1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

17 khảo sát kiến thức chăm sóc trẻ bị sốt của các bà mẹ và nhận xét tác dụng hạ nhiệt của phương pháp chườm bằng nước ấm cho trẻ khi sốt cao tại bệnh viện Việt Nam CuBa

14 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 438,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình nghiên cứu được tiến hành để đánh giá tác dụng của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao trong thời gian đến khám và nằm viện, đồng thời khảo sát kiến thức nhận biết và cách xử trí chăm sóc của các bà mẹ đối với trẻ khi sốt cao

Trang 1

17 KHẢO SÁT KIẾN THỨC CHĂM SÓC TRẺ BỊ SỐT CỦA CÁC BÀ MẸ

VÀ NHẬN XÉT TÁC DỤNG HẠ NHIỆT CỦA PHƯƠNG PHÁP CHƯỜM

BẰNG NƯỚC ẤM CHO TRẺ KHI SỐT CAO TẠI BỆNH VIỆN VIỆT NAM CU BA

Trần Thị Lan Phương*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao trong thời gian đến khám và nằm

viện, đồng thời khảo sát kiến thức nhận biết và cách xử trí chăm sóc của các bà mẹ đối với trẻ khi sốt cao

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp Đối tượng của

nghiên cứu là tất cả các trẻ nhi bị sốt đến khám và điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Việt Nam Cu Ba

Kết quả: Kết quả cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê khi ta chọn những trẻ sốt cao trên 39 0 C nhưng chưa dùng thuốc hạ sốt trước đó 6 giờ và chia hai nhóm ngẫu nhiên để nghiên cứu: Nhóm một chỉ dùng thuốc hạ nhiệt Paracetamol Nhóm hai: kết hợp dùng thuốc Paracetamol với chườm cơ thể bằng nước ấm Theo dõi nhiệt

độ của hai nhóm này sau 15 phút thấy nhóm một giảm 1,1 ± 0,3 độ; nhóm 2 là 0,4 ± 0,3 độ So sánh sự giảm nhiệt độ của hai nhóm sau 30 phút thấy nhiệt độ giảm trung bình của nhóm một là 2,3 ± 0,5, nhóm hai là 1,8 ± 0,6

Kết luận: Chườm ấm kết hơp với uống thuốc hạ sốt có tác dụng giảm nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng uống

thuốc hạ sốt đơn thuần

Từ khóa: Chườm ấm cho trẻ- sốt cao

ABSTRACT

KNOWLEDGE SURVEY OF CARING FOR CHILDREN WITH FEVER OF MOTHERS AND ANTIPYRETIC EFFECT OBSERVATION OF HOT THERAPEUTIC COMPRESS APPLIANCE METHOD FOR CHILDREN WITH HIGH FEVER AT PEDIATRICS VIET NAM - CU BA HOSPITAL

Tran Thi Lan Phuongl* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 112 - 125

Objectives: Evaluating effect of Hot therapeutic compress appliance method when children being high fever

during examination and treatment in the hospital, at the same time, knowledge survey of mother’s recognition and behaviour to children with high fever

Methods: Interfered research design of horizontal description Subject of the research is all children with

fever that examine and treat at Pediatrics of Vietnam - Cuba Hospital

Results: Shown that there are significant changes to statistics when selecting children with fever above 39 0 C but have not used febrifuge before that 6h at least and separating two random group for research: group 1 only uses febrifuge of Paracetamol Group 2 combines using Paracetamol with Hot therapeutic compress appliance Monitoring temperature of these two groups after 15 minutes, group 1 reduces 1.1 ± 0.3 degrees; group 2 is 0.4 ± 0.3 degrees Comparising temperature decrease of two groups after 30 minutes, result shown that average decrease temperature of group 1 is 2.3 ± 0.5, group 2 is 1.8 ± 0.6

Conclusions: Hot therapeutic compress appliance combined with take febrifuge has antipyretic effect better

than only taking simple febrifuge

* Trường Đại Học Thăng Long Hà Nội

Tác giả liên lạc:ĐD Trần Thị Lan Phương, ĐT:0982951089, Email:lanphuong_11@gmail.com

Trang 2

Key words: Hot therapeutic compress appliance for children with high fever.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt là triệu chứng thường gặp ở trẻ em Đây

