1,40) mmol/l, LDL-c (3,47 ± 0,95) mmol/l và HDL-c (1,19 ± 0,35) mmol/l Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan trong nhóm 100 bệnh nhân cao tuổi thì nồng độ trung bình của các thành phần lipid lần lượt là: CT (6,10 ± 1,17) mmol/l, TG (3,51 ± 2,26) mmol/l, LDL-c (3,36 ± 1,23) mmol/l và HDL-c (1,30± 0,33) mmol/l(5) Sự khác biệt này có thể giải thích là do độ tuổi, cỡ mẫu và đặc điểm chung của đối tượng bệnh nhân trong hai nghiên cứu không đồng nhất; nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan có độ tuổi và cỡ mẫu nhỏ hơn nghiên cứu của chúng tôi(5)

Bảng 3 cũng cho thấy nồng độ trung bình của TG ở nhóm 60 - 69 tuổi cao hơn nhóm ≥ 70 tuổi; điều này có thể liên quan đến chế độ ăn, luyện tập, sinh hoạt khác nhau giữa 2 nhóm tuổi Nồng độ trung bình của HDL-c ở nhóm 60

- 69 tuổi thấp hơn nhóm ≥ 70 tuổi cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác là HDL-c thường tăng sau tuổi 70(3)

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn 4 thành phần lipid máu của nhóm tuổi

60 - 69 và nhóm tuổi ≥ 70 là tương đương

Đánh giá hiệu quả kiểm soát lipid máu

Về đánh giá hiệu quả kiểm soát lipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2006-2010), nghiên cứu của chúng

tôi cho thấy nồng độ CT, TG và LDL-c giảm sau

điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm so với ban đầu (p < 0,05); nồng độ HDL-c chỉ tăng sau điều trị 6

Trang 6

tháng, 1 năm so với ban đầu (p < 0,05) Nồng độ

trung bình CT ở đầu nghiên cứu là (5,62 ± 1,08)

mmol/l, sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm thứ tự là:

4,54 ± 1,05 mmo/l; 4,76 ± 1,09 mmol/l và 4,57 ±

1,08 mmol/l Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan,

nồng độ trung bình CT ban đầu là (6,04 ± 1,27)

mmol/l, sau 2 tháng và 4 tháng điều trị là (5,82 ±

1,25) mmol/l và (5,64 ± 1,19) mmmol/l Nghiên

cứu của Nguyễn Minh Núi sau 30 ngày điều trị,

giá trị này là (4,24 ± 0,46) mmol/l và sau 45 ngày

điều trị là (5,72 ± 0,52) mmol/l Kết quả giữa các

nghiên cứu có sự khác biệt, có lẽ là do sự khác

nhau về cỡ mẫu, độ tuổi, thuốc, liều điều trị và

thời gian điều trị Nghiên cứu của Nguyễn Minh

Núi đánh giá các trị số lipid sau 30 ngày điều trị

nội trú và sau khi dùng thuốc 15 ngày Còn

nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên bệnh

ngoại trú và kết quả thu được sau 1 tháng, 6

tháng và 1 năm điều trị(5,4) Theo thang điểm

Framingham, CT là một trong những tiêu chí để

ước tính nguy cơ BMV 10 năm, riêng cho nam

và nữ Nồng độ CT càng cao và tuổi bệnh nhân

càng trẻ thì nguy cơ BMV càng cao(2,3).

Kết quả cho thấy nồng độ trung bình của TG

ở đầu nghiên cứu là (2,31 ± 1,4) mmmol/l; sau 1

tháng, 6 tháng và 1 năm lần lượt là (1,76 ± 1,0),

(1,80 ± 1,1) và (1,8 ± 0,9) mmol/l Như vậy nồng

độ TG trung bình giảm có ý nghĩa trong tất cả

khoảng thời gian theo dõi kết quả điều trị (p <

0,05) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan cho

thấy nồng độ trung bình của TG lúc đầu nghiên

cứu là (3,50 ± 2,18) mmol/l, sau 2 tháng điều trị

(3,45 ± 2,92) mmol/l và sau 4 tháng điều trị (2,74

± 2,25) mmol/l(5) Nghiên cứu của Trương Thanh

Hương (2002) dùng Fluvastin để điều trị RLLM,

nồng độ TG giảm tới 24,5% so với trước điều

trị(11) Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cũng

như các tác giả trong và ngoài nước đã cho thấy

điều trị RLLM làm thay đổi theo hướng tích cực

nồng độ TG máu; nhưng do nghiên cứu của

chúng tôi tiến hành trên bệnh nhân cao tuổi nên

kết quả có khác nhau

Trong các thành phần lipid máu, LDL-c giữ

thuận với nồng độ LDL-c Kết quả nghiên cứu của 4 cho thấy nồng độ trung bình của LDL-c sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm đã giảm có ý nghĩa thống kê so với giá trị ở đầu nghiên cứu lần lượt là:(3,47 ± 0,95); (2,56 ± 0,87); (2,63 ± 0,72)

và (2,46 ± 0,85) mmol/L Nghiên cứu của Trương Thanh Hương (2002) sau 12 tuần điều trị bằng Fluvastin cho bệnh nhân THA có RLLM cho thấy nồng độ trung bình LDL-c giảm tới 23,6%(11)

Nồng độ HDL-c cao là một yếu tố có lợi góp phần chống lại sự tiến triển của VXĐM Nồng

độ HDL-c thấp là một trong 5 mục tiêu để đánh giá nguy cơ BMV theo thang điểm Framingham, khi nồng độ HDL-c ≤ 1,03 mmol/l sẽ làm tăng nguy cơ BMV trong tương lai(2,3)

Kết quả bảng 4 cho thấy, trong đối tượng nghiên cứu, nồng độ trung bình HDL-c tăng sau điều trị 6 tháng, 1 năm so với ban đầu có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với các giá trị lần lượt là: ban đầu (1,19± 0,35); sau đó (1,22± 0,34); (1,34± 0,32); (1,36± 0,33) mmol/L Nghiên cứu của Sarawate

và cộng sự trên 30.348 bệnh nhân điều trị RLLM sau 36 tháng thấy có 25% bệnh nhân không đạt mục tiêu HDL-c(10) Nghiên cứu của Trương Thanh Hương, sau 12 tuần điều trị bằng Fluvastatin cho thấy HDL-c có xu hướng tăng tới 5,3%(11).Việc điều trị RLLM có tác dụng rất ít đến sự thay đổi bởi HDL-c cho nên cần có chiến lược làm tăng HDL-c, chống lại quá trình VXĐM

Kết quả bảng 5 cho thấy bệnh nhân cao tuổi được kiểm soát lipid máu các mức tốt, khá, trung bình sau 1 tháng điều trị là: 54,4%, 19,4%, 2,2%; sau 6 tháng điều trị lần lượt là: 58,9%, 10,7%, 2,4%; sau 1 năm điều trị lần lượt là: 49,8%, 8,5%, 0,5%; và còn nhiều bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát lipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam (sau 1 tháng: 24,0%; sau 6 tháng: 27,9% và sau 1 năm: 41,3%)

So sánh tỷ lệ đạt mục tiêu lipid máu các mức độ

ở nhóm 60 – 69 tuổi và nhóm ≥ 70 tuổi cho thấy sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm điều trị, tỷ lệ đạt

Trang 7

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >

0,05) Tác giả Nguyễn Thị Loan nghiên cứu trên

225 bệnh nhân chia thành 2 nhóm tuổi: nhóm >

60 tuổi và nhóm ≤ 60 tuổi thì nhận thấy tỷ lệ

bệnh nhân nhóm ≤ 60 tuổi được kiểm soát lipid

máu mức độ tốt cao hơn nhóm tuổi > 60, bệnh

nhân không đạt mục tiêu ở nhóm > 60 tuổi là

nhiều hơn nhóm ≤ 60 tuổi có ý nghĩa thống kê (p

< 0,05)(5)

