1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chăm sóc và theo dõi bệnh nhân sốt xuất huyết dengue kèm suy hô hấp

6 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 412,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát kỹ thuật chăm sóc và theo dõi trẻ sốt xuất huyết dengue kèm suy hô hấp tại khoa sốt xuất huyết, bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/06/2012-30/09/2012.

Trang 1

KÈM SUY HÔ HẤP 

Bùi Thị Bích Phượng*, Nguyễn Minh Tiến** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát kỹ thuật chăm sóc và theo dõi trẻ sốt xuất huyết Dengue kèm suy hô hấp tại khoa Sốt 

Xuất Huyết, bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/06/2012 – 30/09/2012. 

Thiết kế: Mô tả tiến cứu loạt ca. 

Kết quả: 146 trẻ sốt xuất huyết dengue kèm suy hô hấp, xác định bằng huyết thanh chẩn đoán Mac ELISA 

IgM dương tính, được đưa vào lô nghiên cứu với tuổi trung bình là 5,6 tuổi, nhỏ nhất là 6 tháng tuổi, sốt xuất  huyết có dấu hiệu cảnh báo (49,3%), sốc sốt xuất huyết dengue (độ III) (44,5%), sốc sốt xuất huyết dengue nặng  (độ IV) (6,2%). Các yếu tố kỹ thuật quyết định hiệu quả tối ưu đối với thở oxy qua cannula là chọn cannula phù  hợp, kiểm tra dòng oxy đi qua, cố định cannula, đối với thở NCPAP gồm áp lực chính xác, kích cỡ cannula phù  hợp tuổi trẻ, cố định cannula thích hợp. Biến chứng thở NCPAP trong sốc sốt xuất huyết dengue là chảy máu  mũi 2.1%. 

Kết luận: Người điều dưỡng nắm vững kỹ thuật hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân sốt xuất huyết dengue kèm 

suy hô hấp, đặc biệt thở áp lực dương liên tục qua mũi NCPAP, giúp phát huy tối đa hiệu quả tác dụng của các 

kỹ thuật hỗ trợ hô hấp trên bệnh nhân sốt xuất huyết dengue suy hô hấp, góp phần cứu sống bệnh nhân. 

Từ khóa:  Sốc sốt xuất huyết dengue, thở áp lực dương liên tục qua mũi  

ABSTRACT 

CARE AND MONITOR OF DENGUE PATIENTS WITH ACUTE RESPIRATORY FAILURE 

Bui Bich Phuong, Nguyen Minh Tien 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 104 ‐ 109 

Objectives: To explore technique and monitor of DHF patients with acute respiratory failure admitted at 

DHF ward, PH1 June 1 st  2012 till Sep. 30 th  2012. 

Method: Prospective case series study. 

Results: 146 DHF children complicated with acute respiratory failure who were determined by MacELISA 

positive  for  Dengue,  treated  with  respiratory  support,  consisted  of  Dengue  with  warning  signs  49.3%  DSS  (grade III) (44.5%), severe DSS (grade IV) (6.2%), mean age of 5.6 years old, youngest age of 6 months old. Key  technical  factors  determining  optimization  of  oxygen  supply  via  cannula  consisted  of  choice  of  suitable  sizes,  check‐in of oxygen flow via cannula CPAP system included rechecked accurate pressure, suitable size of cannula,  good fixation of cannula. Complications of CPAP application on of patients with dengue shock syndrome (DSS)  complicated with acute respiratory failure was nose bleeding (2.1%). 

Conclusion:  Nurses  should  master  technique  of  respiratory  supports,  especially  monitor  and  care  of 

NCPAP  system,  helping  maximize  NCPAP  effect  on  patient  prolonged  dengue  shock  syndrome  (DSS)  complicated with acute respiratory failure, contributing to mortality reduction. 

Key words: DSS dengue shock syndrome, NCPAP nasal continuous positive airway pressure. 

* Điều dưỡng trưởng Khoa sốt xuất huyết Bệnh viện Nhi đồng 1 

** Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, bệnh viện Nhi đồng 1 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Minh Tiến ‐ ĐT: 0903391798 ‐ Email: tiennd1@yahoo.com 

Trang 2

Bệnh  sốt  xuất  huyết  Dengue  (SXH‐D)  là 

một  bệnh  nhiễm  trùng  cấp  tính  do  siêu  vi 

Dengue gây ra và truyền cho người qua muỗi 

vằn  Aedes  aegypti.  Chẩn  đoán  lâm  sàng  và 

điều  trị  SXH‐D  đã  được  Tổ  Chức  Y  Tế  Thế 

Giới  (TCYTTG)  chuẩn  hoá  và  hoàn  thiện  dần 

bằng phác đồ hướng dẫn điều trị và chăm sóc. 

Một  trong  những  biến  chứng  thường  gặp 

trong  sốc  sốt  xuất  huyết  Dengue  là  biểu  hiện 

suy hô hấp do tràn dịch màng bụng hay màng 

phổi  gây  chèn  ép  hoặc  phù  phổi  do  truyền 

dịch  quá  tải  hoặc  do  xuất  hiện  hội  chứng  suy 

hô hấp cấp tiến triển, hậu quả của sốc SXH‐D 

kéo  dài.  Để  chăm  sóc  và  theo  dõi  bệnh  nhân 

SXHD  kèm  suy  hô  hấp,  người  điều  dưỡng, 

phải nhận biết sớm và đánh giá tình trạng suy 

hô hấp của bệnh nhân SXHD, cũng như đưa ra 

kế hoạch chăm sóc thích hợp và áp dụng hiệu 

quả  các  kỹ  thuật  hỗ  trợ  hô  hấp  như  thở  oxy 

qua  cannula,  thở  áp  lực  dương  liên  tục  qua 

mũi  (nasal  continuous  positive  airway 

pressure  –  NCPAP),  từ  thay  đổi  tư  thế  bệnh 

nhân thích hợp, cách cho thở oxy cannula, cách 

lắp  ráp  hệ  thống  NCPAP,  đến  theo  dõi  hoạt 

động  hệ  thống  NCPAP  bao  gồm  cài  đặt  và 

kiểm  tra  áp  lực  thở  NCPAP,  cũng  như  kích 

thước cannula có phù hợp  với  tuổi  trẻ  không, 

hệ  thống  bình  làm  ấm  ẩm,…Chính  vì  vậy  mà 

chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  đề  tài  “Chăm 

sóc  và  theo  dõi  và  bệnh  nhân  sốt  xuất  huyết 

dengue  kèm  suy  hô  hấp”  nhằm  rút  ra  một  số 

nhận  xét,  kinh  nghiệm  thực  tế  lâm  sàng  cho 

các  điều  dưỡng,  giúp  cứu  sống  nhiều  bệnh 

nhân sốt xuất huyết dengue nặng kèm suy hô 

hấp nặng. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Khảo sát kỹ thuật chăm sóc và theo dõi trẻ 

sốt  xuất  huyết  Dengue  kèm  suy  hô  hấp  tại 

khoa Sốt Xuất Huyết, bệnh viện Nhi đồng 1 từ 

01/06/2012 – 30/09/2012. 

Mục tiêu cụ thể 

Xác định tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng trẻ SXHD  kèm suy hô hấp. 

Xác  định  tỉ  lệ  các  đặc  điểm  kỹ  thuật  trong  chăm  sóc  và  theo  dõi  bệnh  nhân  thở  oxy  qua  cannula hay hệ thống áp lực dương liên tục: cài  đặt  áp  lực,  kiểm  tra  áp  lực  CPAP,  chọn  cỡ  cannula  thích  hợp,  cố  định  cannula  kín  mũi  bệnh nhân, mức nước bình làm ấm ẩm. 

Xác định tỉ lệ biến chứng. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả tiến cứu loạt ca. 

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chí chọn bệnh 

Bệnh  nhân  ≤  15  tuổi,  được  chẩn  đoán  lâm  sàng  SXHD(5)  xác  định  bằng  huyết  thanh  chẩn  đoán  Mac  ELISA  (IgM)  Dengue  dương  tính  +  suy  hô  hấp  được  bác  sĩ  chỉ  định  thở  oxy  hay  NCPAP. 

Suy  hô  hấp:  một  trong  các  dấu  hiệu:  nhịp  thở ≥ 50 l/ph trẻ < 12 tháng, ≥ 40 l/ph trẻ 1 ‐ 5  tuổi, ≥ 30l/ph trẻ ≥ 5 tuổi, co lõm ngực, tím tái, 

co kéo cơ ức đòn chũm, phập phồng cánh mũi,  SpO2 < 92%. 

Tiêu chí loại trừ 

Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  là  sốc  SXHD  theo  tiêu  chuẩn  của  TCYTTG  nhưng  huyết  thanh học âm tính. 

Có  bất  thường  bệnh  lý  khác  đi  kèm  như  bệnh tim, phổi. 

Thời gian và địa điểm nghiên cứu 

01/06/2012  –  30/09/2012,  tại  khoa  Sốt  Xuất  Huyết bệnh viện Nhi đồng 1. 

Các bước tiến hành 

Cho  bệnh  nhân  SXHD  suy  hô  hấp  được  hỗ  trợ hô hấp theo y lệnh bác sĩ. 

‐  Đánh  giá  bệnh  nhân:  tri  giác,  sinh  hiệu,  SpO2. 

Trang 3

‐  Thở  oxy  qua  cannula  2  mũi:  chọn  kích  cỡ 

phù hợp theo bệnh nhân, kiểm tra mực nước cất 

của bình làm ẩm để châm nước cất vào bình làm 

ẩm thích hợp, kiểm tra dòng oxy có qua cannula 

hay không, cố định cannula oxy. 

‐ Hoặc thở oxy qua mask có túi dự trữ: kích 

thước phù hợp.  

‐ Hoặc thở CPAP bao gồm 

Chọn áp lực: theo y lệnh bác sĩ: trẻ nhỏ 4 ‐ 6 

cmH2O, trẻ lớn 6 ‐ 8 cmH2O. 

Chọn FiO2 theo y lệnh bác sĩ, từ áp lực suy 

ra tổng lưu lượng chung và từ FiO2 suy ra được 

lưu lượng air và oxy.  

Chọn cannula phù hợp: cỡ S (small): < 3 tuổi, 

M (midium): 3‐10 tuổi, L (large): > 10 tuổi. 

Vặn điều chỉnh lưu lượng oxy, air thích hợp: 

điều chỉnh áp lực và FiO2 theo y lệnh bác sĩ, lưu 

ý:  tránh  tăng  áp  lực  đột  ngột,  khi  giảm  FiO2: 

giảm lưu lượng oxy trước sau đó tăng lưu lượng 

air, khi tăng FiO2: giảm lưu lượng air trước sau 

đó tăng lưu lượng oxy. 

Kiểm  tra  áp  lực  trước  khi  gắn  vào  bệnh 

nhân. 

Cố định kín cannula với mũi bệnh nhân. 

Theo  dõi  kiểm  tra:  lưu  lượng  kế,  áp  lực, 

nhiệt độ, nước bình làm ẩm, bẩy nước, cannula. 

Thu thập số liệu 

Đặc điểm bệnh nhân, biểu hiện lâm sàng suy 

hô hấp, quan sát điều dưỡng thực hiện các đặc 

điểm kỹ thuật trong chăm sóc và theo dõi bệnh 

nhân SXHD thở oxy qua cannla hoặc thở áp lực 

dương liên tục qua mũi: cài đặt áp lực, kiểm tra 

áp lực CPAP, chọn cỡ cannula thích hợp, cố định 

cannula kín mũi bệnh nhân, mức nước bình làm 

ấm ẩm theo bảng thu thập số liệu. 

Xử lý dữ liệu 

Số  liệu  được  nhập  và  xử  lý  thống  kê  bằng 

phần  mềm  SPSS  for  Window  18.0,  Mô  tả  đặc 

tính của mẫu nghiên cứu theo tuổi, giới, độ nặng 

sốt xuất huyết, biểu hiện suy hô hấp, đặc điểm 

các  bước  kỹ  thuật  thở  oxy,  NCPAP  qua  các  số  thống kê trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ. 

KẾT QUẢ 

Trong  thời  gian  4  tháng  từ  1/06/2012  đến  30/09/2012,  có  146  trường  hợp  SXHD  có  biểu  hiện suy hô hấp, với huyết thanh chẩn đoán IgM  ELISA  Dengue  dương  tính  trong  tổng  số  1298  trường  hợp  SXHD  nhập  khoa  Sốt  Xuất  Huyết,  với các đặc điểm như sau 

Đặc điểm dịch tễ học 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ học. 

Tuổi trung bình (năm) 5,6 ± 3,4 (6th – 14t) Giới: Nam/nữ 66 (45,2%) / 80 (54,8%) Địa phương: Thành phố / tỉnh 32 (21,9%) / 114 (78,1%) SXHD cảnh báo/Sốc SXHD

(Độ III)/sốc SXHD nặng (độ IV) 72 (49,3%) / 65 (44,5%) / 9 (6,2%) Ngày vào sốc 3-6 (3-4: 41/79 # 51,9%)

Biểu hiện suy hô hấp trước khi bệnh nhân  được hỗ trợ hô hấp 

Bảng 2. Biểu hiện suy hô hấp trước khi bệnh nhân 

được hỗ trợ hô hấp. 

Đặc điểm Kết quả

Tràn dịch màng phổi phải lượng nhiều 9 (6,2%)

Các phương pháp hỗ trợ hô hấp cuối cùng  cho bệnh nhân SXHD kèm suy hô hấp 

Bảng 3. Các phương pháp hỗ trợ hô hấp cuối cùng 

cho bệnh nhân SXHD kèm suy hô hấp. 

Thở oxy mask có túi dự trữ 1 (0,7%)*

*chảy máu mũi 2 bên được nhét meche cầm máu, phải  chuyển thở oxy qua mask có túi dự trữ,** sau thất bại  thở oxy. 

Trang 4

Đặc  điểm  kỹ  thuật  hỗ  trợ  hô  hấp  chính 

trong  chăm  sóc  và  theo  dõi  bệnh  nhân 

SXHD kèm suy hô hấp 

Bảng 4. Đặc điểm kỹ thuật hỗ trợ hô hấp chính trong 

chăm sóc và theo dõi bệnh nhân SXHD kèm suy hô hấp. 

Kỹ thuật thở oxy qua cannula 2 mũi

(n=146)

Chọn kích cỡ phù hợp bệnh nhân 143 (97,9%)

Kiểm tra mực nước cất bình làm ẩm 141 (96,6%)

Kiểm tra dòng oxy qua cannula 146 (100%)

Cố định cannula oxy thích hợp 131 (89,7%)

Kỹ thuật thở oxy mask có túi dự trữ

Giữ túi dữ trữ ở trạng thái phồng 1/1

Kỹ thuật thở áp lực dương qua mũi

(NCPAP) (n=57)

Kiểm tra áp lực CPAP trước khi gắn

vào bệnh nhân

57 (100%) Kiểm tra áp lực CPAP trước mỗi tua

trực

46 (80,7%) Chọn cannula kích cỡ thích hợp 52 (91,2%)

Vặn điều chỉnh lưu lượng oxy, air thích

Theo dõi kiểm tra: lưu lượng kế, nước

Biến chứng liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ 

hô hấp 

Bảng 5: Biến chứng liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ hô 

hấp. 

Tràn khí (màng phổi, trung thất, dưới da) 0 (0%)

Kết quả điều trị 

Bảng 6: Kết quả điều trị. 

