1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình suy dinh dưỡng của trẻ ở các trường mẫu giáo tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm học 2013-2014

5 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 298,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân và thể thấp còi của trẻ ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm học 2013-2014. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG NĂM HỌC 2013 – 2014

Trần Quang Dư*, Tạ Văn Trầm*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân và thể thấp còi của trẻ ở các trường mẫu giáo tại

thành phố Mỹ Tho

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kết quả: Tỉ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ là 2,5%, SDD nhẹ cân đều ở mức độ trung bình Tỉ lệ SDD thể thấp

còi là 4,6%, SDD thấp còi mức độ trung bình là 3,9% và mức độ nặng là 0,7%

Kết luận: Tỉ lệ SDD ở trẻ không quá cao

Từ khóa: Suy dinh dưỡng

ABSTRACT

SITUATION OF MALNUTRITION IN CHILDREN IN NURSERY SCHOOL IN MY THO CITY, TIEN

GIANG PROVINCE IN 2013 - 2014

Tran Quang Du, Ta Van Tram

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 3 - 2015: 118 - 122

Objectives: Determine the ratio malnutrition of children in nursery school in My Tho city

Methods: Cross-sectional descriptive

Results: The ratio of children were underweight was 2.5%, underweight malnutrition are at medium level

Stunting rate is 4.6%, stunting average rate of 3.9% and 0.7% severe

Conclusion: The rate of malnutrition in children is not too high

Key words: Malnutrition

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng thiếu

dinh dưỡng kéo dài, thường kèm theo tác động

của nhiễm khuẩn, không những ảnh hưởng đến

sự phát triển về thể chất, tâm thần, vận động, trí

tuệ của trẻ mà còn ảnh hưởng đến tiềm năng

phát triển kinh tế xã hội(2,3,4)

Trong những năm qua, cùng với sự phát

triển của nền kinh tế xã hội, sự triển khai có hiệu

quả của nhiều chương trình phòng chống SDD

trẻ em, sự thay đổi về kiến thức, thái độ, thực

hành của các bậc cha mẹ trong vấn đề nuôi

dưỡng con trẻ, tỉ lệ trẻ SDD đã giảm nhiều

nhưng vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là ở trẻ dưới

5 tuổi

Hiện nay SDD vẫn là vấn đề sức khỏe toàn cầu Năm 2011 theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (QNĐLHQ), số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 165 triệu, SDD thể nhẹ cân là 101 triệu và trong khoảng 3 triệu trẻ tử vong trên toàn thế giới thì hơn một phần ba số trường hợp liên quan đến SDD(6) Do đó TCYTTG đã đưa ra mục tiêu giảm tỉ lệ SDD trẻ em xuống dưới 15% vào năm 2015(7,9) Tuy nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được một cách dễ dàng vì giảm tỉ lệ SDD không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, giảm bớt đói nghèo mà còn phụ thuộc nhiều vào

* Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

Tác giả liên hệ: PGS.TS Tạ Văn Trầm ĐT: 0913771779 Email: tavantram@gmail.com

Trang 2

những nỗ lực làm thay đổi nhận thức và hành vi

của cộng đồng

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện

Dinh dưỡng từ năm 1999 đến năm 2011 về tình

trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi của cả nước thì

tỉ lệ SDD thể nhẹ cân giảm từ 36,7% xuống 16,8%

và thể thấp còi từ 38,7% xuống còn 27,5% Trước

tình hình này, ngày 22 tháng 2 năm 2012, Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược Quốc

gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030” với mục tiêu giảm tỉ lệ SDD

thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 26%, tỉ

lệ SDD thể nhẹ cân dưới 15% vào năm 2015 và

tiếp tục giảm các tỉ lệ này lần lượt còn dưới 23%

và dưới 12,5% vào năm 2020(1) Năm 2030 phấn

đấu giảm SDD trẻ em xuống dưới mức có ý

nghĩa sức khỏe cộng đồng (SDD thể thấp còi

dưới 20% và SDD thể nhẹ cân dưới 10%) Một

trong những giải pháp của chiến lược này là tập

trung giảm tỉ lệ SDD thể nhẹ cân, sớm đưa chỉ

tiêu giảm SDD thể thấp còi thành một chỉ tiêu

phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương và

của quốc gia Đồng thời tăng cường nghiên cứu

đề xuất chính sách hỗ trợ dinh dưỡng học đường

trước hết là ở lứa tuổi mầm non và tiểu học Đặc

biệt là lứa tuổi mầm non, một trong những giai

đoạn tăng trưởng và phát triển quan trọng, làm

nền tảng cho sự phát triển của trẻ về sau(1)

Theo nhiều y văn, một trong những nguyên

nhân hàng đầu của SDD là do kiến thức và

phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa

đúng(5,8) Mục tiêu của “Chiến lược Quốc gia về

Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020” là nâng cao

hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng

hợp lý, trong đó nâng cao tỉ lệ nữ thanh niên

được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức cơ

bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015(1) Vì vậy

trong những năm qua, kế hoạch dinh dưỡng

quốc gia tập trung nhiều vào việc tuyên truyền,

giáo dục kiến thức, thực hành về dinh dưỡng mà

người dân có thể thực hiện được bằng khả năng

và phương tiện sẵn có tại gia đình

Mỹ Tho là thành phố trung tâm của tỉnh Tiền

Giang, có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển và

được tập trung đầu tư nhiều nhất của tỉnh Năm

2013, thành phố Mỹ Tho hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục mầm non Đây là một điều kiện rất tốt để thành phố triển khai các chương trình giáo dục, chăm sóc sức khỏe trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo

có hiệu quả hơn Đồng thời đó cũng là điều kiện thuận lợi để việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về y tế cho các bà mẹ được tốt hơn

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ SDD thể nhẹ cân và thể thấp còi của trẻ ở các trường mẫu giáo tại thành phố

Mỹ Tho

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số chọn mẫu

Trẻ đang học ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học

2013 - 2014 và bà mẹ của những trẻ này

Tiêu chí chọn mẫu

Trẻ đang học ở các lớp được chọn trong các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm 2014 và các bà mẹ có con được chọn

Tiêu chí loại trừ

Trẻ có tên trong các lớp được chọn nhưng không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên cứu; Bà mẹ không biết chữ; Bà mẹ không đồng ý

tham gia vào nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Xử lý và phân tích dữ liệu

Phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu

Tuổi và giới

Bảng 1: Đặc điểm về tuổi và giới tính của trẻ (n =

1063)

Tuổi (tháng)

Từ 37 – 48

Từ 49 – 60

Từ 61 – 72

Từ 73 – 84

111

358

480

114

10,4 33,7 45,2 10,7

Trang 3

Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%)

Giới

Nam

Nữ

572

491

53,8 46,2

Bảng 2: Phân bố giới tính của trẻ theo nhóm tuổi (n =

1063)

Tuổi

(Tháng)

Số trẻ (N)

Nam

n (%)

Nữ

n (%)

(2 = 3,515; p = 0,319)

Đặc điểm dân số, xã hội của bà mẹ

Bảng 3: Đặc điểm dân số, xã hội của bà mẹ (n = 1063)

Tuổi

Dưới 25

25 – 35

Trên 35

26

682

355

2,4 64,2 33,4

Trình độ học vấn

Cấp I – II

Cấp III

Trung cấp, cao đẳng, đại học,

sau đại học

422

297

344

39,7 27,9 32,4

Nghề nghiệp

Nông dân, công nhân, buôn bán

Nhân viên, viên chức

Nội trợ

471

328

264

44,3 30,9 24,8

Nơi cư trú

Nội thành

Ngoại thành

586

477

55,1 44,9

Tình trạng kinh tế

Hộ nghèo

Trung bình

Khá – giàu

29

931

103

2,7 87,6 9,7

Tỉ lệ suy dinh dưỡng

Bảng 4: Tỉ lệ các thể SDD của trẻ (n = 1063)

SDD thể nhẹ cân

SDD thể thấp còi

27

49

2,5 4,6

Bảng 5: Tỉ lệ các thể SDD của trẻ theo mức độ (n =

1063)

SDD thể nhẹ cân

Trung bình

Nặng

27

0

2,5

0

SDD thể thấp còi

Trung bình Nặng

42

7

3,9 0,7

Bảng 6: SDD thể nhẹ cân theo tuổi và giới (n = 1063)

Bảng 7: SDD thể thấp còi theo tuổi và giới (n = 1063)

BÀN LUẬN Đặc tính chung mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với cỡ mẫu là

1298 học sinh của 30 lớp mẫu giáo ở 25 trường tại thành phố Mỹ Tho từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2014 theo phương pháp chọn mẫu như đã trình bày Nhưng khi thực hiện chúng tôi chỉ tiến hành cân trọng lượng, đo chiều cao 1225 trẻ (trẻ

có mặt tại lớp) và gửi phiếu câu hỏi đến mẹ của trẻ Khi thu lại chúng tôi thu lại được 1159 phiếu Sau khi kiểm tra thông tin và cố gắng liên lạc với các bà mẹ để bổ sung, chúng tôi loại ra 96 phiếu không đạt tiêu chuẩn như không đồng ý tham gia nghiên cứu, không có thông tin, thông tin không đầy đủ Cuối cùng chúng tôi đưa vào phân tích thông tin của 1063 phiếu đủ điều kiện cùng với cân nặng và chiều cao của 1063 trẻ tương ứng

Trong số 1063 trẻ trong mẫu nghiên cứu, tỉ lệ nam nữ lần lượt là 53,8% và 46,2% Sự phân bố giới tính trong từng nhóm tuổi là tương đối

n (%)

p

Tuổi (tháng)

37 – 60

61 – 72

73 – 84

469

480

114

8 (1,7)

14 (2,9)

5 (4,4)

2 = 3,163

p = 0,206

Giới

Nam

Nữ

572

491

12 (2,3)

15 (3,1)

2 = 0,938

p = 0,333

Biến số Tần số SDD thấp còi n (%) p

Tuổi (tháng)

37 – 48

49 – 60

61 – 72

73 – 84

111

358

480

114

5 (4,5)

25 (7,0)

14 (2,9)

5 (4,4)

2 = 7,732

p = 0,052

Giới

Nam

Nữ

572

491

19 (3,3)

30 (6,1)

2 = 4,553

p = 0,033

Trang 4

đồng đều và không có sự khác biệt về mặt thống

kê (p = 0,319)

Các bà mẹ tham gia nghiên cứu là các bà mẹ

của trẻ đã được chọn Đa số các bà mẹ có độ tuổi

từ 25 đến 35 tuổi (64,2%), có trình độ học vấn từ

cấp 3 trở lên là trên 60% Có thể thấy các bà mẹ

phần lớn nằm trong độ tuổi sinh đẻ rất cần được

trang bị thêm các kiến thức nuôi con đúng khoa

học và cũng sẽ là những đối tượng chính của các

chương trình tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu

biết về kiến thức làm mẹ Với trình độ học vấn

phần lớn là trên mức phổ cập giáo dục thì đây sẽ

là một thuận lợi rất lớn để các bà mẹ có thể tiếp

thu và tự tìm hiểu thêm về cách nuôi con khỏe

mạnh Đặc điểm này cần được lưu ý vì đó sẽ là

cơ sở để có thể đề xuất nhiều chương trình,

nhiều hình thức phổ biến kiến thức nuôi con cho

các bà mẹ có con học ở các trường mẫu giáo tại

thành phố Mỹ Tho một cách phù hợp và hiệu

quả hơn

Tỉ lệ suy dinh dưỡng

Do mẫu nghiên cứu thực hiện ở trẻ từ 3 - 6

tuổi nên chúng tôi chỉ đánh giá SDD thể nhẹ cân

của trẻ (thông qua chỉ số WAZ) và SDD thể thấp

còi (thông qua chỉ số HAZ) Tỉ lệ SDD thể nhẹ

cân được sử dụng rộng rãi để tính tỉ lệ chung của

SDD Trong khi đó tỉ lệ SDD thể thấp còi được

xem là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát

triển kinh tế xã hội của địa phương hay một

quốc gia Mục tiêu của các chương trình phòng

chống SDD cũng là hạ thấp các tỉ lệ SDD này

Kết quả nghiên cứu trên 1063 trẻ học ở các

trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho cho thấy

tỉ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ là 2,5% và toàn bộ

đều ở mức độ trung bình (độ I) Trong khi đó tỉ

lệ SDD thể thấp còi là 4,6%, mức độ trung bình

(độ I) là 3,9% và mức độ nặng (độ II) là 0,7%

Theo bảng đánh giá mức độ SDD trẻ em ở cộng

đồng của TCYTTG thì các tỉ lệ này đều thấp dưới

mức có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng và đạt được

mục tiêu đặt ra của “Chiến lược Quốc gia về

Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020” vào năm

2015(1,8)

Do đó có thể nói theo nghiên cứu này thì tỉ lệ SDD của trẻ đang học ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho năm 2013 - 2014 là thấp và hầu hết ở mức độ trung bình Đó là tín hiệu rất đáng mừng Bên cạnh những lý do có thể ảnh hưởng đến kết quả điều tra như thời điểm nghiên cứu, đặc điểm của mẫu nghiên cứu, cũng như những đặc điểm về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Mỹ Tho, thì hiệu quả của các chương trình giáo dục, chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe trẻ em, chương trình phòng chống SDD trẻ em của thành phố nói riêng và của tỉnh nói chung cũng cần được đề cập đến Tuy nhiên cần phải duy trì và đẩy mạnh hơn nữa các chương trình này để có thể giảm tỉ lệ SDD trẻ em đến mức thấp nhất

KẾT LUẬN

Tỉ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ là 2,5% Toàn

bộ SDD nhẹ cân đều ở mức độ trung bình

Tỉ lệ SDD thể thấp còi là 4,6% Trong đó SDD thấp còi mức độ trung bình là 3,9% và mức độ nặng là 0,7%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế (2012), Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nhà xuất bản Y Học,

Hà Nội

2 Hà Huy Khôi, Từ Giấy (2005), Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.84 - 307

3 Huỳnh Văn Dũng, Phạm Thị Thúy Hoa, Nguyễn Thị Vân Anh (2012), "Thực trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại các trường mầm non và kiến thức thực hành nuôi con của các bà

mẹ tại xã Tân Quang, Văn Lâm, Hưng Yên", Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, tập 8(số 2), tr.62-67

4 Lê Thị Hợp (2012), Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

5 Saadeh RJ, Labbok MH, Cooney KA (1993), Breast-feeding: The technical basis and recommendations for action, WHO, Geneva, Switzerland, pp.1-14

6 UNICEF, WHO, The World Bank (2012), UNICEF - WHO - The World Bank joint child malnutrition estimates: Levels and trends in child malnutrition, UNICEF, New York; WHO, Geneva; The World Bank, Washington, DC

7 Wagstaff A, Claeson M, Hecht RM (2006),“Millennium Development Goals for Health: What Will It Take to Accelerate Progress?”, Disease Control Priorities in Developing Countries, The International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank Group, Washington DC

Trang 5

8 WHO (1995), "Physical status: the use and interpretation of

anthropometry - Report of a WHO expert committee", WHO

Technical Report Series, No 854, WHO, Geneva, Switzerland,

pp.161-208

9 WHO (2008), Millennium development goals, WHO, Regional

office for South-East Asia, Newdelhi, pp.2-18

Ngày nhận bài báo: 05/03/15 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 13/03/15 Ngày bài báo được đăng: 22/06/15

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm