1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi do té ngã

3 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 200,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày về 3 bệnh nhân gãy cổ xương đùi, đó là: Nguyễn Thị H, nữ, sinh năm 1924, nhập viện 31/10/2011 vì đau khớp háng phải sau té; Lê Thị T, nữ, sinh năm 1940, nhập viện 2/12/2011 vì đau mông trái sau té; Nguyễn Thị A, nữ, sinh năm 1956, nhập viện 22/11/2011 vì đau vùng hông phải sau té.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU Ở BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI

DO TÉ NGÃ

Cao Thanh Ngọc*, Trần Hữu Thế**, Nguyễn Văn Trí*

TÓM TẮT

Hiện nay, người cao tuổi (NCT) đang gia tăng rất nhanh và cũng là vấn đề đáng quan tâm cho ngành

y tế Theo dự báo, tỉ lệ NCT của Việt Nam sẽ tăng đột biến vào năm 2010, đạt tỉ lệ 15,41% vào năm 2025

và 28,45% vào năm 2050, chính thức trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2014 (3,4) Do các đặc điểm về

sinh lý, NCT là đối tượng dễ bị mắc bệnh và có nhiều vấn đề sức khỏe hơn so với các lứa tuổi khác

Đối với người cao tuổi, té ngã là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến thương tích và tử vong do thương tích Hậu quả quan trọng nhất của té ngã là gãy xương, trong đó gãy cổ xương đùi là rất nặng nề Điều này rất dễ xảy ra do bệnh loãng xương chiếm tỷ lệ cao Một khi bị gãy xương phải nằm viện điều trị, bệnh nhân có nguy cơ cao bị huyết khối tĩnh mạch sâu đưa đến các biến chứng có thể tử vong trong giai đoạn nằm viện Các biến cố liên quan sau gãy cổ xương đùi cũng chiếm tỉ lệ cao, đặc biệt là tỉ lệ tử vong Sau đây chúng tôi xin trình bày một số trường hợp lâm sàng liên quan ở 3 bệnh nhân gãy cổ xương đùi

Từ khóa: té ngã, huyết khối tĩnh mạch sâu

SUMMARY

DEEP VEIN THROMBOSIS IN FALL – RELATED HIP FRACTURE

Cao Thanh Ngoc, Tran Huu The, Nguyen Van Tri

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 114 - 116

The elderly people in Vietnam are increasing rapidly, which poses a concern to the health industry Accordingly to a forecast, the percentage of elderly people will rise substantially in 2010, and will reach 15.41% by 2025 and 28.45% by 2050 and Vietnam will be categorized as a country of aging population in

2014 Due to physiological characteristics, elderly people are vulnerable to diseases and more health issues than people of other types Among elderly people, falls are the most leading cause of injury and death due to injury The most serious consequence of fall is fracture, especially hip fracture, which easily happens due to

a high prevalence of osteoporosis Once having fracture and hospitalization, they will face a high risk of deep vein thrombosis leading to death during the hospitalization period The complications of hip fracture are high, especially the death rate Followings are some clinical cases in relation to hip fracture

Key words: Fall, deep vein thrombosis

BỆNH ÁN

Bệnh nhân 1

Nguyễn Thị H, nữ, sinh năm 1924, nhập

viện 31/10/2011 vì đau khớp háng phải sau té

Bệnh nhân đi ngoài sân, trời mưa sân nhà trơn

nên trợt chân té đập mông phải xuống đất

Tiền căn tăng huyết áp – rối loạn chuyển hóa lipid, đang dùng 4 loại thuốc bao gồm Concor, Amlor, Aspirin, Atorvastatin Bệnh nhân được chẩn đoán gãy cổ xương đùi phải

và điều trị mổ thay khớp háng bán phần sau nhập viện 1 tuần Siêu âm Duplex 1 tuần và 2 tuần sau phẫu thuật không phát hiện DVT

* Bộ Môn Lão Khoa, ĐHYD TP HCM, **Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

Tác giả liên lạc: BS Cao Thanh Ngọc, ĐT: 0908484246, Email: caothanhngoc@gmail.com.

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Nghiên cứu Y học

Sau mổ 7 tuần, bệnh nhân vẫn nằm tại giường

cần người nhà chăm sóc

Bệnh nhân 2

Lê Thị T, nữ, sinh năm 1940, nhập viện

2/12/2011 vì đau mông trái sau té Bệnh nhân

đi từ trong nhà ra ngoài sân, bước chân xuống

thềm và hụt chân té Tiền căn tăng huyết áp,

đau khớp đang dùng 5 loại thuốc bao gồm

Amlor, Ednyt, Atorvastatin, Celebrex, Omez

Bệnh nhân được chẩn đoán gãy liên mấu

chuyển xương đùi trái và mổ thay khớp háng

bán phần ngày 9/12/2011 Siêu âm Duplex 1

tuần sau mổ phát hiện DVT ở tĩnh mạch đùi –

khoeo chân trái Sau mổ 3 tuần, bệnh nhân

vẫn nằm tại giường và viêm phổi phải nhâp

viện điều trị

Bệnh nhân 3

Nguyễn Thị A, nữ, sinh năm 1956, nhập

viện 22/11/2011 vì đau vùng hông phải sau té

Bệnh nhân bước chân lên bậc thềm vào nhà

thì chóng mặt và té đập mông phải xuống đất

Tiền căn tăng huyết áp, tai biến mạch não,

Parkinson đang điều trị 6 loại thuốc bao gồm

Micardis, Concor, Aspirin, Tanakan,

Syndopar, Omez Bệnh nhân được chẩn đoán

gãy cổ xương đùi phải và điều trị thay chỏm

ngày 7/12/2011 Siêu âm Duplex 1 tuần và 2

tuần sau phẫu thuật không phát hiện DVT

Sau mổ 3 tuần bệnh nhân cần người hỗ trợ và

đi lại nhẹ bằng nạng

BÀN LUẬN

Nhiều thập kỷ qua, vấn đề té ngã và gãy

cổ xương đùi đặc biệt được quan tâm Các

nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cho

thấy té ngã và gãy cổ xương đùi có liên quan

chặt chẽ với nhau Theo Ekezie jervas et al 90%

các trường hợp gãy cổ xương đùi ở người cao

tuổi là do té ngã(6) Trong 3 trường hợp trên,

100% bệnh nhân gãy cổ xương đùi do té ngã

Các yếu tố nguy cơ té ngã ở các bệnh nhân

này bao gồm yếu tố nguy cơ nội tại như bệnh

mãn tính (tăng huyết áp, Parkinson, viêm

khớp, tai biến mạch não) và yếu tố nguy cơ

ngoại sinh như dùng ≥ 4 loại thuốc, sàn nhà trơn, bậc thềm không an toàn Đây là những yếu tố nguy cơ đã được biết trước tuy nhiên bệnh nhân không được hướng dẫn để phòng tránh đưa đến té ngã phải nhập viện điều trị

và 2 trong 3 trường hợp bị mất vận động, trở thành gánh nặng cho gia đình, gây tốn nhiều chi phí cho chăm sóc sức khỏe

Khi điều trị, các phẫu thuật chỉnh hình có thể hoạt hóa dòng thác đông máu nên làm tăng đáng kể DVT(1,10) Theo J Parmet et al các

ứ trệ tuần hoàn do bơm phồng garo kết hợp với tác dụng huyết học của xi măng xương làm cho những bệnh nhân phẫu thuật thay khớp có nguy cơ DVT cao hơn(8,9)

Tác giả Geerts WH et al cho thấy tần suất

hiện mắc DVT không có triệu chứng trên bệnh nhân phẫu thuật khớp háng từ 40-60% và DVT có triệu chứng thì thấp hơn với khoảng 2-5%(5) Gần đây người ta nhận thấy rằng không có sự khác biệt về tần suất hiện mắc DVT ở bệnh nhân phương Tây và bệnh nhân Châu Á sau phẫu thuật chỉnh hình Phân tích

của Leizorovicz A et al (nghiên cứu SMART)

cho thấy tần suất xuất hiện DVT không triệu chứng trên bệnh nhân Châu Á phẫu thuật thay khớp háng lên đến hơn 60%(7)

