1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh

4 208 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 566,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập một số vấn đề lí luận có liên quan đến vấn đề bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh trẻ mầm non như: Một số khái niệm cơ bản, hậu quả của tình trạng xâm hại tình dục trẻ em, quá trình bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh trẻ mầm non và các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình này.

Trang 1

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM

CHO PHỤ HUYNH

Nguyễn Thị Tĩnh, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh Lai Châu

Mai Quốc Khánh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Ngày nhận bài: 11/01/2018; ngày sửa chữa: 10/03/2018; ngày duyệt đăng: 30/03/2018

Abstract: The content of this paper deals with a number of theoretical issues related to fostering

parents’ skills of preventing preschool children from sexual violence The paper mentions some

basic concepts and the consequences of child sexual abuse; the process of fostering parents’ skills

to prevent their children from sexual abuse and the major factors affecting this process

Keywords: Skill, child sexual abuse prevention, child

1 Mở đầu

Trong thời gian gần đây, trên cả nước xảy ra hàng loạt

vụ việc xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE) gây bức xúc

dư luận và gây hoang mang cho nhiều bậc phụ huynh

(PH), để lại nhiều hậu quả xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến

sự phát triển lâu dài của mỗi trẻ em, phá vỡ sự bình yên

của xã hội và thực sự đã trở thành vấn đề rất đáng báo

động Do đó, quá trình phòng, chống XHTDTE nói

chung và trẻ em lứa tuổi mầm non (MN) nói riêng trở

nên quan trọng hơn bao giờ hết

Để có thể giải quyết vấn nạn XHTDTE hiện nay,

phòng tránh các vụ việc có thể xảy ra trong thời gian tới,

đòi hỏi sự chung tay thực hiện của toàn xã hội, trong đó,

các bậc PH trẻ MN là lực lượng có vai trò và tầm quan

trọng to lớn trong quá trình này Tại Điều 16 trong Công

ước quốc tế về quyền trẻ em đã nêu rõ: “Các bậc cha

mẹ có nghĩa vụ bảo vệ con cái của mình tránh mọi nguy

cơ bị xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau (từ

những lời nói bóng gió, những cái vuốt ve mơn trớn, tiếp

xúc bằng tay đến những sự phô diễn xấu xa và hành vi

cưỡng dâm) Không một ai, kể cả cha mẹ đẻ, cha mẹ

nuôi, anh em, họ hàng, thầy cô giáo, hàng xóm hay người

xa lạ với gia đình có thể lạm dụng và xâm hại trẻ em về

mặt tình dục XHTDTE là một tội ác Nếu cha mẹ hay

những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhận thấy

những điều đó mà không báo cho các nhà chức trách thì

bị coi là kẻ đồng phạm” [1]

Thực tiễn quá trình giáo dục ở các địa phương cho

thấy: Nhìn chung các bậc PH ở các vùng miền - nhất là

những vùng miền có điều kiện KT-XH khó khăn - không

có nhiều điều kiện quan tâm chăm sóc, giáo dục phòng,

chống XHTDTE cho con em mình, khiến cho trẻ phải

đối diện với những nguy cơ không nhỏ của nạn

XHTDTE Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lí luận

về kĩ năng (KN) phòng, chống XHTDTE cho PH, nhằm

từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng của quá trình này là vấn đề có ý nghĩa cấp bách hiện nay

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Xâm hại tình dục trẻ em Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa XHTDTE như sau:

“XHTDTE là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động đó là trái pháp luật hoặc trái quy tắc xã hội XHTDTE là hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của người đó”

Trong trường hợp thủ phạm XHTDTE là một thành viên trong gia đình hoặc có họ hàng với trẻ, thì việc xâm hại tình dục được xem là loạn luân XHTDTE cũng có thể xảy ra dưới hình thức bóc lột thông qua văn hóa phẩm khiêu dâm hoặc hoạt động mại dâm

Theo Luật Trẻ em 2016: “XHTDTE là việc dùng vũ

lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [2]

Hành vi xâm hại tình dục có thể thay đổi từ việc sờ

mó bộ phận sinh dục của trẻ, thủ dâm, tiếp xúc miệng với

bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay, giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn XHTDTE không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả những hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy, kể cho trẻ nghe về tình dục, cho xem phim, truyện khiêu dâm, tìm cách hướng dẫn, kích thích tình

Trang 2

dục trẻ, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm

trẻ em

Hậu quả của XHTDTE hết sức to lớn, đó là: - Để lại

những hậu quả tiêu cực đến sự phát triển thể chất trong

tiến trình phát triển của trẻ Trẻ có thể bị thương tổn ở

nhiều mức độ khác nhau, gây đau đớn, bầm dập, chảy

máu, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục ; - Để lại

những hậu quả tiêu cực về mặt tâm lí trong tiến trình phát

triển của trẻ: Trẻ có thể có cảm giác tội lỗi, xấu hổ, lo

lắng, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, có những ý nghĩ tiêu

cực hoặc những hành vi mất kiểm soát ; - Để lại những

hậu quả tiêu cực về mặt xã hội trong tiến trình phát triển

của trẻ Trẻ có thể gặp khó khăn trong giao tiếp và hòa

đồng với những người xung quanh hoặc bị những người

xung quanh kì thị, xa lánh; - Dẫn đến sự mất ổn định của

tình hình xã hội; - Ảnh hưởng đến đạo đức, văn hóa của

dân tộc

2.1.2 Phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Phòng, chống XHTDTE là quá trình huy động rộng

rãi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, nhà trường, quần

chúng nhân dân tham gia phòng, ngừa tệ nạn XHTDTE,

tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống XHTDTE nhằm

nâng cao nhận thức, xây dựng môi trường sống an toàn,

lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm

hại tình dục hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt

2.1.3 Bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục

trẻ em cho phụ huynh trẻ mầm non

KN phòng, chống XHTDTE là khả năng thực hiện có

hiệu quả các hành động liên quan đến hoạt động phòng,

chống XHTDTE trên cơ sở nắm vững phương thức thực

hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có về

XHTDTE và phòng, chống XHTDTE để thực hiện hành

động phù hợp với những điều kiện nhất định

Có thể nói, bồi dưỡng thực chất là bổ sung kiến thức,

kĩ năng để nâng cao trình độ trong một lĩnh vực chuyên

môn nào đó, giúp con người mở mang hoặc nâng cấp

hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn, nghiệp

vụ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

đang làm Bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho

PH là quá trình hoàn thiện, phát triển hệ thống KN

phòng, chống XHTDTE cho PH đáp ứng yêu cầu của

hoạt động phòng, chống XHTDTE trong những điều

kiện nhất định

2.2 Tổ chức quá trình bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống

xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh

Để đảm bảo cho quá trình bồi dưỡng kĩ năng phòng,

chống XHTDTE cho PH đạt được chất lượng và hiệu

quả, cần xác định được một cách đầy đủ các vấn đề sau:

2.2.1 Xác định nhu cầu bồi dưỡng

Việc xác định nhu cầu bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE của PH có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó tạo

ra cơ sở giúp cho các cơ quan, các lực lượng đảm trách hoạt động bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE xây dựng, hoàn thiện kế hoạch bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu

về chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho PH và đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của PH

2.2.2 Xác định mục tiêu bồi dưỡng

Mục đích bồi dưỡng là một thành tố quan trọng, định hướng cho quá trình bồi dưỡng Nó quy định việc lựa chọn nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức

tổ chức bồi dưỡng, xác định các điều kiện để thực hiện quá trình bồi dưỡng Đồng thời, nó là cơ sở để xác định chuẩn đánh giá chất lượng bồi dưỡng

