Công trình nghiên cứu được tiến hành để đánh giá tác dụng của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao trong thời gian đến khám và nằm viện, đồng thời khảo sát kiến thức nhận biết và cách xử trí chăm sóc của các bà mẹ đối với trẻ khi sốt cao
Trang 117 KHẢO SÁT KIẾN THỨC CHĂM SÓC TRẺ BỊ SỐT CỦA CÁC BÀ MẸ
VÀ NHẬN XÉT TÁC DỤNG HẠ NHIỆT CỦA PHƯƠNG PHÁP CHƯỜM
BẰNG NƯỚC ẤM CHO TRẺ KHI SỐT CAO TẠI BỆNH VIỆN VIỆT NAM CU BA
Trần Thị Lan Phương*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tác dụng của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao trong thời gian đến khám và nằm
viện, đồng thời khảo sát kiến thức nhận biết và cách xử trí chăm sóc của các bà mẹ đối với trẻ khi sốt cao
Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp Đối tượng của
nghiên cứu là tất cả các trẻ nhi bị sốt đến khám và điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Việt Nam Cu Ba
Kết quả: Kết quả cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê khi ta chọn những trẻ sốt cao trên 39 0 C nhưng chưa dùng thuốc hạ sốt trước đó 6 giờ và chia hai nhóm ngẫu nhiên để nghiên cứu: Nhóm một chỉ dùng thuốc hạ nhiệt Paracetamol Nhóm hai: kết hợp dùng thuốc Paracetamol với chườm cơ thể bằng nước ấm Theo dõi nhiệt
độ của hai nhóm này sau 15 phút thấy nhóm một giảm 1,1 ± 0,3 độ; nhóm 2 là 0,4 ± 0,3 độ So sánh sự giảm nhiệt độ của hai nhóm sau 30 phút thấy nhiệt độ giảm trung bình của nhóm một là 2,3 ± 0,5, nhóm hai là 1,8 ± 0,6
Kết luận: Chườm ấm kết hơp với uống thuốc hạ sốt có tác dụng giảm nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng uống
thuốc hạ sốt đơn thuần
Từ khóa: Chườm ấm cho trẻ- sốt cao
ABSTRACT
KNOWLEDGE SURVEY OF CARING FOR CHILDREN WITH FEVER OF MOTHERS AND ANTIPYRETIC EFFECT OBSERVATION OF HOT THERAPEUTIC COMPRESS APPLIANCE METHOD FOR CHILDREN WITH HIGH FEVER AT PEDIATRICS VIET NAM - CU BA HOSPITAL
Tran Thi Lan Phuongl* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 112 - 125
Objectives: Evaluating effect of Hot therapeutic compress appliance method when children being high fever
during examination and treatment in the hospital, at the same time, knowledge survey of mother’s recognition and behaviour to children with high fever
Methods: Interfered research design of horizontal description Subject of the research is all children with
fever that examine and treat at Pediatrics of Vietnam - Cuba Hospital
Results: Shown that there are significant changes to statistics when selecting children with fever above 39 0 C but have not used febrifuge before that 6h at least and separating two random group for research: group 1 only uses febrifuge of Paracetamol Group 2 combines using Paracetamol with Hot therapeutic compress appliance Monitoring temperature of these two groups after 15 minutes, group 1 reduces 1.1 ± 0.3 degrees; group 2 is 0.4 ± 0.3 degrees Comparising temperature decrease of two groups after 30 minutes, result shown that average decrease temperature of group 1 is 2.3 ± 0.5, group 2 is 1.8 ± 0.6
Conclusions: Hot therapeutic compress appliance combined with take febrifuge has antipyretic effect better
than only taking simple febrifuge
* Trường Đại Học Thăng Long Hà Nội
Tác giả liên lạc:ĐD Trần Thị Lan Phương, ĐT:0982951089, Email:lanphuong_11@gmail.com
Trang 2Key words: Hot therapeutic compress appliance for children with high fever.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt là triệu chứng thường gặp ở trẻ em Đây
là một phản ứng có lợi bảo vệ cơ thể trước sự
xâm nhập của các yếu tố lạ như vi rút, vi khuẩn,
