1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố liên quan đến tử vong của bệnh tay chân miệng nặng (độ 3 và 4) được điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2011

10 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 458,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân tay chân miệng nặng độ 3 và 4. Nghiên cứu thực hiện trên nhiều trường hợp bệnh nhân dưới 16 tuổi bị bệnh tay chân miệng.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN  ĐẾN TỬ VONG CỦA BỆNH TAY CHÂN MIỆNG NẶNG (ĐỘ III VÀ IV) 

ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 NĂM 2011 

Nguyễn Bạch Huệ* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh 

nhân tay chân miệng nặng độ III và IV.  

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả nhiều trường hợp bệnh nhân dưới 16 tuổi bị bệnh TCM độ III 

hoặc độ IV có RT‐PCR dương tính với Enterovirus (EV) và Enterovirus 71 (EV71) trong phết họng và phân,  nhập bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2011. Những bệnh nhân không làm xét nghiệm, tử vong trước nhập viện hoặc  không tìm được tác nhân được loại ra khỏi nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân được thu thập các dữ kiện: tuổi, giới,  nơi cư ngụ; các biểu hiện lâm sàng như sinh hiệu, sang thương da niêm, triệu chứng tiêu hóa, thần kinh, hô hấp,  tim mạch. Các xét nghiệm cận lâm sàng: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, đường huyết, ion đồ, chức năng gan, thận,  lactate máu, khí máu động mạch, creatine kinase (CK), troponin I và các xét nghiệm sinh hóa, tế bào trong dịch  não tủy.  

Kết quả: 272 bệnh nhân (62,5% nam; 37,5% nữ) với 201 (73,9%) độ III và 71 (26,1%) độ IV phù hợp tiêu 

chuẩn được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình là 23,61 ± 13,28 tháng. Tỉ lệ tử vong trong nhóm nghiên cứu 

là 10,3%; tập trung vào ngày 3 – 4 của bệnh. Các yếu tố lâm sàng liên quan tử vong được xác định có ý nghĩa  thống kê như: không sang thương da [OR = 0,19 (0,10 – 0,81)]; mạch nhanh > 170 l/ph [OR = 22,47 (6,57 –  76,92)]; triệu chứng mắt (rung giật nhãn cầu, lé, đảo mắt) [OR = 7,20 (1,52 – 34,01)]; cơn ngừng thở [OR= 0,17  (0,04 – 0,72)]; hôn mê sâu (GCS ≤ 10 điểm) [OR= 5,57 (2,46 – 12,61)]; cao huyết áp [OR= 0,21 (0,09 – 0,50)]; 

vã mồ hôi, lạnh toàn thân hay khu trú [OR= 10,28 (4,41 – 2,96)]; sốc [OR= 40,08 (11,57 – 138,89)]; phù phổi  [OR= 52,89 (17,56 – 159,36)]; tím tái/SpO 2  < 92% [OR= 22,63 (8,35 – 61,35)]; ngưng thở/thở nấc [OR= 11,45  (4,60  –  28,52)].  Cận  lâm  sàng:  bạch  cầu  >  16000/mm 3  [OR=  3,62  (1,39  –  5,91)];  đường  huyết  cao  (>7,03  mmol/L) [OR= 16,84 (2,47 – 44,55)]; troponin I dương tính [OR=24,44 (13,02 – 73,09)]; PaO 2 /FiO 2  <200 [OR=  4,71 (2,24 – 12,64)]; lactate máu >5 mmol/L [OR= 15,04 (5,71 – 34,65)]. Trong đó, EV71 tìm thấy chiếm tỉ lệ  45,22% nhưng không là yếu tố liên quan đến tử vong. Phân tích đa biến hồi qui logistic chỉ có 3 yếu tố có liên  quan  đến  tử  vong  là:  mạch  nhanh  >  170  l/ph  [OR=  9,81  (1,07  –  89,59)];  phù  phổi  cấp  [OR=  24,71  (2,29  –  265,81)] và troponin I dương [OR=37,88 (2,23 – 641,86)].  

Kết  luận:  Các  bác  sĩ  lâm  sàng  nên  chú  ý  các  yếu  tố:  Mạch  nhanh  trên  170  lần/phút,  phù  phổi  cấp  và 

troponin I dương tính là những yếu tố có liên quan đến tử vong ở bệnh nhân tay chân miệng nặng. Việc xác  định sớm những yếu tố trên giúp các nhà lâm sàng tiếp cận đúng, tiên lượng và xử trí kịp thời nhằm hạn chế tử  vong cho bệnh nhi.  

* Bệnh viện Nhi Đồng 1. 

Tác giả liên lạc: Bs Nguyễn Bạch Huệ, ĐT: 0983700036, Email: bachue4@yahoo.com.vn 

Trang 2

EPIDEMIOLOGICAL CHARACTERISTICS, CLINICAL MANIFESTATIONS, LABORATORY TEST  RESULTS AND MORTALITY‐ RELATED FACTORS OF SEVERE HAND FOOT MOUTH DISEASE 

(GRADE III,IV) IN CHILDREN HOSPITAL 1 IN 2011 

Nguyen Bach Hue * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 245 ‐ 254 

Objective: Determine the epidemiological characteristics, clinical manifestations, laboratory test results and 

other mortality ‐ related factors in pediatric patients with severe HFMD grade III and IV. 

Method: We  retrospectively  studied  pediatric  patients  (below  16  years  old)  hospitalized  in  Children’s 

Hospital 1 during 2011 with HFMD diagnosis grade III and IV and RT‐PCR positive for enterovirus (EV)  and  enterovirus  71  (EV71)  in  throat  swabs  and  stool.  Patients  who  are  not  tested,  death  before  hospitalization or can not find pathogens were excluded from the study. Collected data are: age, sex, place of  residence; clinical manifestations such as vital signs, skin and mucous lesions, gastrointestinal, neurological,  respiratory  and  cardiovascular  symptoms;  laboratory  test  results  such  as  red  blood  cells,  white  blood  cells,  platelets, glycemia, electrolytes, liver and kidney function, lactate, blood gas, creatine kinase (CK), troponin I  and cerebrospinal fluid test. 