Mục tiêu tổng quát của bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho PH là nhằm giúp cho PH bổ sung, cập nhật, nâng cao hệ thống kiến thức và kĩ năng phòng, chống XHTDTE, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của hoạt động này nói riêng và đáp ứng yêu cầu của xã hội nói chung trong bối cảnh hiện nay, góp phần từng bước giảm thiểu, tiến tới loại trừ tình trạng XHTDTE, tạo môi trường thuận lợi, tích cực cho trẻ, đồng thời, bảo đảm

sự ổn định xã hội, giữ gìn và phát huy phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam

2.2.3 Nội dung bồi dưỡng

Nội dung bồi dưỡng là thành tố không thể thiếu đối với quá trình bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho PH Nội dung bồi dưỡng phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng bồi dưỡng Không có chương trình bồi dưỡng sẽ không có căn cứ để xem xét, đánh giá bậc bồi dưỡng của các đối tượng tham gia và quá trình bồi dưỡng sẽ diễn ra một cách tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất Nội dung bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho

PH là hệ thống những kiến thức, kĩ năng phòng, chống XHTDTE với yêu cầu phát triển của trẻ và yêu cầu phát triển của xã hội; đồng thời phù hợp với nhu cầu bồi dưỡng

và trình độ thực tế của PH tại mỗi địa phương

2.2.4 Phương thức bồi dưỡng

Bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho PH được xem là việc cập nhật bổ sung kiến thức, kĩ năng có liên quan đến hoạt động phòng, chống XHTDTE để hoạt động phòng, chống XHTDTE được thực hiện thuận lợi, đúng hướng và mang lại kết quả cao Việc bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE thường được tiến hành theo ba

phương thức:

- Bồi dưỡng tập trung theo khóa dài ngày hay theo

từng đợt ngắn ngày tại một cơ sở bồi dưỡng

Trang 3

- Bồi dưỡng tại chỗ tức là bồi dưỡng KN phòng,

chống XHTDTE cho PH tại một địa điểm nhất định ở địa

phương đảm bảo các điều kiện cần thiết của hoạt động

bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE Phương thức bồi

dưỡng tại chỗ có thể thực hiện bằng nhiều hình thức:

- PH tự nghiên cứu với các tài liệu in, có thể kết hợp với

thảo luận nhóm, tổ các PH tại một khu dân cư hay một

cụm dân cư ở địa phương; - PH được tham dự những đợt

tập huấn ngắn ngày của các cán bộ của các cơ quan

chuyên trách về phòng, chống XHTDTE; - PH hoàn

thành kế hoạch bồi dưỡng thông qua các chương trình

trên truyền thanh, truyền hình của Trung ương hoặc địa

phương hoặc dưới sự hỗ trợ của các băng catsette, băng

video, đĩa CD do các cơ quan bồi dưỡng biên soạn

- Bồi dưỡng từ xa cũng được thực hiện tại chỗ nhờ sự

trợ giúp của các phương tiện nghe nhìn

Để đạt được mục tiêu bồi dưỡng KN phòng, chống

XHTDTE, cần phối hợp cả 3 phương thức trên để đáp ứng

nhu cầu bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE của PH

2.2.5 Xác định các nguồn lực phục vụ quá trình bồi

dưỡng, bao gồm: Lực lượng bồi dưỡng; cơ sở vật chất,

trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bồi

dưỡng; nguồn kinh phí dành cho hoạt động bồi dưỡng;