Tỉ lệ thành công thở oxy 88 (60,3%)

Thời gian thở oxy (ngày) 1,6 ± 0,5

Tỉ lệ thành công thở CPAP 52 (91,2%)

Thời gian thở CPAP (ngày) 2,7 ± 1,2 (2-5)

Thời gian nằm viện (ngày) 4,8 ± 1,1 (3-6)

BÀN LUẬN 

Trong  thời  gian  4  tháng  từ  01/06/2012  đến  30/09/2012, có 146 trường hợp SXHD biểu hiện  suy hô hấp được hỗ trợ hô hấp theo y lệnh bác 

sĩ,  tuổi  trung  bình  5,6  tuổi  nhỏ  nhất  6  tháng,  lớn nhất 14 tuổi, không có sự khác biệt về giới, 

đa  số  bệnh  nhân  từ  ở  tỉnh  (78,1%).  Phần  lớn  các  trường  hợp  biểu  hiện  SXHD  có  dấu  hiệu  cảnh báo 49,3%, sốc SXHD (độ III) 44,5%, trong  khi  sốc  SXHD  nặng  (độ  IV)  chiếm  tỉ  lệ  6,2%  (bảng 1). Hơn một nửa (51,9%) các trường hợp  vào  sốc  sớm  ngày  3,4  với  tốc  độ  thất  thoát  huyết  tương  cao,  gây  ra  tình  trạng  tràn  dịch  màng  bụng,  màng  phổi,  đặc  biệt  là  tràn  dịch  màng  phổi  phải  lượng  nhiều  6,2%,  tràn  dịch  màng  bụng  lượng  nhiều  (8,2%),  đưa  đến  biểu  hiện  suy  hô  hấp  ở  bệnh  nhân  sốc  SXHD  sau  khi truyền dịch chống sốc(5). 

Biểu hiện lâm sàng suy hô hấp trước khi bắt  đầu hỗ trợ hô hấp bao gồm (bảng 2): thở nhanh  (100%),  rút  lõm  ngực/co  kéo  (64,4%),  tím  tái  (4,8%),  co  kéo  cơ  ức  đòn  chũm  (6,2%),  phập  phồng cánh mũi (17,8%), đa số bệnh nhân ở giai  đoạn bù trừ đảm bảo lượng oxy trong máu với 

độ  bão  hòa  oxy  máu  động  mạch  đo  qua  máy  pulse‐oximeter thấp < 94% chỉ chiếm tỉ lệ 1,4%.  Tất cả các bệnh nhân đều được các bác sĩ cho chỉ  định  thở  oxy  qua  cannula,  với  tỉ  lệ  thành  công  60,3%,  57  trường  hợp  thất  bại  với  thở  oxy  qua  cannula, được chuyển thở  NCPAP,  một  trường  hợp chảy máu mũi 2 bên, được nhét meche cầm  máu,  phải  chuyển  thở  oxy  qua  mask  có  túi  dự  trữ (bảng 3). 

Về đặc điểm kỹ thuật hỗ trợ hô hấp (bảng 4),  tất cả các trường hợp đều được điều dưỡng cho  nằm tư thế đầu cao và kiểm tra đo độ bão  hòa  oxy trong máu (SpO2). Đây là một thói quen tốt  của  điều  dưỡng  luôn  kiểm  tra  SpO2  khi  trẻ  có  biểu  hiện  suy  hô  hấp.  Để  đảm  bảo  và  duy  trì  thói quen này, chúng tôi luôn có sẵn máy đo độ  bão  hòa  oxy  máu  (Pulse  Oximeter)  và  monitor  nhiều thông số trong đó có chức năng đo SpO2  tiện cho điều dưỡng dễ thực hiện. 