Trong 3 trường hợp phẫu thuật thay khớp háng được khảo sát, có 1 bệnh nhân bị DVT sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ 33% và không có bệnh nhân nào được dự phòng DVT trước phẫu thuật Các kết quả của nghiên cứu ENDORSE cũng cho thấy tần suất DVT ở nhiều nước đều cao nhưng việc điều trị phòng ngừa DVT ở các nước Á Châu vẫn còn chưa được quan tâm(2)

KẾT LUẬN

Qua 3 bệnh án lâm sàng trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề té ngã đưa đến gãy cổ xương đùi ở người cao tuổi chưa được quan tâm đúng mực và vẫn có tỉ lệ cao bệnh nhân

bị DVT sau phẫu thuật thay khớp háng Trong khi đó, ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về vấn đề té ngã ở bệnh nhân gãy cổ

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

xương đùi và nghiên cứu đánh giá tỉ lệ hiện

mắc DVT trên bệnh nhân phẫu thuật thay

khớp háng Vì vậy nghiên cứu vấn đề té ngã ở

bệnh nhân gãy cổ xương đùi và nghiên cứu

tần suất hiện mắc DVT trên đối tượng này là

cần thiết nhằm đưa ra chiến lược phòng

chống té ngã hiệu quả trong cộng đồng để

giảm thiểu nguy cơ gãy cổ xương đùi và

hướng đến việc phòng ngừa thường quy DVT

cho những bệnh nhân này khi điều trị phẫu

thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Clarke MT., Green JS., Harper WM., Gregg PJ

(1998),”Cement as a risk factor for deep-vein thrombosis

COMPARISON OF CEMENTED TKR, UNCEMENTED

TKR AND CEMENTED THR”, The Journal Of Bone and Bone

Surgery, pp 611 – 613

2 Cohen AT., et al (2008), “Venous thromboembolism risk

and prophylaxis in the acute hospital care setting

(ENDORSE study): a multinational cross-sectional study”,

The Lancet, (371), pp 387–94

3 Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Anh và cộng sự (2006)

"Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở

Việt Nam" Viện chiến lược và chính sách Y tế Hà Nội, tr 1-2

4 Dương Huy Lương, Trần Thị Mai Oanh, Đàm Viết Cương, Dương Anh Tuấn (2005) "Một số kết quả nghiên cứu về triển khai chính sách CSSK cho người cao tuổi ở Việt Nam"

Tạp chí chính sách Y tế Nhà xuất bản Hà Nội Hà Nội, tr 1-6

5 Geerts WH et al (2008), “Prevention of venous thromboembolism; American college of Chest physicians Evidence-Based Clinical Practice Guidelines (8 th Edition)”,

Chest (133), pp 3815–4535

6 Jervas Ekezie, Onwukamuche CK., Anyanwu GE., Ugochukwu AI (2011), “Incidence of Fall Related Hip Fractures among the Elderly Persons in Owerri, Nigeria”,

Asian Journal of Medical Sciences 3(3), p 110-114

7 Leizorovicz A et al (2005), “Epidemiology of venous thromboembolism in Asian patients undergoing major orthopaedic surgery without thromboprophylaxis The

SMART study”, J Thromb Haemost 3 (1), pp 28-34

8 Parmet JL., Horrow JC., Pharo G., Collins L., Berman AT.and Rosenberg H (1995), “The incidence of venous emboli during extramedullary guided total knee

arthroplasty”, Anesth Analg , (81), pp 757-62

9 Ware JA., Kang J., DeCenzo MT., et al (1991), “Platelet activation by synthetic hydrophobic polymer,

polymethylmethacrylate”, Blood , (78), pp 1713-21

10 Zaw HM., Osborne IC., Pettit PN., Cohen AT (2002), “Risk Factors for Venous Thromboembolism in Orthopedic

Surgery”, IMAJ, (4), pp 1040 – 1042

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm