1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trị rối loạn tâm thần tại khoa lão - tâm thần Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

7 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 308,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát tình hình sử dụng các nhóm thuốc trị rối loạn tâm thần ở bệnh nhân nội trú, đưa ra nhận xét, đề xuất ý kiến để việc sử dụng thuốc được hợp lý, an toàn. Nghiên cứu thực hiện đã khảo sát 382 hồ sơ bệnh án của khoa lão - tâm thần có chỉ định thuốc rối loạn tâm thần, từ 1/1/2009-30/6/2012.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRỊ RỐI LOẠN TÂM THẦN TẠI KHOA LÃO – TÂM THẦN BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG

Nguyễn Hữu Đức*, Võ Nguyên Khôi*, Nguyễn Thị Cẩm Tú**

TÓM TẮT

Mở đầu: Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới, rối loạn tâm thần (RLTT) chiếm 31% trong tổng thiệt hại do các bệnh

thường gặp Sử dụng thuốc an toàn hợp lý đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà điều trị tại bệnh viện Nguyễn tri Phương (BVNTP) Khoa Lão– Tâm Thần của bệnh viện hiện chưa xây dựng phác đồ chuẩn để điều trị RLTT Vấn đề sử dụng thuốc tại đây rất cần khảo sát và đóng góp từ giới chuyên môn, trong đó có dược sĩ lâm sàng, nhằm đạt hiệu quả và an toàn

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng các nhóm thuốc trị RLTT ở bệnh nhân nội trú, đưa ra nhận xét, đề

xuất ý kiến để việc sử dụng thuốc được hợp lý, an toàn.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hồi cứu Đã khảo sát 382 hồ sơ

bệnh án của Khoa Lão– Tâm Thần có chỉ định thuốc RLTT, từ 1/1/2009 – 30/6/2012

Kết quả: - Điều trị RLTT có 4 nhóm thuốc chính, ngoài ra có thêm các thuốc trị triệu chứng và thuốc bổ Sử

dụng nhiều nhất là nhóm chống loạn thần (42,89%), tiếp theo là nhóm chống trầm cảm (29,62%), chống lo âu (20,17%) và ổn định khí sắc (7,32%) - Phối hợp thuốc phổ biến là phối hợp luôn có Olanzapin (nhóm chống loạn thần không điển hình) - Tỷ lệ bệnh nhân giảm hoặc bớt bệnh chiếm 90,3% Tác dụng phụ có xảy ra nhưng được kiểm soát tốt, đặc biệt xảy ra ở nhóm thuốc chống loạn thần điển hình

Kết luận: Khoa chưa có phác đồ riêng trị RLTT nhưng việc sử dụng thuốc có tuân thủ phác đồ và khuyến

cáo của nước ngoài Nhìn chung, việc sử dụng thuốc điều trị RLTT ở Khoa Lão – Tâm Thần, bệnh viện NTP qua khảo sát là tương đối an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Từ khóa: Thuốc trị rối loạn tâm thần, thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu,

thuốc ổn định khí sắc.

ABSTRACT

INVESTIGATION OF DRUG USE FOR TREATING MENTAL DISORDERS

IN GERIATRIC-PSYCHIATRIC DEPARTMENT OF NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL

Nguyen Huu Duc, Vo Nguyen Khoi, Nguyen Thi Cam Tu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 2 - 2014: 310 - 316

Background: According to the World Health Organization, mental disorders accounts for 31% of the

total damage caused by common diseases Rational use of drugs has been major concern of hospital staff of Nguyen tri Phuong (NTP) Geriatric-Psychiatric department of the hospital has not set up guidelines for treating mental disorders It is necessary to review the drug use in the department and collect comments from health professionals, especially that from clinical pharmacists to optimise the policy of drug use.

Objectives: To review case records of mental disorders drug use on patients in the Geriatric-Psychiatric

Department, NTP hospital from January 1 2009 to June 30 2012 to see appropriateness of medication use.

Methods: A retroprospective method was applied to review 382 prescriptions utilising to treat mental

∗ Khoa Dược, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức ĐT: 0918276256 Email:tvduoc@yahoo.com

Trang 2

disorders to see appropriateness of medication use Interviews of medical and pharmacy staff in the department were conducted regarding prescription and dispensing the drugs.