Results: 272 patients (62.5% male; 37.5% female) with 201 (73.9%) grade III and 71 (26.1%) grade IV who 

met criteria were enrolled in the study. Mean age is 23.61 ± 13.28 months. Mortality is 10.3% and deaths mainly  occurred in 3rd and 4th day of the disease history. Clinical manifestations associated with mortality which are  statistical  significance  are:  Absent  skin  lesions  [OR  =  0.19  (0.10  ‐  0.81)];  Tachycardia  >  170  beats/min  [OR=  22.47 (6.57 to 76.92)]; Eye symptoms (nystagmus, hemianopia) [OR = 7.20 (1.52 ‐ 34.01)]; Apnea [OR = 0.17  (0.04 ‐ 0.72)]; Unconscious (GCS ≤ 10) [OR = 5.57 (2.46 ‐ 12.61)]; Hypertension [OR = 0,21 (0.09 ‐ 0.50)];  Sweating, systemic or localization cold body [OR = 10.28 (4.41 ‐ 2.96)]; Shock [OR = 40.08 (11.57‐ 138.89)];  Pulmonary edema [OR = 52.89 (17.56 to 159.36)]; Purple or pale skin/SpO2 <92% [OR = 22.63 (8.35 ‐ 61.35)];  Apnea or breathing hiccup [OR = 11.45 (4.60 to 28.52)]. Laboratory test results: White blood cells > 16000/mm 3   [OR = 3.62 (1.39 to 5.91)]; Glycemia > 7.03 mmol / L [OR = 16.84 (2.47 to 44.55)]; Positively troponin I [OR =  24.44 (13.02 to 73.09)]; PaO 2 /FiO 2  <200 [OR = 4.71 (2.24 to 12.64)]; Blood lactate > 5 mmol / L [OR = 15.04  (5.71 to 34.65)]. EV71 positively test result is 45.22% but it is not a  mortality‐related  factor.  In  multivariate  logistic regression analysis, there are only three mortality‐related factors: Tachycardia> 170 beats / min [OR =  9.81 (1.07 ‐ 89.59)]; Pulmonary edema [OR =24.71 (2.29 to 265.81)] and positively troponin I [OR = 37.88 (2.23 

to 641.86)].  

Conclusion: Clinicians should be aware of these factors: tachycardia over 170 beats/min, pulmonary edema 

and  positively  troponin  I.  They  are  all  factors  related  to  mortality  in  severe  HFMD  patients.  The  early  identification of these factors will help clinicians in correct approach, timely prognosis and treatment for reducing  mortality in HFMD. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh  tay  chân  miệng  (TCM)  là  một  bệnh 

nhiễm  khuẩn  cấp  tính  do  nhóm  vi  rút  đường 

ruột gây ra, trong đó hai tác nhân thường gặp và 

quan trọng là Coxsackie A 16 và Enterovirus 71. 

Bệnh gây thành dịch ở nhiều nước trên thế giới, 

tập  trung  nhiều  ở  các  nước  Châu  Á  Thái  Bình 

Dương  như  Malaysia(7),  Singapore(2),  Nhật 

Hồng  kông(12),  Thái  Lan(15),  Brunei(1)  và  Việt  Nam(19).  Mặc  dù  phần  lớn  bệnh  nhân  TCM  thường  nhẹ  và  tự  khỏi,  nhưng  một  tỉ  lệ  nhỏ  bệnh  nhân  có  thể  nhanh  chóng  diển  tiến  nặng  với  nhiều  biến  chứng  nghiêm  trọng  và  đe  dọa  tính mạng(3,8). Nhiều nghiên cứu của các tác giả  trước đây chỉ ra rằng việc giám sát chặt chẽ, phát  hiện sớm chuyển độ và can thiệp kịp thời giúp  ngăn chặn diễn tiến nặng và tử vong(4,14,20). 

Trang 3

Tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  thuộc  khu  vực 

miền  Nam  Việt  Nam,  trong  năm  2011,  nhiều 

bệnh  nhi  tay  chân  miệng  tử  vong  trong  bệnh 

cảnh  cấp  tính,  diễn  tiến  nhanh  và  nặng  với 

những biểu hiện tương tự nhau, nhiều trường 

hợp không thể đánh giá và tiên lượng kịp thời 

trên lâm sàng. Vì vậy, rất cần thiết để xác định 

các  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng  và  các 

yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong  cho  bệnh  nhi 

TCM nặng. Từ đó, giúp cho nhà lâm sàng tiếp 

cận, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, giảm 

tỉ  lệ  tử  vong  cho  bệnh  nhân,  đồng  thời  cũng 

tạo cơ sở ban đầu cho các nghiên cứu sâu hơn 

về  dịch  tễ  học,  về  các  phương  pháp  can  thiệp 

và điều trị mới. 

Mục tiêu  

Xác định các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và 

cận lâm sàng của những trường hợp bệnh TCM 

nặng (độ III, độ IV) được điều trị tại Bệnh viện 

Nhi Đồng 1 năm 2011. 

Xác  định  các  yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong 

của các trường hợp bệnh TCM nặng độ III và độ 

IV tại BV Nhi Đồng 1 năm 2011. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi cứu mô tả nhiều trường hợp TCM nặng 

(độ III và IV) nhập và điều trị tại bệnh viện Nhi 

Ðồng 1, miền Nam Việt Nam, từ ngày 1/1/2011 

đến 31/12/2011. 

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn nhận bệnh: bệnh nhi dưới 16 tuổi 

bị bệnh TCM (sốt, hồng ban, loét miệng) có biểu 

hiện độ III hoặc độ IV theo hướng dẫn phân độ 

lâm  sàng  của  Bộ  Y  Tế,  có  RT‐PCR  dương  tính 

với  Enterovirus  và  Enterovirus  71,  được  nhập 

viện  điều  trị  trong  năm  2011.  Tiêu  chuẩn  loại 

trừ: bệnh nhân không làm xét nghiêm, tử vong 

trước nhập viện hoặc có RT‐PCR âm tính.  

Cỡ mẫu 

Lấy trọn tất cả các trường hợp thỏa tiêu chí 

chọn mẫu. 

Thu thập số liệu 

Theo  bệnh  án  mẫu  soạn  sẵn  ghi  nhận  các  thông  tin  về  dịch  tễ  (tuổi,  giới,  địa  phương,  ngày  xuất  hiện  các  triệu  chứng  nặng).  Lâm  sàng:  độ  nặng;  biểu  hiện  sốt  cao;  loét  họng;  sang thương da; bóng nước; tiêu chảy; nôn ói;  ho; lừ đừ, khó ngủ, quấy khóc vô cớ; giật mình  chới  với,  ngủ  gà;  mạch  nhanh  (trên  150  l/ph);  liệt thần kinh sọ (nuốt sặc, thay đổi giọng nói);  yếu  liệt  chi  hay  liệt  mềm  cấp;  rung  giật  nhãn  cầu,  lé  hay  đảo  mắt;  run  chi,  run  người;  đi  loạng  choạng,  ngồi  không  vững;  thở  bất  thường  (thở  nhanh  theo  tuổi,  rút  lõm,  cơn  ngừng  thở,  thở  bụng,  thở  nông,  khò  khè,  thở  rít  thanh  quản);  co  giật,  gồng  chi;  hôn  mê  (điểm Glasgow < 10), li bì; cao huyết áp; vã mồ  hôi lạnh toàn thân hay khu trú; sốc; phù phổi  cấp (nội khí quản có bọt hồng); tím tái (SpO2 <  92%);  thở  nấc,  ngưng  thở.  Ghi  nhận  các  xét  nghiệm:  hồng  cầu;  bạch  cầu;  tiểu  cầu;  đường  huyết; ion đồ; CRP; Troponin I; creatine kinase  (CK); lactate máu; chức năng gan (AST, ALT);  khí máu, chức năng thận, làm RT‐PCR từ phết  họng  và  phân  với  Enterovirus  (EV)  và  Enterovirus 71 (EV71). Tất cả bệnh nhân được  điều  trị  theo  lưu  đồ  hướng  dẫn  của  Bộ  Y  Tế  năm 2011.  

