1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lọc máu liên tục trong sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan ở trẻ em tại khoa hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 1

11 80 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 390,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục và yếu tố liên quan đến kết quả điều trị trẻ sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan, nhập khoa hồi sức tích cực - chống độc bệnh viện nhi đồng 1 từ 01/01/2006-30/09/2014. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG SỐC NHIỄM KHUẨN BIẾN CHỨNG SUY ĐA CƠ QUAN Ở TRẺ EM TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC

– CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Nguyễn Minh Tiến*, Phạm Văn Quang*, Phùng Nguyễn Thế Nguyên*, Trần Hoàng Út*Lý Tố Khanh*, Lâm Thị Thúy Hà*, Lê Vũ Phượng Thy*Mã Tú Thanh*, Võ Thanh Vũ*, Nguyễn Thị Bích Hằng*,

Hồ Thụy Kim Nguyên*, Vưu Thanh Tùng*, Thái Quang Tùng*, Bạch Nguyễn Vân Bằng*,

Nguyễn Tô Bảo Toàn*, Tạ Minh Hòa Hiệp*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục và yếu tố liên quan đến kết quả điều trị trẻ sốc nhiễm khuẩn

biến chứng suy đa cơ quan, nhập khoa hồi sức tích cực – chống độc bệnh viện nhi đồng 1 từ 01/01/2006 – 30/09/2014

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả hàng loạt trường hợp

Kết quả: 48 trường hợp sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan, được chẩn đoán dựa trên lâm sàng và

xét nghiệm, được đưa vào lô nghiên cứu, tuổi trung vị 14,5 tháng, nhỏ nhất 3 tháng, nam chiếm tỉ lệ 58,3% nữ 41,7%, được lọc máu liên tục phương thức tĩnh – tĩnh mạch hoặc phương thức lọc thẩm tách máu tĩnh – tĩnh mạch liên tục cho thấy cải thiện lâm sàng như tri giác, nhịp tim, nhiệt độ, xanh tái, da nổi bông, cũng như cải thiện tình trạng toan máu, lactate máu Tỉ lệ tử vong 39,6% Các yếu tố liên quan đến tử vong có ý nghĩa thống

kê bao gồm tình trạng sốc sâu, Hôn mê sâu Glasow < 5 điểm, tổn thương gan nặng

Kết luận: Lọc máu liên tục là biện pháp hỗ trợ cuối cùng điều trị sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ

quan khi mà các biện pháp khác trở nên không hiệu quả như thông khí cơ học sớm, chống sốc theo lưu đồ hướng dẫn, cũng như các thuốc vận mạch

Từ khóa: Sốc nhiễm khuẩn, hội chứng suy đa cơ quan, lọc máu tĩnh- tĩnh mạch liên tục, lọc thẩm tách máu tĩnh – tĩnh mạch liên tục

ABSTRACT

CONTINUOUS VENO-VENOUS HEMOFILTRATION ON MULTIPLE ORGAN DYSFUNCTION SYNDROME DUE TO SEPTIC SHOCK IN CHILDREN ADMITTED AT PEDIATRIC INTENSIVE CARE

UNIT

Nguyen Minh Tien, Phạm Van Quang, Phung Nguyen The Nguyen, Tran Hoang Ut, Ly To Khanh, Lam Thi Thuy Ha, Le Vũ Phuong Thy, Ma Tu Thanh, Vo Thanh Vu, Nguyen Thi Bich Hang,

Ho Thuy Kim Nguyen, Vuu Thanh Tung, Thai Quang Tung, Bach Nguyen Van Bang,

Nguyen To Bao Toan, Ta Minh Hoa Hiep

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 3 - 2015: 63 - 74

Objective: Assess the efficacy of continuous veno-venous hemofiltration (CVVH) on treatment of multiple

organ dysfunction syndromes (MODS) due to septic shock and factors related to outcome in children admitted at Pediatric Intensive Care Unit from January 1 st 2006 till September 30 th 2014

Methods: Retrospective descriptive study of cases series

* Bệnh viện Nhi Đồng 1

Trang 2

Results: 48 cases of MODS due to septic shock diagnosed by clinical findings and paraclinical tests, who

were included, with age median of 14.5 month old, youngest of 3 month old, male accounting for 58.3%, female 41.7%, have been given CVVH or CVVHDF, showing improvement on clinical findings such as level of consciousness, cardiac rate, temperature, pallor, mottled skin as well as betterment on metabolic acidosis, level of lactate Mortality rate was 39.6% Risk factors related to mortality included profound shock, Glasgow coma score under 5 points, severe hepatic injury

Conclusion: CVVH or CVVHDF is the final supportive intervention for patients with MODS due to septic

shock who failed to standard therapeutic protocol including early intubation, shock resuscitation by flowchart protocol, inotrope or vasoactive drugs

Key words: Multiple organ dysfunction syndromes, septic shock, continuous veno-venous hemofiltration,

continuous veno-venous hemodiafiltration

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em là bệnh lý có tỉ

lệ mắc và tử vong cao đặc biệt khi có biến chứng

sốc nhiễm khuẩn, hay tổn thương đa cơ quan

Năm 2003 Liên đoàn thế giới các hiệp hội hồi sức

cấp cứu nhi đã phát động chương trình quốc tế

kiểm soát nhiễm khuẩn huyết trẻ em, thông qua

các hướng dẫn chẩn đoán sớm và điều trị hiệu

quả(8) Cho đến nay các hướng dẫn đã được cập

nhật theo y học chứng cớ qua các năm 2007,

2009(1) và mới đây phối hợp với chương trình

kiểm soát sống còn nhiễm khuẩn huyết

(surviving sepsis campaign) năm 2012(5) đã cập

nhật xử trí nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc

nhiễm khuẩn ở cả người lớn và trẻ em Tuy

nhiên vẫn còn không ít các trường hợp nhiễm

khuẩn huyết nặng, sốc nhiễm khuẩn kém đáp

ứng với điều trị và biểu hiện suy đa cơ quan cần

điều trị can thiệp hỗ trợ lọc máu liên tục Cũng

theo chương trình kiểm soát sống còn nhiễm

khuẩn huyết (surviving sepsis campaign) năm

2012, hiệu quả lọc máu tĩnh tĩnh mạch liên tục

cho thấy cải thiện tình trạng dư dịch và tổn

thương các cơ quan trong nhiễm khuẩn huyết

nặng, sốc nhiễm khuẩn(5) Cho tới nay cơ chế

bệnh sinh trong nhiễm khuẩn huyết sốc nhiễm

khuẩn có liên quan đến các vấn đề phóng thích

các nội độc tố của vi khuẩn, kích hoạt tế bào nội

mạc mao mạch, kích hoạt các tế bào viêm, mà

hậu quả đưa đến sản xuất nhiều cytokine gây

viêm như TNF, IL-1, IL-2, IL-6, IL-8, IL-12, từ

đó đưa đến tổn thương các cơ quan Lọc máu

liên tục ngoài điều trị suy thận cấp, lấy bớt dịch phù khỏi cơ thể, thải loại ure, creatinine, kali, còn giúp loại bỏ Cytokine gây viêm và các hóa chất trung gian Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài lọc máu liên tục trong sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan ở trẻ em nhằm rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn để chia sẽ với các bác sĩ công tác hồi sức nhi, đặc biệt là trong lĩnh vực lọc máu, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và cải thiện tử vong

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục và yếu tố liên quan đến kết quả điều trị trẻ sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan, nhập khoa hồi sức tích cực – chống độc bệnh viện Nhi Đồng

1 từ 01/01/2006 – 30/09/2014

Mục tiêu cụ thể

So sánh tỉ lệ biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng trước sau lọc máu lần thứ nhất

Xác định tỉ lệ đặc điểm kỹ thuật lọc máu và biến chứng liên quan, tỉ lệ sống còn, số lần lọc máu liên tục, thời gian nằm hồi sức

Nhận định các yếu tố liên quan đến kết quả lọc máu liên tục

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hồi cứu loạt trường hợp

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu

Trang 3

Chọn mẫu liên tiếp không xác suất

Tiêu chí chọn bệnh

Bệnh nhân  15 tuổi, được chẩn đoán lâm

sàng sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ

quan bao gồm các tiêu chí (1),(2),(3),(4):

(1) Có hội chứng đáp ứng viêm toàn thân:

Systemic Inflammatory Response Syndrome

(SIRS): hiện diện ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau

trong đó ít nhất có một tiêu chuẩn về nhiệt độ hay số lượng bạch cầu:

Sốt > 38,5 0C hoặc hạ thân nhiệt < 360C

Tim nhanh theo tuổi(*) hoặc tim chậm ở trẻ dưới 1 tuổi(**)

Thở nhanh theo tuổ (***)

Bạch cầu tăng hoặc giảm theo tuổi(*****) hay band neutrophile > 10%

Nhóm tuổi Nhịp tim Nhịp Thở(***) HA t thu (mmHg)(****) Số lượng bạch cầu x 10 3 (*****)

Nhanh(*) Chậm(**)

(2) được xác định hay gợi ý tác nhân vi

khuẩn qua một trong các tiêu chí sau:

Cấy máu dương tính (mọc vi khuẩn gây

bệnh)

Soi nhuộm Gram hay PCR phát hiện phân tử

di truyền vi khuẩn hoặc cấy mọc vi khuẩn trên

mẫu bệnh phẩm

Tăng bạch cầu trong dịch cơ thể vô khuẩn

(dịch ổ bụng, màng phổi, dịch não tủy)

Có ổ nhiễm khuẩn gợi: từ đường tiêu hóa, hô

hấp, tiết niệu, gan mật, da trên lâm sàng hay

chẩn đoán hình ảnh (Xquang, siêu âm)

CRP tăng (> 20 mg/L) hay PCT

(procalcitonin) tăng (> 0,5 ng/ml)

(3) Có biểu hiện hội chứng suy đa cơ quan

theo tiêu chuẩn Goldstein: khi có 2 trong các cơ

quan bị suy sau đây trong đó có cơ quantim

mạch (sốc nhiễm khuẩn):

+ Cơ quan tim mạch: Tụt huyết áp(****)

không đáp ứng với bù dịch ≥ 40 ml/kg/giờ

HA vẫn tụt hoặc

Cần vận mạch để duy trì huyết áp bình

thường (Dopamin > 5 g/kg/ph hoặc Dobutamin,

Epinephrine) hoặc

Có 2 tiêu chuẩn sau (giảm tưới máu):

Toan chuyển hóa (BE < - 5 mEq/l) không giải thích được

Lactate máu động mạch > 2 lần trị số bình thường (> 4 mmol/L)

Thiểu niệu: < 0,5 ml/kg/h

CRT > 5 giây

Chênh lệch nhiệt độ ngoại biên và trung tâm

> 30C

+ Cơ quan hô hấp:

PaO2/FIO2 < 300 (không có tim bẩm sinh tím hoặc bệnh phổi trước đó)

PaCO2 > 65 hoặc baseline + 20 mmHg

Cần FIO2 > 50% để duy trì SaO2 > 92%

Cần thông khí cơ học

+ Thần kinh:

Glasgow < 11đ

Glasgow giảm  3 đ

+ Huyết học:

Tiểu cầu < 80.000/mm3 INR > 2

+ Thận: Creatinin  2 lần giới hạn trên theo tuổi, tức là ≥ 0,8 mg% (70,8µmol/L) trẻ < 1 tuổi, ≥ 1,4 mg% (123,9µmol/L), trẻ 1-8 tuổi, ≥ 2mg% (176,9µmol/L) trẻ > 8 tuổi Bất thường chức năng

Trang 4

thận khi urê > 40 mg% (7,1mmol/L) hoặc

creatinine > giới hạn trên theo tuổi

+ Gan:

Bilirubin toàn phần > 4 mg/dl (không áp

dụng cho sơ sinh)

ALT > 2 lần trị số bình thường Tổn thương

gan nặng AST hoặc ALT > 1000 đv/L

(4) có chỉ định lọc máu liên tục:

Nhiễm khuẩn huyết suy đa cơ quan kèm suy

thận cấp hoặc

Xem xét các trường hợp nhiễm khuẩn huyết

suy đa cơ quan không kèm suy thận cấp nhưng

có biểu hiện phản ứng viêm mạnh (CRP tăng cao

> 100mg/L), sốt cao liên tục kém đáp ứng với

biện pháp hạ sốt tích cực, nhịp tim tăng > 180

lần/ph, ARDS

Biện pháp hạ sốt tích cực bao gồm Lau mát

hạ sốt tích cực Paracetamol 10-15 mg/kg/ lần

TTM chậm trong 15 phút Nếu thân nhiệt vẫn

còn > 39oC sau 1 giờ sử dụng paracetamol TTM:

kết hợp Ibuprofen 10 mg/kg/lần (uống hay qua

sonde dạ dày) Không sử dụng Ibuprofen nếu có

xuất huyết tiêu hóa Rửa dạ dày bằng NaCl 0,9%

lạnh, ± kết hợp thụt tháo NaCl 0,9% lạnh: khi còn

sốt > 40oC và không đáp ứng với Paracetamol +

Ibuprofen Cách tạo NaCl 0,9% lạnh dùng trong

rửa dạ dày hay thụt tháo để hạ sốt: Dung dịch

Nacl 0,9% để ngăn 4-10oC của tủ lạnh hoặc dung

dịch NaCl 0,9% ướp đá lạnh trong 30 phút hay

để trong ngăn đá tủ lạnh 10-15 phút trong các

trường hợp khẩn cấp nhưng không có sẵn NaCl

0,9% làm lạnh

Tiêu chí loại trừ

Các trường hợp bệnh nhân nhiễm khuẩn

huyết không có biến chứng sốc nhiễm khuẩn

được lọc máu liên tục hay được điều trị bằng

phương pháp khác như thay huyết tương

Có bất thường bệnh lý khác đi kèm như

bệnh tim bẩm sinh, bệnh lý thần kinh, bệnh phổi

mạn, hội chứng thận hư, đa dị tật

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

01/01/2006 – 30/09/2014, tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc Bệnh Viện Nhi Đồng 1

Các bước tiến hành

Sau khi có chỉ định lọc máu, bệnh nhân sẽ được tiến hành lọc máu theo qui trình lọc máu liên tục của khoa hồi sức như sau:

Máy PRISMA flex hoặc máy Aquarius (đã được trang bị tại Khoa Hồi Sức)

Dịch lọc sử dụng: dung dịch Hemosol Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm 2 nòng số 6-7F hoặc 8-11F (tùy bệnh nhân)

Màng lọc cho máy lọc máu PRISMA FLEX loại M60 cho trẻ < 20 kg hoặc M100 cho trẻ  20

kg

Tốc độ lọc hay tốc độ dịch thay thế: 40 ml/kg/h, Tốc độ bơm máu 4-6 ml/kg/ph

Kháng đông: Heparin hóa máu bệnh nhân bằng liều tấn công 3 phút trước khi bắt đầu (heparin 0 – 50 UI/kg hoặc fraxiparin liều 0 – 20 UI/kg nếu tiểu cầu < 50.000/mm3) tiêm tĩnh mạch tùy tình trạng đông máu của bệnh nhân, liều duy trì được pha với natri clorua 0,9% và truyền vào chu trình trước màng lọc (fraxiparin liều 0 –

10 UI/kg/giờ hoặc heparin 0 – 20 UI/kg/giờ) bằng máy bơm tiêm tự động Bệnh nhân có nguy cơ chảy máu (INR > 2) giảm nửa liều Nếu bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết và INR > 4, không dùng kháng đông Lưu ý theo dõi chức năng đông máu mỗi 4-6 giờ để điều chỉnh liều kháng đông thích hợp

Theo dõi

Bệnh nhân được theo dõi quá trình lọc máu bằng phiếu theo dõi lọc máu

Sinh hiệu và theo dõi lượng xuất nhập được theo dõi mỗi giờ trong 6 giờ đầu, ít nhất mỗi 4 giờ trong 24 giờ kế

Thu nhập số liệu

Sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan thuộc lô nghiên cứu được tiến hành thu thập số

Trang 5

liệu trong quá trình lọc máu, theo hồ sơ nghiên

cứu kèm theo bao gồm:

Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới, địa chỉ,

ngày xuất hiện sốc, ngày xuất hiện biến chứng

thở bất thường

Biểu hiện lâm sàng trước lúc và trong quá

trình lọc máu liên tục tại thời điểm t0, t6, t12,

t24: Mạch/Nhịp tim, nhiệt độ, huyết áp, tri

giác (Glasgow), xanh tái, da nổi bông, toan

chuyển hoá, chỉ số vận mạch tăng co (VIS

vasoactive Inotropic Score = (dopamine +

dobutamine) x 1 + (adrenaline +

noradrenaline) x 100 + Milrinone x 15

Xét nghiệm lúc lọc máu: CTM, Hct, tiểu cầu,

đường huyết, ion đồ, lactate máu, khí máu động

mạch, CVP, chức năng đông máu toàn bộ tại thời

điểm t0, t6, t12, t24, xét nghiệm chức năng gan:

SGOT, SGPT, chức năng thận, tại thời điểm t0, t12, t24

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích

số liệu, sử dụng các phép kiểm Independent Samples T Test dành cho biến định lượng độc lập, phép kiểm paired-sample t test dành cho biến định lượng cặp đôi, phép kiểm χ2 dành cho biến định tính so sánh 2 tỉ lệ độc lập, phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks Test dành cho biến định tính so sánh cặp đôi, ngưỡng ý nghĩa thống kê P < 0,05

KẾT QUẢ

Trong thời gian gần 9 năm từ 01/01/2011 – 30/09/2014, có 48 trẻ sốc nhiễm khuẩn biến chứng suy đa cơ quan, thỏa tiêu chí nhận vào, được đưa vào lô nghiên cứu, với các đặc điểm sau:

Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, vi sinh

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, vi sinh

Đường vào/ ổ

nhiễm khuẩn

Cận lâm sàng

Điểm Glasgow 9,8 ± 1,4, 5 - 11: 13 (27,1%), < 5: 9 (18,8%)

Trang 6

Đặc điểm Kết quả

Na+/K+/Ca++ (mmol/L) 132,4 ± 4,6 / 5,4 ± 0,7 / 1,02 ± 0,06 Đường huyết (mmol/L) 6,3 ± 2,7 / < 2.5: 14 (29,2%), > 10: 11 (22,9%)

PRISM pediatric risk of mortality, PELOD: pediatric logistic organ dysfunction, ARDS acute respiratory distress syndrome, DIC: disseminated intravascular coagulation

Can thiệp điều trị ngoài lọc máu liên tục

Bảng 2: Can thiệp điều trị ngoài lọc máu liên tục

Noradrenaline số ca/liều tối đa TB (mcg/kg/phút) 17 (35,4%) /1,1 ± 0,12

CVP central nervous pressure: Áp lực tĩnh mạch trung tâm, HAĐMXL: huyết áp động mạch xâm lấn TB: trung bình, TTM: truyền tĩnh mạch, TM tĩnh mạch.

Trang 7

Đặc điểm lọc máu đợt đầu

Bảng 3: Đặc điểm lọc máu đợt đầu

Phương thức lọc máu CVVH/CVVHDF 41 (85,4%) /

7 (14,6%) Chỉ định lọc máu

Suy đa cơ quan kèm suy thận cấp 29 (60,4%)

Suy đa cơ quan

không kèm suy thận cấp

19 (39,6%) Sốt cao > 390C liên tục, nhịp tim nhanh,

không đáp ứng biện pháp hạ sốt tích cực

16 (33,3%) Thở máy + ARDS + nhịp tim nhanh > 180

l/ph

3 (6,3%) Ngày bệnh lúc lọc máu (ngày) Median 3

(3-4: 83,3%) Thời gian từ lúc sốc –

lúc bắt đầu lọc máu (giờ)

28,6 ± 9,4 (18-96) Thời gian từ lúc có chỉ định - lọc máu trung

bình (giờ)

1,9 ± 1,2 (1-4) Thời gian lọc máu trung bình (giờ) 31,6 ± 7,1

Thể tích dịch thay thế trung bình (ml/kg/giờ) 40,8 ± 2,4

Thể tích dịch thẩm tách trung bình

(ml/kg/giờ)

24,7 ± 3,2 Thể tích dịch lấy ra trung bình (ml/kg/giờ) 2,4 ± 1,3

Tốc độ bơm máu (ml/kg/phút) 5,3 ± 1,2 Chống đông

Catheter 2 nòng 6-6.5F/7F/8-11F 25 (52,1%) /18

(37,5%)/ 5(10,4%) Đặt 2 catheter cùng lúc 13 (27,1%) Biến chứng

do can thiệp điều trị lọc máu liên tục

Số trường hợp lọc máu liên tục ≥ 2 lần

17 (35,4%)

CVVH Continuous veno-Venous Hemofiltration, CVVHDF Continuous veno-Venous Hemodiafiltration

Diễn tiễn tổn thương các cơ quan trước và sau lọc máu lần đầu

Bảng 4: Diễn tiễn tổn thương các cơ quan trước và sau lọc máu lần đầu

Cơ quan T0 sau lọc máu T12 sau lọc máu T24 sau lọc máu P

Chuyển hóa

Kiềm toan

ScvO 2 : saturation of central oxygen, BE: base excess, VIS: vasoactive drugs score

*phép kiểm Paired Samples T Test, **phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks Test, ngưỡng ý nghĩa P < 0,05, NS: non-significant

Trang 8

Các yếu tố liên quan đến kết quả lọc máu

Bảng 5 So sánh đặc điểm nhóm sống và tử vong

Yếu tố Nhóm sống

(n = 29)

Nhóm tử vong (n = 19) P value

Lactate (mmol/L) 4,7 ± 1,3 6,2 ± 1,1 < 0,05**

AST (đv/L) 1142,6 ± 42,7 2559,7 ± 61,2 < 0,05**

ALT (đv/L) 484,6 ± 53,2 1084,6 ± 72,5 < 0,05**

VIS 46,3 ± 5,4 71,4 ± 6,3 < 0,05**

PRISM 16,8 ± 3,1 22,7 ± 4,2 < 0,05**

PELOD 15,7 ± 2,1 20,6 ± 2,3 < 0,05**

MODS

không suy thận

Thời gian từ lúc

sốc – bắt đầu lọc

máu (giờ)

24,5 ± 4,3 31,6 ± 6,4 NS*

Thời gian từ lúc

chỉ định – lọc máu

(giờ)

MODS: Multiple organ dysfunction syndrome, *phép kiểm

Independent Samples T Test, **phép kiểm 2 Test, ngưỡng ý

nghĩa P< 0,05, NS: non-significant

BÀN LUẬN

Trong thời gian gần 9 năm từ 01/01/2011 –

30/09/2014, có 48 trẻ sốc nhiễm khuẩn biến

chứng suy đa cơ quan, tuổi trung vị 14,5 tháng,

nhỏ nhất 3 tháng, lớn nhất 13 tuổi, phần lớn trẻ

dưới 2 tuổi (64,6%), và có cân nặng thấp dưới 10

kg (52,1%), nam chiếm tỉ lệ 58,3% nữ 41,7% Đa

số trẻ ở ngụ ở tỉnh (66,7%), chuyển viện từ tuyến

trước (64,6%)

Tất cả các trẻ nhập viện trong tình trạng sốc,

trong đó sốc sâu chiếm tỉ lệ 70,8% Đường vào ổ

nhiễm khuẩn đa số từ đường tiêu hóa 54,2%, kế

đến là đường hô hấp 14,6%, da 10,4%, không rõ

đường vào 20,8% Tình trạng sốc nhiễm khuẩn

thường xảy ra vào ngày 1,2 (70,8%) với số lượng

bạch cầu tăng cao, CRP cao, kèm tổn thương các

cơ quan như gan (79,2%), thận (60,4%), hội

chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) 47,9%,

rối loạn tri giác với điểm Glasgow trung bình 9,8,

đông máu nội mạch lan tỏa DIC 58,3%, rối loạn chuyển hóa hạ đường huyết (29,9%), tăng đường huyết (22,9%), tăng lactate máu (95,8%), toan chuyển hóa nặng (68,7%) Điểm số PRISM, PELOD trung bình lần lượt là 20,1 và 18,6 phản ánh độ nặng của bệnh và tổn thương các cơ quan đưa đến hội chứng suy đa cơ quan Bằng chứng

vi sinh ghi nhận cấy máu mọc vi khuẩn gây bệnh trong 27,1% các trường hợp, trong đó nhiễm

Escherichia coli chiếm ưu thế Có 3 trường hợp cấy máu mọc với tụ cầu vàng Staphylococcus aureus, trong 2 trường hợp từ nhiễm khuẩn sau

tiêm ngừa vacxin 3 trong 1 Sởi - Quai bị - Rubella biểu hiện hội chứng sốc độc tố với biểu hiện lâm sàng sốt cao liên tuc, ói mửa, tiêu chảy, tụt huyết

áp, đỏ da, kết mạc mắt sung huyết, lưỡi dâu, rối loạn tri giác nhưng không có dấu hiệu thần kinh khu trú

Về điều trị, tất cả các trường hợp (100%) được đặt nội khí quản giúp thở, thở máy với an thần bằng midazolam đơn thuần hoặc phối hợp fentanyl (54,2%) Theo hướng dẫn quốc tế về xử trí nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn của Chương trình kiểm soát sống còn nhiễm khuẩn huyết (surviving sepsis campaign) năm

2012(6), chỉ định đặt nội khí quản thở máy sớm nếu bệnh nhân thở không hiệu quả, sốc không

ổn định, tri giác xấu hơn, giúp cải thiện chống sốc hiệu quả hơn Tất cả các trường hợp được truyền dịch chống sốc với tổng lượng dịch trung bình trong 6 giờ đầu là 85,4 ml/kg, có 81,3% các trường hợp không đáp ứng với dung dịch điện giải, được đổi sang dung dịch cao phân tử với lượng cao phân tử sử dụng trung bình là 38,2ml/kg Loại cao phân tử chúng tôi sử dụng là gelatin hoặc hoặc HES 130 6% hoặc HES 200 6% Tất cả các trường hợp trong lô nghiên cứu của chúng tôi, đều sử dụng thuốc vận mạch dopamine và dobutamine với liều tối đa trung bình tương ứng là 10,6 và 11,8 mcg/kg/ph trong khi adrenaline và noradrenaline chiếm tỉ lệ 47,9% và 35,4% với liều tối đa trung bình là 1,2

và 1,1 mcg/kg/ph Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP central nervous pressure)

Trang 9

và huyết áp động mạch xâm lấn (HAĐMXL)

được thực hiện ở 89,6% và 93,8% các trường hợp

và là kỹ thuật rất cần thiết cho điều trị hướng

mục tiêu sớm, giúp hướng dẫn điều chỉnh tốc độ

dịch truyền và thuốc vận mạch cũng như lấy

máu xét nghiệm(1)

Chúng tôi sử dụng hydrocortisone liều thấp

cho 11 (22,9%) trường hợp sốc kháng với

cathecolamine Chỉ định corticoid trong sốc

nhiễm khuẩn ở trẻ em theo các tác giả bao gồm

tử ban tối cấp do não mô cầu, hoặc trẻ có tiền sử

sử dụng corticoid gần đây vì bất thường trục hạ

đồi – tuyến yên – thượng thận hay trẻ sốc nhiễm

khuẩn không đáp ứng với cathecolamine(2,6) Tất

cả các trường hợp tuân thủ sử dụng kháng sinh

trong vòng 1 giờ đầu tiên với kháng sinh ban

đầu là cephalosporine thế hệ thứ 3 (cefotaxime

hoặc ceftriaxone) 83,3%, quinolone

(ciprofloxacine hoặc pefloxacine) 16,7%(6) Tuy

nhiên, có 3 (6,9%) trường hợp trẻ sốc nhiễm

trùng có biểu hiện nhiễm khuẩn da (nhọt da

nung mủ vùng mông, lưng và cánh tay trái sau

tiêm chủng) được sử dụng nhóm kháng sinh

điều trị tụ cầu trùng là vancomycin Các trường

hợp diễn tiến nặng, kém đáp ứng kháng sinh

ban đầu cephalosporine thế hệ thứ 3 hoặc

quinolone, chúng tôi đổi sang kháng sinh phổ

rộng nhóm carbapenem 77,1% Theo hướng dẫn

quốc tế về xử trí nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc

nhiễm khuẩn của Chương trình kiểm soát sống

còn nhiễm khuẩn huyết (surviving sepsis

campaign) năm 2012, dùng kháng sinh thích hợp

sớm cho nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc

nhiễm khuẩn cải thiện tử vong hơn sử dụng

kháng sinh trễ, không thích hợp, sử dụng kháng

sinh càng trễ, càng làm tăng tỉ lệ tử vong(6) Có

95,8% các trường hợp được sử dụng bicarbonate

điều chỉnh toan chuyển hóa máu Tuy nhiên cần

lưu ý rằng toan chuyển hóa là do thiếu tưới máu

mô nên điều cần thiết là tối ưu hóa tưới máu mô

hơn là sử dụng bicarbonate Ngoài ra có 29,2%

các trường hợp được điều chỉnh hạ đường huyết

và 2 trường hợp được truyền gammaglobulin

(4,2%) là 2 trường hợp hội chứng sốc độc tố to nhiễm tụ cầu vàng sau chủng ngừa

Mặc dù được điều trị tích cực với tất cả các biện pháp can thiệp trên nhưng các bệnh nhân trong lô nghiên cứu vẫn không đáp ứng với điều trị và diễn tiến nặng biến chứng tổn thương gan, thận, hô hấp đưa đến hội chứng suy đa cơ quan nên được tiến hành lọc máu liên tục

Có 41 trường hợp (85,4%) được lọc máu theo phương thức tĩnh - tĩnh mạch liên tục (CVVH),

và 7 trường hợp (14,6%) theo phương thức lọc thẩm tách máu tĩnh – tĩnh mạch liên tục (CVVHDF) với các chỉ định hội chứng suy đa cơ quan kèm suy thận cấp (60,4%), không kèm suy thận 39,6% (bảng 3) Theo chương trình kiểm soát sống còn nhiễm khuẩn huyết (surviving sepsis campaign) năm 2012, chỉ định lọc máu liên tục trong nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn là khi có biến chứng suy đa cơ quan trong đó có suy thận cấp(5) Các chỉ định khác còn bàn cải, tuy nhiên các tác giả Nhật Bản

đã chỉ định và áp dụng lọc máu liên tục cho các trường hợp nhiễm khuẩn huyết suy đa cơ quan không kèm suy thận như tổn thương gan, ARDS, phản ứng viêm mạnh với sốt cao liên tục, nhịp tim nhanh, cho kết quả khả quan và ưa chuộng phương thức lọc thẩm tách máu tĩnh – tĩnh mạch liên tục (CVVHDF)(13,12) Đa số các trường hợp được lọc máu liên tục vào ngày thứ 3,4 của bệnh (83,3%) Thời gian từ lúc có chỉ định lọc máu đến khi gắn bệnh nhân vào máy lọc máu trung bình

là 1,9 ± 1,2 giờ Đây là thời gian dành cho tiếp cận tĩnh mạch trung tâm, cũng như khởi động mồi dịch hệ thống máy lọc máu để máy sẵn sàng hoạt động Thời gian này càng ngắn càng tốt vì can thiệp lọc máu được tiến hành nhanh chóng Tuy nhiên không phải dễ đạt được vì tiếp cận mạch máu trung tâm ở trẻ nhỏ rất khó đặc biệt ở trẻ có cân nặng ≤ 10kg trong lô nghiên cứu của chúng tôi chiếm 52,1% các trường hợp Để rút ngắn thời gian chuẩn bị, chúng tôi chia 2 nhóm thực hiện song song một nhóm thực hiện tiếp cận mạch máu gồm các bác sĩ giỏi có kinh nghiệm trong chích tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch

Trang 10

cảnh trong phần lớn với catheter 6-6.5F (52,1%)

và 7F 2 nòng (37,5%), một nhóm khởi động

chuẩn bị máy lọc máu liên tục gồm các bác sĩ

điều dưỡng giỏi thuần thục lắp ráp mồi dịch hệ

thống máy lọc máu Thời gian ngắn nhất trong

nghiên cứu của chúng tôi là 1 giờ Tuy nhiên

cũng cần lưu ý tiếp tục hồi sức hô hấp tuần hoàn

tối ưu cũng như điều chỉnh rối loạn điện giải,

thăng bằng kiềm toan Thời gian từ lúc sốc – lúc

bắt đầu lọc máu 28,6 ± 9,4 giờ Đây là thời gian

cần thiết cho mọi nổ lực tích cực để đạt được

mục tiêu trong hồi sức sốc nhiễm trùng trước khi

đưa ra quyết định lọc máu Chưa có bằng chứng

lọc máu sớm trong nhiễm khuẩn huyết nặng, sốc

nhiễm trùng cải thiện kết quả điều trị(5,9) Thời

gian lọc máu liên tục trung bình 31,6 ± 7,1 giờ

Chúng tôi sử dụng dịch hemosol chứa điện giải

và có chất đệm là bicarbonate làm dịch thay thế

cũng như dịch thẩm tách Thể tích dịch thay thế

trung bình 40,8 ± 2,4 ml/kg/giờ Thể tích dịch

thẩm tách trung bình 24,7 ± 3,2 ml/kg/giờ Cho

tới hiện nay vẫn chưa có đủ bằng chứng lọc máu

với liều cao ≥ 50 ml/kg/giờ cải thiện tỉ lệ tử vong

trong sốc nhiễm khuẩn(3,7) Các khuyến cáo liều

dich thay thế thích hợp hiện nay là 20-40

ml/kg/giờ(15)

