1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm của bệnh gút ở người lớn tuổi tại khoa nội cơ xương khớp Bệnh viện Thống nhất

5 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 417,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, bệnh lý kèm theo ở bệnh nhân gút lớn tuổi. Nghiên cứu thực hiện với 44 trường hợp bệnh gút trên 60 tuổi điều trị nội trú tại khoa nội cơ xương khớp bệnh viện Thống Nhất từ 3/2012 đến tháng 4/2013.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH GÚT Ở NGƯỜI LỚN TUỔI   TẠI KHOA NỘI CƠ XƯƠNG KHỚP BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT 

Hồ Thị Thanh Tâm*, Ngô Thế Hoàng*, Nguyễn Đức Công* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, bệnh lý kèm theo ở bệnh nhân gút lớn tuổi. 

Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả 44 trường hợp bệnh gút trên 60 tuổi điều trị nội trú tại khoa Nội Cơ 

Xương Khớp bệnh viện Thống Nhất từ 3/2012 đến tháng 4/2013. 

Kết quả: Trong số 44 bệnh nhân, gồm nam 42 (95,5%), nữ 2 (4,5%). Tỉ lệ nam/nữ: 21/1. Tuổi trung bình 

72,5 ± 7,9 tuổi (60‐92). Lâm sàng: đa số bệnh nhân ở giai đoạn gút mạn (86,3%). Bệnh nhân sưng đau nhiều  hơn 2 khớp 81,8%. Chẩn đoán nhầm viêm khớp nhiễm khuẩn 22,7% (10/44 bệnh nhân). Tophi chỉ gặp ở 29,5%  bệnh nhân. Cận lâm sàng: nồng độ axít uric máu trung bình 499,8 ± 97,0 µmol/L; 11,8% đợt cấp gút mạn không  tăng axít uric máu. Tổn thương khớp trên phim X‐quang tỉ lệ hẹp khe khớp 38,6% và khuyết xương chỉ ghi nhận  13,6%. Bệnh lý kèm theo: thường gặp tăng huyết áp 70,5%; thiếu máu cơ tim 40,9%; rối loạn lipid máu 34,1% 

và đái tháo đường type 2 29,5%. 

Kết  luận: Gút ở người lớn tuổi thường mạn tính, đợt cấp dễ chẩn đoán nhầm viêm khớp nhiễm khuẩn. 

Kháng sinh và kháng viêm không steroids thường được sử dụng trước khi vào viện. Tăng huyết áp, thiếu máu cơ  tim, rối loạn lipid máu và đái tháo đường type 2 là những bệnh lý thường kết hợp ở bệnh nhân gút lớn tuổi. 

Từ khóa: Gút, người lớn tuổi, tophi. 

ABSTRACT 

CLINICAL AND LABORATORY FEATURES OF GOUT IN ELDERLY PATIENTS AT THE  RHEUMATIC MUSCULOSKELETAL MEDICINE DEPARTMENT AT THONG NHAT HOSPITAL 

Ho Thi Thanh Tam, Ngo The Hoang, Nguyen Duc Cong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 270 ‐ 274 

Objective: To describe clinical and laboratory characteristics and diseases associated  with  gout  in  elderly 

patients. 

Subjects and Methods: This prospective study included 44 patients aged 60 years old or older, who were 

diagnosed  with  gout  and  treated  in  the  Rheumatic  Musculoskeletal  Medicine  Department  at  Thong  Nhat  Hospital during the period from March 2012 to April 2013. 

Results: Of the 44 patients, 42 were male (95.5%) and 2 were female (4.5%) and the male/female ratio 

was  24/1.  The  mean  age  of  these  patients  was  72.5 ±  7.9  years  (ranged  from  60  to  92).  Clinical  features: 

86.3%  patients  had  chronic  gout.  81.8%  patients  had  polyarthritis  in  2  or  more  joints.  Misdiagnosed  as  septic arthritis 22.7% (10/44 patients). Tophaceous gout developed in 29.5% patients. Laboratory features:  the  mean  serum  uric  acid  level  was  499.8  ±  97.0 µmol/L.  11.8%  of  exacerbations  of  chronic  gout  had  no 

hyperuricemia.  Radiographical  abnormalities  of  bone  and  joints  were  joint‐space  narrowing  38.6%  and  erosive bone lesions 13.6%. Associated medical diseases: Hypertension 70.5%, ischemic heart disease 40.9%,  dyslipidemia 30.1% and diabetes mellitus 29.5%. 