các tác nhân vật lý cũng như các yếu tố khác
Tuy nhiên, bên cạnh ý nghĩa bảo vệ cơ thể, sốt
(đặc biệt là khi trẻ sốt cao) có thể có những tác
động bất lợi, gây rối loạn hoạt động của các cơ
quan như tim mạch, hô hấp, thần kinh, rối loạn
chuyển hoá, gây mất nước và các chất điện
giải… Đặc biệt, sốt cao có thể gây co giật, nguy
hiểm đến tính mạng trẻ và có thể có những di
chứng thần kinh sau này
Việc nhận biết trẻ sốt, xử trí và chăm sóc trẻ
sốt đúng cách sẽ làm giảm những tác động có
hại của sốt đối với trẻ Đây là vấn đề tưởng như
đơn giản nhưng trên thực tế, có nhiều bà mẹ
chưa biết đánh giá con mình bị sốt, chưa biết
cách xử trí và chăm sóc khi trẻ sốt và cũng chưa
biết hết được tác hại của sốt đối với trẻ để biết
cách phòng ngừa Với những trẻ có tiền sử co
giật do sốt hoặc trẻ sốt cao có nguy cơ co giật,
việc hạ nhiệt kịp thời là rất quan trọng
Hiện nay, Paracetamol là loại thuốc hạ sốt
thường được sử dụng cho trẻ vì tính an toàn và
thuốc này hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá
Tuy nhiên, thuốc đạt được nồng độ đỉnh trong
huyết thanh cũng phải sau 30 – 60 phút Bên
cạnh việc hạ sốt bằng Paracetamol, cần kết hợp
với phương pháp vật lý chườm ấm để hạ nhiệt
kịp thời, hạn chế nguy cơ giật cho trẻ
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát kiến thức nhận biết, xử trí và chăm
sóc trẻ sốt của các bà mẹ có con bị sốt đến khám
và điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Việt Nam –
Cu Ba
Nhận xét tác dụng của phương pháp chườm
ấm để hạ nhiết khi trẻ sốt cao
TỔNG QUAN
Đại cương
Sốt là tình trạng tăng nhiệt độ của cơ thể do
đáp ứng đặc hiệu về mặt sinh học, qua trung gian và được kiểm soát bởi hệ thần kinh trung ương Trẻ được xem là có sốt khi nhiệt độ đo ở hậu môn là từ 38oC trở lên hoặc nhiệt độ đo ở hõm nách từ 37,5oC trở lên(2) Trẻ sốt cao khi nhiệt độ đo ở hõm nách trên 39oC
Cần phân biệt sốt với các nguyên nhân khác gây tăng thân nhiệt như nhiễm nóng Sốt là triệu chứng của nhiều bệnh lý liên quan đến nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn
Xác định trẻ sốt
Để xác định trẻ sốt, cách chính xác nhất là đo thân nhiệt cho trẻ bằng nhiệt kế
Các vị trí đo thân nhiệt
Các vị trí có thể đo thân nhiệt cho trẻ là miệng, hõm nách, hậu môn và màng nhĩ
Đo thân nhiệt ở miệng
Trẻ được xác định là sốt khi nhiệt độ đo ở miệng ≥ 37,8oC Vị trí đo này có thể cho kết quả chính xác nhưng dễ gây nguy hiểm cho trẻ vì có thể trẻ cắn đầu nhiệt kế gây vỡ dẫn đến tình trạng ngộ độc thuỷ ngân Do đó, đo thân nhiệt ở miệng chỉ nên áp dụng cho trẻ trên 5 tuổi và cần
sử dụng loại nhiệt kế có đầu cảm nhận nhiệt bằng chất liệu mềm Việc vệ sinh đầu nhiệt kế trước và sau khi đo là rất cần thiết để tránh lây
nhiễm giữa các bệnh nhi
Đo thân nhiệt ở hậu môn
Nhiệt độ hậu môn phản ánh nhiệt độ trung tâm của cơ thể Trẻ được coi là sốt khi nhiệt độ hậu môn ≥ 38oC Khi đo thân nhiệt ở hậu môn,
Trang 3cần chú ý bôi vaselin vào đầu nhiệt kế, nhẹ
nhàng và thận trọng đưa từ từ đầu nhiệt kế vào
hậu môn bé Động tác này nếu làm mạnh hoặc
vội vàng có thể làm tổn thương niêm mạc hậu
môn hoặc có thể làm thủng trục tràng Nhiệt kế
dùng để đo đường hậu môn cần được đánh dấu
riêng, tránh dùng lẫn để đo đường miệng Sau
khi đo cần vệ sinh sạch sẽ nhiệt kế
Đo thân nhiệt ở nách
Vị trí này thường được các bà mẹ sử dụng
nhiều vì thuận tiện và dễ đo Nhiệt độ hõm
nách là nhiệt độ ngoại vi của cơ thể, do đó, trẻ
được coi là sốt khi nhiệt độ ở hõm nách >
37,5oC Khi đo cần lưu ý đặt đầu nhiệt kế vào
giữa hõm nách
Đo thân nhiệt ở tai (màng nhĩ)