Trang 5

các trường hợp được chọn kích cỡ cannula phù 

hợp  kích  thước  lỗ  mũi  trước  của  bệnh  nhân 

(97,9%), có 3 trường hợp chọn cannula quá lớn 

so  với  mũi  bệnh  nhân  nên  gây  khó  chịu  cho 

trẻ,  cũng  như  gây  khó  khăn  cho  cố  định 

cannula.  96,6%  các  trường  hợp  được  kiểm  tra 

mức  nước  cất  trong  bình  làm  ẩm  và  châm 

nước cất kịp thời. Việc châm nước cất vào bình 

làm  ẩm,  thường  ở  giữa  mức  max  –  min,  để 

cung  cấp  độ  ẩm  cho  khí  hít  vào,  đồng  thời 

tránh  đẩy  nước  tràn  vào  cannula  đo  đổ  đầy 

quá mức. Tất cả các trường hợp đều được điều 

dưỡng  kiểm  tra  có  dòng  oxy  đi  qua  cannula, 

để đảm bảo oxy thực sự đến bệnh nhân. Động 

tác này rất quan trọng vì khi phát hiện không 

có  dòng  oxy  đi  qua  cannula,  điều  dưỡng  sẽ 

kiểm  tra  các  chỗ  khớp  nối  bình  làm  ẩm  vào 

nguồn oxy, cannula và bình làm ẩm hoặc thỉnh 

thoảng  cannula  bị  hư  do  dùng  đi  dùng  lại 

nhiều lần, buộc phải thay cannula khác. 89,7% 

các trường hợp có cannula được cố định tốt, 15 

trường  hợp  có  cannula  cố  định  không  tốt  có 

thể  do  trẻ  giãy  dụa,  hay  điều  dưỡng  cố  định 

chưa tốt. thông thường đối với trẻ lớn, cannula 

được  cố  định  bằng  cách  quàng  qua  tai  và 

xuống cằm trẻ, còn đối với trẻ nhỏ thì choàng 

qua  sau  gáy  trẻ(3).  Thỉnh  thoảng  cannula  vẫn 

tuột  mặt  dù  cố  định  đúng  kỹ  thuật,  những 

trường hợp này cần đến 2 miếng băng keo nhỏ 

để dán cố định cannula. 

Về kỹ thuật thở áp lực dương liên tục qua 

mũi, tất cả các trường hợp đều được kiểm  tra 

áp  lực  sau  khi  lắp  ráp  hệ  thống  CPAP  trước 

khi gắn vào bệnh nhân. Tuy nhiên chỉ có 80,7% 

các trường hợp có kiểm tra áp lực CPAP trước 

mỗi  tua  trực.  Điều  này  có  thể  một  phần  tình 

trạng  suy  hô  hấp  bệnh  nhân  quá  nặng  điều 

dưỡng  không  thể  tách  rời  CPAP  khỏi  bệnh 

nhân  để  đo  áp  lực.  Việc  kiểm  tra  áp  lực  giúp 

tránh  biến  chứng  tràn  khí  (màng  phổi,  trung 

thất,  dưới  da)  do  áp  lực  quá  cao.  Có  91,2% 

trường hợp chọn cannula kích cỡ phù hợp theo 

tuổi  trẻ,  tức  là  có  8,8%  các  trường  hợp  chọn 

kích cỡ không phù hợp với tuổi trẻ, thường là 

rất nhỏ so với mũi trẻ, điều này làm cho  hiệu  quả thở CPAP trên bệnh nhân bị hạn chế. Khắc  phục bằng cách thay cannula kích cỡ lớn hơn,  vừa  với  mũi  trẻ.  Cũng  vậy  có  94,7%  trường  hợp được cố định cannula thích hợp tức là kín  mũi  trẻ  lúc  khảo  sát,  có  3  trường  hợp  (5,3%)  cannula  không  áp  kín  mũi  trẻ  mặc  dù  những  trường  hợp  này  cannula  phù  hợp  tuổi  trẻ.  Điều này có thể lý giải có thể lúc ban đầu điều  dưỡng cố định cannula kín mũi trẻ nhưng sau 

đó  trẻ  giãy  dụa  hoặc  thay  đổi  tư  thế  dẫn  đến  tụt, hở cannula khỏi mũi bệnh nhân. Hiện nay 

có  rất  nhiều  cách  cố  định  cannula  mũi  tại  các  bệnh viện như cố định qua dây khẩu trang cột,  nón  “cố  định  CPAP”,  băng  keo  dán  cannula  hình “cánh bướm” hay “nơ cà vạt”. Trên thực 

tế  các  phương  pháp  cố  định  trên  cũng  không  đảm  bảo  cannula  kín  mũi  bệnh  nhân  hoàn  toàn mà vẫn có thể “sút”, “tụt”, “hở” khỏi mũi  bệnh nhân. Tại bệnh viện nhi đồng 1 chúng tôi 