Conclusions: Gout in aged patients was most frequently presented in the form of chronic disease and the 

* Bệnh viện Thống Nhất TPHCM 

Trang 2

diagnosis  was  often  mistaken  for  pyogenic  arthritis.  Abusive  treatment  with  NSAIDs  and  antibiotics  was 

common. Hypertension, ischemic heart disease, dyslipidemia and diabetes mellitus are often associated with gout 

in elderly patients.  

Keywords: Gout, elderly patients, tophi. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Gút  là  một  bệnh  chuyển  hóa  thường  gặp, 

liên quan đến rối loạn chuyển hóa purine. Hậu 

quả tăng axít uric máu kéo dài và lắng đọng tinh 

thể  urát  sodium  ở  khớp(1,11).  Tỉ  lệ  mắc  bệnh  gút 

có  xu  hướng  tăng  lên  trong  hai  thập  kỉ  qua, 

thường xảy ra ở nam giới với tỷ lệ lưu hành là 

0,16‐1,36%(9,8).  Ở  Việt  Nam  gút  là  bệnh  khá 

thường  gặp,  nhưng  do  một  số  biểu  hiện  của 

bệnh lại có thể gặp trong một số bệnh khớp khác 

(viêm  khớp  nhiễm  khuẩn,  viêm  khớp  dạng 

thấp…) nên dễ bị chẩn đoán nhầm. Do đó, bệnh 

nhân  phải  chịu  hậu  quả  do  không  được  chẩn 

đoán  sớm  và  điều  trị  đúng  cách.  Bên  cạnh 

những  tổn  thương  về  xương  khớp,  suy  thận 

trong  giai  đoạn  muộn  đã  làm  giảm  chất  lượng 

cuộc sống, đặc biệt ở những người lớn tuổi. Tại 

bệnh  viện  Thống  Nhất,  khoa  Nội  Cơ  Xương 

Khớp là khoa mới thành lập với cơ cấu bệnh tật 

đa dạng. Thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo 

sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và 

các  bệnh  lý  kèm  theo  ở  bệnh  nhân  gút  trên  60 

tuổi. Từ đó,  có  thể  xây  dựng  kế  hoạch  điều  trị, 

nâng  cao  trình  độ  chuyên  môn  góp  phần  cải 

thiện  chất  lượng  cuộc  sống  bệnh  nhân  gút  lớn 

tuổi. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu: tất cả các bệnh nhân 

≥60  tuổi  được  chẩn  đoán  gút  theo  tiêu  chuẩn 

Bennett‐Wood  năm  1968,  điều  trị  nội  trú  tại 

khoa Cơ Xương Khớp từ tháng 3/2012 đến tháng 

4/2013. Loại trừ các  bệnh  nhân  lú  lẫn,  suy  thận 

mạn  giai  đoạn  cuối,  gút  thứ  phát  hoặc  bệnh 

nhân có dùng các thuốc ảnh hưởng đến sự sản 

xuất  và  bài  tiết  acid  uric  trong  vòng  10  ngày 

trước nhập viện. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  tiền  cứu,  mô  tả 

cắt ngang. 

Tiến hành thu thập số liệu theo bệnh án mẫu 

và các xét nghiệm đều được thực hiện tại phòng  xét nghiệm bệnh viện Thống Nhất. Xử lý số liệu  bằng phần mềm SPSS 13.0 for Window. 

KẾT QUẢ 

Sau  13  tháng  thành  lập  khoa,  tại  khoa  Cơ  Xương  Khớp  Bệnh  viện  Thống  Nhất  chúng  tôi 

có 44 trường hợp được chẩn đoán gút. Kết quả  như sau:  

Dịch tễ học 

Tuổi trung bình 72,5 ± 7,9 tuổi (thấp nhất 60, 

cao  nhất  92  tuổi).  Nam  95,5%  (42/44),  nữ  4,5% 

(2/44).  Tỉ  lệ  nam/  nữ  =  21/1.  Sống  ở  thành  thị  56,8%  (25/44),  ở  vùng  nông  thôn  43,2%  (19/44). 

Thời  gian  mắc  bệnh  trung  bình  5,8  ±  3,6  năm 

(thấp nhất 1 tháng, cao nhất 15 năm). Ghi nhận 1 

trường hợp (2,3%) có người thân mắc bệnh gút.  

Bảng 1. Phân bố theo tuổi. 

60 – 69 15 (34,1)

70 – 79 20 (45,5)

≥ 80 9 (20,5)

Nhận  xét:  79,6%  bệnh  nhân  ở  nhóm  60‐79 

tuổi, trên 80 tuổi ít gặp hơn. 

Bảng 2. Chẩn đoán và điều trị trước vào khoa. 

Chẩn đoán trước khi vào khoa, n=19 (43,2%)

Viêm khớp dạng thấp 2 (10,5)

Thoái hóa khớp 7 (36,8) Viêm khớp nhiễm khuẩn 10 (52,6)

Thuốc điều trị trước khi vào khoa, n=30 (68,2%)

Kháng sinh 10 (33,3) Thuốc đông y 4 (13,3)

Nhận  xét:  chẩn  đoán  trước  khi  vào  viện 

không  phải  gút  43,2%  (trong  đó  53,6%  viêm  khớp  nhiễm  khuẩn;  36,8%  thoái  hóa  khớp); 

46,7% được sử dụng NSAIDs; 33,3% kháng sinh 

và 20% corticoides. 

Trang 3

Bảng 3. Triệu chứng lâm sàng. 

Sưng đau 1 khớp (bàn ngón chân cái) 8 (18,2)

Sưng đau 2 khớp (bàn ngón cái, cổ chân

hoặc gối) 23 (52,3) Sưng đau ≥ 3 khớp (bàn ngón cái, cổ chân,

gối và chi trên 2 bên)* 13 (29,5)

2 bệnh nhân (4,5%) được chẩn đoán là viêm 

khớp dạng thấp. 

Nhận  xét:  81,8%  bệnh  nhân  sưng  đau  ≥  2 

khớp. 29,5% bệnh nhân có tophi. 

Bảng 4. Acid uric máu. 

Tại thời điểm

Axít uric máu tăng

Axít uric máu µmol/L

Gút cấp 6 (13,6) 6 (100) 609,8 ± 59,0

Đợt cấp gút mạn 17 (38,6) 15 (88,2) 523,7 ± 107,8

Gút mạn 21 (47,7) 17 (80,9) 441,8 ± 44,5

Tổng 44 (100) 38 (86,4) 499,8 ± 97,0

Nhận  xét:  Đợt  gút  cấp  mạn  và  gút  mạn 

chiếm  86,3%;  gút  cấp  chỉ  13,6%.  86,4%  bệnh 

nhân  có  tăng  axít  uric  máu.  11,8%  đợt  cấp  gút 

mạn không tăng axit uric máu. Nồng độ axít uric 

máu trung bình 499,8 ± 97,0 µmol/L; có sự khác 

biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  của  nồng  độ  axít  uric 

máu giữa gút cấp với gút mạn và giữa đợt cấp 

gút mạn với gút mạn (p<0,01), nhưng không có 

khác biệt giữa gút cấp hoặc đợt cấp gút mạn với 

gút mạn (p=0,1). 

Bảng 5. Tổn thương thận qua siêu âm bụng. 

Bệnh lý chủ mô thận mạn 7 15,9

Nhận xét: Tỉ lệ sỏi thận, vôi hóa và bệnh lý 

chủ  mô  thận  mạn  được  phát  hiện  qua  siêu  âm 

lần lượt 25%; 9,1% và 15,9%. 

Bảng 6. Tổn thương khớp trên X‐Quang. 

Hẹp khe khớp 17 38,6

Nhận xét: Tỉ lệ hẹp khe khớp và gai xương là 

Các bệnh kèm theo 

Bảng 7. Các bệnh lý kèm theo. 

Tăng huyết áp 31 70,5 Thiếu máu cơ tim 18 40,9 Rối loạn lipid máu 15 34,1 Đái tháo đường type 2 13 29,5 Viêm phế quản mạn 8 20,5 Viêm loét dạ dày tá tràng 3 6,8

Nhận  xét:  Bệnh  lý  thường  gặp  cao  nhất  là 

tăng  huyết  áp,  kế  tiếp  là  thiếu  máu  cơ  tim,  rối  loạn lipid máu, đái tháo đường type  2  và  viêm  phế quản mạn. 