Nhiệt độ màng nhĩ là nhiệt độ trung tâm
cơ thể, giống như nhiệt độ đo ở hậu môn
Hiện nay trên thị trường có loại nhiệt kế đo ở
tai cho kết quả nhanh và ít gây khó chịu cho
trẻ Tuy nhiên, số đo có thể dao động nếu cha
mẹ đặt nhiệt kế không đúng vị trí hoặc trẻ < 3
tháng có lỗ tai quá nhỏ
* Thân nhiệt của trẻ có thể đo ở nhiều vị trí
khác nhau nhưng điều quan trọng là phải biết
đo đúng cách và khi theo dõi thân nhiệt cho trẻ
cần nhất quán về dụng cụ đo và nơi lấy nhiệt
Cách đo thân nhiệt các bà mẹ hay làm khi
trẻ sốt
Khi trẻ sốt, nhiều bà mẹ đo thân nhiệt cho
con bằng nhiệt kế nhưng cũng không ít các bà
mẹ cảm nhận nhiệt độ của con mình bằng cách
sờ tay lên trán hoặc người con Cách đo này
không chính xác do chủ quan của từng người
Hơn nữa, với cách đo này, các mẹ không thể biết
con mình sốt bao nhiêu độ để xử trí kịp thời
Cơ chế bệnh sinh của sốt
Cơ chế gây sốt
Những chất gây sốt ngoại sinh (các vi sinh
vật và độc tố của chúng) kích thích những tế bào
của vật chủ phóng thích ra những chất gây sốt
nội sinh Chất gây sốt nội sinh gây sốt bởi sự
khởi đầu những thay đổi chuyển hóa của trung
tâm điều nhiệt nằm ở vùng hạ đồi Sự tổng hợp Prostaglandine- E2 có vai trò quan trọng sự nâng lên của điểm ngưỡng nhiệt
Khi điểm ngưỡng nhiệt của vùng hạ đồi được nâng lên, sẽ hoạt hóa bộ phận tác động điều hòa thân nhiệt: Quá trình tạo nhiệt (tăng trương lực cơ, ớn lạnh) và bảo tồn nhiệt (co mạch) sẽ chiếm ưu thế hơn quá trình thải nhiệt (dãn mạch, đổ mồ hôi) cho đến khi nhiệt
độ của máu tưới vùng hạ đồi đạt tới điểm ngưỡng nhiệt mới
Các giai đoạn của quá trình sốt
Giai đoạn tăng thân nhiệt (sốt lên)
Trong giai đoạn này, sản nhiệt tăng và thải nhiệt giảm làm mất cân bằng nhiệt (sinh nhiệt/thải nhiệt > 1) Cơ thể phản ứng giống như
bị nhiễm lạnh
Biểu hiện của phản ứng tăng thân nhiệt là sởn gai ốc, tăng chuyển hóa và tăng chức năng
hô hấp, tuần hoàn, mức hấp thu oxy có thể tăng gấp 3 hay 4 lần bình thường Đồng thời có phản ứng giảm thải nhiệt, gồm co mạch da (da nhợt, giảm tiết mồ hôi), do đó, bệnh nhân thường tìm
tư thế phù hợp và đòi đắp chăn Trường hợp chất gây sốt có tác dụng mạnh, bệnh nhân có thể thấy rùng mình, ớn lạnh, rét run, khiến thân nhiệt tăng rất nhanh Giai đoạn này, việc sử dụng các thuốc hạ nhiệt hầu như không có tác dụng, chườm lạnh cũng ít hiệu quả, chỉ làm mất thêm năng lượng của cơ thể
Giai đoạn thân nhiệt ổn định ở mức cao (sốt đứng)
Giai đoạn này sản nhiệt không tăng hơn nhưng thải nhiệt bắt đầu tăng lên (mạch da dãn rộng) đạt mức cân bằng với tạo nhiệt (sinh nhiệt/tạo nhiệt = 1) và đều ở mức cao Tuy nhiên chưa có mồ hôi Tùy theo số lượng và hoạt tính của chất gây sốt, trạng thái và tuổi của người bệnh mà thân nhiệt chỉ tăng ít: sốt nhẹ (38oC), hoặc tăng nhiều: sốt vừa (38oC – 39oC), sốt cao
và rất cao (39oC- 41oC) Thân nhiệt trong giai đọan “sốt đứng” có thể ổn định (gọi là sốt liên tục) hoặc thay đổi (sốt dao động), thậm chí tạm
về bình thường (sốt cách quãng: Cơn sốt cách
Trang 4nhau một hay vài ngày) Tất cả phụ thuộc vào
loại vi khuẩn với chất gây sốt đặc trưng của mỗi
loại
Biểu hiện của giai đoạn này: Da từ tái trở
nên đỏ, nóng nhưng khô (không mồ hôi); thân
nhiệt ngoại vi tăng do mạch ngoại biên bắt đầu
giãn (giúp thải nhiệt); hô hấp, tuần hoàn và sự
hấp thu oxy đều giảm so với giai đoạn đầu
nhưng vẫn ở mức cao gấp 1,5 hay 2 lần so với
bình thường, thân nhiệt vẫn duy trì ở mức cao
Lúc này có thể làm tăng thải nhiệt như dùng
thuốc hạ sốt để hạn chế, nếu thân nhiệt đe dọa
lên quá cao
Giai đoạn thân nhiệt trở về bình thường (sốt lui)
Sự sản nhiệt ở giai đoạn này bị ức chế dần
để trở về bình thường và thải nhiệt tăng rõ (sinh
nhiệt/thải nhiệt < 1) Nhờ vậy thân nhiệt trở về
bình thường
Biểu hiện: Giai đoạn này cơ thể phản ứng
giống như nhiễm nóng giai đoạn đầu Có thể
thấy sự hấp thu oxy và mức chuyển hóa trở về
mức tối thiểu, có giãn mạch ngoại vi, vã mồ hôi,
tăng bài tiết nước tiểu (do đó có thể gặp biến
chứng như tụt huyết áp nếu gặp điều kiện thuận
lợi như đứng dậy đột ngột, vận cơ đột ngột;
hoặc có thể giảm thân nhiệt nhanh và nhiễm
lạnh nếu gặp điều kiện thuận lợi, như gió lùa,
tiếp xúc lạnh, tắm lạnh)(3)
Ý nghĩa sinh học của sốt
Sốt là một đáp ứng có lợi cho cơ thể bởi vì
các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng:
Khi sốt, khả năng tiêu diệt vi khuẩn tăng
Hoạt động đề kháng của cơ thể tăng: Tăng
hoạt động của hệ miễn dịch, tăng hiện tượng
thực bào, tăng hoạt động diệt khuẩn của bạch
cầu đa nhân trung tính, tăng tổng hợp
interferon, tăng tổng hợp kháng thể Tuy nhiên
ở nhiệt độ cao (từ 40oC trở lên), tác dụng này có
thể không có và đôi khi hiệu quả ngược lại
Giảm lượng sắt trong huyết thanh (do tăng
hấp thu sắt vào hệ võng nội mô và giảm hấp thu
sắt từ ruột vào máu) đồng thời tăng lượng
protein gắn sắt, feritin Vì vậy, nồng độ sắt tự do
trong máu giảm, làm giảm sự sinh sản của vi khuẩn vì vi khuẩn tăng nhu cầu về sắt khi ở nhiệt độ cao(2)
Các bất lợi của sốt
Các rối loạn chuyển hoá trong sốt
Chuyển hóa năng lượng
Trong sốt có tăng chuyển hóa và qua đó tăng tạo năng lượng để chi dùng cho các nhu cầu tăng sản nhiệt (không qua ATP) và tăng chức năng một số cơ quan (qua ATP) Tuy nhiên mức tăng này không lớn Tăng thân nhiệt lên 1
độ mới làm tăng chuyển hóa lên 3-5% Cơ chế chủ yếu tiết kiệm năng lượng trong sốt là giảm thải nhiệt Nhờ vậy cơ thể chỉ cần sản nhiệt gấp 2-3 lần trong vòng 10-20 phút là đủ tăng thân nhiệt lên 39oC hay 40oC, sau đó mức tăng chuyển hoá chủ yếu để tăng chức năng cơ quan hơn là để duy trì thân nhiệt cao
Chuyển hóa Glucid
Glucid là năng lượng chủ yếu sử dụng ở giai đoạn đầu của sốt (thương số hô hấp = 1,0) Có thể thấy Glucose huyết tăng lên (đôi khi đến mức có Glucose niệu), dự trữ Glycogen ở gan giảm đi và có thể cạn kiệt nếu sốt cao 40oC và cơn sốt kéo dài trên 4 giờ Lúc này cơ thể tự tạo Glucid từ Protid (ở gan) để có thể khai thác năng lượng từ Lipid Trường hợp sốt cao và kéo dài
có thể làm tăng acid lactic trong máu, nói lên sự chuyển hóa yếm khí của Glucid
Chuyển hóa Lipid
Lipid luôn luôn bị huy động trong sốt, chủ yếu từ giai đoạn hai, nhất là khi nguồn Glucid bắt đầu cạn Có thể thấy nồng độ acid béo và triglycerid tăng trong máu Chỉ khi sốt cao kéo dài, mới có rối loạn chuyển hoá Lipid, đó là tăng nồng độ cetonic – chủ yếu do thiếu Glucid – góp phần quan trọng gây nhiễm acid trong một số cơn sốt
Chuyển hóa Protid
Tăng tạo kháng thể, bổ thể, bạch hầu, enzym làm cho sự huy động dự trữ Protid tăng lên trong sốt là điều không tránh khỏi Có thể thấy
Trang 5nồng độ urê tăng thêm 20-30% trong nước tiểu ở
một cơn sốt thông thường Ngoài ra, trong một
số trường hợp sốt Protid còn bị huy động vì độc
tố, và nhất là để trang trải nhu cầu năng lượng
(khi nguồn Glucid cạn kiệt) Đó là các cơ chế
quan trọng gây suy mòn trong một số trường
hợp sốt
Chuyển hóa muối nước và thăng bằng acid – base
Chuyển hóa muối nước: Ở giai đoạn đầu
thường ngắn chưa thấy rõ sự thay đổi, có thể
tăng mức lọc cầu thận do tăng lưu lượng tuần
hoàn nhưng từ giai đoạn 2, hormon ADH của
hậu yên và adosteron của thượng thận tăng tiết,
gây giữ nước và giữ natri (qua thận và tuyến mồ
hôi), nhưng có tăng bài tiết K và P Có thể thấy
da khô, lượng nước tiểu giảm rõ nhưng đậm
đặc, tỷ trọng cao Tình trạng ưu trương trong cơ
thể (do tích các sản phẩm chuyển hoá) và do
mất nước qua hơi thở làm bệnh nhân khát (đòi
uống) Ở giai đoạn 3 (sốt lui) ống thận và tuyến
mồ hôi được giải phóng khỏi tác dụng của ADH
và aldosteron nên có tăng bài tiết nước tiểu, vã
mồ hôi, thân nhiệt trở về bình thường
Thay đổi chức năng các cơ quan trong sốt
Thay đổi chức năng thần kinh
Sốt sẽ không gặp các triệu trứng thần kinh
như: nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn chỉ thấy cảm
giác buồn ngủ- nói lên sự ức chế của vỏ não
Tuy nhiên, cùng một thân nhiệt (39oC), người
sốt có các triệu chứng thần kinh nhẹ hơn và dễ
chịu đựng hơn so với khi nhiễm nóng; người
trưởng thành dễ chịu đựng hơn so với trẻ nhỏ
tuổi (ví dụ, người lớn không co giật khi sốt 40oC
hay 41oC, nhưng trẻ 2 tuổi có thể co giật ngay từ
39,5oC hoặc thấp hơn)
Thay đổi chức năng tuần hoàn
Hệ tim mạch hoàn toàn đáp ứng yêu cầu
trong sốt Sốt 40oC hay 41oC chỉ làm tăng thêm
24 hay 30 nhịp tim.Trung bình tăng 1 độ trong
sốt là nhịp tim tăng thêm 8-10 nhịp/phút Huyếp
áp không tăng Tuy nhiên, ở giai đoạn ba, khi cơ
thể đào thải nhiều nước có thể biến chứng làm
tụt huyết áp nếu đứng dậy đột ngột
Khi trẻ sốt cao, các mạch ngoại vi thường co lại làm tay chân trẻ lạnh và nổi vân tím trên da
Thay đổi chức năng hô hấp
Hệ hô hấp hoàn toàn đảm nhiệm chức năng tăng thông khí Tuy nhiên ngoài tác dụng giúp thải một số nhiệt, tăng thông khí ở nhiệt độ cao cũng góp phần làm mất một lượng nước đáng
kể (khô miệng và mũi họng, khát)
Rối loạn chức năng tiêu hoá
Hệ tiêu hóa giảm chức năng toàn bộ nặng hay nhẹ tùy mức tăng thân nhiệt trong sốt Các dấu hiệu của rối loạn tiêu hóa thường đến sớm như:
+ Giảm tiết mọi dịch (nước bọt, dịch dạ dày, tụy, mật, ruột) gây đắng miệng, lưỡi trắng, chán
ăn, khó tiêu
+ Giảm co bóp và giảm nhu động khiến lâu tiêu, đầy bụng, táo bón
+ Giảm hấp thu Hầu hết, khi hết sốt, chức năng tiêu hóa mau chóng hồi phục, tăng cảm giác ngon miệng
Thay đổi tiết niệu
Do tăng tuần hoàn qua thận và co mạch ngoại vi nên giai đoạn đầu của sốt có tạm tăng bài tiết nước tiểu Ở giai đoạn hai có giảm rõ rệt lượng nước tiểu và mồ hôi do tác dụng ADH ở giai đoạn ba hết tác dụng của ADH nên có tiết nhiều nước tiểu và mồ hôi
Thay đổi chức năng nội tiết
Nhiều tuyến nội tiết có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của sốt, giúp thực hiện ý nghĩa đề kháng và bảo vệ của sốt trước các tác nhân có hại cho cơ thể như: Thyroxin, adrenalin, noradrenalin làm tăng chuyển hóa Aldosteron
và ADH làm tăng giữ nước và muối(3)
Xử trí sốt
Thuốc Paracetamol
Khi trẻ sốt > 38,5oC (nhiệt độ hõm nách), cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt
Paracetamol là thuốc giảm đau hạ sốt, được dùng phổ biến nhiều nhất vì được cho là an toàn Thuốc được hấp thu nhanh chóng qua
Trang 6đường tiêu hoá Thuốc tác động lên vùng dưới
đồi gây hạ nhiệt do giãn mạch và tăng lưu
lượng máu ngoại biên Nồng độ đỉnh trong
huyết tương đạt trong vòng từ 30- 60 phút sau
khi uống với liều điều trị
Liều điều trị của Paracetamol là 10 – 15
mg/kg/lần, khoảng các giữa các lần dùng là 4
– 6 giờ
Với liều điều trị thông thường, paracetamol
hầu như không có tác dụng phụ Tuy nhiên, khi
dùng liều cao (> 10 g), sau thời gian tiềm tàng 24
giờ sẽ xuất hiện hoại tử tế bào gan và có thể dẫn
tới tử vong sau 5 – 6 ngày
Hạ sốt bằng phương pháp vật lý
Khi nhiệt độ cơ thể tăng cao, bên cạnh việc
sử dụng thuốc hạ sốt, có thể kết hợp với các biện
pháp làm tăng thải nhiệt qua da
Chườm ấm
Đây là phương pháp hiệu quả và hiện nay
đang được khuyến khích sử dụng vì có nhiều
ưu điểm Nguyên lý của phương pháp này là
làm tăng thải nhiệt qua da Nước ấm làm giãn
các mạch máu dưới da giúp tăng quá trình thải
nhiệt Khi chườm nước ấm, một lớp nước mỏng
được tạo trên bề mặt da, chính sự bay hơi của
lớp nước này sẽ làm tăng thải nhiệt qua da Mặt
khác, chườm nước ấm làm trẻ thấy dễ chịu,
không bị lạnh và tránh được nguy cơ viêm phổi
Các phương pháp vật lý khác
Ngâm trẻ vào bồn nước
Phương pháp này không nên sử dụng vì cơ
chế thải nhiệt chủ yếu là do bay hơi qua da Nếu
ngâm trẻ vào bồn nước thì sẽ giảm sự bay hơi
qua da của trẻ làm hạn chế sự thải nhiệt của cơ
thể
Lau cồn
Hiện nay, phương pháp này không được sử
dụng vì cồn có thể có nguy cơ hít cồn qua hơi
thở và hấp thu cồn qua da, có thể làm tổn
thương hệ thần kinh của trẻ
Chườm nước lạnh
Trước đây, quan niệm chườm nước lạnh sẽ làm giảm nhiệt do truyền nhiệt qua da nhưng thực tế, phương pháp này ít hiệu quả Trái với chườm nước ấm, nước lạnh làm co mạch dưới
da làm hạn chế quá trình thoát nhiệt Mặt khác, khi trẻ sốt, nhiệt độ cơ thể trẻ cao tương đối so với môi trường nên trẻ thường có cảm giác rét run, vì thế, khi chườm nước lạnh càng làm cho trẻ run, chính sự run này lại làm tăng quá trình sản nhiệt Nước lạnh chườm cho trẻ cũng làm tăng nguy cơ viêm phổi cho trẻ Chính vì những
lý do này mà hiện nay, phương pháp chườm nước lạnh được khuyến cáo không nên áp dụng
Dán miếng dán hạ sốt
Hiện nay trên thị trường có bán một số loại miếng dán hạ sốt tác dụng theo cơ chế vật lý Thành phần chủ yếu của chúng là Hydrogen, có tac dụng hấp thu nhiệt và phân tán ra ngoài Một số có chứa tinh dầu bạc hà, khi bay hơi sẽ
có tác dụng làm hạ nhiệt Tuy nhiên, hiệu quả của những miếng dán này còn chưa được chứng minh một cách rõ rệt
Các phương pháp hạ sốt khác mà các bà mẹ hay dùng
Trong dân gian, khi trẻ sốt, các bà mẹ hay dùng những phương pháp khác để hạ nhiệt cho con mình như cho trẻ uống nước lá nhọ nồi, đắp
lá nhọ nồi, đắp khăn ướt trên trán trẻ Thực tế cho thấy những phương pháp này thường ít hiệu quả Nhiều bà mẹ khi thấy trẻ sốt cao, rét run còn đắp chăn cho con vì sợ con mình lạnh Đây là một quan điểm sai lầm vì trẻ không những không hạ sốt mà còn có thể làm trẻ tăng nhiệt độ và tăng nguy cơ co giật
Xử trí co giật do sốt
Một trong những biến chứng của sốt cao là
co giật Đây là một cấp cứu mà các bà mẹ phải
xử trí khẩn trương và đúng cách để tránh nguy
cơ tử vong và di chứng thần kinh cho trẻ
Khi trẻ co giật do sốt, cần nhanh chóng cho trẻ dùng thuốc hạ sốt bằng cách đặt hậu môn nếu trước đó trẻ chưa được dùng Tuyệt đối không được ghì chặt trẻ Dùng miếng gạc sạch
Trang 7đặt giữa hai hàm răng trẻ để tránh cho trẻ cắn
phải lưỡi và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế
gần nhất để kịp thời điều trị
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn lựa
Tất cả những bệnh nhi bị sốt đến khám và
điều trị tại khoa Nhi của Bệnh viện Việt Nam –
Cu Ba
Những bà mẹ của những em bé này
Tiêu chuẩn loại trừ
Những bệnh nhi không sốt
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 07/ 2010 đến tháng 09/2010
Địa điểm nghiên cứu
Khoa Nhi Bệnh viện Việt Nam – Cu ba Hà
Nội
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp
Cỡ mẫu nghiên cứu
212 trẻ bị sốt đến khám tại khoa Nhi Bệnh
viện Việt Nam – Cu ba từ tháng 07 đến tháng 09
năm 2010
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu
Khảo sát kiến thức nhận biết và xử trí trẻ sốt của các
bà mẹ
Chúng tôi phỏng vấn các bà mẹ có con bị sốt
đến khám tại khoa qua bộ câu hỏi đã được thiết
kế Đánh giá điểm kiến thức nhận biết và xử trí
trẻ sốt bằng cách chấm điểm những câu trả lời
của các mẹ dựa vào thang điểm định sẵn
Trong số những trẻ bị sốt tham gia nghiên
cứu, chọn ra những trẻ sốt cao trên 39oC nhưng
chưa được dùng thuốc hạ sốt trước đó 6 giờ và
chia những trẻ này thành hai nhóm theo cách
chọn mẫu ngẫu nhiên, cứ 1 trẻ vào nhóm 1, trẻ tiếp theo sẽ vào nhóm 2
Nhóm 1 được dùng thuốc hạ sốt kết hợp với phương pháp chườm ấm
Nhóm 2 chỉ được dùng thuốc hạ sốt đơn thuần
Theo dõi nhiệt độ của hai nhóm trẻ này 15 phút / lần trong 30 phút So sánh sự giảm nhiệt
độ trung bình của hai nhóm sau 15 phút và sau
30 phút
Cách đo thân nhiệt: Trẻ được đo thân nhiệt ở hõm nách bằng nhiệt kế thủy ngân
Thuốc hạ sốt được sử dụng cho trẻ là Paracetamol với liều 10 – 15 mg/kg/lần
Cách chườm ấm cho trẻ:
+ Chuẩn bị dụng cụ:
* Chậu nước ấm, nhiệt độ nước trong chậu khoảng 37oC
* Khăn bông mềm
+ Đặt trẻ ở nơi thoáng, tránh gió lùa
+ Cởi bớt quần áo trẻ
+ Nhúng khăn bông vào nước ấm, vắt bớt nước (không vắt kiệt) Lau nhẹ để tạo một lớp nước mỏng ở đầu, thân mình, tay, chân, đặc biệt
là những vùng có mạch máu lớn như cổ, nách, bẹn
+ Theo dõi thân nhiệt cho trẻ trong quá trình chườm ấm cứ 15 phút 1 lần
+ Khi nhiệt độ cơ thể trẻ < 38oC, ngừng chườm, lau khô người và mặc quần áo cho trẻ
Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Phiếu theo dõi thân nhiệt trẻ
Nhiệt kế đo thân nhiệt cho trẻ
Dụng cụ để chườm ấm cho trẻ:
+ Chậu đựng nước
+ Khăn bông
+ Phích đun nước nóng
Thuốc Paracetamol 0,1g
Trang 8Các biến số nghiên cứu
Trình độ học vấn của mẹ
Nơi cư trú
Cách nhận biết trẻ sốt
Vị trí đo thân nhiệt trẻ mẹ thường đo
Mốc nhiệt độ mẹ xác định là trẻ sốt
Mốc nhiệt độ mẹ cho là trẻ sốt cao
Mốc nhiệt độ mẹ cần cho trẻ uống thuốc hạ
sốt
Kiến thức của mẹ về những rối loạn cơ thể
khi trẻ sốt cao
+ Thở nhanh
+ Mạch và nhịp tim nhanh
+ Mệt mỏi
+ Ăn uống kém
+ Đau đầu
+ Buồn nôn hoặc nôn
+ Nổi vân tím trên da
+ Run
+ Co giật
+ Mất nước và điện giải
Dùng thuốc hạ sốt theo hướng dẫn của Bác
sĩ
Việc quan tâm đến liều và khoảng cách giữa
các lần dùng thuốc hạ sốt của những mẹ không
theo hướng dẫn của Bác sĩ
Những biện pháp hạ sốt khác mà các bà mẹ
sử dụng
+ Uống nước lá nhọ nồi
+ Đắp lá nhọ nồi
+ Đắp khăn ướt
+ Đắp chăn cho trẻ vì sợ lạnh
+ Dán miếng dán hạ sốt
+ Nới rộng quần áo
+ Chườm nước lạnh
+ Chườm nước ấm
+ Không làm gì
Xử trí của các bà mẹ nếu trẻ bị co giật do sốt
+ Đặt thuốc hạ sốt đường hậu môn ngay nếu trẻ chưa được dùng thuốc hạ sốt
+ Đặt miếng gạc giữa hai hàm răng trẻ + Ghì chặt trẻ
+ Khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất
+ Không biết làm gì
Điểm kiến thức của các bà mẹ
Nhiệt độ cơ thể lúc bắt đầu theo dõi
Nhiệt độ cơ thể sau 15 phút
Nhiệt độ cơ thể sau 30 phút
Nhiệt độ giảm sau 15 phút
Nhiệt độ giảm sau 30 phút
Xử lý số liệu
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 15.0 Các thuật toán thống kê: Tính tần suất, so sánh trung bình của hai nhóm
Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia một cách tự nguyện và cung cấp thông tin chính xác Tất cả các thông tin thu thập được chỉ phục
vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không nhằm mục đích khác
KẾT QUẢ Kiến thức nhận biết và xử trí sốt của các bà
mẹ
Nhận biết sốt
Đa số các bà mẹ nhận biết trẻ sốt bằng cách cảm nhận bằng tay (178 bà mẹ chiếm 84%)
178
34
Cảm nhận bằng tay
Đo bằng nhiệt kế
Trang 9Biểu đồ 1 Cách nhận biết sốt của các bà mẹ