Xử lý số liệu 

Dữ liệu sau khi được kiểm tra tính đầy đủ và  chính  xác  sẽ  được  nhập  và  xử  lý  bằng  phần  mềm SPSS 17.0. Các số liệu về dịch tễ, lâm sàng 

và  cận  lâm  sàng  sẽ  được  trình  bày  bằng  tỷ  lệ  phần trăm, số trung bình, độ lệch chuẩn/trung vị 

và  khoảng  thay  đổi.  Sử  dụng  bảng  (2x2),  phép  kiểm  Chi‐Square  và  hiệu  chỉnh  Fisher.  Độ  tin  cậy (CI) 95% và p < 0,05 được áp dụng cho tất cả  các phép kiểm thống kê. Yếu tố liên quan đến tử  vong  sẽ  được  phân  tích  đơn  biến  bằng  phép  kiểm  thích  hợp  và  được  hiệu  chỉnh  bằng  phương pháp phân tích đa biến hồi qui logistic. 

Trang 4

Đặc điểm dân số nghiên cứu 

Chúng tôi ghi nhận có 272 ca TCM nặng (độ 

III  và  IV)  có  RT‐PCR  dương  tính  với  EV  và 

EV71,  nhập  khoa  Nhiễm  và  khoa  Hồi  Sức  Tích 

Cực  –  Chống  Độc  bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  năm 

2011. Trong đó, 201 (73,9%) độ III và 71 (26,1%) 

độ IV. 28 bệnh nhân tử vong, tỉ lệ tử vong trong 

nhóm nghiên cứu là 10,3%; 9 bệnh nhi (3,3%) có 

di chứng não chậm vận động tâm thần. 

Đặc điểm dịch tễ học TCM nặng (độ III, độ IV) 

Tuổi  trung  bình  bệnh  nhi  trong  mẫu 

nghiên cứu là 2 tuổi (23,61 ± 13,28 tháng). Tuổi 

nhỏ  nhất  là  2,33  tháng  và  lớn  nhất  là  70,7 

tháng (6 tuổi). 98,2% bệnh nhi TCM nặng dưới 

5 tuổi. Trong đó, trẻ dưới 2  tuổi  chiếm  58,8%; 

46,3% trẻ tử vong dưới 2 tuổi. Nam nhập viện 

và  tử  vong  nhiều  hơn  nữ:  170  (62,5%)  /  102 

(37,5%),  nhưng  sự  khác  biệt  này  không  có  ý 

nghĩa  thống  kê.  115  bệnh  nhân  (42,3%)  được 

bệnh viện tuyến trước chuyển đến. Bệnh nhân 

ở thành phố chỉ 61 (22,4%), đa phần từ các tỉnh 

đến 211 trường hợp (77,6%). 

Đặc  điểm  về  lâm  sàng  bệnh  nhân  TCM 

nặng  

Tất cả bệnh nhân TCM nặng đều có sốt, đa 

phần sốt từ 38,5oC đến 39,5oC (66,5%); trong đó 

38 ca (14%) sốt cao trên 40oC. Điều đáng lưu ý là 

trẻ có nhiệt độ trên 40oC, khó cắt sốt bằng thuốc 

hay  các  phương  pháp  vật  lý  dễ  bị  co  giật,  hôn 

mê,  suy  hô  hấp  và  trụy  tim  mạch  sau  đó.  Tử 

vong rất nhanh, nếu sống sót cũng để lại nhiều 

di chứng về vận động và tâm thần sau này.  

100%  nhập  viện  ở  3  ngày  đầu  của  bệnh. 

Trong  đó,  51  ca  (18,8%)  diễn  tiến  nặng  trong 

ngày đầu, 182 ca (66,9%) trong ngày thứ hai của 

bệnh. 24 ca (8,8%) không có sang thương da và 

niêm  mạc,  110  ca  (40,4%)  không  có  loét  miệng, 

80  ca  (29,4%)  có  bóng  nước  ngoài  da.  Chỉ  8,1% 

và  7,4%  bệnh  nhân  có  ho  và  tiêu  chảy.  Tuy 

nhiên, triệu chứng ói trước khi có biểu hiện nặng 

chiếm  tỉ  lệ  khá  cao  28,7%  các  trường  hợp.  Bên 

là dấu hiệu đáng lưu ý chiếm 21,3% bệnh nhân 

và biểu hiện giật mình, chới với chiếm 83,8% các  trường hợp TCM nặng độ III và IV.  

Ngủ gà, yếu liệt chi và liệt thần kinh sọ não  (nuốt sặc, thay đổi giọng) chiếm tỉ lệ thấp 5,1% ;  4,8%  và  1,1%.  Ngược  lại,  dấu  hiệu  run  chi,  run  người  chiếm  tỉ  lệ  khá  cao  33,1%  ở  những  bệnh  nhân  TCM  nặng.  Đi  loạng  choạng,  ngồi  không  vững chiếm 18,8% cũng là dấu hiệu đáng lưu ý.  Các triệu chứng ở mắt như rung giật nhãn cầu, 

lé  hay  đảo  mắt  chiếm  tỉ  lệ  thấp  chỉ  7  ca  (2,6%)  nhưng là yếu tố có liên quan tử vong khi phân  tích đơn biến. Các biểu hiện thần kinh như li bì  chiếm  16,2%  và  co  giật  ‐  gồng  chi  chiếm  7,4%.  Riêng hôn mê (điểm Glassgow <10) chiếm 25,7%  cũng  là  yếu  tố  có  liên  quan  đến  tử  vong  khi  phân tích đơn biến (Bảng 1). 

Các rối loạn về hô hấp chiếm tỉ lệ khá cao ở  bệnh nhi TCM nặng, 62,1% trẻ có biểu hiện thở  nhanh  theo  tuổi,  55%  có  biểu  hiện  thở  bất  thường.  Trong  đó,  thở  rút  lõm  (24,3%)  và  cơn  ngừng  thở  (29%)  có  tỉ  lệ  cao.  Thở  bụng  (4,8%),  thở  nông  (4,8%),  thở  khò  khè  (1,8%)  và  thở  rít  thanh quản (3,3%) chiếm tỉ lệ thấp hơn. Đặc biệt, 

22 bệnh nhân bị phù phổi cấp (8,1%); 9,9% bệnh  nhân ngưng thở, thở nấc; 8,1% bệnh nhân tím tái  (SpO2  <92%).  Điều  đáng  lưu  ý  là  57,1%  bệnh  nhân tử vong có phù phổi. Trong các rối loạn về 

hô hấp, chỉ các biểu hiện: phù phổi, tím tái, cơn  ngưng thở hay ngưng thở, thở nấc có liên quan  đến tử vong khi phân tích đơn biến (Bảng 1).  Các  biểu  hiện  rối  loạn  tuần  hoàn  ở  bệnh  nhân  TCM  nặng  cũng  là  vấn  đề  đáng  lưu  ý.  61,8%  bệnh  nhân  có  huyết  áp  cao  theo  tuổi.  26,1% bệnh nhân có mạch trên 150 lần/phút đến 

170 lần/phút; 33,5% bênh nhân có mạch trên 170  lần/phút  khi  nằm  yên,  không  sốt.  24,6%  bệnh  nhân có sốc. Mạch nhanh >150 lần/phút, đặc biệt  mạch >170 lần/phút; cao huyết áp và sốc cũng là  những yếu tố có liên quan đến tử vong khi phân  tích đơn biến (Bảng 1). 