những ủng hộ, đóng góp của các ban, ngành, đoàn thể,

các tổ chức xã hội và cá nhân về mọi mặt cho hoạt động

bồi dưỡng

2.2.6 Tổ chức triển khai bồi dưỡng:

- Xác định rõ đối tượng của quá trình bồi dưỡng KN

phòng, chống XHTDTE cho PH cả về đặc điểm tâm -

sinh lí lứa tuổi, trình độ và hoàn cảnh của đối tượng cả ở

phương diện tập thể và cá nhân

- Xác định chủ thể của quá trình bồi dưỡng KN

phòng, chống XHTDTE cho PH và những yêu cầu về

năng lực và phẩm chất của họ

- Xây dựng nội dung chi tiết cụ thể của từng môn học

được quy định trong chương trình bồi dưỡng KN phòng,

chống XHTDTE cho PH

- Lựa chọn vận dụng phương thức, hình thức bồi

dưỡng cơ động, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm

của PH

Quản lí và sử dụng hợp lí hệ thống cơ sở vật chất,

trang thiết bị, phương tiện phục vụ quá trình bồi dưỡng

KN phòng, chống XHTDTE cho PH

2.2.7 Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng KN phòng,

chống XHTDTE cho PH cần trả lời các câu hỏi chính

như: Bồi dưỡng có đạt mục tiêu không? Nội dung,

chương trình có phù hợp không? Lực lượng bồi dưỡng

có đáp ứng được yêu cầu của chương trình bồi dưỡng không? Đối tượng bồi dưỡng có tham gia tích cực vào quá trình bồi dưỡng không? Quá trình tổ chức thực hiện

có tốt không? Người tham gia bồi dưỡng học được những

gì và họ áp dụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả của chương trình bồi dưỡng mang lại?

Kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, chỉ

ra được những kết quả đạt được, những hạn chế cần khắc phục, phân tích rõ các nguyên nhân của hạn chế và rút kinh nghiệm cho những khóa bồi dưỡng tiếp theo Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm đánh giá mức độ kết quả bồi dưỡng đạt được trong thực tế so với mục tiêu đã đề ra, từ đó, xây dựng các biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng của quá trình bồi dưỡng KN phòng, chống XHTDTE cho PH

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh

Bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho PH

là một quá trình lâu dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó chúng ta

có thể kể đến những yếu tố cơ bản là: Hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan đến phòng, chống XHTDTE và bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho PH; trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của lực lượng bồi dưỡng; tính tích cực của PH tham gia bồi dưỡng; điều kiện KT-XH của địa phương; trình độ dân trí Mỗi yếu tố trên đều có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng và hiệu quả của quá trình bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho PH trẻ MN Do đó, các lực lượng bồi dưỡng cần xác định đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng và khai thác tối ưu lợi thế của mỗi yếu tố khi tổ chức bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho các bậc PH

3 Kết luận

Tình trạng XHTDTE ở nước ta ngày càng trở nên phức tạp với nhiều giác độ và để lại những hậu quả nghiêm trọng đến sự phát triển trước mắt cũng như lâu dài của trẻ MN, đồng thời ảnh hưởng xấu đến đạo đức, văn hóa, xã hội Phòng, chống XHTDTE là vấn đề cần được các cấp, các ngành, các lực lượng chú trọng; trong đó, bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho PH

là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện vấn đề này Những kết quả nghiên cứu nêu trên sẽ góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện thêm hệ thống lí luận về bồi dưỡng kĩ năng phòng, chống XHTDTE cho PH

(Xem tiếp trang 10)

Trang 4

sách nhà nước, mối quan hệ giữa nhà trường với các

doanh nghiệp, cơ sở sản xuất còn yếu

Để nâng cao chất lượng đội ngũ GVDN của tỉnh An

Giang, theo chúng tôi cần chú trọng các yếu tố sau:

1) Việc bồi dưỡng, chuẩn hóa cho GV kiến thức chuyên

môn, nghiệp vụ sư phạm, trình độ ngoại ngữ và tin học

là nhiệm vụ trọng tâm mà Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội tỉnh An Giang cần quan tâm trong quá trình hoàn