áp dụng phương pháp “quai – mảnh” cố định  cannula  bằng  mảnh  băng  keo  có  lỗ  nhỏ  dán  vào  2  quai  gắn  2  bên  cannula  có  vẻ  cải  thiện  tình  hình  hơn  nhưng  cũng  không  tuyệt  đối  100%.  Một  số  trường  hợp  ở  trẻ  lớn  có  kích  thước  lỗ  mũi  trước  quá  lớn,  dù  đã  chọn  cannula  cỡ  L  (Large),  cần  phải  có  một  miếng  mốt nhựa lót đệm qua 2 ngạnh cannula để che  kín  mũi,  giúp  tăng  hiệu  quả  tác  dụng  của  CPAP.  Như  vậy  về  mặt  thực  tiễn  lâm  sàng,  người  điều  dưỡng  cần  phải  theo  dõi  sát  bệnh  nhân  để  cố  định  lại  cannula  kịp  thời  nếu  bị 

“sút”,  “tụt”,  “hở”.  Phần  lớn  các  trường  hợp  (96,5%) điều dưỡng điều vặn chỉnh lưu lượng  oxy, air thích hợp khi bác sĩ cho y lệnh mới về 

áp  lực  và  FiO2  thở  NCPAP,  tức  là  khi  bác  sĩ  cho  y  lệnh  giảm  FiO2:  điều  dưỡng  giảm  lưu  lượng oxy trước sau đó tăng lưu lượng air, khi  bác  sĩ  cho  tăng  FiO2:  điều  dưỡng  giảm  lưu  lượng  air  trước  sau  đó  tăng  lưu  lượng  oxy.  Động tác này giúp tránh tăng áp lực đột ngột 

có  thể  gây  biến  chứng  tràn  khí  ở  bệnh  nhân  thở  CPAP.  Theo  dõi  kiểm  tra  lưu  lượng  kế,  mức nước bình làm ấm ẩm để bồi phụ kịp thời  được thực hiện tốt 84,2% các trường hợp. Việc 

Trang 6

giúp  tránh  được  biến  chứng  khô  lạnh  niêm 

mạc mũi, dễ gây chảy máu(3). 

Biến chứng liên quan đến kỹ thuật hỗ trợ hô 

hấp  cho  bệnh  nhân  SXHD  ít  gặp,  hầu  như 

không  có  loét  mũi,  hay  tràn  khí  (màng  phổi, 

trung thất, dưới da), hay chướng bụng, chỉ có 3 

trường  hợp  chảy  máu  mũi  (2,1%) (2),(3),(4),  một 

trường  hợp  chảy  máu  1  bên  tự  cầm,  1  trường 

hợp chảy máu mũi 1 bên phải nhét meche cầm 

máu, bác sĩ cho đặt một đoạn ống nội khí quản 

vào  mũi  còn  lại  và  cho  thở  CPAP  qua  nội  khí 

quản.  Trường  hợp  thứ  3  chảy  máu  mũi  2  bên 

phải  nhét  meche  2  bên  cầm  máu,  bệnh  nhân 

được cho thở oxy qua mask có túi dự trữ. 

Về kết quả điều trị, tỉ lệ thành công thở oxy 

60,3%  với  thời  gian  thở  oxy  trung  bình  là  1,6 

ngày, là những trường hợp suy hô hấp mức độ 

nhẹ  trung  bình.  Những  trường  hợp  nặng  hơn, 

không đáp ứng với thở oxy, được chuyển sang 

thở  NCPAP  với  tỉ  lệ  thành  công  là  91,2%,  thời 

gian thở CPAP trung bình 2,7 ngày. Các trường 

hợp thở NCPAP thất bại với biểu hiện tràn dịch 

màng  phổi,  màng  bụng  lượng  nhiều,  được  các 

bác  sĩ  chọc  dò  giải  áp  màng  bụng  hay  màng 

phổi, giúp cải thiện tình trạng suy hô hấp ở trẻ. 

Kết  quả  không  có  trẻ  tử  vong,  thời  gian  nằm 

viện trung bình 4,8 ngày(1). 

KIẾN NGHỊ 

Việc theo dõi và chăm sóc bệnh nhi SXH‐D 

kèm suy hô hấp, Điều Dưỡng cần lưu ý: 

Bệnh nhân thở oxy qua canula. 

Chọn canula phù hợp theo tuổi.  

Cho  nước  cất  khoảng  2/3  vào  bình  tạo  ẩm, 

luôn giữ ở giữa mức Min ‐ Max. 

Cố định canula tốt. 

Bệnh nhân thở NCPAP 

Kiểm tra áp lực trước mỗi tua trực. 

Chọn cannula kích cỡ phù hợp theo tuổi trẻ. 

Cố  định  cannula  kín  mũi  trẻ  để  tăng  hiệu 

quả của thở NCPAP. 

Kiểm tra  lưu  lượng  kế,  mức  nước  bình  làm 

ấm ẩm. 

KẾT LUẬN 

Suy  hô  hấp  là  một  biến  chứng  thường  gặp  trong sốc sốt xuất huyết dengue, ngay cả trong  sốt xuất huyết dengue có dấu hiệu cảnh báo. Các  biện  pháp  hỗ  trợ  hô  hấp  bao  gồm  thở  oxy  qua  cannula, thở oxy qua mask có túi dự trữ, đặc biệt  thở NCPAP là công cụ hỗ trợ hô hấp đơn giản, ít  xâm  lấn,  hiệu  quả,  an  toàn  cho  bệnh  nhân.  Để  tăng cường, phát huy hết hiệu quả của thở oxy  cũng  như  thở  NCPAP,  đòi  hỏi  người  điều  dưỡng  ngoài  theo  dõi  sát  bệnh  nhân,  cần  nắm  vững kỹ thuật chăm sóc và theo dõi bệnh nhân  thở  oxy,  thở  NCPAP.  Các  điểm  mấu  chốt  cần  nắm  vững  đối  với  thở  oxy  là  chọn  lựa  cannula  thở  oxy  phù  hợp,  kiểm  tra  dòng  oxy  đi  qua  cannula, cố định cannula thích hợp, đối với thở  NCPAP  là  cài  đặt  và  kiểm  tra  chính  xác  áp  lực  thở NCPAP, cách điều chỉnh lưu lượng, kích cỡ  cannula phù hợp lứa tuổi và cách cố định cũng  như  vấn  đề  theo  dõi  lưu  lượng  kế,  mức  nước  bình  lầm  ấm,  ẩm.  Điều  này  sẽ  giúp  cải  thiện,  nâng cao chất lượng chăm sóc điều dưỡng bệnh  nhân  sốt  xuất  huyết  dengue  kèm  suy  hô  hấp,  cúu sống được nhiều bệnh nhân nặng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Cam  BV  et  al  (2002).  Randomized  Comparison  of  Oxygen 

Mask  Treatment  vs.  Nasal  Continuous  Positive  Airway 

Pressure in Dengue Shock Syndrome with Acute  Respiratory 

Failure. J Trop Pediatr.2002; 48: 335‐339. 

2 Bệnh viện nhi đồng 1 (2009), Kỹ thuật điều dưỡng nhi khoa,Hệ  thống thở áp lực dương liên tục qua mũi. Bệnh viện nhi đồng 

1. Tr.117‐9 

3 Bệnh  viện  nhi  đồng  1  (2009),  Kỹ  thuật  điều  dưỡng  nhi  khoa  Thở oxy qua cannula 2 mũi. Tr.70‐2 

4 Bệnh viện nhi đồng 1 (2009), Phác đồ điều tri nhi khoa, Thở áp  lực dương liên tục qua mũi. Tr.128‐131 

5 Bộ Y tế, (2011), Phác đồ điểu trị sốt xuất huyết Dengue Tr. 11‐

12   

Ngày nhận bài       30/07/2013.  Ngày phản biện nhận xét bài báo   29/08/2013.  Ngày bài báo được đăng:    18/10/2013 

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w