Đặc điểm cận lâm sàng  

Trong nghiên cứu, số lượng hồng cầu trung 

Trang 5

/mm3.  Số  lượng  bạch  cầu  trung  bình  15.133  ± 

5.393 /mm3. Bạch cầu tăng cao trên 12.000/mm3; 

đặc biệt trên 16.000/mm3 là một dấu hiệu xấu có 

liên  quan  đến  tử  vong  khi  phân  tích  đơn  biến 

(bảng 1). Lượng tiểu cầu trung bình là 356.944 ± 

117.661/mm3.  Đường  máu  trung  bình  ở  bệnh 

nhân  TCM  nặng  là  7,15  ±  3,13  mmol/L;  62,7% 

bệnh  nhân  có  đường  huyết  cao  hơn  bình 

thường. Đây cũng là yếu tố có liên quan đến tử 

vong khi phân tích đơn biến (bảng 1). CRP, chức 

năng  gan,  thận  không  thay  đổi  nhiều  ở  bệnh 

nhân  TCM  nặng  trong  giai  đoạn  đầu  khi  mới 

nhập viện. Calci máu 1,20 ± 0,32 mmol/L. Toan 

chuyển hóa nặng (HCO3 < 15mmol/L; pCO2<25‐

35 mmHg) chiếm 19,48% bệnh nhân, thường xảy 

ra  ở  bệnh  nhân  sốc  và  sốt  cao  chưa  kiểm  soát 

được nhiệt độ. Lactate máu trung bình là 2,85 ± 

2,05  mmol/L,  lactate  tăng  cao  trên  5  mmol/L  là 

yếu tố liên quan đến tử vong khi phân tích đơn 

biến. Giá trị trung bình của creatine kinase (CK) 

là 264,41 ± 396,28 U/L và troponin I dương tính 

trên lâm sàng cũng là yếu tố có liên quan đến tử 

vong (Bảng 1).  

Chọc dò tủy sống chỉ được tiến hành ở  136 

bệnh nhân, khi tình trạng huyết động học và hô 

hấp  bệnh  nhân  tương  đối  ổn  định.  Protein  và 

đường  bình  thường  0,56  ±  0,75  (g/dl)  và  4,83  ± 

2,83  mmol/L,  lactate  trung  bình  3,30  ±  5,09 

mmol/L,  lượng  tế  bào  trung  bình  là  71,37  ± 

121,58  /mm3.  Tất  cả  bệnh  nhân  được  làm  RT‐

PCR  tìm  EV  và  EV71  từ  phết  họng,  phân  hoặc 

phết  trực  tràng.  123  bệnh  nhân  (45,22%)  tìm 

được  Enterovirus  71,  149  bệnh  nhân  (54,78%) 

tìm  được  Enterovirus  khác.  Những  bệnh  nhân 

tử vong có tỉ lệ EV71 phát hiện được là 50%.  

Đặc  biệt,  phân  tích  biểu  hiện  lâm  sàng  của 

123 bệnh nhi tìm được EV71 trong phết họng và 

trong phân bằng RT‐PCR. Biểu hiện rối loạn hô 

hấp, tim mạch và thần kinh chiếm tỉ lệ khá cao:  

‐  Rối  loạn  hô  hấp:  73  ca  thở  nhanh  (59,3%); 

41  ca  có  cơn  ngừng  thở  (33,3%);  25  ca  thở  rút 

lõm  ngực  (20,3%);  15  ca  tím  tái  (12,2%);  13  ca 

ngưng  thở,  thở  nấc  (10,5%);  12  ca  có  phù  phổi 

(9,7%). 

‐  Rối  loạn  hệ  tim  mạch:  76  ca  cao  huyết  áp  (61,8%);  41  ca  có  mạch  trên  170  lần  /phút  (33,3%); 31 ca có sốc (25,2%). 

‐  Rối  loạn  thần  kinh:  31  ca  hôn  mê  (25,2%); 

21 ca li bì (17,07%); 15 ca vã mồ hôi (12,2%); chỉ 1 

ca có rung giật nhãn cầu (0,8%). 

Điều trị và diễn tiến 

Tất cả bệnh nhân TCM nặng (độ III và độ IV)  được  điều  trị  theo  phác  đồ  của  Bộ  Y  Tế.  88,4%  trẻ  trong  nghiên  cứu  được  cứu  sống  không  di  chứng thần kinh. Thời gian nằm viện trung bình 

là 7,95 ± 6,97 ngày.  

Hầu  hết  bệnh  nhân  (97,8%)  được  điều  trị  Immunoglobulin, 85 % được sử dụng 2 lần. 129  bệnh  nhân  (47,4%)  được  giúp  thở  bằng  máy,  thời  gian  thở  máy  trung  bình  là  24  giờ  (2  giờ  ‐ 

116 giờ). Chỉ 55 ca (20,2%) được lọc máu liên tục, 

đa phần lọc 1 lần (43 ca), 9 ca được lọc lần 2, 2 ca  lọc 3 lần và 1 ca lọc 4 lần. 129 ca (47,4%) được sử  dụng  thuốc  vận  mạch,  83  ca  (30,5%)  sử  dụng  đơn  thuần  1  loại  Dobutamin,  40  ca  (14,7%)  sử  dụng 2 loại Dobutamin kết hợp Adrenaline, có 6 

ca (2,9%) kết hợp 3 loại Dobutamin, Adrenaline 

và  Noradrenaline.  Đặc  biệt  có  9  ca  sử  dụng  Dopamin trước khi có lưu đồ hướng dẫn của Bộ 

Y  Tế.  125  ca  (46%)  có  dùng  Milrinone  để  hạ  huyết  áp,  thời  gian  sử  dụng  Milrinone  trung  bình là 46 giờ (2 – 113 giờ). 

37 ca có sử dụng corticoide, 7 ca chỉ định khi  sốt  cao  ác  tính  không  cắt  được  sốt  bằng  các  thuốc  hạ  sốt  thông  thường  (Paracetamol  và  Ibuprofen), 2 ca dùng để chống phù não, số còn  lại sử dụng trước khi rút nội khí quản. Hầu hết  bệnh nhân được dùng phenobarbital khi có biểu  hiện  nặng  95,2%  (259  ca),  có  134  ca  (49,2%)  kết  hợp 2 loại an thần trở lên. 

179  bệnh  nhân  (65,8%)  được  theo  dõi  bằng  huyết áp động mạch xâm lấn. Chỉ 44 ca (16,2%)  được  đo  áp  lực  tĩnh  mạch  trung  ương  (CVP).  Trong đó, chỉ có 2 ca có giá trị CVP thấp ≤ 4 cm  H2O, 24 ca CVP bình thường 6 – 12 cm H2O, các  bệnh nhân còn lại có giá trị cao so bình thường. 