Results: - Drugs used for treating mental disorder includes 4 groups Mostly used drugs were

antipsychotics (42.89%), followed by antidepressants (29.62%), anxiolytics (20.17%) and mood stabilizers (7.32%).- The combination therapy almost included olanzapin, an atypical antipsychotic - The percentage

of patients who reduced symptoms or removed disease accounted for 90.3%., ADR occurred but well controlled, especially when using typical antipsychotics

Conclusion: In general, through investigation the use of mental disorders drugs in the Geriatric –

Psychiatric Department of NTP hospital is relatively reasonable, safe, economic and effective

Keywords: Mental disorder drug use, antipsychotics, antidepressants, anxiolytics, mood stabilizers

MỞ ĐẦU

Rối loạn tâm thần (RLTT) là một bệnh

chiếm tỉ lệ cao ở các nước phát triển Theo báo

cáo của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), ước

tính trên toàn thế giới tỷ lệ các RLTT chiếm

12% dân số Cũng theo WHO, trong tổng thiệt

hại do các bệnh thường gặp RLTT chiếm 31%,

xếp hàng thứ năm trong 10 nguyên nhân gây

gánh nặng bệnh tật toàn cầu (1) Ở Mỹ, điều

tra cho thấy 46% dân số thường có đủ tiêu

chuẩn cho việc chẩn đoán bị một RLTT tại một

thời điểm nào đó Một điều tra vào năm 2004

tại 16 quốc gia châu Âu cho thấy khoảng 27%

người lớn bị ảnh hưởng bởi RLTT ít nhất một

lần trong khoảng thời gian 12 tháng(1) Ở Việt

Nam, theo kết quả điều tra dịch tễ học của

ngành Tâm thần vào năm 2000, tỷ lệ bị RLTT

chiếm khoảng từ 10 - 15% dân số(2) Hiện nay

có 4 nhóm thuốc chủ yếu được sử dụng để

điều trị RLTT(3) Tuy nhiên, yêu cầu dùng

thuốc đúng thường gây không ít lúng túng

cho bác sĩ điều trị trong lựa chọn và phối hợp

thuốc, rất dễ dẫn đến sử dụng thuốc sai Bệnh

viện Nguyễn Tri Phương (BVNTP) là bệnh

viện đa khoa hạng I, bệnh viện duy nhất trong

thành phố Hồ Chí Minh có Khoa Lão kết hợp

với Tâm Thần, cho nên có điều trị các bệnh

nhân RLTT kể cả người không phải là người

già Cho tới nay, bệnh viện vẫn chưa có đề tài

khảo sát tính hiệu quả và an toàn trong sử

dụng thuốc trị RLTT

Với mong muốn góp phần tăng tính hiệu

quả, an toàn hợp lý trong sử dụng thuốc điều trị

RLTT, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc trị RLTT tại Khoa Lão – Tâm Thần BVNTP nhằm đánh giá, đóng góp ý kiến giúp cho việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý tại bệnh viện

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Các hồ sơ bệnh án của Khoa Lão – Tâm Thần có chỉ định thuốc RLTT cho đối tượng từ

45 tuổi trở lên, được lưu trữ tại phòng kế hoạch tổng hợp, BVNTP từ ngày 1/1/2009 đến ngày 30/6/2012

Trong đề tài, chúng tôi đã khảo sát 382 mẫu

hồ sơ bệnh án (áp dụng công thức chọn mẫu theo(3)) có chỉ định thuốc RLTT đáp ứng cho việc nghiên cứu

Phương pháp hồi cứu

Tiến hành hồi cứu các hồ sơ bệnh án có sử dụng thuốc RLTT trong điều trị tại Khoa Lão – Tâm Thần

Lập phiếu thu thập thông tin để ghi chép lại

hồ sơ bệnh án Những chỉ tiêu khảo sát gồm: Đặc điểm mẫu nghiên cứu (giới tính, tuổi tác, bệnh lý kèm theo), việc sử dụng thuốc điều trị RLTT tại Khoa Lão – Tâm Thần (các nhóm thuốc chiếm

ưu thế, các phối hợp thuốc, chỉ định khởi đầu, tương tác thuốc, theo dõi ADR) và hiệu quả điều trị Những tiêu chí đánh giá gồm: Loại thuốc sử dụng có phù hợp (Chỉ định trong trường hợp nào, có đúng theo phác đồ điều trị, có theo dõi

Trang 3

hiệu quả điều trị); Đường sử dụng, liều dùng,

thời gian sử dụng có đúng không; Phối hợp

thuốc có hợp lý không; Có xảy ra ADR Từ kết

quả khảo sát đề xuất các biện pháp nhằm cải

thiện những thiếu sót nếu có

Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn các bác sĩ điều trị để biết rõ vì sao

có thực trạng sử dụng thuốc như khảo sát

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh nhân

Giới tính

Qua khảo sát 382 bệnh án, chúng tôi ghi

nhận tỷ lệ nữ mắc bệnh (70,7%) hơn 2,3 lần nam

(29,3%) (Bảng 1)

Bảng 1: Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu

(N=382)

Tuổi

Khoa Lão tiếp nhận BN có độ tuổi từ 60 trở lên và do kết hợp với khoa Tâm Thần nên nhận mọi lứa tuổi Tuy nhiên, số BN dưới 45 tuổi mắc bệnh RLTT chiếm tỷ lệ rất thấp, chúng tôi đã chọn lứa tuổi thấp nhất trong nghiên cứu là 45, và ghi nhận tuổi cao nhất là

94 tuổi, trung bình: 57 ± 2 tuổi Nhóm tuổi có

tỷ lệ BN đông nhất là nhóm (45-55), nhóm tuổi

ít nhất là nhóm (>85) (Bảng 2)

Bảng 2: Phân bố nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu

(N=382)

Tỷ lệ các bệnh kèm theo ngoài RLTT:

Đối tượng nghiên cứu là những BN ở tuổi trung niên và già nên đa số BN mắc nhiều bệnh, chiếm tỷ lệ cao nhất là cao huyết áp (27,8%), tiếp theo là rối loạn lipid huyết (18,13%), bệnh dạ dày (7,99%), tiểu đường (5,94%)… (Hình 1)

0.00%

5.00%

10.00%

15.00%

20.00%

25.00%

30.00%

Cao

huyết áp

Rối loạn lipid huyết

Bệnh lý

dạ dày

Tiểu đường

Thiếu máu cơ tim cục

bộ

Bệnh lý xương khớp

Bệnh lý gan thận

Bệnh lý

về phổi

Bệnh khác

Bệnh

Hình 1: Tỷ lệ các bệnh lý kèm theo ngoài RLTT

Tỉ lệ các loại bệnh trong RLTT (5)

Bảng 3: Tỉ lệ các loại bệnh trong RLTT

Trang 4

Bệnh Số lượng Phần trăm

Theo ICD-10 (6), bệnh RLTT chiếm tỉ lệ cao

nhất là rối loạn dạng cơ thể (25,9%) Tiếp theo là

các bệnh: rối loạn lo âu khác (24,3%), giai đoạn

trầm cảm (8,6%) Ở đây ta thấy bệnh sa sút tâm

thần chiếm tỉ lệ thấp nhưng nếu xét trong nhóm

đối tượng người già nó lại chiếm tỷ lệ cao

Tình hình sử dụng thuốc

Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc RLTT

Có 4 nhóm thuốc được dùng chủ yếu Nhóm

thuốc được sử dụng nhiều nhất là thuốc chống

loạn thần (CLT) (42,89%) , thấp nhất là nhóm ổn

định khí sắc (7,32%) Nhóm CLT dùng cho đa số

các bệnh lý tâm thần, trước tiên là bệnh tâm

thần phân liệt (TTPL), loạn thần cấp ngoài ra được chỉ định phối hợp với thuốc trầm cảm để trị rối loạn lo âu, rối loạn dạng cơ thể, trầm cảm hoăc bệnh lý thực thể có loạn thần Nhóm ổn định sắc khí được chỉ định chủ yếu trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực (Bảng 4)

Bảng 4: Tỷ lệ các nhóm thuốc RLTT được chỉ định

Tỷ lệ sử dụng các thuốc RLTT

Hình 2: Tỷ lệ các thuốc trị RLTT được sử dụng nhiều

Trang 5

Thuốc dùng nhiều nhất là thuốc Olanzapin

(17,16%), tiếp đó là Diazepam (10,52%),

Propranolol (8,65%), Fluoxetin (6,09%)

Diazepam dùng để giảm nhanh các triệu chứng

cấp tính như cơn hoảng loạn, loạn thần cấp, sảng

do rượu… và dùng trong những ngày đầu khi

BN mất ngủ Propranolol dùng để làm giảm các triệu chứng bứt rứt, bồn chồn, đứng ngồi không yên (akathisia) thường do thuốc RLTT gây ra

Tỷ lệ sử dụng các thuốc thuộc thế hệ khác nhau trong cùng nhóm

Bảng 5: Tỷ lệ sử dụng các thuốc thế hệ khác nhau trong cùng nhóm

Trong nhóm thuốc CLT, thuốc thế hệ 2 tức

thuốc không điển hình chiếm tỉ lệ cao (76,5%)

gấp hơn 3 lần thuốc thế hệ 1 (23,5%) Thế hệ 1

chủ yếu dùng trong tâm thần phần liệt dạng

nặng không đáp ứng với thuốc thế hệ 2 và trong

trường hợp cấp phải dùng dạng tiêm

Trong nhóm thuốc chống trầm cảm, tỷ lệ

dùng SSRI (Serotonine selective reuptake inhibitors) chiếm đa số (74,2%) hơn 3 lần so với tổng các thuốc thuộc các nhóm khác (25,8%) Tuy nhiên các thuốc không phải SSRI dùng hiệu quả trong trường hợp bệnh nặng, thời gian tác động nhanh và giá thành thường rẻ hơn

Tỷ lệ phối hợp thuốc trị RLTT

0.00%

5.00%

10.00%

15.00%

20.00%

25.00%

30.00%

35.00%

1 thuốc 2 thuốc 3 thuốc 4 thuốc 5 thuốc 6 thuốc 7 thuốc

tổng s ố thuốc

Hình 3: Phối hợp thuốc được kê toa trong điều trị RLTT

Tỷ lệ phối hợp thuốc trị RLTT chiếm tỉ lệ cao

lần lượt là phối hợp 4 thuốc (33,2%), phối hợp 3

thuốc (29,3%)

Tỷ lệ thấp là dùng 1 thuốc (2,6%) và phối

hợp 7 thuốc (1%)

Về cơ bản, BN được điều trị khởi đầu bằng

phối hợp hai thuốc, ít khi dùng một thuốc Nếu

cần, dùng thêm một thuốc trị triệu chứng bệnh,

hoặc BN có các triệu chứng cấp tính thì dùng

thêm các thuốc tác động nhanh như Diazepam,

Haloperidol dạng tiêm

Tỷ lệ dùng đường cho thuốc trị RLTT Bảng 6: Tỷ lệ dùng đường cho thuốc RLTT

Đa số các thuốc trị RLTT đều dùng dạng uống (97,03%), dạng tiêm dùng ít (2,97%)

Trang 6

Dạng thuốc tiêm được dùng khi cần tác

dụng nhanh để trị triệu chứng cấp tính (BZD,

một số thuốc CLT thế hệ 1) Hai thuốc dùng

dạng tiêm phổ biến là Diazepam và

Haloperidol để điều trị các triệu chứng như

loạn thần, mê sảng có cơn gây hấn, ngộ độc

thuốc thần kinh… Ngoài ra, vitamin B1 dạng

tiêm để dùng trị sảng rượu

Tỷ lệ thay thuốc cùng nhóm trong quá trình

điều trị

Việc thay thuốc thường là thay các thuốc

trong cùng một nhóm khi không đạt hiệu quả

điều trị hoặc xảy ra ADR gây khó chịu cho BN

Như thay thuốc trong nhóm SSRI với nhau, hoặc

thay Clozapin cho Olanzapin Từ 382 bệnh án,

chúng tôi thống kê được tỉ lệ thay thuốc cùng

nhóm như sau (Bảng 7.)