là một phản ứng có lợi bảo vệ cơ thể trước sự

xâm nhập của các yếu tố lạ như vi rút, vi khuẩn,

các tác nhân vật lý cũng như các yếu tố khác

Tuy nhiên, bên cạnh ý nghĩa bảo vệ cơ thể, sốt

(đặc biệt là khi trẻ sốt cao) có thể có những tác

động bất lợi, gây rối loạn hoạt động của các cơ

quan như tim mạch, hô hấp, thần kinh, rối loạn

chuyển hoá, gây mất nước và các chất điện

giải… Đặc biệt, sốt cao có thể gây co giật, nguy

hiểm đến tính mạng trẻ và có thể có những di

chứng thần kinh sau này

Việc nhận biết trẻ sốt, xử trí và chăm sóc trẻ

sốt đúng cách sẽ làm giảm những tác động có

hại của sốt đối với trẻ Đây là vấn đề tưởng như

đơn giản nhưng trên thực tế, có nhiều bà mẹ

chưa biết đánh giá con mình bị sốt, chưa biết

cách xử trí và chăm sóc khi trẻ sốt và cũng chưa

biết hết được tác hại của sốt đối với trẻ để biết

cách phòng ngừa Với những trẻ có tiền sử co

giật do sốt hoặc trẻ sốt cao có nguy cơ co giật,

việc hạ nhiệt kịp thời là rất quan trọng

Hiện nay, Paracetamol là loại thuốc hạ sốt

thường được sử dụng cho trẻ vì tính an toàn và

thuốc này hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá

Tuy nhiên, thuốc đạt được nồng độ đỉnh trong

huyết thanh cũng phải sau 30 – 60 phút Bên

cạnh việc hạ sốt bằng Paracetamol, cần kết hợp

với phương pháp vật lý chườm ấm để hạ nhiệt

kịp thời, hạn chế nguy cơ giật cho trẻ

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát kiến thức nhận biết, xử trí và chăm

sóc trẻ sốt của các bà mẹ có con bị sốt đến khám

và điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Việt Nam –

Cu Ba

Nhận xét tác dụng của phương pháp chườm

ấm để hạ nhiết khi trẻ sốt cao

TỔNG QUAN

Đại cương

Sốt là tình trạng tăng nhiệt độ của cơ thể do

đáp ứng đặc hiệu về mặt sinh học, qua trung gian và được kiểm soát bởi hệ thần kinh trung ương Trẻ được xem là có sốt khi nhiệt độ đo ở hậu môn là từ 38oC trở lên hoặc nhiệt độ đo ở hõm nách từ 37,5oC trở lên(2) Trẻ sốt cao khi nhiệt độ đo ở hõm nách trên 39oC

Cần phân biệt sốt với các nguyên nhân khác gây tăng thân nhiệt như nhiễm nóng Sốt là triệu chứng của nhiều bệnh lý liên quan đến nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn

Xác định trẻ sốt

Để xác định trẻ sốt, cách chính xác nhất là đo thân nhiệt cho trẻ bằng nhiệt kế

Các vị trí đo thân nhiệt

Các vị trí có thể đo thân nhiệt cho trẻ là miệng, hõm nách, hậu môn và màng nhĩ

Đo thân nhiệt ở miệng

Trẻ được xác định là sốt khi nhiệt độ đo ở miệng ≥ 37,8oC Vị trí đo này có thể cho kết quả chính xác nhưng dễ gây nguy hiểm cho trẻ vì có thể trẻ cắn đầu nhiệt kế gây vỡ dẫn đến tình trạng ngộ độc thuỷ ngân Do đó, đo thân nhiệt ở miệng chỉ nên áp dụng cho trẻ trên 5 tuổi và cần

sử dụng loại nhiệt kế có đầu cảm nhận nhiệt bằng chất liệu mềm Việc vệ sinh đầu nhiệt kế trước và sau khi đo là rất cần thiết để tránh lây

nhiễm giữa các bệnh nhi

Đo thân nhiệt ở hậu môn

Nhiệt độ hậu môn phản ánh nhiệt độ trung tâm của cơ thể Trẻ được coi là sốt khi nhiệt độ hậu môn ≥ 38oC Khi đo thân nhiệt ở hậu môn,

Trang 3

cần chú ý bôi vaselin vào đầu nhiệt kế, nhẹ

nhàng và thận trọng đưa từ từ đầu nhiệt kế vào

hậu môn bé Động tác này nếu làm mạnh hoặc

vội vàng có thể làm tổn thương niêm mạc hậu

môn hoặc có thể làm thủng trục tràng Nhiệt kế

dùng để đo đường hậu môn cần được đánh dấu

riêng, tránh dùng lẫn để đo đường miệng Sau

khi đo cần vệ sinh sạch sẽ nhiệt kế

Đo thân nhiệt ở nách

Vị trí này thường được các bà mẹ sử dụng

nhiều vì thuận tiện và dễ đo Nhiệt độ hõm

nách là nhiệt độ ngoại vi của cơ thể, do đó, trẻ

được coi là sốt khi nhiệt độ ở hõm nách >

37,5oC Khi đo cần lưu ý đặt đầu nhiệt kế vào

giữa hõm nách

Đo thân nhiệt ở tai (màng nhĩ)