Trang 6

Lâm

Mạch nhanh > 170 66 (27,05%) 25 (89,28%) 22,47 (6,57 – 76,92) <0,005 Triệu chứng mắt (rung giật nhãn cầu, lé,

đảo mắt)

Vã mồ hôi, lạnh toàn thân hay khu trú 28 (11,47%) 16 (57,14%) 10,28(4,41 – 2,96) <0,005

Tím tái / SpO 2 < 92% 9 (3,69%) 13 (46,43%) 22,63 (8,35 – 61,35) <0,005

Cận

lâm

sàng

Bạch cầu: BC > 10.000/mm 3 213 (87,29%) 26 (92,86%) 1,89 (0,52 – 6,01) 0,393

BC > 12.000/mm3 171 (70,08%) 25 (89,28%) 3,56 (1,19 – 10,05) 0,043

BC > 16.000/mm3 81 (33,20%) 18 (64,28%) 3,62 (1,39 – 5,91) 0,001

Lactate > 5 mmol/L 14 (5,74%) 13 (46,43%) 15,04 (5,71 – 34,65) <0,005

*Toan chuyển hóa nặng: HCO 3  ≤ 15 mmol/L, PCO 2  < 25 – 35 mmHg 

BÀN LUẬN 

Năm  2011  có  12.832  bệnh  nhi  TCM  nhập 

bệnh  viện  Nhi  Đồng  1,  đây  là  bệnh  viện  nhi 

trung tâm khu vực các tỉnh phía nam, Việt Nam. 

Trong đó, 437 ca TCM nặng (317 ca độ III và 120 

ca độ IV), tỉ suất mới mắc TCM nặng là 3,4%. Có 

48 ca tử vong, tỉ lệ tử vong chung là 0,37% và tỉ 

lệ  tử  vong  riêng  cho  nhóm  TCM  độ  III  và  IV 

nặng là 10,52%. Tất cả đều dưới 5 tuổi, trong đó 

56% trẻ dưới 2 tuổi (Số liệu  thống  kê  từ  phòng 

KHTH‐BV NĐ1). Tỉ lệ tử vong bệnh TCM thay 

đổi tùy từng tác giả, theo Zhang Jing (2011) tỉ lệ 

tử vong trẻ TCM Trung Quốc năm 2008 ‐ 2009 từ 

nghiên  cứu  này,  tất  cả  trẻ  tử  vong  đều  dưới  5  tuổi. Trẻ nhỏ có nguy cơ tử  vong  cao  có  thể  có  liên  quan  đến  hàng  rào  mạch  máu  não  chưa  trưởng thành và siêu vi dễ dàng xâm nhập hơn.  Trẻ  nam  bị  bệnh  và  tử  vong  nhiều  hơn  trẻ  nữ,  nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê,  kết  quả  này  cũng  tương  tự  nghiên  cứu  của  tác  giả Yoko (2010)(24). 

Điều  đáng  lưu  ý  có  8,8%  bệnh  nhân  TCM  nặng  không  có  sang  thương  da  hay  niêm  mạc.  Trong  đó  21,43%  trẻ  TCM  tử  vong  không  có  sang thương da niêm. Đây cũng là yếu tố có liên  quan  tử  vong  khi  phân  tích  đơn  biến  (Bảng  1).  Trẻ  dễ  bị  chẩn  đoán  nhầm  với  các  bệnh  khác 

Trang 7

não màng não, viêm phổi.  Theo  tác  giả  Tianchi 

Yang, Chang LY và một số tác giả khác: sốt cao 

trên 39oC hơn 3 ngày, không có sang thương da 

và  không  loét  miệng  cùng  bạch  cầu  tăng  cao 

trong  máu  là  yếu  tố  tiên  lượng  nặng  ở  bệnh 

nhân TCM(3,18). 

Rối loạn về hô hấp chiếm một tỉ lệ khá cao ở 

bệnh nhân TCM  nặng.  Nguyên  nhân  có  thể  do 

tổn  thương  não  (hôn  mê,  co  giật);  tổn  thương 

thần  kinh  –  cơ  (liệt  cơ  hầu  họng,  rối  loạn  nhịp 

thở, cơn ngưng thở), tổn thương phổi (phù phổi, 

ARDS),  tim  mạch  (sốc,  viêm  cơ  tim,  suy  tim). 

Biểu  hiện  rối  loạn  hô  hấp  ở  bệnh  nhân  TCM 

cũng  rất  đa  dạng,  đa  phần  là  thở  nhanh  theo 

tuổi (62,1%) hoặc biểu hiện thở bất thường như: 

thở  rút  lõm  ngực,  thở  bụng,  thở  nông,  cơn 

ngưng  thở.  Một  số  bệnh  nhân  có  biểu  hiện  thở 

khò  khè  hay  thở  rít  thanh  quản,  những  bệnh 

nhân  này  đôi  khi  dễ  có  chẩn  đoán  lầm  với  các 

bệnh  đường  hô  hấp  như  viêm  phổi,  viêm  phế 

quản, viêm thanh quản hay suyễn. Trong các rối 

loạn này cơn ngưng thở chiếm một tỉ lệ khá cao 

29% bệnh nhân và là dấu hiệu quan trọng có liên 

quan đến tử vong khi phân tích đơn biến cũng 

như đa biến (bảng 1 và bảng 2). 

Phù phổi cũng là một biểu hiện nặng ở bệnh 

nhi  TCM,  đây  cũng  là  một  tình  trạng  cấp  cứu 

nội khoa đe dọa tính mạng bệnh nhân và cũng 

là  một  yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong  trong 

nghiên cứu của chúng tôi (bảng 1, bảng 2). Biểu 

hiện  lâm  sàng  trong  bệnh  cảnh  suy  tim  trái  và 

suy  hô  hấp  do  tăng  tính  thấm  mao  mạch  phổi 

gây thoát dịch vào phế nang làm cản trở sự trao 

đổi  khí.  Có  3  cơ  chế  gây  phù  phổi  cấp  trong 

bệnh  TCM(17) :  (1)  Phù  phổi  do  thay  đổi  tính 

thấm  thành  mạch  bởi  các  hóa  chất  điều  khiển 

thần kinh từ thân não cùng sự tác động của các 

cytokines  được  tiết  ra  sau  nhiễm  virus.  (2)  Phù 

phổi xẩy ra sau suy thất trái: thân não sau nhiễm 

virus kích thích bài tiết catecholamine quá mức 

làm  tăng  kháng  lực  mạch  máu  ngoại  biên,  rối 

loạn chức năng tâm trương, giảm chức năng tâm 

thu  tâm  thất.  Các  rối  loạn  này  làm  ảnh  hưởng 

đến thất trái và gây phù phổi. (3) Phù phổi cũng 

có  thể  sau  suy  thất  phải  do  việc  tăng  thể  tích  dịch  quá  mức.  Các  dấu  hiệu  sớm  ở  bệnh  nhân  TCM  có  phù  phổi  là  nhịp  tim  nhanh,  huyết  áp  cao,  thở  nhanh  nông,  X‐quang  thường  bình  thường ở giai đoạn đầu, đôi khi có phù nề nhẹ 

mô kẻ. Ở giai đoạn nặng, huyết động học không 

ổn  định,  tay  chân  lạnh,  khạc  đàm  bọt  hồng,  thiếu oxy máu nặng, X‐quang có bóng mờ lớn và  thâm  nhiễm  2  phổi.  Giai  đoạn  cuối  bệnh  nhân  biểu  hiện  tím  tái,  có  nhiều  máu  trong  nội  khí  quản, X‐quang mờ cả 2 phế trường, tỉ lệ tử vong 

ở  giai  đoạn  này  rất  cao,  cơ  hội  điều  trị  thành  công thấp. Vì vậy, chìa khóa của sự thành công  trong điều trị là phát hiện sớm và can thiệp kịp  thời ở giai đoạn sớm (25). 