BÀN LUẬN  Dịch tễ học 

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm tuổi  gặp nhiều nhất là 70‐79 tuổi, trung bình 72,5 ±  7,9 tuổi; tỉ lệ nam/ nữ = 21/1. Bệnh thường gặp  chủ  yếu  ở  nam,  tương  tự  với  một  số  nghiên  cứu trong nước (3,6,7). Chúng tôi chỉ ghi nhận 1  trường  hợp  có  yếu  tố  gia  đình,  kết  quả  này  khác  với  nghiên  cứu  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy(6), 

có  lẽ  do  mẫu  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  nhỏ.  Một  số  nghiên  cứu  trong  nước  cho  thấy  khoảng  2/3  dân  số  nghiên  cứu  sống  ở  thành  thị(4,10) nhưng trong nghiên cứu này, chúng tôi  nhận thấy tỉ lệ này không có sự khác biệt đáng 

kể,  do  ngày  nay  mức  sống  và  điều  kiện  sống  của người dân ở nông thôn đã tăng lên nên sự  khác biệt này không nhiều. 

Chúng tôi ghi nhận có đến 43,2% bệnh nhân  trước khi vào khoa chúng tôi đã được chẩn đoán 

và điều trị ở tuyến trước không phải bệnh gút, tỉ 

lệ  này  cao  hơn  nghiên  cứu  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy(6). Trong số này, phần lớn bệnh nhân bị chẩn  đoán nhầm là viêm khớp nhiễm khuẩn (52,6%)  hoặc  thoái  hóa  khớp  (36,8%).  Do  vậy,  đã  có  46,7% bệnh nhân được sử dụng NSAIDs; 33,3%  kháng  sinh  và  20%  corticoides.  Việc  kê  đơn  thuốc  chưa  hợp  lý  cho  bệnh  nhân  hoặc  bệnh  nhân tự ý dùng thường xuyên, kéo dài các loại  kháng sinh, NSAIDs, corticoids đã để lại một số  hậu  quả  nghiêm  trọng  như  tăng  sự  đề  kháng 

Trang 4

thương gan, thận, cushing do thuốc…. 

Đặc điểm lâm sàng 

Tại  thời  điểm  nghiên  cứu  phần  lớn  bệnh 

nhân  trong  nghiên  cứu  này  có  tổn  thương  ở 

nhiều khớp (52,3% sưng đau 2 khớp, 18,2% sưng 

đau  ≥  3  khớp).  Theo  một  số  nghiên  cứu,  tỉ  lệ 

bệnh nhân có sưng đau từ 4 khớp viêm trở lên 

chiếm  66,7‐71,2%(4,  6).  Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận 

bệnh  nhân  có  tổn  thương  ở  cả  chi  trên  lẫn  chi 

dưới và xuất hiện ở cả 2 bên (bảng 3) cao hơn so 

với  các  nghiên  cứu  khác  8‐18%(3,4,6,7),  giai  đoạn 

này  có  2  bệnh  nhân  (4,5%)  được  chẩn  đoán  là 

viêm khớp dạng thấp. 

Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân có tophi 

là  29,5%.  Theo  y  văn,  diển  tiến  của  gút  nếu 

không  được  điều  trị  đúng  sau  10  ‐  20  năm, 

khoảng  2/3  bệnh  nhân  sẽ  xuất  hiện  hạt  tophi. 

Trong nghiên cứu này, thời gian mắc bệnh trung 

bình là 5,1 ± 4,6 năm, thấp hơn kết quả của các 

tác giả khác(2,6,7). Điều này cho thấy một tỉ lệ khá 

lớn bệnh nhân gút không được chẩn đoán sớm, 

do vậy không được điều trị đúng cách cũng như 

tuân thủ nghiêm chế độ ăn uống. 

Axít uric máu 

Axít uric máu là xét nghiệm cơ bản để chẩn 

đoán  gút.  Kết  quả  của  chúng  tôi  ghi  nhận  có 

88,6% bệnh nhân có tăng axít uric máu, tương tự 

với một số nghiên cứu khác từ 68,9‐91,7%(4,5,6) và 

11,4%  không  có  tăng  axít  uric  máu.  Như  vậy, 

không phải lúc nào chẩn đoán gút cũng có tăng 

axít uric máu, trong đợt gút cấp tỉ lệ này có thể 

từ 30 ‐ 40%(9). Axít uric máu trung bình ở người 

đàn  ông  Việt  Nam  trên  60  tuổi  khỏe  mạnh  là 

368,22  ±  85,09  µmol/L.  Trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi,  nồng  độ  axít  uric  máu  trung  bình  là 

478,6 ± 90,1 (gút cấp 504,9 ± 15,4; gút mạn 449,8 ± 

33,9)  (bảng  4).  Do  đó,  khai  thác  bệnh  sử  và  xét 

nghiệm  axít  uric  máu  nhiều  lần  đóng  vai  trò 

quan trọng trong chẩn đoán. 

Siêu âm bụng 

Tỉ lệ sỏi thận ở bệnh nhân mắc bệnh gút từ 

10‐25%(7),  một  số  nghiên  cứu  trong  nước  trước 

đây  cho  thấy  tỉ  lệ  sỏi  thận  25  ‐  30,5%;  bệnh  lý  chủ mô thận mạn từ 20 ‐ 22,9%; nang thận 7,6%;  vôi hóa 7,6%(5,6). Kết quả nghiên cứu của chúng  tôi cũng cho kết quả tương tự (bảng 4). 

X quang khớp 

Theo thống kê sau đợt gút cấp đầu tiên từ 6‐

12 năm, các tổn thương xương khớp có thể thấy  được  trên  phim  X‐quang  xương  khớp(11).  Tuy  nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận 

tỉ lệ có có hình ảnh hẹp khe khớp, gai xương và  khuyết  xương  trên  X‐quang  lần  lượt  là  38,6%;  29,5%  và  13,6%  thấp  hơn  kết  quả  nghiên  khác  theo thứ tự 69,7%; 31,7‐36,8% và 57,9%(4,5,6). Có lẽ 

do  mẫu  nghiên  cứu  chúng  tôi  còn  nhỏ  và  một  lần nữa cho thấy việc chẩn đoán sớm bệnh gút 

và điều trị hợp lý sẽ giảm được tỉ lệ tổn thương  xương  khớp,  nhờ  đó  sẽ  cải  thiện  được  chất  lượng cuộc sống ở người lớn tuổi thường có các  bệnh lý xương khớp khác kèm theo. 

Các bệnh kèm theo 

Tuy còn nhiều quan điểm trái chiều, nhưng 

đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho  thấy  tăng  axit  uric  là  yếu  tố  nguy  cơ  cho  bệnh  tim  mạch  và  là  yếu  tố  nguy  cơ  độc  lập  của  tử  vong  tim  mạch.  Tỉ  lệ  tăng  huyết  áp  trên  bệnh  nhân gút từ 25‐50%(10,12) và tăng huyết áp là yếu 

tố  nguy  cơ  của  bệnh  gút(4,9).  Trong  nghiên  cứu  của chúng tôi, tỉ lệ các bệnh lý kèm theo theo thứ 

tự tăng huyết áp 70,5%; thiếu máu cơ tim 40,9%;  rối loạn lipid máu 34,1% và đái tháo đường type 

2 29,5%. Kết quả này cao hơn so với một số các  nghiên  cứu  khác(4,5,6),  nhưng  tương  tự  với  kết  một nghiên cứu trước đây của chúng tôi cũng tại  bệnh viện Thống Nhất, tỉ lệ tăng huyết áp 73,1%;  đái  tháo  đường  type  2  21,2%(7).  Lí  giải  cho  kết  quả  này  vì  đây  là  các  bệnh  lý  thường  gặp  ở  người  lớn  tuổi,  một  đặc  trưng  riêng  của  bệnh  viện  Thống  Nhất,  khám  và  điều  trị  cho  các  đối  tượng  bệnh  nhân  có  tuổi.  Mặt  khác,  phải  cân  nhắc  phối  hợp  điều  trị  hợp  lí  mặc  dù  tăng  axít  uric  máu  là  yếu  tố  nguy  cơ  độc  lập  cho  bệnh  mạch vành, nhưng bệnh mạch vành và tăng axít  uric  máu  đều  liên  quan  đến  chức  năng  thận,  thuốc lợi tiểu và hội chứng chuyển hóa(9). Sự kết 

Trang 5

đã được xác định chắc chắn. Có đến 80% người 

tăng  triglyceride  máu  có  sự  phối  hợp  của  tăng 

axit  uric  và  khoảng  50‐70%  bệnh  nhân  gút  có 

kèm  tăng  triglyceride.  Cũng  vậy,  đái  tháo 

đường type 2 thường đi kèm với gút, liên quan 

đến sự đề kháng insulin(10,12). Tóm lại, tăng huyết 

áp, thiếu máu cơ tim, rối lọan lipid máu và đái 

tháo đường type 2 là những bệnh lý thường kết 

hợp trên bệnh nhân gút lớn tuổi. Theo dự đoán 

năm 2030 nước ta có khoảng 30% người trên 60 

tuổi,  đây  là  độ  tuổi  con  người  mắc  nhiều  bệnh 

tim mạch, đái tháo đường và bệnh xương khớp. 