thiện, chuẩn hóa đội ngũ giúp GV có đầy đủ NL cần thiết

để tổ chức và thực hiện quá trình dạy nghề đạt hiệu quả

Để công tác đào tạo nghề trong thời gian tới đạt chỉ tiêu,

cần quan tâm phân luồng ngay từ trung học cơ sở Dạy

nghề cần gắn với điều tra thị trường lao động, điều tra

nhu cầu, từ nhu cầu để hướng các em học nghề; 2) Đảm

bảo chính sách phát triển GV, các chính sách chung đối

với nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngoài ra,

cần có một số chế độ, chính sách riêng đối với GVDN

như: chế độ làm việc, chế độ sử dụng, bồi dưỡng chuyên

môn nghiệp vụ cho GV khi dạy thực hành các nghề độc

hại, nguy hiểm, Từ đó, đảm bảo cho GVDN có thu

nhập tương xứng, có mức sống ổn định để họ toàn tâm,

toàn ý với nghề; 3) Đảm bảo cơ sở vật chất cho GVDN

có đủ điều kiện, thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng

giảng dạy Một số các cơ sở đào tạo nghề có cơ sở vật

chất còn thiếu thốn, trang thiết bị, máy móc, dụng cụ dạy

nghề còn lạc hậu Do đó, việc nâng cấp các thiết bị dạy

học cũng như đầu tư cơ sở vật chất, đặc biệt là nhà xưởng

thực hành, liên kết với các doanh nghiệp là cần thiết

nhằm gắn với mục tiêu đào tạo “học đi đôi với hành”,

góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời

gian tới

Tài liệu tham khảo

[1] Lưu Đăng Khoa (2012) Thực trạng và một số giải

pháp nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên các

trường nghề Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội, số 57, tr 39-46

[2] Ban Chấp hành Trung ương (2013) Nghị quyết số

29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công

nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập

quốc tế

[3] Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang (2014) Quyết định

số 310/QĐ-UBND, ngày 05/03/2014 của Ủy ban

nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Kế hoạch

triển khai thực hiện năm 2014 Chương trình phát

triển nguồn nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn

2011-2015 và Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh An

Giang giai đoạn 2011-2020

[4] Thủ tướng Chính phủ (2012) Quyết định số

630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/5/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kì 2011-2020

[5] Ủy Ban Nhân dân tỉnh An Giang (2014) Quyết định

số 1994/QĐ-UBND, ngày 06/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án sắp xếp hệ thống cơ sở dạy nghề địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2020

[6] Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang (2010) Quyết định

số 2442/QĐ-UBND, ngày 28/12/2010 về việc ban hành đề án: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020”

[7] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2017) Thông

tư 07/2017/TT-LĐTBXH, ngày 10/3/2017 về quy định chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

[8] Lê Đình Bình (2015) Kinh nghiệm của một số nước

châu Á và bài học phát triển bền vững giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long Kỉ yếu hội thảo khoa học Quốc gia, Trung tâm

Nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia, Trường Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG PHÒNG, CHỐNG

(Tiếp theo trang 18)

Tài liệu tham khảo

[1] Đại hội đồng Liên hợp quốc (1989) Công ước quốc

tế về quyền trẻ em

[2] Quốc hội (2016) Luật Trẻ em

[3] Đào Xuân Dũng (1996) Giáo dục giới tính NXB

Thanh niên

[4] Cục Bảo vệ, Chăm sóc Trẻ em, Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội (2012) Tài liệu tập huấn

công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

[5] Cục Bảo vệ, Chăm sóc Trẻ em, Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội (2014) Tài liệu Tập huấn

Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em (tập huấn cán bộ cấp xã và cộng tác viên)

[6] Nguyễn Văn Đồng (2018) Công tác xã hội trường

học tại Việt Nam: Triển vọng và thách thức Tạp chí

Giáo dục, số 421 (kì 1 - 1/2018), tr 60-63

[7] Nguyễn Thị Dư (2017) Kĩ năng phối hợp của giáo

viên mầm non với phụ huynh trong chăm sóc, giáo dục trẻ Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt kì 1 tháng

10/2017, tr 26-28

[8] Trần Thị Thuý Phương (2017) Một số giải pháp

chống bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non Tạp chí Giáo dục, số 410 (kì 2 - 7/2018),

tr 10-12

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w