Biểu  hiện  rối  loạn  thần  kinh  ở  bệnh  nhân  TCM nặng cũng rất đa dạng. Bệnh nhân có thể  chỉ lừ đừ, ngủ gà, yếu liệt chi, run chi, run người  đến  liệt  các  dây  thần  kinh  sọ,  co  giật,  hôn  mê.  Trong đó dấu hiệu giật mình, chới với được ghi  nhận  nhiều  nhất  (83,8%).  Cũng  cần  lưu  ý  các  dấu hiệu tiên lượng diễn tiến nặng sau đó là: vã 

mồ hôi, lạnh tay chân toàn thân hay khu trú, đi  loạng choạng, ngồi không vững, rung giật nhãn  cầu, lé hay đảo mắt, nuốt sặc hay thay đổi giọng  nói.  Đặc  biệt,  hôn  mê  với  điểm  Glasgow  <  10  chiếm  ¼  các  trường  hợp  nặng  và  là  yếu  tố  có  liên quan đến tử vong khi phân tích đơn biến.  Biểu  hiện  rối  loạn  tim  mạch  cũng  thường  xảy  ra  ở  bệnh  TCM  nặng,  nhiều  nhất  là  cao  huyết  áp  (61,2%),  mạch  nhanh  >  170  lần/phút  (33,5%) và sốc (21,6%). Bệnh nhân có EV71 trong  phết họng hay phân của chúng tôi cũng có tỉ lệ  cao huyết áp, mạch nhanh > 170 lần/phút và sốc  khá  cao  61,8%  /  33,3%  và  25,6%.  Cao  huyết  áp  trong TCM là biểu hiện thứ phát, thoáng qua do  rối  loạn  hệ  thần  kinh  thực  vật.  Thường  xảy  ra  trước khi có biểu hiện suy hô hấp, tuần hoàn. Cơ  chế  cao  huyết  áp  có  thể  do  thân  não  bị  nhiễm  virus kích thích bài tiết catecholamine quá mức  làm  tăng  kháng  lực  mạch  máu  ngoại  biên,  rối  loạn chức năng tâm trương, giảm chức năng tâm  thu tâm thất và cuối cùng làm co mạch hệ thống 

Trang 8

mô làm tăng áp lực nội sọ. Một số bệnh nhân có 

biểu hiện viêm cơ tim do virus với tăng creatine 

kinase  (CK),  troponin  I  dương  tính,  thay  đổi 

sóng  T  trên  điện  tâm  đồ.  Tuy  nhiên,  bóng  tim 

không  to  trên  X‐quang  và  cũng  không  có  biểu 

hiện  của  bệnh  tim,  phổi,  thận;  phân  suất  tống 

máu  EF  của  tim  đa  phần  bình  thường.  Tác  giả 

Jing‐Ming Wu(10) đặt catheter động mạch phổi để 

đo  áp  lực  động  mạch  phổi  (PAP),  áp  lực  động 

mạch  phổi  bít  (PAOP),  chỉ  số  tim  (CI),  chỉ  số 

kháng lực mạch máu toàn thân, chỉ số kháng lực 

mạch  máu  phổi  đã  kết  luận:  rối  loạn  tim  mạch 

và  phù  phổi  trong  nhiễm  EV71  tối  cấp  không 

trực tiếp gây ra bởi viêm cơ tim mà có liên quan 

việc  tăng  tính  thấm  mạch  máu  phổi  do  tổn 

thương  thân  não  kèm  có  /  hoặc  không  có  đáp 

ứng viêm toàn thân. Theo Y C Fu: EV71 gây tổn 

thương thân não, tổn thương lan đến nhân phế 

vị  lưng  (dorsal  vagus  nuclei)  và  nhân  đường 

đơn độc (solitary tract) làm bất hoạt hệ đối giao 

cảm  và  hoạt  hóa  hệ  giao  cảm  gây  tiết 

catecholamine  quá  mức  tạo  “cơn  bảo 

catecholamine”,  cuối  cùng  phân  hủy  tế  bào  cơ, 

thoái  hóa  sợi  cơ  và  chết  tế  bào  cơ  tim  theo 

chương trình (apoptosis)(23). 

Về  mặt  cận  lâm  sàng,  tăng  đường  huyết  là 

yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong.  Theo  Luan‐yin 

Chang (3) tăng đường huyết là sự mất cân bằng 

trong  việc  điều  hòa  đường  huyết  của  cơ  thể 

trong trường hợp có bệnh nặng. Tăng Protein và 

tế bào trong dịch não tủy không có liên quan đế 

tử  vong.  Tuy  nhiên,  chúng  tôi  cũng  ghi  nhận 

bạch  cầu  trên  16.000/mm3,  toan  chuyển  hóa 

nặng, lactate trên 5 mmol/L là các yếu tố có liên 

quan đến tử vong khi phân tích đơn biến (Bảng 

1). Đặc biệt, troponin I dương tính trong nghiên 

cứu  là  yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong  khi  phân 

tích  đơn  biến  cũng  như  đa  biến.  Theo  tác  giả 

Huang YE: troponin I là yếu tố liên quan đến tử 

vong đáng tin cậy ở bệnh nhân viêm não màng 

não  do  EV71,  ông  cho  rằng  troponin  I  được 

phóng  thích  vào  máu  do  cơ  tim  bị  tổn  thương 

sau thiếu máu cục bộ (9). 

Trong  nghiên  cứu  này,  tỉ  lệ  phát  hiện  được  tác  nhân  EV71  là  45,2%.  Các  nghiên  cứu  trước  đây(2,6,19)  chỉ ra rằng EV71 có nhiều khả năng gây 

ra  biến  chứng  nghiêm  trọng  hơn  các  enteroviruses khác, thường dẫn đến viêm não ‐  màng  não,  xuất  huyết  phổi  và  suy  tuần  hoàn(5,10,13,16)  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  không  thấy  có  mối  liên  quan  giửa  việc  nhiễm  EV71 và tình trạng tử vong của bệnh nhân. Mặc 

dù,  bệnh  nhân  nhiễm  EV71  tìm  được  tác  nhân  trong phết họng và phân, có biểu hiện nhiều rối  loạn về thần kinh (hôn mê, li bì, vã mồ hôi, tay  chân  lạnh),  rối  loạn  hô  hấp  (thở  nhanh,  có  cơn  ngưng thở, thở rút lõm ngực, thở nấc ngưng thở,  phù  phổi,  tím  tái)  và  rối  loạn  tim  mạch  (cao  huyết  áp,  mạch  nhanh  trên  170  lần/phút,  trụy  tim  mạch)  chiếm  một  tỉ  lệ  khá  cao.  Sinh  bệnh  học  mức  độ  nghiêm  trọng  xảy  ra  sau  nhiễm  EV71  chưa  được  hiểu  rõ,  nhưng  tác  giả  Chang 

và  cộng  sự (11)  nghĩ  rằng  các  tổn  thương  ở  hệ  thần  kinh  trung  ương  gây  ra  bởi  tính  hướng  thần  kinh  (neurotropism)  của  EV71  và  sau  đó  dẫn đến phù phổi do thần kinh. Một giả thuyết  khác  cho  rằng  EV71  là  chủng  enterovirus  có  động lực cao xâm nhập vào máu và gây các biến  chứng lâm sàng(5,16). 

EV71 là một loại RNA virus được phân  lập  đầu  tiên  từ  phân  của  bệnh  nhân  có  biểu  hiện  bệnh ở thần kinh trung ương vào năm 1969  tại  California,  Hoa  Kỳ.  Những  nghiên  cứu  dịch  tễ  học sau đó đã xác nhận EV71 là tác nhân chính  gây  bệnh  TCM  ở  trẻ  em.  Nhiều  quốc  gia  bao  gồm:  Hoa  Kỳ,  Bulgaria,  Hungary,  Úc,  Thụy  Điển, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Đài Loan,  Hồng  Kông  và  Trung  Quốc  đã  báo  cáo  dịch  EV71(11,21,26)  EV71  có  thể  gây  ra  các  biến  chứng  nghiêm trọng về thần kinh như viêm màng não,  viêm  não  thân  não,  liệt  mềm  giống  bại  liệt  và  phù  phổi  hay  xuất  huyết  phổi  do  thần  kinh.  Điển hình nhiễm EV71 là sốt, phát ban da và loét  miệng;  một  số  trẻ  nhủ  nhi  và  trẻ  nhỏ  diển  tiến  đến sốc, phù phổi do thần kinh và các biểu hiện  tổn  thương  hệ  thần  kinh  trung  ương.  Biến  chứng này thường xảy ra ở trẻ dưới 3 tuổi, đặc 

Trang 9

nhanh  vài  giờ  đến  vài  ngày  sau  nhiễm.  Năm 

1998 một trận dịch EV71 tại Đài Loan của Trung 

Quốc đã làm  tử  vong  hầu  như  tất  cả  các  trẻ  có 

suy hô hấp, tuần hoàn(25). Vấn nạn này có thể là 

do  thiếu  kinh  nghiệm  trong  việc  điều  trị  các 

bệnh  nhân  này,  cũng  như  hạn  chế  trong  việc 

nhận biết các dấu hiệu nặng tại thời điểm đó(24,26). 

Qua phân tích đơn biến, có nhiều yếu tố có  liên  quan  đến  tiên  lượng  tử  vong  với  mức  ý  nghĩa p <0,05 (Bảng 1). Phân tích đa biến hồi qui  logistic (logistic regression) cho thấy chỉ 3 yếu tố  sau đây: mạch nhanh > 170 l/ph [OR= 9,81 (1,07 –  89,59)]; phù phổi cấp [OR= 24,71 (2,29 – 265,81)] 

và troponin I dương [OR=37,88 (2,23 – 641,86)] là  những yếu tố có liên quan chặt chẽ với tử vong ở  bệnh TCM nặng (Bảng 2). 

Bảng 2. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan tử vong. 

*Nhận xét: Qua kết quả phân tích, chúng tôi có những nhận xét như sau: trẻ có mạch nhanh trên 170 lần/phút 

có liên quan đến tử vong gấp 9 lần trẻ có mạch dưới 170 lần/phút, trẻ có biểu hiện phù phổi cấp có liên quan đến 

tử vong gấp 24 lần trẻ không phù phổi, trẻ có troponin I dương tính có liên quan đến tử vong gấp 37 lần trẻ có 

troponin I bình thường.  

KẾT LUẬN 

Tỉ suất mới mắc bệnh TCM nặng độ III và IV 

năm 2011 là 3,4%; Tỉ lệ tử vong chung cho bệnh 

TCM  là  0,37%,  tỉ  lệ  tử  vong  riêng  cho  nhóm 

bệnh nặng độ III và IV là 10,52%. Tỉ lệ tử vong 

trong  nhóm  nghiên  cứu  là  10,3%.  Tuổi  trung 

bình  mắc  TCM  nặng  là  2  tuổi  (23,61  ±  13,28 

tháng). Tỉ lệ EV71 phát hiện trong nghiên cứu là 

45,2%;  50%  tác  nhân  EV71  tìm  thấy  ở  những 

bệnh nhân tử vong. Thời gian điều trị trung bình 

ở  bệnh  nhân  sống  sót  là  7,95  ±  6,97  ngày.  Biểu 

hiện lâm sàng nặng thường gặp là cao huyết áp 

(61,8%),  thở  nhanh  theo  tuổi  (62,1%),  mạch 

nhanh > 170 lần/phút (33,5%), có cơn ngừng thở 

(29%),  thở  rút  lõm  (24,3%),  hôn  mê  (25,7%)  và 

sốc  (21,6%).  Các  xét  nghiệm  cận  lâm  sàng  thay 

đổi  quan  trọng  là:  bạch  cầu  cao,  đường  huyết 

cao, lactate máu cao. Các yếu tố có liên quan đến 

tử vong ở bệnh nhân TCM nặng là: Mạch nhanh 

trên  170  lần/phút,  phù  phổi  cấp  và  troponin  I 

dương  tính.  Ngoài  ra,  yếu  tố  khác  như  nhiễm 

EV71 chưa thấy có liên quan đến tử vong. Việc 

xác  định  sớm  những  yếu  tố  trên  giúp  các  nhà 

lâm sàng tiếp cận đúng, tiên lượng và xử trí kịp 

thời  nhằm  hạn  chế  tử  vong  cho  bệnh  nhi  TCM  nặng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 AbuBakar S, Sam IC, Yusof J, Lim MK, Misbah S, MatRahim N,  Hooi  PS  (2009)  Enterovirus  71  outbreak,  Brunei.  Emerg  Infect  Dis 15:pp 79–82. 

2 Ang LW, Koh BK, Chan KP, Chua LT, James L, Goh KT (2009).  Epidemiology and control of  hand,  foot  and  mouth  disease  in  Singapore, 2001–2007. Ann Acad Med Singapore 38:pp 106–112. 

3 Chang LY, Lin TY, Hsu KH, Huang YC, Lin KL, Hsueh C, Shih 

SR,  Ning  HC,  Hwang  MS,  Wang  HS,  Lee  CY  (1999).  Clinical  features  and  risk  factors  of  pulmonary  oedema  after  enterovirus‐  71‐related  hand,  foot,  and  mouth  disease.  Lancet  354:pp 1682–1686. 

4 Chang LY, Hsia SH,Wu CT, Huang YC, Lin KL, Fang TY, Lin 

TY (2004). Outcome of enterovirus 71 infections with or without  stagebased management: 1998 to 2002. Pediatr Infect Dis J 23:pp  327–332. 