Nhiệt độ màng nhĩ là nhiệt độ trung tâm

cơ thể, giống như nhiệt độ đo ở hậu môn

Hiện nay trên thị trường có loại nhiệt kế đo ở

tai cho kết quả nhanh và ít gây khó chịu cho

trẻ Tuy nhiên, số đo có thể dao động nếu cha

mẹ đặt nhiệt kế không đúng vị trí hoặc trẻ < 3

tháng có lỗ tai quá nhỏ

* Thân nhiệt của trẻ có thể đo ở nhiều vị trí

khác nhau nhưng điều quan trọng là phải biết

đo đúng cách và khi theo dõi thân nhiệt cho trẻ

cần nhất quán về dụng cụ đo và nơi lấy nhiệt

Cách đo thân nhiệt các bà mẹ hay làm khi

trẻ sốt

Khi trẻ sốt, nhiều bà mẹ đo thân nhiệt cho

con bằng nhiệt kế nhưng cũng không ít các bà

mẹ cảm nhận nhiệt độ của con mình bằng cách

sờ tay lên trán hoặc người con Cách đo này

không chính xác do chủ quan của từng người

Hơn nữa, với cách đo này, các mẹ không thể biết

con mình sốt bao nhiêu độ để xử trí kịp thời

Cơ chế bệnh sinh của sốt

Cơ chế gây sốt

Những chất gây sốt ngoại sinh (các vi sinh

vật và độc tố của chúng) kích thích những tế bào

của vật chủ phóng thích ra những chất gây sốt

nội sinh Chất gây sốt nội sinh gây sốt bởi sự

khởi đầu những thay đổi chuyển hóa của trung

tâm điều nhiệt nằm ở vùng hạ đồi Sự tổng hợp Prostaglandine- E2 có vai trò quan trọng sự nâng lên của điểm ngưỡng nhiệt

Khi điểm ngưỡng nhiệt của vùng hạ đồi được nâng lên, sẽ hoạt hóa bộ phận tác động điều hòa thân nhiệt: Quá trình tạo nhiệt (tăng trương lực cơ, ớn lạnh) và bảo tồn nhiệt (co mạch) sẽ chiếm ưu thế hơn quá trình thải nhiệt (dãn mạch, đổ mồ hôi) cho đến khi nhiệt

độ của máu tưới vùng hạ đồi đạt tới điểm ngưỡng nhiệt mới

Các giai đoạn của quá trình sốt

Giai đoạn tăng thân nhiệt (sốt lên)

Trong giai đoạn này, sản nhiệt tăng và thải nhiệt giảm làm mất cân bằng nhiệt (sinh nhiệt/thải nhiệt > 1) Cơ thể phản ứng giống như

bị nhiễm lạnh

Biểu hiện của phản ứng tăng thân nhiệt là sởn gai ốc, tăng chuyển hóa và tăng chức năng

hô hấp, tuần hoàn, mức hấp thu oxy có thể tăng gấp 3 hay 4 lần bình thường Đồng thời có phản ứng giảm thải nhiệt, gồm co mạch da (da nhợt, giảm tiết mồ hôi), do đó, bệnh nhân thường tìm

tư thế phù hợp và đòi đắp chăn Trường hợp chất gây sốt có tác dụng mạnh, bệnh nhân có thể thấy rùng mình, ớn lạnh, rét run, khiến thân nhiệt tăng rất nhanh Giai đoạn này, việc sử dụng các thuốc hạ nhiệt hầu như không có tác dụng, chườm lạnh cũng ít hiệu quả, chỉ làm mất thêm năng lượng của cơ thể

Giai đoạn thân nhiệt ổn định ở mức cao (sốt đứng)

Giai đoạn này sản nhiệt không tăng hơn nhưng thải nhiệt bắt đầu tăng lên (mạch da dãn rộng) đạt mức cân bằng với tạo nhiệt (sinh nhiệt/tạo nhiệt = 1) và đều ở mức cao Tuy nhiên chưa có mồ hôi Tùy theo số lượng và hoạt tính của chất gây sốt, trạng thái và tuổi của người bệnh mà thân nhiệt chỉ tăng ít: sốt nhẹ (38oC), hoặc tăng nhiều: sốt vừa (38oC – 39oC), sốt cao

và rất cao (39oC- 41oC) Thân nhiệt trong giai đọan “sốt đứng” có thể ổn định (gọi là sốt liên tục) hoặc thay đổi (sốt dao động), thậm chí tạm

về bình thường (sốt cách quãng: Cơn sốt cách

Trang 4

nhau một hay vài ngày) Tất cả phụ thuộc vào

loại vi khuẩn với chất gây sốt đặc trưng của mỗi

loại

Biểu hiện của giai đoạn này: Da từ tái trở

nên đỏ, nóng nhưng khô (không mồ hôi); thân

nhiệt ngoại vi tăng do mạch ngoại biên bắt đầu

giãn (giúp thải nhiệt); hô hấp, tuần hoàn và sự

hấp thu oxy đều giảm so với giai đoạn đầu

nhưng vẫn ở mức cao gấp 1,5 hay 2 lần so với

bình thường, thân nhiệt vẫn duy trì ở mức cao

Lúc này có thể làm tăng thải nhiệt như dùng

thuốc hạ sốt để hạn chế, nếu thân nhiệt đe dọa

lên quá cao

Giai đoạn thân nhiệt trở về bình thường (sốt lui)

Sự sản nhiệt ở giai đoạn này bị ức chế dần

để trở về bình thường và thải nhiệt tăng rõ (sinh

nhiệt/thải nhiệt < 1) Nhờ vậy thân nhiệt trở về

bình thường

Biểu hiện: Giai đoạn này cơ thể phản ứng

giống như nhiễm nóng giai đoạn đầu Có thể

thấy sự hấp thu oxy và mức chuyển hóa trở về

mức tối thiểu, có giãn mạch ngoại vi, vã mồ hôi,

tăng bài tiết nước tiểu (do đó có thể gặp biến

chứng như tụt huyết áp nếu gặp điều kiện thuận

lợi như đứng dậy đột ngột, vận cơ đột ngột;

hoặc có thể giảm thân nhiệt nhanh và nhiễm

lạnh nếu gặp điều kiện thuận lợi, như gió lùa,

tiếp xúc lạnh, tắm lạnh)(3)

Ý nghĩa sinh học của sốt

Sốt là một đáp ứng có lợi cho cơ thể bởi vì

các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng:

Khi sốt, khả năng tiêu diệt vi khuẩn tăng

Hoạt động đề kháng của cơ thể tăng: Tăng

hoạt động của hệ miễn dịch, tăng hiện tượng

thực bào, tăng hoạt động diệt khuẩn của bạch

cầu đa nhân trung tính, tăng tổng hợp

interferon, tăng tổng hợp kháng thể Tuy nhiên

ở nhiệt độ cao (từ 40oC trở lên), tác dụng này có

thể không có và đôi khi hiệu quả ngược lại

Giảm lượng sắt trong huyết thanh (do tăng

hấp thu sắt vào hệ võng nội mô và giảm hấp thu

sắt từ ruột vào máu) đồng thời tăng lượng

protein gắn sắt, feritin Vì vậy, nồng độ sắt tự do

trong máu giảm, làm giảm sự sinh sản của vi khuẩn vì vi khuẩn tăng nhu cầu về sắt khi ở nhiệt độ cao(2)

Các bất lợi của sốt

Các rối loạn chuyển hoá trong sốt

Chuyển hóa năng lượng

Trong sốt có tăng chuyển hóa và qua đó tăng tạo năng lượng để chi dùng cho các nhu cầu tăng sản nhiệt (không qua ATP) và tăng chức năng một số cơ quan (qua ATP) Tuy nhiên mức tăng này không lớn Tăng thân nhiệt lên 1

độ mới làm tăng chuyển hóa lên 3-5% Cơ chế chủ yếu tiết kiệm năng lượng trong sốt là giảm thải nhiệt Nhờ vậy cơ thể chỉ cần sản nhiệt gấp 2-3 lần trong vòng 10-20 phút là đủ tăng thân nhiệt lên 39oC hay 40oC, sau đó mức tăng chuyển hoá chủ yếu để tăng chức năng cơ quan hơn là để duy trì thân nhiệt cao

Chuyển hóa Glucid

Glucid là năng lượng chủ yếu sử dụng ở giai đoạn đầu của sốt (thương số hô hấp = 1,0) Có thể thấy Glucose huyết tăng lên (đôi khi đến mức có Glucose niệu), dự trữ Glycogen ở gan giảm đi và có thể cạn kiệt nếu sốt cao 40oC và cơn sốt kéo dài trên 4 giờ Lúc này cơ thể tự tạo Glucid từ Protid (ở gan) để có thể khai thác năng lượng từ Lipid Trường hợp sốt cao và kéo dài

có thể làm tăng acid lactic trong máu, nói lên sự chuyển hóa yếm khí của Glucid

Chuyển hóa Lipid

Lipid luôn luôn bị huy động trong sốt, chủ yếu từ giai đoạn hai, nhất là khi nguồn Glucid bắt đầu cạn Có thể thấy nồng độ acid béo và triglycerid tăng trong máu Chỉ khi sốt cao kéo dài, mới có rối loạn chuyển hoá Lipid, đó là tăng nồng độ cetonic – chủ yếu do thiếu Glucid – góp phần quan trọng gây nhiễm acid trong một số cơn sốt

Chuyển hóa Protid

Tăng tạo kháng thể, bổ thể, bạch hầu, enzym làm cho sự huy động dự trữ Protid tăng lên trong sốt là điều không tránh khỏi Có thể thấy

