1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng trong thời gian nằm viện ở người cao tuổi có hội chứng vành cấp

7 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 410,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng theo tiêu chuẩn GRACE trong thời gian nằm viện ở người cao tuổi (≥ 70 tuổi) có hội chứng vành cấp. Nghiên cứu thực hiện trên các bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng vành cấp điều trị tại khoa tim mạch cấp cứu và can thiệp - bệnh viện Thống Nhất từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2012.

Trang 1

KHẢO SÁT TỈ LỆ BIẾN CHỨNG XUẤT HUYẾT NẶNG TRONG THỜI  GIAN NẰM VIỆN Ở NGƯỜI CAO TUỔI CÓ HỘI CHỨNG VÀNH CẤP 

Phan Văn Trực*, Hồ Thượng Dũng*, Nguyễn Đức Công* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng theo tiêu chuẩn GRACE trong thời gian nằm viện ở  người cao tuổi (≥ 70 tuổi) có hội chứng vành cấp. 

Đối tượng: Các bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng vành cấp điều trị tại khoa Tim mạch Cấp cứu và Can 

thiệp – bệnh viện Thống Nhất từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2012. 

Phương pháp: Cắt ngang mô tả, hồi cứu và tiến cứu. 

Kết quả: Tổng cộng có 175 trường hợp, trong đó có 102 trường hợp cao tuổi (≥ 70 tuổi), tỉ lệ biến chứng 

xuất huyết nặng trong thời gian nằm viện ở người cao tuổi là 4,90%. Tỉ lệ tử vong trong bệnh viện của người  cao tuổi có biến chứng xuất huyết nặng là 20%. Người cao tuổi có biến chứng xuất huyết nặng thì có độ thanh  thải creatinin thấp hơn người không có biến chứng xuất huyết nặng (23,59 ml/phút so với 36,97 ml/phút với p = 

0,04). 

Kết luận: Tỉ lệ biến chứng xuất huyết trong thời gian nằm viện ở bệnh nhân hội chứng vành cấp là 4,90%. 

Từ khóa: Biến chứng xuất huyết, hội chứng vành cấp, nhồi máu cơ tim cấp. 

ABSTRACT 

INCIDENCE OF MAJOR BLEEDING COMPLICATIONS IN HOSPITAL OF ELDERLY PATIENTS 

WITH ACUTE CORONARY SYNDROME 

Phan Van Truc, Ho Thuong Dung, Nguyen Duc Cong,  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 294 ‐ 300 

Objective: Define the incidence of the major bleeding complications in hospital of elderly patients with acute  coronary syndrome. 

Subject and methods: We chose the 175 consecutive patients (there are total 102 patients equal and older 

than  70‐  year  old)  with  acute  coronary  syndrome  who  admitted  to  hospital  from  January  2010  to  May  2012.  Retrospective and prospective descriptive study, cross‐sectional design. 

Results:  The  rate  of  major  bleeding  complication  in  hospital  is  4.90%.  Mortality  of  major  bleeding 

complication  in  hospital  is  20%.  Clearance  creatinin  of  elderly  patients  with  major  bleeding  complications  is  lower than elderly patients without major bleeding complications. 

Conclusion:  The  rate  of  major  bleeding  complications  in  hospital  of  elderly  patients  with  acute  coronary 

syndrome is 4.90%. 

Keywords: Bleeding complication, acute coronary syndrome, myocardial infarction. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Do  có  sự  biến  đổi  về  mạch  máu  và  sinh  lý 

đông  máu  bao  gồm  tiểu  cầu,  sự  đông  máu,  và 

các yếu tố tiêu sợi huyết và nội mạc mạch máu  nên người cao tuổi dễ mắc các bệnh huyết khối 

hệ tim mạch. Sự tăng đông và xơ cứng mạch có  thể đã làm gia tăng tỉ lệ huyết khối ở người cao 

*Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh 

Trang 2

thời có khá nhiều nghiên cứu lâm sàng ghi nhận 

tuổi cao là một trong những yếu tố  quan  trọng 

nhất  làm  tăng  tỉ  lệ  biến  chứng  xuất  huyết  ở 

người có hội chứng vành cấp. Theo M.Moscucci 

và  CS(11)  cứ  tăng  mỗi  10  tuổi  làm  gia  tăng  tỉ  lệ 

xuất  huyết  lên  1,28  lần);  theo  Steven  V. 

Manoukian và CS(7) bệnh nhân ≥75 tuổi làm tăng 

tỷ  lệ  biến  chứng  xuất  huyết  lên  1,64  lần;  theo 

John Eikelboom và CS(5) phân tích từ các nghiên 

cứu OASIS‐1, OASIS‐2 và CURE thì tăng thêm 1 

tuổi  làm  gia  tăng  tỷ  lệ  xuất  huyết  lên  1,038  lần 

với p < 0,0001. 