Ngày nay tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc chiếm 

2,7%, trong đó nam giới chiếm 3,3% và nữ chiếm 

3,7%. Như vậy, mỗi chuyên khoa sâu tim mạch, 

nội tiết và xương khớp đều phải đối mặt với hội 

chứng  chuyển  hóa  ở  bệnh  nhân  gút.  Sự  xuất 

hiện  đồng  thời  của  nhiều  bệnh  lý  trên  làm  ảnh 

hưởng  rất  nhiều  đến  chất  lượng  cuộc  sống  của 

bệnh nhân. Do đó chúng phải được quan tâm và 

điều trị đồng thời với điều trị gút cũng như phải 

có một chế độ dinh dưỡng hợp lí. 

KẾT LUẬN 

Chẩn  đoán  nhầm  bệnh  gút  với  viêm  khớp 

nhiễm  khuẩn  chiếm  tỉ  lệ  khá  cao,  dẫn  đến  lạm 

dụng kháng sinh. 

Bệnh gút ở bệnh nhân lớn tuổi đa số là gút 

mạn tính, tổn thương nhiều khớp. 

Cần phải điều trị gút song song với điều trị 

các  bệnh  nội  khoa  của  người  lớn  tuổi,  đặc  biệt 

tăng huyết áp và đái tháo đường. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Choi HK, Mount DB, and Reginato AM (2005), Pathogenesis of  Gout. Annals of Internal Medicine, Vol 143, N 7, pp. 499‐516. 

2 Dương  Thị  Phương  Anh  (2004),  Nghiên  cứu  các  triệu  chứng  lâm sàng và cận lâm sàng của tổn thương xương khớp trong  gút mãn tính, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ y khoa Đại học y Hà  nội. 

3 Đoàn Văn Đệ (2003), Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán phân biệt  bệnh gút với viêm khớp dạng thấp, Y học thực hành 452(5), tr.  61‐63. 

4 Lê  Thị  Viên  (2006),  Nghiên  cứu  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh gút có hạt tophi, Luận  văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II. 

5 Lê Văn Diễn (2004), Khảo sát acid uric niệu 24 giờ trên bệnh  nhân gút, Luận văn thạc sĩ Y học. 

6 Lưu Văn Ái, Lê Anh Thư (2010), 104 đặc đểm của bệnh gút ở  bệnh nhân lớn tuổi tại bệnh viện Chợ Rẫy. Y Hoc TP. Ho Chi  Minh, Tập 14 ‐ Phụ bản số 2, tr. 570 – 76 

7 Ngô  Thế  Hoàng,  Nguyễn  Thị  Thanh  Loan  (2002),  Đánh  giá  tình  hình  bệnh  Gout  tại  khoa  A 2   bệnh  viện  Thống  Nhất  từ  1999‐2002. Kỉ yếu công trình nghiên cứu khoa học bệnh viện  Thống Nhất, tr. 71‐80. 

8 Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011). Bệnh gút. Bệnh học  Cơ  xương  khớp nội khoa. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 189‐212. 

9 Pillinger  MH,  Rosenthal  P,  and  Abeles  AM,  (2007), 

“Hyperuricemia  and  Gout:  New  Insights  Pathogenesis  and  treatment”,  Bulletin  of  the  NYU  for  Join  diseases,  65  (3),  pp.  215‐21. 

10 Sanghamitra  P  (2004).  The  role  of  uric  acid  in  cardiovascular  and renal disease and its clinical implications. Orissa Journal of  Medical Biochesmistry,1,pp.39‐43. 

11 Underwood M (2006), “Diagnosis and management of gout”,  BMJ, 332, pp. 1315‐19. 

12 Viazzi  F  (2006).  Serum  uric  acid  as  a  risk  factor  for  cardiovascular and renal disease: an old controversy revived.  The journal of clinical hypertension; 8, pp. 510‐18. 

 

Ngày nhận bài báo        01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:    07‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:      01‐8‐2013  

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w