Bảng 7: Tỷ lệ thay thuốc cùng nhóm trong quá trình

điều trị

Thời gian điều trị

Thời gian nằm viện ngắn nhất: 1 ngày, thời

gian nằm viện lâu nhất: 42 ngày, trung bình:

10.07± 0.63 ngày

Đa số BN có thời gian nằm viện thường: 8-9

ngày Khi tình trạng bệnh đã ổn định bác sĩ sẽ

cho xuất viện để điều trị duy trì tại nhà Một số

xin về sớm, đa số họ là nam lao động chính trong

gia đình Đối với các BN quá cao tuổi (>80) và

mắc nhiều bệnh thường gia đình xin về nhà tiện

chăm sóc

Tỷ lệ chẩn đoán nhầm bệnh

Việc chẩn đoán RLTT có khác so với việc

chẩn đoán các bệnh khác, mang tính định tính

do chỉ dựa vào thang đánh giá bệnh như dựa

vào bảng phân loại và chẩn đoán bệnh tâm thần

của Hiệp hội tâm thần Mỹ (DSM-IV) Do đó việc

chẩn đoán nhầm thường xảy ra ở giới hạn cho

phép Trong khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ chẩn

đoán nhầm là 12,3% (Bảng 8)

Bảng 8: Tỷ lệ chẩn đoán nhầm bệnh

Tỷ lệ chẩn đoán nhầm cao nhất là bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực (36.36%), kế tiếp lần lượt

là các bệnh rối loạn dạng cơ thể (17.17%), rối loạn lo âu (13.98%)

Kết quả điều trị

Tỷ lệ giảm hoặc bớt bệnh chiếm tỷ lệ cao: 90.3%, tỷ lệ bệnh không thay đổi hoặc nặng thêm: 9,7%

Bảng 9: Kết quả điều trị

ADR

Qua khảo sát và tham khảo ý kiến của bác sĩ, chúng tôi ghi nhận có các ADR hay gặp: Rối loạn giấc ngủ; Táo bón hoặc tiêu chảy, khô miệng, hồi hộp; Nghẹt mũi; Tiết sữa; Triệu chứng ngoại tháp; Hạ huyết áp tư thế (chóng mặt, say sẩm) Đây là các ADR đã được báo cáo ở các nhóm thuốc hướng thần hay xảy ra, cho nên các các bác

sĩ chỉ tư vấn và cho hướng xử trí chứ không báo cáo ADR

KẾT LUẬN

Qua khảo sát, chúng tôi đã ghi nhận các đặc điểm của mẫu nghiên cứu như giới tính, tuổi, các bệnh lý kèm theo, các loại RLTT… Chúng tôi ghi nhận chủ yếu có 4 nhóm thuốc trị RLTT được sử dụng và nhận thấy thuốc thuộc thế hệ mới hơn (CLT không điển hình, chống trầm cảm SSRI…) được dùng nhiều hơn Tùy điều kiện và tình trạng bệnh, phối hợi thuốc, thay thế thuốc và dạng thuốc uống hoặc tiêm được dùng phù hợp Khoa chưa có phác đồ riêng trị RLTT nhưng việc

sử dụng thuốc có tuân thủ phác đồ và khuyến cáo của nước ngoài Khi thấy các triệu chứng đã giảm, bác sĩ thường cho xuất viện để điều trị duy trì và tỉ lệ đỡ, khỏi bệnh chiếm tỷ lệ cao (90,3%)

Trang 7

Nhìn chung, việc sử dụng thuốc trị RLTT tại

khoa Khoa Lão – Tâm Thần BVNTP là tương

đối hợp lý, an toàn và hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alonso J (2004), "Prevalence of mental disorders in Europe:

results from the European Study of the Epidemiology of

Mental Disorders project" Acta Psychiatr Scand Suppl, 109

(420):7-21

2 Bùi Đức Trình (2008), Bài giảng tâm thần học, NXB Y học, Thái

Nguyên, 220

3 Đặng văn Giáp, Đỗ Quang Dương (2010), Tài liệu phân tích

thống kê và quản lý dữ liệu, Bộ môn Công nghệ Thông tin Dược,

Khoa Dược, Đại học Y Dược TPHCM

4 Đào Trần Thái (2005), Tâm thần học, NXB Y Học, Hồ Chí

Minh, 1-250

5 Lê Ngọc Trọng (2001), Bảng phân loại quốc tế bệnh tật Việt-Anh,

NXB Y Học, 183-277

6 WHO World Mental Health Survey Consortium (2004),

“Prevalence, severity, and unmet need for treatment of mental disorders in the World Health Organization World Mental

Health Surveys” JAMA, 291(21):2581-2590.

Ngày nhận bài báo: 14.12.2012 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17.1.2012 Ngày bài báo được đăng: 10.03.2014

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w