Người có biến chứng xuất huyết nặng có dự 

hậu  xấu  hơn  cả  trong  ngắn  hạn  và  dài  hạn. 

Steven  V.  Manoukia(8)  tổng  hợp  kết  quả  từ  các 

nghiên  cứu  cho  thấy:  trong  nghiên  cứu  của 

Steven  V.  Manoukian  thì  người  có  biến  chứng 

xuất huyết nặng có tỉ lệ tử vong trong  vòng  30 

ngày cao gấp 7,55 lần, còn nghiên cứu của Sunil 

V.  Rao  và  CS  cao  gấp  10,6  lần  và  của  Attubato 

MJ  cao  gấp  3,53  lần.  Đặc  biệt  theo  nghiên  cứu 

REPLACE ‐2: trong nhóm người có biến chứng 

xuất nặng thì người cao tuổi (≥75 tuổi) có tỷ lệ tử 

vong  trong  vòng  30  ngày  và  1  năm  cao  hơn 

(13,0% so với 4% với P < 0,0001) và 16,7% so vói 

4,5% với P = 0,0001. 

Với  đặc  thù  phần  đông  bệnh  nhân  ở  bệnh 

viện Thống Nhất là người cao tuổi nên chúng tôi 

tiến hành nghiên cứu này nhằm bước đầu khảo 

sát tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng ở người cao 

tuổi (≥70 tuổi) có hội chứng vành cấp trong thời 

gian nằm viện. 

Mục tiêu tổng quát 

Khảo  sát  tỉ  lệ  biến  chứng  xuất  huyết  trong 

thời  gian  nằm  viện  ở  bệnh  nhân  có  hội  chứng 

vành cấp. 

Mục tiêu chuyên biệt 

Khảo  sát  tỉ  lệ  biến  chứng  xuất  huyết  nặng 

theo tiêu chuẩn GRACE(11) ở bệnh nhân cao tuổi 

(≥70  tuổi)  so  với  nhóm  bệnh  nhân  <  70  tuổi  có 

hội chứng vành cấp. 

Khảo sát tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng ở  người  cao  tuổi  theo:  giới,  độ  lọc  cầu  thận  và  phân suất tống máu thất trái. 

Khảo  sát  tỉ  lệ  tử  vong  trong  thời  gian  nằm  viện  ở  nhóm  có  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  ở  người cao tuổi. 

PHƯƠNG PHÁP  Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang mô tả, hồi cứu và tiền cứu. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  nhập  khoa  Tim  mạch  Cấp  cứu  và  Can  thiệp:  được  chẩn  đoán  nhồi  máu cơ tim cấp ST chênh lên và không ST chênh  lên theo định nghĩa về nhồi máu cơ tim của ESC 

và  ACC(2).  Và  các  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  đau  thắt  ngực  không  ổn  định  điều  trị  tại  khoa  Tim mạch Cấp cứu và Can thiệp từ tháng 1/2010  đến tháng 5/2012. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Các  bệnh  nhân  hội  chứng  vành  cấp  nhưng 

có thời gian điều trị trong viện dưới 48 giờ thì ra  viện: do bệnh nặng hay xin chuyển viện… 

Thuốc kháng đông và ức chế kết tập tiểu cầu 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  nếu  không  có  chống  chỉ định được dùng enoxaparin tiêm dưới da với  liều  1mg/kg  tiêm  dưới  da  ngày  2  lần  trong  3‐5  ngày,  có  chỉnh  liều  ở  bệnh  nhân  suy  thận.  Các  bệnh  nhân  có  can  thiệp  mạch  vành  cấp  cứu  dùng:  plavix  600mg  sau  đó  dùng  hàng  ngày  150mg trong tuần đầu, sau đó hàng ngày dùng  75mg;  aspirin  dùng  300mg  sau  đó  dùng  hàng  ngày  81mg  trừ  các  trường  hợp  có  chống  chỉ  định. 

Các bệnh nhân không can thiệp mạch vành  cấp cứu dùng: plavix 300mg sau đó dùng hàng  ngày  75mg;  aspirin  dùng  300mg  sau  đó  dùng  hàng  ngày  81mg  trừ  các  trường  hợp  có  chống  chỉ định. 

Trang 3

Biến chứng xuất huyết 

Chúng  tôi  phân  loại  biến  chứng  xuất  huyết 

nặng  theo  chẩn  đoán  lâm  sàng  và  xét  nghiệm 

công thức máu của nghiên cứu GRACE(11): biến 

chứng xuất huyết nặng khi có xuất huyết não và 

hay có hematocrit giảm ≥ 10% và hay có truyền ≥ 

2 đơn vị hồng cầu. 