Trang 5

nồng độ urê tăng thêm 20-30% trong nước tiểu ở

một cơn sốt thông thường Ngoài ra, trong một

số trường hợp sốt Protid còn bị huy động vì độc

tố, và nhất là để trang trải nhu cầu năng lượng

(khi nguồn Glucid cạn kiệt) Đó là các cơ chế

quan trọng gây suy mòn trong một số trường

hợp sốt

Chuyển hóa muối nước và thăng bằng acid – base

Chuyển hóa muối nước: Ở giai đoạn đầu

thường ngắn chưa thấy rõ sự thay đổi, có thể

tăng mức lọc cầu thận do tăng lưu lượng tuần

hoàn nhưng từ giai đoạn 2, hormon ADH của

hậu yên và adosteron của thượng thận tăng tiết,

gây giữ nước và giữ natri (qua thận và tuyến mồ

hôi), nhưng có tăng bài tiết K và P Có thể thấy

da khô, lượng nước tiểu giảm rõ nhưng đậm

đặc, tỷ trọng cao Tình trạng ưu trương trong cơ

thể (do tích các sản phẩm chuyển hoá) và do

mất nước qua hơi thở làm bệnh nhân khát (đòi

uống) Ở giai đoạn 3 (sốt lui) ống thận và tuyến

mồ hôi được giải phóng khỏi tác dụng của ADH

và aldosteron nên có tăng bài tiết nước tiểu, vã

mồ hôi, thân nhiệt trở về bình thường

Thay đổi chức năng các cơ quan trong sốt

Thay đổi chức năng thần kinh

Sốt sẽ không gặp các triệu trứng thần kinh

như: nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn chỉ thấy cảm

giác buồn ngủ- nói lên sự ức chế của vỏ não

Tuy nhiên, cùng một thân nhiệt (39oC), người

sốt có các triệu chứng thần kinh nhẹ hơn và dễ

chịu đựng hơn so với khi nhiễm nóng; người

trưởng thành dễ chịu đựng hơn so với trẻ nhỏ

tuổi (ví dụ, người lớn không co giật khi sốt 40oC

hay 41oC, nhưng trẻ 2 tuổi có thể co giật ngay từ

39,5oC hoặc thấp hơn)

Thay đổi chức năng tuần hoàn

Hệ tim mạch hoàn toàn đáp ứng yêu cầu

trong sốt Sốt 40oC hay 41oC chỉ làm tăng thêm

24 hay 30 nhịp tim.Trung bình tăng 1 độ trong

sốt là nhịp tim tăng thêm 8-10 nhịp/phút Huyếp

áp không tăng Tuy nhiên, ở giai đoạn ba, khi cơ

thể đào thải nhiều nước có thể biến chứng làm

tụt huyết áp nếu đứng dậy đột ngột

Khi trẻ sốt cao, các mạch ngoại vi thường co lại làm tay chân trẻ lạnh và nổi vân tím trên da

Thay đổi chức năng hô hấp

Hệ hô hấp hoàn toàn đảm nhiệm chức năng tăng thông khí Tuy nhiên ngoài tác dụng giúp thải một số nhiệt, tăng thông khí ở nhiệt độ cao cũng góp phần làm mất một lượng nước đáng

kể (khô miệng và mũi họng, khát)

Rối loạn chức năng tiêu hoá

Hệ tiêu hóa giảm chức năng toàn bộ nặng hay nhẹ tùy mức tăng thân nhiệt trong sốt Các dấu hiệu của rối loạn tiêu hóa thường đến sớm như:

+ Giảm tiết mọi dịch (nước bọt, dịch dạ dày, tụy, mật, ruột) gây đắng miệng, lưỡi trắng, chán

ăn, khó tiêu

+ Giảm co bóp và giảm nhu động khiến lâu tiêu, đầy bụng, táo bón

+ Giảm hấp thu Hầu hết, khi hết sốt, chức năng tiêu hóa mau chóng hồi phục, tăng cảm giác ngon miệng

Thay đổi tiết niệu

Do tăng tuần hoàn qua thận và co mạch ngoại vi nên giai đoạn đầu của sốt có tạm tăng bài tiết nước tiểu Ở giai đoạn hai có giảm rõ rệt lượng nước tiểu và mồ hôi do tác dụng ADH ở giai đoạn ba hết tác dụng của ADH nên có tiết nhiều nước tiểu và mồ hôi

Thay đổi chức năng nội tiết

Nhiều tuyến nội tiết có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của sốt, giúp thực hiện ý nghĩa đề kháng và bảo vệ của sốt trước các tác nhân có hại cho cơ thể như: Thyroxin, adrenalin, noradrenalin làm tăng chuyển hóa Aldosteron

và ADH làm tăng giữ nước và muối(3)

Xử trí sốt

Thuốc Paracetamol

Khi trẻ sốt > 38,5oC (nhiệt độ hõm nách), cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt

Paracetamol là thuốc giảm đau hạ sốt, được dùng phổ biến nhiều nhất vì được cho là an toàn Thuốc được hấp thu nhanh chóng qua

Trang 6

đường tiêu hoá Thuốc tác động lên vùng dưới

đồi gây hạ nhiệt do giãn mạch và tăng lưu

lượng máu ngoại biên Nồng độ đỉnh trong

huyết tương đạt trong vòng từ 30- 60 phút sau

khi uống với liều điều trị

Liều điều trị của Paracetamol là 10 – 15

mg/kg/lần, khoảng các giữa các lần dùng là 4

– 6 giờ

Với liều điều trị thông thường, paracetamol

hầu như không có tác dụng phụ Tuy nhiên, khi

dùng liều cao (> 10 g), sau thời gian tiềm tàng 24

giờ sẽ xuất hiện hoại tử tế bào gan và có thể dẫn

tới tử vong sau 5 – 6 ngày

Hạ sốt bằng phương pháp vật lý

Khi nhiệt độ cơ thể tăng cao, bên cạnh việc

sử dụng thuốc hạ sốt, có thể kết hợp với các biện

pháp làm tăng thải nhiệt qua da

Chườm ấm

Đây là phương pháp hiệu quả và hiện nay

đang được khuyến khích sử dụng vì có nhiều

ưu điểm Nguyên lý của phương pháp này là

làm tăng thải nhiệt qua da Nước ấm làm giãn

các mạch máu dưới da giúp tăng quá trình thải

nhiệt Khi chườm nước ấm, một lớp nước mỏng

được tạo trên bề mặt da, chính sự bay hơi của

lớp nước này sẽ làm tăng thải nhiệt qua da Mặt

khác, chườm nước ấm làm trẻ thấy dễ chịu,

không bị lạnh và tránh được nguy cơ viêm phổi

Các phương pháp vật lý khác

Ngâm trẻ vào bồn nước

Phương pháp này không nên sử dụng vì cơ

chế thải nhiệt chủ yếu là do bay hơi qua da Nếu

ngâm trẻ vào bồn nước thì sẽ giảm sự bay hơi

qua da của trẻ làm hạn chế sự thải nhiệt của cơ

thể

Lau cồn

Hiện nay, phương pháp này không được sử

dụng vì cồn có thể có nguy cơ hít cồn qua hơi

thở và hấp thu cồn qua da, có thể làm tổn

thương hệ thần kinh của trẻ

Chườm nước lạnh

Trước đây, quan niệm chườm nước lạnh sẽ làm giảm nhiệt do truyền nhiệt qua da nhưng thực tế, phương pháp này ít hiệu quả Trái với chườm nước ấm, nước lạnh làm co mạch dưới

da làm hạn chế quá trình thoát nhiệt Mặt khác, khi trẻ sốt, nhiệt độ cơ thể trẻ cao tương đối so với môi trường nên trẻ thường có cảm giác rét run, vì thế, khi chườm nước lạnh càng làm cho trẻ run, chính sự run này lại làm tăng quá trình sản nhiệt Nước lạnh chườm cho trẻ cũng làm tăng nguy cơ viêm phổi cho trẻ Chính vì những

lý do này mà hiện nay, phương pháp chườm nước lạnh được khuyến cáo không nên áp dụng

Dán miếng dán hạ sốt

Hiện nay trên thị trường có bán một số loại miếng dán hạ sốt tác dụng theo cơ chế vật lý Thành phần chủ yếu của chúng là Hydrogen, có tac dụng hấp thu nhiệt và phân tán ra ngoài Một số có chứa tinh dầu bạc hà, khi bay hơi sẽ

có tác dụng làm hạ nhiệt Tuy nhiên, hiệu quả của những miếng dán này còn chưa được chứng minh một cách rõ rệt

Các phương pháp hạ sốt khác mà các bà mẹ hay dùng

Trong dân gian, khi trẻ sốt, các bà mẹ hay dùng những phương pháp khác để hạ nhiệt cho con mình như cho trẻ uống nước lá nhọ nồi, đắp

lá nhọ nồi, đắp khăn ướt trên trán trẻ Thực tế cho thấy những phương pháp này thường ít hiệu quả Nhiều bà mẹ khi thấy trẻ sốt cao, rét run còn đắp chăn cho con vì sợ con mình lạnh Đây là một quan điểm sai lầm vì trẻ không những không hạ sốt mà còn có thể làm trẻ tăng nhiệt độ và tăng nguy cơ co giật

Xử trí co giật do sốt

Một trong những biến chứng của sốt cao là

co giật Đây là một cấp cứu mà các bà mẹ phải

xử trí khẩn trương và đúng cách để tránh nguy

cơ tử vong và di chứng thần kinh cho trẻ

Khi trẻ co giật do sốt, cần nhanh chóng cho trẻ dùng thuốc hạ sốt bằng cách đặt hậu môn nếu trước đó trẻ chưa được dùng Tuyệt đối không được ghì chặt trẻ Dùng miếng gạc sạch

Trang 7

đặt giữa hai hàm răng trẻ để tránh cho trẻ cắn

phải lưỡi và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế

gần nhất để kịp thời điều trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn lựa

Tất cả những bệnh nhi bị sốt đến khám và

điều trị tại khoa Nhi của Bệnh viện Việt Nam –

Cu Ba

Những bà mẹ của những em bé này

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhi không sốt

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 07/ 2010 đến tháng 09/2010

Địa điểm nghiên cứu

Khoa Nhi Bệnh viện Việt Nam – Cu ba Hà

Nội

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp

Cỡ mẫu nghiên cứu

212 trẻ bị sốt đến khám tại khoa Nhi Bệnh

viện Việt Nam – Cu ba từ tháng 07 đến tháng 09

năm 2010

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện

Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu

Khảo sát kiến thức nhận biết và xử trí trẻ sốt của các

bà mẹ

Chúng tôi phỏng vấn các bà mẹ có con bị sốt

đến khám tại khoa qua bộ câu hỏi đã được thiết

kế Đánh giá điểm kiến thức nhận biết và xử trí

trẻ sốt bằng cách chấm điểm những câu trả lời

của các mẹ dựa vào thang điểm định sẵn

Trong số những trẻ bị sốt tham gia nghiên

cứu, chọn ra những trẻ sốt cao trên 39oC nhưng

chưa được dùng thuốc hạ sốt trước đó 6 giờ và

chia những trẻ này thành hai nhóm theo cách

chọn mẫu ngẫu nhiên, cứ 1 trẻ vào nhóm 1, trẻ tiếp theo sẽ vào nhóm 2

Nhóm 1 được dùng thuốc hạ sốt kết hợp với phương pháp chườm ấm

Nhóm 2 chỉ được dùng thuốc hạ sốt đơn thuần

Theo dõi nhiệt độ của hai nhóm trẻ này 15 phút / lần trong 30 phút So sánh sự giảm nhiệt

độ trung bình của hai nhóm sau 15 phút và sau

30 phút

Cách đo thân nhiệt: Trẻ được đo thân nhiệt ở hõm nách bằng nhiệt kế thủy ngân

Thuốc hạ sốt được sử dụng cho trẻ là Paracetamol với liều 10 – 15 mg/kg/lần

Cách chườm ấm cho trẻ:

+ Chuẩn bị dụng cụ:

* Chậu nước ấm, nhiệt độ nước trong chậu khoảng 37oC

* Khăn bông mềm

+ Đặt trẻ ở nơi thoáng, tránh gió lùa

+ Cởi bớt quần áo trẻ

+ Nhúng khăn bông vào nước ấm, vắt bớt nước (không vắt kiệt) Lau nhẹ để tạo một lớp nước mỏng ở đầu, thân mình, tay, chân, đặc biệt

là những vùng có mạch máu lớn như cổ, nách, bẹn

+ Theo dõi thân nhiệt cho trẻ trong quá trình chườm ấm cứ 15 phút 1 lần

+ Khi nhiệt độ cơ thể trẻ < 38oC, ngừng chườm, lau khô người và mặc quần áo cho trẻ

Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Phiếu theo dõi thân nhiệt trẻ

Nhiệt kế đo thân nhiệt cho trẻ

Dụng cụ để chườm ấm cho trẻ:

+ Chậu đựng nước

+ Khăn bông

+ Phích đun nước nóng

Thuốc Paracetamol 0,1g

Trang 8

Các biến số nghiên cứu

Trình độ học vấn của mẹ

Nơi cư trú

Cách nhận biết trẻ sốt

Vị trí đo thân nhiệt trẻ mẹ thường đo

Mốc nhiệt độ mẹ xác định là trẻ sốt

Mốc nhiệt độ mẹ cho là trẻ sốt cao

Mốc nhiệt độ mẹ cần cho trẻ uống thuốc hạ

sốt

Kiến thức của mẹ về những rối loạn cơ thể

khi trẻ sốt cao

+ Thở nhanh

+ Mạch và nhịp tim nhanh

+ Mệt mỏi

+ Ăn uống kém

+ Đau đầu

+ Buồn nôn hoặc nôn

+ Nổi vân tím trên da

+ Run

+ Co giật

+ Mất nước và điện giải

Dùng thuốc hạ sốt theo hướng dẫn của Bác

Việc quan tâm đến liều và khoảng cách giữa

các lần dùng thuốc hạ sốt của những mẹ không

theo hướng dẫn của Bác sĩ

Những biện pháp hạ sốt khác mà các bà mẹ

sử dụng

+ Uống nước lá nhọ nồi

+ Đắp lá nhọ nồi

+ Đắp khăn ướt

+ Đắp chăn cho trẻ vì sợ lạnh

+ Dán miếng dán hạ sốt

+ Nới rộng quần áo

+ Chườm nước lạnh

+ Chườm nước ấm

+ Không làm gì

Xử trí của các bà mẹ nếu trẻ bị co giật do sốt

+ Đặt thuốc hạ sốt đường hậu môn ngay nếu trẻ chưa được dùng thuốc hạ sốt

+ Đặt miếng gạc giữa hai hàm răng trẻ + Ghì chặt trẻ

+ Khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất

+ Không biết làm gì

Điểm kiến thức của các bà mẹ

Nhiệt độ cơ thể lúc bắt đầu theo dõi

Nhiệt độ cơ thể sau 15 phút

Nhiệt độ cơ thể sau 30 phút

Nhiệt độ giảm sau 15 phút

Nhiệt độ giảm sau 30 phút

Xử lý số liệu

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 15.0 Các thuật toán thống kê: Tính tần suất, so sánh trung bình của hai nhóm

Đạo đức trong nghiên cứu

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia một cách tự nguyện và cung cấp thông tin chính xác Tất cả các thông tin thu thập được chỉ phục

vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không nhằm mục đích khác

KẾT QUẢ Kiến thức nhận biết và xử trí sốt của các bà

mẹ

Nhận biết sốt

Đa số các bà mẹ nhận biết trẻ sốt bằng cách cảm nhận bằng tay (178 bà mẹ chiếm 84%)

178

34

Cảm nhận bằng tay

Đo bằng nhiệt kế

Trang 9

Biểu đồ 1 Cách nhận biết sốt của các bà mẹ

1

193

Miệng Hõm nách Hậu môn Màng nhĩ

Biểu đồ 2 Vị trí đo thân nhiệt cho trẻ

* Nhận xét: Hầu hết các bà mẹ (193 mẹ chiếm

91%) thường đo thân nhiệt cho trẻ ở hõm nách

13

154

45

>37oC

>37,5oC

>38oC

Biểu đồ 3 Quan điểm của các bà mẹ về mốc nhiệt

xác định trẻ sốt (Đo ở hõm nách)

* Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ (154 bà mẹ

chiếm 72,6%) quan niệm trẻ sốt khi nhiệt độ cơ

thể trẻ > 37,5oC

44

115

38

15

>38oC

>38,5oC

>39oC

>39,5oC

Biểu đồ 4 Quan điểm của các bà mẹ về mốc nhiệt

được coi là trẻ sốt cao (Đo ở hõm nách)

* Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ (115 mẹ

chiếm 54,3%) cho rằng trẻ sốt cao khi thân nhiệt

trẻ > 38,5oC

Bảng 1 Sự hiểu biết của các bà mẹ về những rối loạn

cơ thể trẻ có thể gặp khi trẻ sốt cao

* Nhận xét: Những triệu chứng rối loạn cơ thể khi trẻ sốt cao được các bà mẹ biết nhiều nhất là ăn uống kém, mệt mỏi, đau đầu

Cách xử trí sốt

13

136

47

16 0

20 40 60 80 100 120 140

>37,5oC >38oC >38,5oC >39oC

Biểu đồ 5 Quan điểm về mốc nhiệt cần dùng thuốc

hạ sốt cho trẻ của các bà mẹ (Đo thân nhiệt ở hõm nách)

* Nhận xét: Đa số các bà mẹ (136 mẹ chiếm 64,2%) cho rằng cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi trẻ sốt > 38oC

105

107

107

Theo chỉ định của BS

Tự ý dùng

Biểu đồ 6 Việc tuân theo chỉ định của bác sĩ khi

dùng thuốc hạ sốt cho trẻ

* Nhận xét: Trong số 212 bà mẹ được phỏng vấn, chỉ có 105 bà mẹ (49,5%) thấy cần thiết dùng thuốc hạ sốt cho trẻ theo hướng dẫn của bác sĩ

Trang 10

50 57

Quan tâm đến liều

& khoảng cách dùng

Không quan tâm

Biểu đồ 7 Việc quan tâm đến liều và khoảng thời

gian giữa các lần dùng thuốc của các bà mẹ tự ý cho

con dùng thuốc hạ sốt

* Nhận xét: Trong số 107 bà mẹ tự ý cho con

dùng thuốc hạ sốt, có 57 bà mẹ (53,3%) dùng

thuốc hạ sốt cho con bất cứ khi nào trẻ sốt mà

không quan tâm đến lượng thuốc hạ sốt đã

dùng trong ngày và khoảng cách giữa các lần

dùng

Bảng 2 Các biện pháp hạ sốt khác các bà mẹ sử dụng

cho trẻ

* Nhận xét: Trong số những bà mẹ được

phỏng vấn, vẫn còn một số bà mẹ có quan điểm

sai lầm khi xử trí trẻ sốt như đắp chăn cho trẻ

(37 mẹ chiếm 17,5%), chườm nước lạnh cho trẻ

(31 mẹ chiếm 14,6%)

Bảng 3 Kiến thức xử trí nếu trẻ bị co giật do sốt của

các bà mẹ

Khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất 206 97,2

* Nhận xét: Trong số các bà mẹ được

phỏng vấn, hầu hết các bà mẹ đều biết khẩn

trương đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất nếu trẻ

bị co giật do sốt

Đánh giá điểm kiến thức của các bà mẹ về nhận biết và cách xử trí khi trẻ sốt

74

84

54

<50 điểm

50 - < 70 điểm

≥ 70 điểm

Biểu đồ 8 Điểm kiến thức nhận biết và xử trí sốt của

các bà mẹ

* Nhận xét:Trong số 212 bà mẹ, số bà mẹ có điểm kiến thức trung bình từ 50 - < 70 điểm chiếm tỉ lệ cao nhất (39,6%), số bà mẹ có kiến thức tốt > 70 điểm chỉ có 25,5%

Bảng 4 Điểm trung bình kiến thức theo trình độ học

vấn của mẹ

Tốt nghiệp PTTH

* Nhận xét: Những bà mẹ có trình độ văn

hóa trên phổ thông trung học có điểm trung bình kiến thức hơn nhóm những bà mẹ có trình độ văn hóa dưới phổ thông trung học 29,6 điểm (p < 0,01)

Bảng 5 Điểm trung bình kiến thức theo nơi cư trú

của các bà mẹ

* Nhận xét: Điểm trung bình kiến thức của các bà mẹ sống ở nội thành tương đương với điểm trung bình kiến thức của các bà mẹ sống ở ngoại thành (p > 0,05)

Đánh giá hiệu quả của phương pháp chườm ấm khi trẻ sốt cao

Bảng 6 So sánh nhiệt độ giảm trung bình sau 15

phút của 2 nhóm

Nhiệt độ giảm trung bình

* Nhận xét: Sau 15 phút, nhiệt độ giảm trung bình của những bệnh nhi nhóm 1 giảm 1,1 ± 0,3

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w