1
193
Miệng Hõm nách Hậu môn Màng nhĩ
Biểu đồ 2 Vị trí đo thân nhiệt cho trẻ
* Nhận xét: Hầu hết các bà mẹ (193 mẹ chiếm
91%) thường đo thân nhiệt cho trẻ ở hõm nách
13
154
45
>37oC
>37,5oC
>38oC
Biểu đồ 3 Quan điểm của các bà mẹ về mốc nhiệt
xác định trẻ sốt (Đo ở hõm nách)
* Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ (154 bà mẹ
chiếm 72,6%) quan niệm trẻ sốt khi nhiệt độ cơ
thể trẻ > 37,5oC
44
115
38
15
>38oC
>38,5oC
>39oC
>39,5oC
Biểu đồ 4 Quan điểm của các bà mẹ về mốc nhiệt
được coi là trẻ sốt cao (Đo ở hõm nách)
* Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ (115 mẹ
chiếm 54,3%) cho rằng trẻ sốt cao khi thân nhiệt
trẻ > 38,5oC
Bảng 1 Sự hiểu biết của các bà mẹ về những rối loạn
cơ thể trẻ có thể gặp khi trẻ sốt cao
* Nhận xét: Những triệu chứng rối loạn cơ thể khi trẻ sốt cao được các bà mẹ biết nhiều nhất là ăn uống kém, mệt mỏi, đau đầu
Cách xử trí sốt
13
136
47
16 0
20 40 60 80 100 120 140
>37,5oC >38oC >38,5oC >39oC
Biểu đồ 5 Quan điểm về mốc nhiệt cần dùng thuốc
hạ sốt cho trẻ của các bà mẹ (Đo thân nhiệt ở hõm nách)
* Nhận xét: Đa số các bà mẹ (136 mẹ chiếm 64,2%) cho rằng cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi trẻ sốt > 38oC
105
107
107
Theo chỉ định của BS
Tự ý dùng
Biểu đồ 6 Việc tuân theo chỉ định của bác sĩ khi
dùng thuốc hạ sốt cho trẻ
* Nhận xét: Trong số 212 bà mẹ được phỏng vấn, chỉ có 105 bà mẹ (49,5%) thấy cần thiết dùng thuốc hạ sốt cho trẻ theo hướng dẫn của bác sĩ
Trang 1050 57
Quan tâm đến liều
& khoảng cách dùng
Không quan tâm
Biểu đồ 7 Việc quan tâm đến liều và khoảng thời
gian giữa các lần dùng thuốc của các bà mẹ tự ý cho
con dùng thuốc hạ sốt
* Nhận xét: Trong số 107 bà mẹ tự ý cho con
dùng thuốc hạ sốt, có 57 bà mẹ (53,3%) dùng
thuốc hạ sốt cho con bất cứ khi nào trẻ sốt mà
không quan tâm đến lượng thuốc hạ sốt đã
dùng trong ngày và khoảng cách giữa các lần
dùng
Bảng 2 Các biện pháp hạ sốt khác các bà mẹ sử dụng
cho trẻ
* Nhận xét: Trong số những bà mẹ được
phỏng vấn, vẫn còn một số bà mẹ có quan điểm
sai lầm khi xử trí trẻ sốt như đắp chăn cho trẻ
(37 mẹ chiếm 17,5%), chườm nước lạnh cho trẻ
(31 mẹ chiếm 14,6%)
Bảng 3 Kiến thức xử trí nếu trẻ bị co giật do sốt của
các bà mẹ
Khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất 206 97,2
* Nhận xét: Trong số các bà mẹ được
phỏng vấn, hầu hết các bà mẹ đều biết khẩn
trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất nếu trẻ
bị co giật do sốt
Đánh giá điểm kiến thức của các bà mẹ về nhận biết và cách xử trí khi trẻ sốt
74
84
54
<50 điểm
50 - < 70 điểm
≥ 70 điểm
Biểu đồ 8 Điểm kiến thức nhận biết và xử trí sốt của
các bà mẹ
* Nhận xét:Trong số 212 bà mẹ, số bà mẹ có điểm kiến thức trung bình từ 50 - < 70 điểm chiếm tỉ lệ cao nhất (39,6%), số bà mẹ có kiến thức tốt > 70 điểm chỉ có 25,5%
Bảng 4 Điểm trung bình kiến thức theo trình độ học
vấn của mẹ
Tốt nghiệp PTTH
* Nhận xét: Những bà mẹ có trình độ văn
hóa trên phổ thông trung học có điểm trung bình kiến thức hơn nhóm những bà mẹ có trình độ văn hóa dưới phổ thông trung học 29,6 điểm (p < 0,01)
Bảng 5 Điểm trung bình kiến thức theo nơi cư trú
của các bà mẹ
* Nhận xét: Điểm trung bình kiến thức của các bà mẹ sống ở nội thành tương đương với điểm trung bình kiến thức của các bà mẹ sống ở ngoại thành (p > 0,05)
Đánh giá hiệu quả của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao
Bảng 6 So sánh nhiệt độ giảm trung bình sau 15
phút của 2 nhóm
Nhiệt độ giảm trung bình
* Nhận xét: Sau 15 phút, nhiệt độ giảm trung bình của những bệnh nhi nhóm 1 giảm 1,1 ± 0,3