Từ Bảng 6 của nghiên cứu này cho thấy tỷ

lệ bệnh nhân nữ kiểm soát lipid máu ở mức

độ tốt cao hơn nam giới, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05) tại thời điểm 6

tháng Nghiên cứu của Ansell và cộng sự

(2006) về kiểm soát lipid máu nhận thấy ở

nhóm từ 2 YTNC trở xuống tỷ lệ bệnh nhân

đạt LDL-c là tương giữa nam và nữ; song ở

nhóm nguy cơ cao thì nữ giới đạt mục tiêu

thấp hơn(1) Tuy nhiên, nghiên cứu của

O’Meara (2004) và Qayyum (2006) thì cho

rằng kiểm soát lipid máu không liên quan đến

giới tính(7,9)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 412 bệnh nhân cao tuổi có

RLLM được điều trị bằng Atorvastatin,

Rosuvastatin và Fenofibrate sau 1 tháng, 6 tháng

và 1 năm theo dõi, chúng tôi nhận thấy:

- Nồng độ CT, TG và LDL-c giảm sau

điều trị 1 tháng, 6 tháng và 1 năm so với ban

đầu, có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

- Nồng độ HDL-c tăng chỉ sau điều trị 6

tháng, 1 năm so với ban đầu, có ý nghĩa

thống kê (p < 0,05)

- Bệnh nhân cao tuổi được kiểm soát lipid

máu các mức tốt, khá, trung bình sau 1 tháng

điều trị là: 54,4%, 19,4%, 2,2%; sau 6 tháng điều

trị lần lượt là: 58,9%, 10,7%, 2,4%; sau 1 năm

điều trị lần lượt là: 49,8%, 8,5%, 0,5%; và còn nhiều bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát lipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam (sau 1 tháng: 24,0%; sau 6 tháng: 27,9% và sau 1 năm: 41,3%)

- Sau 1 tháng, 6 tháng và 1 năm điều trị tỷ lệ kiểm soát lipid máu đạt mục tiêu ở nhóm tuổi 60 – 69 và nhóm tuổi ≥ 70 không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alsell BJ et al (2006), “Reduced treatment success in lipid management among women with coronary heart disease or risk

equivalents: results of a national survey” Am Heart J 152(5), pp

976-81

2 Đặng Vạn Phước và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch Việt Nam về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid

máu”, Hội Tim mạch học Việt Nam, Khuyến cáo 2008 về các Bệnh

lý Tim mạch và chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học – Chi nhánh

TPHCM, tr.476-496

3 Katzel LI et al (2009), “Dyslipoproteinemia”, Hazzard’s Geriatric Medicine and Gerontology The Mc Graw Hill Compaines Inc, 110,

pp.1235-42

4 Nguyễn Minh Núi (2003), “Nghiên cứu tác dụng điều trị mật

gấu tươi trên bệnh nhân rối loạn lipid máu nguyên phát” Luận văn thạc sĩ y khoa Học viện Quân y

5 Nguyễn Thị Loan (2008), “Nghiên cứu thực trạng kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân điều trị tại khoa khám bệnh, Bệnh viện

Bạch Mai,” Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Quân y

6 Nguyễn Trung Chính (1990), “Rối loạn lipoprotein ở những

người tăng huyết áp trên 60 tuổi”, Tạp chí Y học Thực hành, 6, tr

26-28

7 O'Meara JG et al (2004), ”Ethnic and differences in the

prevalence, treatment, and control of dyslipidemia among

hypertensive adults in the GENOA study”, Arch Intern Med,

164(12), pp 1313-8

8 Phạm Mạnh Hùng (2005), “Béo phì và bệnh tim mạch”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, số 41, tr.96-99

9 Qayyum R et al (2006), “Achievement of national cholesterol education program goals by patients with dyslipidemia in rural

ambulatory care setting”, Preventive cardiology, 9: pp.192-97

10 Sarawate CA et al (2007), “Achievement of optimal combined lipid values in a managed care setting: is a new treatment

paradigm needed?” Clin Ther, 29(1): pp.196-209

11 Trương Thanh Hương (2003), “Nghiên cứu sự biến đổi một số thành phần lipid máu ở bệnh nhân tăng huyết áp và bước đầu

đánh giá hiệu quả điều trị của Fluvastatin” Luận án Tiến sĩ Y học

Trường Đại học Y khoa Hà Nội

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w