Chúng tôi chống đông hệ thống lọc máu

phần lớn (87,5%) bằng fraxiparine (nadroparine)

liều tấn công trung bình 20,8 ± 0,6 UI/kg, duy trì

11,5 ± 2,8 UI/kg/giờ, số còn lại (12,5%) được

chống đông bằng heparin với liều tấn công trung

bình 50,6 ± 4,7 UI/kg, duy trì 16,8 ± 2,4 UI/kg/giờ

Mặc dù chống đông liều cao như vậy nhưng vẫn

có biến chứng đông màng lọc (18,8%), tắc

catheter (22,9%) nên chúng tôi phải thay quả lọc

hay catheter hoặc chích 2 catheter ở 2 tĩnh mạch

đùi trái, phải hoặc chích thêm tĩnh mạch cảnh

trong (27,1%) để lọc máu liên tục đạt hiệu quả,

giảm đông màng lọc và tắc catheter Để phòng

ngừa đông màng lọc, tắc catheter ngoài theo dõi

chức năng đông máu để điều chỉnh kháng đông,

cần theo dõi sát áp lực xuyên màng (TMP), áp

lực máu ra (access pressure), áp lực máu về

(return pressure) để điều chỉnh thông catheter

kịp thời, thực hiện thủ thuật rửa màng lọc và chỉnh liều thuốc kháng đông thích hợp Ngoài ra

ở trẻ ≤ 10 kg thường có vấn đề mất máu ra tuần hoàn ngoài cơ thể, trẻ dễ bị sốc sau khi rút máu

ra ngoài cơ thể vào hệ thống lọc, hoặc kèm thêm mất máu khi chích tĩnh mạch trung tâm gặp khó khăn, nên trong nghiên cứu chúng tôi có 15 trẻ cần truyền thêm máu chiếm tỉ lệ 31,3%

Đánh giá hiệu quả lọc máu qua thay đổi lâm sàng và cận lâm sàng (bảng 4) cho thấy mạch, nhiệt độ cải thiện rõ ở thời điểm 12, 24 giờ sau khi bắt đầu lọc máu Tương tự như vậy, tỉ lệ dấu hiệu da xanh tái, da nổi bông/rối loạn vận mạch cải thiện dần ở thời điểm 12, 24 giờ sau khi bắt đầu lọc máu Cải thiện các chỉ số hô hấp như PaO2/FiO2, AaDO2 có ý nghĩa thống kê Men gan

có cải thiện sau lọc máu nhưng không có ý nghĩa thống kê Creatinine máu cải thiện đáng kể nhưng còn ở mức cao Các trị số chức năng gan thận trong giới hạn bình thường trong suốt quá trình lọc máu Có tình trạng giảm kali máu ở thời điểm 12, 24 giờ nên cần bổ sung kali trong dịch thay thế và dịch nuôi ăn tĩnh mạch Ngoài ra lọc máu liên tục cải thiện tình trạng toan máu kiềm

dư (BE: base excess), tình trạng nợ oxy máu như cải thiện lactate máu và độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm ScvO2: saturation of central oxygen), đặc biệt cải thiện chỉ số vận mạch – tăng

co cơ tim (VIS: vasoactive drugs score), tức là giảm được nhu cầu dùng thuốc vận mạch(4,12), cải thiện chỉ số bệnh nặng trẻ em PRISM, PELOD Trong nghiên cứu của chúng tôi không khảo sát sự thay đổi các cytokine gây viêm trong máu

và dịch lọc trong quá trình lọc máu, nhưng theo các tác giả khác(1,8), lọc máu liên tục giúp thải loại các cytokine gây viêm như TNFα, IL1, IL6, IL8, ILRa Lọc máu liên tục qua màng bán thấm dựa trên nguyên lý đối lưu lấy đi khỏi cơ thể các cytokine gây viêm trọng lượng phân tử trung bình như TNFα, IL1β, IL6, IL8, IL10, IFNγ, là các cytokine đóng vai trò trong cơ chế bệnh sinh nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, ngoài ra lọc máu liên tục còn giảm được sự tăng thân nhiệt quá mức (sốt cao liên tục không đáp ứng

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w