5 Chen  SP,  Huang  YC,  Li  WC,  Chiu  CH,  Huang  CG,  Tsao  KC,  Lin  TY  (2010).  Comparison  of  clinical  features  between  coxsackievirus  A2  and  enterovirus  71  during  the  enterovirus  outbreak  in  Taiwan,  2008:  a  children’s  hospital  experience.  J  Microbiol Immunol Infect 43:pp 99–104. 

6 Chen  KT,  Chang  HL,  Wang  ST,  Cheng  YT,  Yang  JY  (2007).  Epidemiologic  features  of  hand–foot–mouth  disease  and  herpangina  caused  by  enterovirus  71  in  Taiwan,  1998–2005.  Pediatrics 120: pp 244–252. 

7 Chua KB, Kasri AR (2011) Hand foot and mouth disease due to  enterovirus 71 in Malaysia. Virol Sin 26:pp 221–228. 

8 Huang  CC,  Liu  CC,  Chang  YC,  Chen  CY,  Wang  ST,  Yeh  TF  (1999).  Neurologic  complications  in  children  with  enterovirus 

71 infection. N Engl J Med 341:pp 936–942. 

Trang 10

9 Huang YF, Chiu PC, Chen CC, Chen YY, Hsieh KS, Liu YC, Lai 

PH,  Chang  HW  (2003).  Cardiac  troponin  I:  a  reliable  marker 

and  early  myocardial  involvement  with  meningoencephalitis 

after fatal enterovirus‐71 infection; J Infect. 46(4):pp 238‐43. 

10 Jing‐Ming  Wu,  Wang  Jieh‐Neng,  Yu‐Chiến  Tsai  Ching‐Chuan 

Liu,  Chao‐Ching,  Huang,  Chen  Yung‐Jung  và  Tsu‐Fuh  Yeh 

(2002).  Cardiopulmonary  Manifestations  of  Fulminant 

Enterovirus 71 Infection. Pediatrics; 109;pp 26. 

11 Lum  LC,  Wong  KT,  Lam  SK,  Chua  KB,  Goh  AY,  Lim  WL 

(1998). Fatal enterovirus 71 encephalomyelitis. J Pediatr,133: pp 

795‐798. 

12 Ma  E,  Chan  KC,  Cheng  P,  Wong  C,  Chuang  SK  (2010).  The 

enterovirus 71 epidemic in 2008—public health implications for 

Hong Kong. Int J Infect Dis 14:e775–e780 

13 McMinn PC (2002). An overview of the evolution of enterovirus 

71  and  its  clinical  and  public  health  significance.  FEMS 

Microbiol Rev 26:pp 91–107. 

14 Ooi MH,Wong SC, Mohan A, Podin Y, Perera D, Clear D, Del 

SS,  Chieng  CH,  Tio  PH,  Cardosa  MJ,  Solomon  T  (2009). 

Identification and validation of clinical predictors for the risk of 

neurological  involvement  in  children  with  hand,  foot,  and 

mouth disease in Sarawak. BMC Infect Dis 9:pp 3. 

15 Puenpa  J,  Theamboonlers  A,  Korkong  S,  Linsuwanon  P, 

Thongmee  C,  Chatproedprai  S,  Poovorawan  Y  (2011). 

Molecular  characterization  and  complete  genome  analysis  of 

human  enterovirus  71  and  coxsackievirus  A16  from  children 

with  hand,  foot  and  mouth  disease  in  Thailand  during  2008–

2011. Arch Virol 156:pp 2007–2013 

16 Ryu  WS,  Kang  B,  Hong  J,  Hwang  S,  Kim  J,  Cheon  DS  (2010). 

Clinical and etiological characteristics of enterovirus 71‐related 

diseases during a recent 2‐year period in Korea. J Clin Microbiol 

48:pp 2490–2494.  

17 Shih‐Min  Wang  (2003).  Pathogenesis  of  Enterovirus  71 

Brainstem Encephalitis in Pediatric Patients: Roles of Cytokines 

and  Cellular  Immune  Activation  in  Patients  with  Pulmonary 

Edema; The Journal of Infectious Diseases; 188:pp 564–70. 

18 Tianchi  Yang  &  Guozhang  Xu  &  Hongjun  Dong  &  Min  Ye  & 

Tianfeng  He  (2012).  A  case–control  study  of  risk  factors  for 

severe  hand–foot–mouth  disease  among  children  in  Ningbo, 

China, 2010–2011; Eur J Pediatr 171:pp 1359–1364.  

19 Tu PV, Thao NT, Perera D, Huu TK, Tien NT, Thuong TC, How 

OM,  Cardosa  MJ,  McMinn  PC  (2007).  Epidemiologic  and  virologic  investigation  of  hand,  foot,  and  mouth  disease,  southern Vietnam, 2005. Emerg Infect Dis 13:pp 1733–1741. 

20 Wang JN, Yao CT, Yeh CN, Huang CC, Wang SM, Liu CC, Wu 

JM  (2006).  Critical  management  in  patients  with  severe  enterovirus 71 infection. Pediatr Int 48:pp 250–256. 

21 Zhu Q, Hao Y, Ma J, Yu S, Wang Y (2011). Surveillance of hand,  foot,  and  mouth  disease  in  Mainland  China  (2008–2009).  Biomed Environ Sci 24:pp 349–356. 

22 Zhang  Jing,  SUN  JunLing,  Chang  ZhaoRui,  Zhang  WeiDong,  Wang ZiJun, Feng ZiJian (2011). Characterization of Hand, Foot,  and  Mouth  Disease  in  China  between  2008  and  2009.  Biomed  Environ Sci; 24(3): pp 214‐221.  

23 YC Fu, CS Chi, YT Chiu, S L Hsu, B Hwang, S L Jan, P Y Chen, 

FL  Huang,  Y  Chang  (2004).  Cardiac  complications  of  enterovirus rhombencephalitis. Arch Dis Child;89:368–373. doi:  10.1136/adc.2003.029645 

24 Yoko  Suzuki,  Keiko  Taya,  Kazutoshi  Nakashima,  Takaaki  Ohyama,  John  M.  Kobayashi,  Yasushi  Ohkusa,  Nobuhiko  Okabe  (2010).  Risk  factors  for  severe  hand  foot  and  mouth  disease. Pediatrics International 52, pp 203–207. 

25 Yu‐cai  Zhang,  Xing‐wang  Li,  Xiao‐dong  Zhu,  Su‐yun  Qian,  Yun‐xiao  Shang,  Bi‐ru  Li,  Xiao‐lin  Liu  (2010).  Clinical  characteristics  and  treatment  of  severe  encephalitis  associated  with neurogenic pulmonaryedema caused by enterovirus 71 in  China. World J Emerg Med;1(2):pp 108‐113. 

26 Wang SM, Liu CC, Tseng HW, Wang JR, Huang CC, Chen YJ  (1999). Clinical spectrum of enterovirus71 infection of children 

in  southern  Taiwan,  with  an  emphasis  on  the  neurological  complications. Clin Infect Dis; 29: pp 184‐190. 

  Ngày nhận bài:     

  16/08/2013. 

Ngày phản biện nhận xét bài báo  19/08/2013.  Ngày bài báo được đăng:    15–09‐2013 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w