Biến chứng xuất huyết nhẹ khi có xuất huyết 

cần truyền 1 đơn vị hồng cầu. 

Và  có  bằng  chứng  chảy  máu  như  có  hồng 

cầu trong phân, tiểu máu, tụ máu nơi đường vào 

mạch máu trong can thiệp mạch vành qua da. 

Độ  lọc  cầu  thận  được  tính  theo  công  thức 

Cokroft ‐ Gault:  

Ccreatinin = [(140 – tuổi) x cân nặng (kg) ] / 

[72 x creatinin máu (mg%)]  

Nếu là nữ thì nhân với 0,85. 

Tử vong: Các trường hợp tử vong trong viện 

hay bệnh nặng xin về. 

Các yếu tố nguy cơ 

Tăng huyết áp: được ghi nhận có tăng huyết 

áp khi nhập viện có HA tâm thu ≥140 mmHg và  hay HA tâm thu ≥ 90 mmHg theo JNC VII hay  bệnh nhân đang có dùng thuốc điều trị tăng HA. 

Đái tháo đường typ  2:  chẩn  đoán  theo  hiệp  hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 1997 hay bệnh  nhân đang có điều trị đái tháo đường. 

Hút thuốc lá: có hút thuốc lá khi bệnh nhân  còn đang hút thuốc lá. 

Rối  loạn  chuyển  hóa  lipid  máu  được  chẩn  đoán theo NCEPATP III. 

Kết quả 

Dùng phần mềm STATA 8.0 for windows để  phân tích số liệu, đối với biến số định lượng so  sánh số trung bình  dùng  phép  kiểm  T‐  test  với  phương sai đồng nhất và phép kiểm phi tham số  Mann‐Whitney,  đối  với  biến  số  định  tính  so  sánh  tỉ  lệ  dùng  phép  kiểm  chi  bình  phương  và  phép kiểm Fisher nếu tần số mong đợi < 5. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Bảng 1. Mô tả một số đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu. 

Tuổi trung bình 59,49 ± 7,85 78,35 ± 5,78

NMCT cấp không ST chênh lên 31 (42,47%) 60 (58,82%) 0,03

NMCT cấp ST chênh lên 27 (36,99%) 25 (24,51%) 0,06

Đau thắt ngực không ổn định 15 (20,55%) 17 (16,67%) 0,51

Độ thanh thải creatinin trung bình (ml/phút) 58,031 36,274 <0,0001

Điều trị nội khoa và can thiệp mạch vành chương trình 62 (84,93%) 93 (91,17%) 0,23

Can thiệp mạch vành cấp cứu 11 (15,07%) 9 (8,83%)

Tổng  cộng  có  175  trường  hợp  hội  chứng 

vành  cấp  được  đưa  vào  nghiên  cứu.  Trong  đó 

nhóm ≥ 70 tuổi có 102 trường hợp: 41 nữ và 61  nam  (tỉ  lệ  lần  lượt  là  40,20%  và  59,80%);  tuổi 

Trang 4

nhỏ  nhất  là  70.  Nhóm  <  70  tuổi  có  73  trường 

hợp: 19 nữ và 54 nam (tỉ lệ lần lượt là 26,03% và 

73,97%); tuổi trung bình là 59,49 ± 7,85; tuổi lớn 

nhất là 69 và nhỏ nhất là 39. 

Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ giới nam cao hơn 

nữ ở cả hai nhóm, nhưng ở nhóm ≥ 70 tuổi tỉ lệ 

giới  nữ  có  tăng  hơn  40,20%  so  với  26,03%  ở 

nhóm  <  70  tuổi.Trong  các  yếu  tố  nguy  cơ  tim 

mạch thì tăng HA chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả hai 

nhóm,  và  có  xu  hướng  tăng  lên  ở  nhóm  cao 

tuổi hơn (75,34% và 82% với p = 0,287), tỉ lệ đái 

tháo đường ở nhóm ≥ 70 tuổi thấp hơn nhóm < 

70  tuổi  (34,65%  so  với  42,47%)  nhưng  cũng 

nhưng  sự  khác  biệt  cũng  không  có  ý  nghĩa 

thống kê với p = 0,23. 

Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ hiện đang hút thuốc 

lá  ở  nhóm  ≥  70  tuổi  thấp  hơn  nhóm  <  70  tuổi 

(10,89% so với 34,72% với p < 0,001). Có lẽ do đa 

phần các bệnh nhân cao tuổi đều  có  các  yếu  tố 

nguy  cơ  tim  mạch  trước  đó  hay  các  bệnh  phổi 

mạn  tính  đi  kèm  nên  đã  được  khuyên  ngưng 

hút thuốc lá, thêm vào đó tỉ lệ giới nữ ở nhóm ≥ 

70  tuổi  tăng  lên  (giới  nữ  gần  như  không  hút 

thuốc lá) nên góp phần làm giảm tỉ lệ hút thuốc 

ở nhóm ≥ 70 tuổi. Chúng tôi cũng ghi nhận tỉ lệ 

rối  loạn  lipid  máu  ở  nhóm  ≥  70  tuổi  cũng  thấp 

hơn  có  ý  nghĩa  so  với  nhóm  <  70  tuổi,  theo 

Annika Rosengren(13) cũng ghi nhận tỉ lệ rối loạn 

lipid máu ở nhóm ≥ 75 tuổi cũng thấp hơn nhóm 

< 75 tuổi (35,52% so với 51,26% với p<0,0001). 

Chúng tôi cũng ghi nhận nồng độ creatinin 

trung bình ở nhóm ≥ 70 tuổi cao hơn nhóm < 70 

tuổi (153,319 μmol/l so với 131,019 μmol/l với p 

=  0,12),  độ  thanh  thải  creatinin  thì  thấp  hơn  ở 

nhóm  cao  tuổi  (36,274  ml/phút  so  với  58,031 

ml/phút với p < 0,0001). 

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhồi máu cơ 

tim cấp không ST chênh lên hay gặp ở nhóm ≥ 

70  tuổi  hơn  nhóm  <  70  tuổi  (58,82%  so  với 

42,47% với p = 0,033), cũng tương tự như kết quả 

của  Annika  Rosengren(13)  với  hội  chứng  vành 

cấp  không  ST  chênh  lên  hay  gặp  ở  nhóm  ≥  75 

tuổi hơn nhóm < 75 tuổi (52,20% so với 50,59%). 

Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận  tỉ  lệ  dùng  thuốc  kháng  tiểu  cầu  (aspirin  và  clopidogrel),  thuốc  kháng  đông(enoxaparin)  can  thiệp  mạch  vành  qua  da  ở  nhóm  ≥  70  tuổi  thấp  hơn  nhóm  <  70  tuổi,  nhưng  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống 

kê. 

Bảng 2. Tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng ở hai 

nhóm tuổi. 

Người < 70 tuổi n (%)

Người ≥70 tuổi n (%)

P

Biến chứng xuất huyết nặng 2 (2,74%) 5 (4,90%) 0,47

Có khá nhiều nghiên cứu về biến chứng xuất  huyết trong hội chứng vành cấp nhưng do định  nghĩa phân loại mức độ xuất huyết, mẫu nghiên  cứu, phương pháp điều trị (điều trị bảo tồn, can  thiệp  mạch  vành  qua  da,  phẫu  thuật  bắc  cầu  động  mạch  vành)  và  thuốc  kháng  đông  khác  nhau nên có các kết quả khác nhau. Nhưng hầu  hết  các  nghiên  cứu  đều  ghi  nhận  tuổi  là  một  trong những yếu tố nguy cơ quan trong của biến  chứng xuất huyết. Kết quả của chúng tôi nhóm ≥ 

70 tuổi có tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng cao  hơn 4,90% so với 2,74% với p = 0,47; nhưng có lẽ 

do  mẫu  nghiên  cứu  còn  nhỏ  nên  p  chưa  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Trong  nghiên  cứu  GRACE(11)là  nghiên cứu sổ bộ với tổng cộng 24045 bệnh nhân 

có  hội  chứng  vành  cấp,  tuổi  trung  bình  của  nhóm có biến chứng xuất huyết nặng trong thời  gian  nằm  viện  là  71,1  và  nhóm  không  có  biến  chứng  xuất  huyết  là  66,2%  với  p  <0,001.  Nếu  phân nhóm tuổi thì nhóm ≥ 70 tuổi có tỉ lệ xuất  huyết  nặng  cao  hơn  là  5,20%  so  với  3,41%  ở  nhóm < 70 tuổi; và cứ mỗi 10 tuổi tăng thêm thì  làm  tăng  nguy  cơ  biến  chứng  xuất  huyết  năng  lên 1,28 lần với 95% khoảng tin cậy 1,21‐1,37 và 

p  <  0,0001.  Theo  W.  Eikelboom(5)  phân  tích  gộp 

từ 3 nghiên cứu OASIS, OASIS ‐2 và CURE với 

34  126  bệnh  nhân  có  hội  chứng  vảnh  cấp  thấy  tăng thêm 1 tuổi làm tăng tỉ lệ biến chứng xuất  huyết nặng lên 1,038 lần với p < 0,0001. 

Phân  tích  từ  nghiên  cứu  ACUITY(7)  gồm 

13819 bệnh nhân có hội chứng vành cấp nguy cơ  trung  bình  và  cao  chia  thành  3  nhóm:dùng  heparin  trọng  lượng  phân  tử  thấp  (enoxaparin) 

Trang 5

cộng  thêm  ức  chế  thụ  thể  GP  IIb/  IIIa,  dùng 

bivalirudin cộng thêm ức chế thụ thể GP IIb/ IIIa 

và nhóm dùng bivalirudin đơn độc. Biến chứng 

xuất huyết nặng khi có một trong các tiêu chuẩn 

sau: xuất huyết não, xuất huyết võng mạc, chảy 

máu nơi đường vào trong can thiệp mạch vành 

qua da cần phải điều trị, tụ máu ≥ 5cm, có giảm 

hemoglobin  ≥  4g/dl  mà  không  cần  có  bằng 

chứng chảy máu, giảm hemoglobin ≥ 3 g/dl khi 

có bằng chứng chảy máu, biến chứng chảy máu 

phải phẫu thuật lại, cần truyền máu. Ghi nhận tỉ 

lệ  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  chung  là  4,7%; 

trong đó bệnh nhân ≥ 75 tuổi có tỉ lệ biến chứng 

xuất  huyết  nặng  cao  hơn  bệnh  nhân  <  75  tuổi 

(9,09% so với 3,71% với p < 0,0001). Bệnh nhân ≥ 

75  tuổi  có  nguy  cơ  biến  chứng  xuất  huyết  cao 

gấp 1,64 lần với khoảng tin cậy 95% là 1,32‐2,02 

với p < 0,0001. 

Bảng 3. Tỉ lệ tử vong chung, tử vong kèm có và 

không có biến chứng xuất huyết nặng trong thời gian 

nằm viện ở hai nhóm tuổi. 

Người < 70 tuổi n (%)

Người ≥70 tuổi n (%)

Tử vong/ không có biến

chứng xuất huyết nặng

2 (2,82%) 10 (10,31%)

Tử vong/ có biến chứng xuất

huyết nặng

0 (0%) 1 (20%)

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ tử vong 

trong thời gian nằm viện  ở  nhóm  ≥  70  tuổi  cao 

hơn  nhóm  <  70  tuổi,  tương  tự  như  kết  quả  của 

Annika Rosengren(13) và Peter R. Sinnaeve(14) cho 

thấy  tuổi  càng  cao  thì  tỉ  lệ  tử  vong  trong  viện 

càng tăng ở bệnh nhân có hội chứng vành cấp. 

Chúng  tôi  ghi  nhận  bệnh  nhân  ≥  70  tuổi:  kèm 

theo  có  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  có  tỉ  lệ  tử 

vong cao nhất là 20%, không có biến chứng xuất 

huyết nặng là 10,31%. Có rất nhiều nghiên cứu 

cho thấy sự liên quan của biến chứng xuất huyết 

làm tăng tỉ lệ tử vong trong hội chứng vành cấp. 

Theo  Steven  V.  Manoukian  và  CS(7)  bệnh  nhân 

có chảy máu nặng làm tăng tỉ  lệ  tử  vong  trong 

30 ngày đầu (7,3% so với 1,2%; p < 0,0001). Theo 

M. Moscucci(11) nhóm có biến chứng xuất huyết 

có  tỳ  lệ  tử  vong  cao  hơn  18,6%  so  với  5,1%  ở 

nhóm  không  có  biến  chứng  xuất  huyết  với  p  < 

0,001. Theo Frederick Feit và CS(6) nhóm có biến  chứng xuất huyết có tỷ lệ tử vong cao hơn (trong  vòng 30 ngày: 5,1% so với 0,2%; 6 tháng: 6,7% so  với 1,0% và 1 năm là 8,7% so vói 1,9%; p < 0,001).  Theo  Steven  V.  Manoukian(8)  phân  tích  từ  nghiên cứu của Nelson và CS trong số 800 bệnh  nhân  ≥  75  tuổi  có  can  thiệp  mạch  vành  qua  da  thì tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng và tử vong  trong vòng 30 ngày đều cao hơn nhóm < 75 tuổi  (lần lượt là 6,7% so với 2,7% và 13% so với 2,4%  với p đều < 0,0001). Theo Phuong Anh Pham(12) 

sở  dĩ  tỉ  lệ  tử  vong  tăng  lên  ở  nhóm  có  biến  chứng xuất huyết là do ảnh hưởng trực tiếp lên  huyết  động  học  trong  trường  hợp  xuất  huyết  gây mất máu nhiều, do tác động của khối choán  chỗ trong nội sọ khi xuất huyết não. Tuy nhiên  trong những trường hợp biến chứng xuất huyết  nhẹ hay vừa thì cơ chế làm tăng tỉ lệ tử vong có  tính chất suy đoán: khi có biến chứng xuất huyết 

cơ  thể  sẽ  tăng  tiết  các  hóa  chất  trung  gian  như  norepinephrine,  angiotensin,  endothelin‐1  và  vasopressin chúng gây tác động xấu lên hệ tim  mạch.  Trong  sốc  mất  máu  có  sự  tăng  tiết  các  nguyên  tử  kết  dính  của  tế  bào  như  P‐selectin,  nguyên  tử‐  1  kết  dính  của  tế  bào  mạch  máu;  được  quy  cho  là  làm  tăng  tái  cấu  trúc  lệch  tâm  thất trái, làm tăng áp lực thành thì tâm trương,  tăng tiêu thụ oxy cơ tim và làm tăng tử vong tim  mạch. Thêm vào đó xuất huyết dẫn đến hậu quả  giảm cung cấp oxy, tăng nhu cầu oxy, làm giảm  tưới  máu  mô.  Có  thể  hiểu  là  do  sự  bất  tương  xứng giữa cung và cầu oxy dẫn đến thiếu máu  tim  cục  bộ  và  tăng  tử  vong.  Thêm  vào  đó  khi  đang  có  xuất  huyết  sẽ  phải  ngưng  các  thuốc  kháng đông điều này cũng làm tăng nguy cơ tử  vong  tim  mạch.  Nhất  là  trong  các  trường  hợp  sau  can  thiệp  mạch  vành  sẽ  có  tình  trạng  tăng  đông  và  tăng  kết  dính  tiểu  cầu.  Theo  John  W.  Eikelboom(4) có một vài cơ chế sinh học liên quan  đến  làm  tăng  tỉ  lệ  tử  vong  và  các  biến  cố  tim  mạch  nặng  ở  bệnh  nhân  có  biến  chứng  xuất  huyết: thứ nhất là xuất huyết làm giảm cung cấp  oxy  cơ  tim  do  giảm  tưới  máu  và  giảm  hemoglobin.  Thứ  hai  là  biến  chứng  xuất  huyết  nặng phải ngưng các thuốc chống đông làm gia 

Trang 6

ba  là  xuất  huyết  có  thể  gây  kích  hoạt  tiểu  cầu 

làm gia tăng các biến cố tái thiếu máu tim cục bộ 

và  cuối  cùng  là  do  tác  động  có  hại  của  truyền 

máu dự trữ như máu dự trữ có tình trạng giảm 

NO, giảm 2,3 diphosphoglycerate và chứa nhiều 

cytokine. 

Bảng 4. Tỉ lệ truyền máu và tỉ lệ tử vong khi có 

truyền máu ở hai nhóm tuổi 

Người < 70 tuổi n (%)

Người ≥70 tuổi n (%)

P

Không truyền máu 70 (95,89%) 94 (92,16%) 0,44

Truyền 1 đơn vị hồng

cầu

2 (2,74%) 3 (2,94%) Truyền 2 đơn vị hồng

cầu

1 (1,37%) 5 (4,90%)

Tử vong/ không truyền

máu

2 (2,68%) 9 (9,57%) 0,12

Tử vong/ có truyền máu 0 (0%) 2 (25%) 0,51

Chúng  tôi  ghi  nhận:  ở  nhóm  cao  tuổi  tỉ  lệ 

phải truyền máu có xu hướng tăng lên và tỉ lệ tử 

vong cũng tăng lên ở nhóm có truyền máu. Theo 

Phuong‐ Anh Pham(12) các kết quả từ nghiên cứu 

GUSTO IIb, PURSUIT và PARAGON B cho thấy 

các  trường  hợp  hội  chứng  vành  cấp  có  biến 

chứng  xuất  huyết  phải  truyền  máu  có  nguy  cơ 

tử vong trong vòng 30 ngày cao gấp 4  lần.  Khi 

truyền  các  túi  máu  dữ  trữ  sẽ  làm  giảm  2,3  – 

diphosphoglycerate  và  nitric  oxide  hậu  quả  là 

làm tăng ái lực của hemoglobin với oxy và làm 

giảm nhả oxy cho tế bào. Truyền máu cũng làm 

tăng các cytokines và các chất hoạt hóa sinh học, 

điều này có thể làm kích hoạt thiếu máu tim cục 

bộ và làm tăng nguy cơ huyết khối. Và các ảnh 

hưởng  có  hại  khác  của  truyền  máu  là  nguy  cơ 

phơi  nhiễm  với  một  số  bệnh  lây  truyền,  có  thể 

gây quá tải tuần hoàn, rối loạn điện giải và tăng 

độ nhớt của máu. 

Bảng 5. Tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng ở nhóm ≥ 

70 tuổi theo giới. 

Nhóm không có biến

chứng xuất huyết

Nhóm có biến chứng xuất huyết

P

nữ 38 (92,68%) 3 (7,32%) 0,40

nam 59 (96,72%) 2 (3,28%)

Chúng tôi phân tích nhóm ≥ 70 tuổi, nhận 

thấy nhóm có biến chứng xuất huyết nặng hay 

xảy  ra  ở  giới  nữ  hơn,  lần  lượt  là  7,32%  và  3,28% với p = 0,40. Tương tự như kết quả của  Roxana Mehran là 7,6% nữ giới có biến chứng  xuất huyết nặng so với 3,4% ở nam giới với p <  0,001.  Theo  M.  Moscucci  và  CS (11)  tỷ  lệ  biến  chứng xuất huyết nặng của nữ giới là 5,0% so  với  nam  giới  là  3,3%  với  p  <  0,001.  Theo  Mehran(9)  và  M.  Moscucci  và  CS(11)  giới  nữ  và  tuổi  cao  đều  là  yếu  tố  nguy  cơ  làm  tăng  biến  chứng xuất huyết. 

Bảng 6. Nồng độ creatinin trung bình và độ thanh 

thải creatinin trung bình ở 2 nhóm tuổi có và không 

có biến chứng xuất huyết nặng. 

Nhóm không

có biến chứng xuất huyết

Nhóm có biến chứng xuất huyết

P

Nồng độ creatinin trung bình (µmol/l)

Độ thanh thải creatinin trung bình (ml/phút)

Khi phân tích ở nhóm ≥ 70 tuổi, chúng tôi  nhận  thấy  nồng  độ  creatinin  trung  bình  ở  nhóm có biến chứng xuất huyết nặng cao hơn  nhóm  không  có  (188,60  μmol/l  so  với  128,05  μmol/l,  với  p  =  0,14);  đồng  thời  độ  thanh  thải  creatinin  trung  bình  của  nhóm  có  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  thấp  hơn  nhóm  không  có  (23,59  mml/phút  so  với  36,97  ml/phút,  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  p  =  0,04);  Theo  Sumeet  Subherwal(15)  độ  lọc  cầu  thận  càng  giảm thì nguy cơ xuất huyết càng cao. Theo M.  Moscucci (11)  thì  suy  thận  làm  tăng  nguy  cơ  xuất huyết với OR = 1, 48; 95% CI: 1,19‐1,84; p 

= 0,0004. Tương tự theo Steven V. Manoukian(7)  suy  thận  cũng  là  yếu  tố  nguy  cơ  độc  lập  của  biến chứng xuất huyết với OR = 1,53; 95%  CI:  1,24‐ 1,90; p < 0,0001. Theo Chew và CS(3) trong  nghiên  cứu  REPLACE‐2  thì  suy  thận  (độ  lọc  thanh  thải  <  60  ml/phút)  làm  tăng  nguy  cơ  xuất huyết lên 1,72 lần với p = 0,028. 

Bảng 7. Tỉ lệ biến chứng xuất huyết phân theo chẩn 

đoán. 

Không có biến chứng xuất huyết

Có biến chứng xuất huyết

P

NMCT cấp không 56 (93,33%) 4 (6,67%)

Trang 7

ST chênh lên

NMCT cấp ST

chênh lên

24 (96%) 1 (4%) 0,59 Đau thắt ngực

không ổn định

17 (100%) 0 (0%)

Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận  tỉ  lệ  biến  chứng 

xuất huyết nặng hay gặp ở bệnh nhân có dấu ấn 

sinh học cơ tim tăng. Tương tự như kết quả của 

M.  Moscucci(11)  thì  nhồi  máu  cơ  tim  cấp  không 

ST chênh lên và ST chênh lên có tỉ lệ biến chứng 

xuất huyết cao hơn so với đau thắt ngực ổn định 

lần lượt là 4,7% và 4,8% so với 2,3 % với p <0,01; 

do số lượng mẫu của chúng tôi còn nhỏ nên đây 

chỉ là ghi nhận bước đầu. 

KẾT LUẬN 

Tỉ lệ biến chứng xuất huyết nặng trong thời 

gian nằm viện ở bệnh nhân hội chứng vành cấp 

ở  người  cao  tuổi  (≥  70  tuổi)  là  4,90%,  cao  hơn 

người < 70 tuổi là 2,74% (p = 0,47). 

Tỉ  lệ  tử  vong  trong  thời  gian  nằm  viện  ở 

nhóm  có  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  ở  bệnh 

nhân hội chứng vành cấp ở người cao tuổi (≥ 70 

tuổi) là 20% cao hơn nhóm không có biến chứng 

xuất huyết nặng là 10,31% (p = 0,44). 

Ở  người  cao  tuổi  (≥  70  tuổi)  có  biến  chứng 

xuất  huyết  nặng  thì  có  thanh  thải  thấp  hơn 

(23,59 ml/phút so với 36,97 ml/phút, với p =0,04). 

Hạn  chế:  thứ  nhất  cỡ  mẫu  còn  nhỏ  nên 

nhóm  có  biến  chứng  xuất  huyết  nặng  có  số 

lượng  ít,  do  vậy  hạn  chế  về  mặt  ý  nghĩa  thống 

kê, thứ hai là nghiên cứu hồi cứu. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

in the hemostatic system. Int J Clin Lab Res, 23(1):p.1‐3. 

Myocardial infarction redefined – a consensus document of the 

joint  European  society  of  Cardiology/  American  college  of 

Cardiology  committee  for  the  redefinition  of  myocardial 

infarction: the joint European society of Cardiology/ American 

college  of  Cardiology  committee   J.  Am.  Coll.  Cardio;  36: 

p.959‐969. 

investigators: Bivalirudin versus heparin and glycoprotein IIb 

/IIIa  inhibition  among  patients  with  renal  impairment 

undergoing  percutaneous  coronary  intervention.  Am  J  Cardiol, 95: 581‐585. 

of  bleeding.  European  Heart  Jounal,  8  (suplement  G):  G38‐ G45. 

impact  of  bleeding  on  prognosis  in  patients  with  acute  coronary syndromes. Circulation, 114: 774‐782. 

impact  of  major  hemorrhage  on  mortality  following  percutaneous  coronary  intervention  from  the  REPLACE‐2  trial. Am J cardiol, 100 (9): 1364‐ 1369. 

bleeding on 30‐day mortality and clinical outcomes in patients  with acute coronary syndromes. 

complication  in  acute  coronary  syndromes  and  percutaneous  coronary intervention: Predictors, prognostic significance, and  paradigms  for  reducing  risk.  Clin.  Cardiol,  30(suppl.  II),  II‐ 24—34. 

predict  bleeding  in  patients  with  acure  coronary  sundromes.  Circulation; 55: 2556‐2566. 

10 Mehran  R,  Stuart  J.Pocock,  Eugenia  Nikolsky  et  al  (2010):  A  risk score to predict bleeding in patients with acure coronary  sundromes. Circulation; 55: 2556‐2566. 

11 Moscucci M., Fox KAA, Cannon CP et al (2003): Predictors of  major  bleeding  in  acute  coronary  syndromes:  The  global  registry  of  acute  coronary  events  (GRACE);  European  heart  journal, 24: 1815‐1823. 

12 Phuong‐ Anh Pham, Phuong‐Thu Pham, Phuong‐Chi Pham et 

al (2011): Implications of bleeding in acute coronary syndrome  and percutaneous coronary intervention. Vascular health and  risk management; 7: 551‐567. 

13 Rosengren A, Wallentin L, Simoons M et al (2006): Age, clinical  presentation, and outcome of acute coronary syndromes in the  Euroheart  acute  coronary  syndrome  survey.  European  Heart  Journal, 27:p.789‐795. 

14 Sinnaeve PR, Huang Y, Bogaerts K et al (2006): Age, outcomes,  and  treatment  effects  of  fibrinolytic  and  antithrombotic  combinations:  findings  from  assessment  of  the  safety  and  efficacy  of  a  new  thrombolytic  (ASSENT)‐3  and  ASSENT‐3  plus. Am Heart, 152: 684.p.684‐689.  

15 Subherwal S, Bach RG, Chen AY et al (2009): Baseline risk of  major  bleeding  in  non  –ST‐segment‐elevation  myocardial  infarction:  the  CRUSADE  (can  rapid  risk  stratification  of  unstable  angina  patients  suppress  adverse  outcomes  with  early  implementation  of  the  ACC/AHA  guidelines)  bleeding  score. Circulation; 119:1873‐1882. 

16 Yamamoto  K,  Takeshita  K,  Kojima  T  et  al  (2005):  Aging  and 

implication in the pathogenesis of thrombotic disorders in the  elderly. Cardiovascular research, 66: 276‐285. 

 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm