1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Đồng Việt - Yên Dũng - Bắc Giang và các yếu tố liên quan

8 168 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 275,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết là: Xác định tỷ lệ SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại khu vực nghiên cứu.

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 164

THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI

TẠI XÃ ĐỒNG VIỆT YÊN DŨNG BẮC GIANG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Hà Xuân Sơn, Nguyễn Văn Tuy, Nghiêm Thị Ninh Dung

Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục tiêu: 1 Xác định tỷ lệ SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc

Giang 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại khu vực

nghiên cứu Đối tượng: trẻ em từ 0 - 5 tuổi, người mẹ có con từ 0 - 5 tuổi Phương pháp : mô tả

cắt ngang Kết quả và kết luận : 1 Tỷ lệ SDD của trẻ em từ 0 - 5 tuổi là: thể nhẹ cân 19,9%, thể

thấp còi 17,7%, thể gầy còm 6,0% và chủ yếu là SDD độ I Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ nam

(16,3%) thấp hơn trẻ nữ (23,7%), tỷ lệ SDD của nam và nữ ở thể thấp còi và thể gầy còm là tương

đương nhau Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thể thấp còi tăng cao ở nhóm tuổi từ 13 - 36 tháng Tỷ lệ

SDD ở thể gầy còm tăng cao ở nhóm tuổi từ 37- 48 tháng tuổi 2 Một số yếu tố liên quan đến tình

trạng SDD trẻ em 0 - 5 tuổi: kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ, gia

đình có 3 con trở lên

Từ khoá: Suy dinh dưỡng, dinh dưỡng, trẻ em, Bắc Giang, Yên Dũng, Đồng Việt

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Nhân loại đã bước qua thập kỷ đầu tiên của

thế kỷ 21 Trên phạm vi toàn thế giới vẫn còn

khoảng 165 triệu trẻ em trước tuổi học đường

bị suy dinh dưỡng SDD để lại những hậu quả

về phát triển thể chất và tinh thần của lớp

người tương lai của các nước, gây ảnh hưởng

lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội

Ở phạm vi toàn thế giới, nước ta được xếp

trong danh sách của 18 quốc gia có mức giảm

trên 25% số trẻ SDD ở năm 2000 so với năm

đầu thập kỷ 90 Mức giảm cũng khá nhanh so

với một số nước trong khu vực Tuy nhiên, do

điểm xuất phát của ta cao hơn so với các nước

khác nên số trẻ SDD hiện còn ở mức cao

Ở Việt Nam, năm 1985 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân

ở trẻ em dưới 5 tuổi là 51,5%, đến 1994 là

45%, năm 2002 là 30,1% và đến 2007 còn

21,2%; tỷ lệ SDD thấp còi năm 1985 là

59,7%, năm 1990 là 56,5%, năm 1994 là

46,9%, năm 2009 là 31,9%

Tuy với đà giảm tỷ lệ SDD như vậy , hiện nay

tỷ lệ SDD của trẻ em Việt Nam vẫn còn ở

mức cao so với trung bình thế giới và công

tác phòng chống SDD mới chỉ thực hiện tốt ở

khu vực thành thị, còn ở vùng cao, miền núi

*

thì tỷ lệ SDD còn rất cao Năm 2007 tác giả Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự nghiên cứu tại một số xã miền núi Thái Nguyên cho thấy tỷ

lệ SDD là 35,7%, SDD trẻ thấp còi là 41,2%, SDD thể gầy còm là 10,2% [3] Nghiên cứu tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, tác giả Hoàng Khải Lập cũng cho thấy SDD là vấn

đề sức khoẻ cộng đồng ở khu vực miền núi với tỷ lệ SDD là 37,8%

Đồng Việt là một xã miền núi của huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang Nghề chủ yếu của người dân ở đây là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với các

xã trong huyện Xác định mục tiêu đến năm

2015 là giảm tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15% Chính vì vậy việc đánh giá thực trạng SD D trẻ em từ 0-5 tuổi và tìm ra các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD ở lứa tuổi này là hết sức cần thiết, góp phần làm giảm tỷ lệ SDD chung toàn huyện Đề tài được tiến hành với các mục tiêu sau:

1 - Xác định tỷ lệ SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại

xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

2 - Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi tại khu vực nghiên cứu

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 165

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 0 - 5 tuổi (từ 0 - 60 tháng)

- Người mẹ có con từ 0 - 5 tuổi

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Xã Đồng Việt - huyện Yên Dũng -

tỉnh Bắc Giang

Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2011 đến

tháng 11/2011

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt

ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

* Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho

nghiên cứu mô tả:

2

2

2

/

1

) 1

(

d

p p

Z

 

Tổng số đối tượng được nghiên cứu là : trẻ

em: 316, bà mẹ: 316

* Phương pháp chọn mẫu:

Lấy tất cả trẻ từ 0 - 5 tuổi và bà mẹ ở xã

Chỉ tiêu nghiên cứu

a Tình trạng SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi

- Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (cân nặng/ tuổi)

- Tỷ lệ SDD thấp còi (chiều cao/ tuổi)

- Tỷ lệ SDD thể gầy còm (cân nặng/ chiều

cao)

- Tỷ lệ SDD theo giới

- Tỷ lệ SDD theo nhóm tuổi

- Tỷ lệ SDD theo các mức độ

b Mối liên quan đến tình trạng SDD trẻ em 0

- 5 tuổi

- Liên quan tới yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng:

thời điểm ăn bổ sung, thời điểm cai sữa, mức

độ sử dụng sữa ngoài…

- Liên quan tới yếu tố kinh tế xã hội và gia

đình: đói nghèo, nghề nghiệp, trình độ học

vấn, tuổi khi kết hôn, số con trong gia đình…

- Liên quan với các yếu tố cá nhân : bệnh tật như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, cân nặng sơ sinh…

Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 0 - 5 tuổi

- Xác định tuổi: Theo qui ước chung của tổ chức Y tế thế giới năm 1983 hiện đang được

sử dụng tại Việt Nam

- Tình trạng dinh dưỡng trẻ em được đánh giá dựa vào các chỉ tiêu cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao so với chuẩn tăng trưởng mới của WHO 2005, ngưỡng SDD là < -2SD

Phương pháp thu thập số liệu

Đo chỉ số nhân trắc

- Cân nặng: Sử dụng cân điện tử SUKI JAPAN loại 150 kg có độ chính xác 0,1 kg Cân đã được kiểm tra, chuẩn hoá, chỉnh về 0 trước khi tiến hành nghiên cứu và luôn điều chỉnh sau mỗi lần cân Khi cân trẻ chỉ mặc bộ quần áo mỏng, bỏ giầy dép Kết quả được ghi theo đơn vị kilogram với 1 số lẻ

- Chiều cao: Đo chiều cao đứng bằng thước

gỗ có độ chính xác 0,1 cm trẻ đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo Người thứ nhất giữ cho 2 đầu gối trẻ thẳng, 2 chân sát nhau sao cho gót chân, mông, vai và đỉnh chẩm chạm vào mặt phẳng thẳng đứng của thước Người thứ 2 một tay giữ cằm trẻ sao cho tầm mắt trẻ nhìn thẳng ra phía trước, tay kia kéo ê-ke của thước áp sát đỉnh đầu trẻ và vuông góc với thước do Kết quả được tính theo đơn

vị centimet với một số lẻ

Phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn trực tiếp

người nuôi dưỡng trẻ theo mẫu phiếu điều tra

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- WHO Anthro 2005: Tính toán các chỉ số nhân trắc với cơ sở dữ liệu là chuẩn tăng trưởng mới của WHO

- SPSS 16.0: Xử lý và phân tích các yếu tố liên quan bằng các thuật toán thống kê y sinh học

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 166

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tình trạng SDD trẻ em 0 - 5 tuổi xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Bảng 1 Phân bố trẻ em 0 - 5 tuổi theo nhóm tuổi và giới

Nhận xét: Số trẻ nghiên cứu theo các nhóm tuổi và giới chưa hoàn toàn đồng đều, nhóm trẻ 1 tuổi (25,0%) và 5 tuổi (22,2%) nhiều hơn các nhóm tuổi khác Tỷ lệ trẻ nam 4 tuổi l à thấp nhất (14,4%) và trẻ nam 1 tuổi là cao nhất (26,3%)

Bảng 2 Tỷ lệ SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi

Thể

suy dinh

dưỡng

Số lượng (n= 316) Tỷ lệ %

Nhận xét: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (19,9 %)

còn cao so với tỷ lệ chung của toàn quốc năm

2010 (17,5 %) và tương đương so với tỷ lệ

SDD của tỉnh Bắc Giang năm 2010 (19,6%),

nguồn số liệu Min - GSO Survey 2010

Tỷ lệ SDD thể thấp còi (17,7%) thấp hơn so

với tỷ lệ SDD chung của toàn quốc năm 2010

(29,3%) và thấp hơn tỷ lệ SDD của tỉnh Bắc

Giang năm 2010 (31,9%)

Tỷ lệ SDD thể gầy còm (6,0%) cũng thấp hơn

so với tỷ lệ chung của toàn quốc năm 2010

(7,1%) và thấp hơn tỷ lệ SDD của tỉnh Bắc

Giang (7,8%)

Bảng 3 Tỷ lệ SDD trẻ em 0 - 5 tuổi theo giới tính

Thể

SDD

Nam (n=160) Nữ (n =156) p

(test χ 2 )

Nhẹ

cân 26 16,3 37 23,7 p > 0,05

Thấp 30 18,8 26 16,7 p > 0,05

còi Gầy còm 9 5,6 10 6,4 p > 0,05

Nhận xét : Tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ nam (16,3%) và trẻ nữ (23,7%), có sự khác nhau khá lớn, nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ở thể thấp còi và thể gầy còm thì tỷ lệ SDD ở trẻ nam và trẻ nữ là tương đương nhau

Bảng 4 Tỷ lệ SDD trẻ em 0 - 5 tuổi theo nhóm tuổi

Tháng tuổi

SDD nhẹ cân SDD thấp còi SDD gầy còm

0 - 12 9 11,4 18 22,8 3 3,8 13-24 14 27,5 19 37,3 2 3,9 25-36 19 34,5 14 25,5 3 5,5 37-48 13 21,3 2 3,3 7 11,5

Nhận xét:Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân tăng dần theo tuổi từ 0-36 tháng tuổi và giảm dần từ 37-60 tháng tuổi Tỷ lệ SDD thể thấp còi chiếm tỷ lệ cao nhất nhóm tuổi từ 13-24 tháng và sau đó giảm dần đến khi trẻ lớn Tỷ lệ SDD thể gầy còm cao nhất ở lứa tuổi từ 37-48 tháng

Bảng 5 Mức độ SDD trẻ em từ 0 – 5 tuổi

Mức độ SDD Số lượng

(n = 316) Tỷ lệ %

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 167

Nhận xét: Tỷ lệ SDD ở các thể nhẹ cân và thấp còi chủ yếu là SDD độ I , còn ở độ II và độ III thì

tỷ lệ SDD là rất thấp (từ 0,63 đến 2,5%)

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em 0- 5 tuổi ở xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Yếu tố kinh tế xã hội và gia đình

Bảng 6 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và tình trạng SDD trẻ em

24,4%

34 75,6%

9 20,0%

36 80,0%

4 8,9%

41 91,1% Không nghèo 52

19,2%

219 80,8%

47 17,3%

224 82,7%

15 5,5%

256 94,5%

P > 0,05

OR = 1,19

P > 0,05

OR = 1,67

P > 0,05

Nhận xét: Tỷ lệ SDD ở cả 3 thể: nhẹ cân, thấp còi và gầy còm ở nhóm hộ nghèo đều cao hơn ở nhóm hộ không nghèo Nhưng sự khác nhau giữa 2 nhóm chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 7 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ và tình trạng SDD trẻ em

TĐHV

của mẹ Có SDD nhẹ cân Kh Có SDD thấp còi Kh Có SDD gầy còm Kh

36,4%

14 63,6%

4 18,2%

18 81,8%

3 13,6%

19 86,4%

19,7%

159 80,3%

37 18,7%

161 81,3%

12 6,1 %

186 93,9%

18,2%

63 81,8%

13 16,9%

64 83,1%

4 5,2%

73 94,8%

10,5%

17 89,5%

2 10,5%

17 89,5%

0 0,0 %

19 100%

Nhận xét: Ở nhóm những người mẹ có trình độ học vấn cao thì tỷ lệ SDD của trẻ thấp hơn ở nhóm có trình độ học vấn thấp Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở nhóm các bà mẹ học hết Tiểu học là rất cao (36,4%), trong khi đó ở nhóm các bà mẹ học từ THCN trở lên lại rất thấp (10,5%)

Bảng 8 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với tình trạng SDD trẻ em

NN

của mẹ

21,6%

163 78,4%

42 20,2%

166 79,8%

13 6,3%

195 93,8% Nghề khác 16,7% 18 83,3% 90 13,0% 14 87,0% 94 5,6% 6 94,4% 102

p > 0,05

OR = 1,67

P > 0,05

OR = 1,13

p > 0,05

Nhận xét: Nghề nghiệp của mẹ có liên quan đến tình trạng DD của trẻ ở cả 3 thể, mẹ làm nghề nông dân thì tỷ lệ trẻ bị SDD cao hơn so với mẹ làm các nghề khác từ 1,13 đến 1,67 lần

Bảng 9 Mối liên quan giữa số con trong gia đình và tình trạng SDD trẻ em

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 168

18,6%

236 81,4%

51 17,6%

239 82,4%

17 5,9%

273 94,1%

3 con trở lên 9

34,6%

17 65,4%

5 19,2%

21 80,8%

2 7,7%

24 92,3%

p > 0,05

OR= 1,11

p > 0,05

OR = 1,34

P > 0,05

Nhận xét: Số con trong gia đình có liên quan đến tình trạng DD của trẻ ở cả 3 thể SDD Những gia đình có số con từ 3 trở lên thì tỷ lệ trẻ bị SDD cao hơn so với những gia đình có số con từ 2 trở xuống, nhất là ở SDD thể nhẹ cân Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở các gia đình có 1 - 2 con là 18,6%, trong khi đó ở các gia đình có 3 con trở lên là 34,6%

Yếu tố chăm sóc trẻ em

Bảng 10 Mối liên quan giữa uống sữa ngoài và tình trạng SDDTE

Không

uống

2 7,4%

25 92,6%

8 29,6%

19 70,4%

0 0,0%

27 100% Thỉnh

thoảng

27 17,2%

130 82,8%

22 14,0%

135 86,0%

8 5,1%

149 94,9% Thường

xuyên

34 26,0%

97 74,0%

26 19,8%

105 80,2%

11 8,4%

120 91,6%

Nhận xét:Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ không uống thêm sữa ngoài là thấp nhất (7,4%), trong khi

đó trẻ thường xuyên uống sữa ngoài lại SDD nhiều nhất (26%)

Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở nhóm trẻ uống sữa ngoài không thường xuyên là thấp nhất (14%), trong khi đó ở nhóm trẻ không uống sữa ngoài là cao nhất (29,6%)

Bảng 11 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh tật và tình trạng SDDTE

TS

bệnh tật

21,5%

117 78,5%

23 15,4%

126 84,6%

9 6,0%

140 94%

18,6%

136 81,4%

33 19,8%

134 80,2%

10 6,0%

157 94%

p>0,05

OR=0,74 p>0,05

OR=0,98 p>0,05 Nhận xét:Tiền sử bệnh tật của trẻ có liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em Trẻ có tiền sử bệnh tật có nguy cơ SDD thể nhẹ cân cao gấp 1,2 lần so với những trẻ không bị bệnh, nhưng lại ít bị SDD thể thấp còi hơn Tuy nhiên sự khác biệt này cũng chưa có ý nghĩa thống kê BÀN LUẬN

Đặc điểm về địa lý - dân cư, kinh tế, văn

hoá xã hội của địa phương

Yên Dũng là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang Đồng việt là một xã miền núi trong số 20 xã, thị trấn của huyện, kinh tế còn nhiều khó khăn, nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 169

Tổng số dân của xã là: 5.498 khẩu, thuộc

1.494 hộ, 100% là người dân tộc Kinh Tổng

số trẻ em < 5 tuổi là: 357 cháu, trong đó trẻ <

1 tuổi là: 79 cháu Tỷ lệ sinh năm 2010 là:

1,43%, tỷ lệ tử vong là: 0,7%, tỷ lệ phát triển

dân số tự nhiên là: 0,73% Theo kết quả của

Chương trình mục tiêu phòng chống SDD trẻ

em năm 2010, tỷ lệ trẻ < 5 tuổi SDD là 21,0 %

Việc đánh giá đầy đủ về tỷ lệ SDD thể nhẹ

cân, thấp còi và gầy còm nhằm góp phần cho

định hướng chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ dưới

5 tuổi là cần thiết

Tình trạng SDD trẻ em từ 0 - 5 tuổi ở xã

Đồng Việt

Tổng số trẻ được nghiên cứu là 316 trẻ, chiếm

88,5% tổng số trẻ của toàn xã, trong đó có

160 trẻ nam và 156 trẻ nữ, khá cân bằng giữa

hai giới Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thể thấp

còi cao hơn thể gầy còm, tương tự với kết quả

nghiên cứu của các tác giả khác

Theo kết quả của bảng 3.2, tỷ lệ SDD thể nhẹ

cân (19,9 %) cao hơn so với tỷ lệ chung của

toàn quốc năm 2010 (17,5 %) và tương đương

so với tỷ lệ SDD của tỉnh Bắc Giang năm

2010 (19,6%) So với kết quả nghiên cứu của

một số tác giả khác thì kết quả nghiên cứu của

chúng tôi thấp hơn, kết quả nghiên cứu trước

can thiệp của Hà Xuân Sơn năm 2005 ở Nga

My, Phú Bình, Thái Nguyên là 35,5% [3] và

kết quả nghiên cứu của Lương Thị Thu Hà

năm 2007 ở Phú Lương, Thái Nguyên là

35,4% [2]

Tỷ lệ SDD thể thấp còi (17,7%) thấp hơn khá

nhiều so với tỷ lệ SDD chung của toàn quốc

năm 2010 (29,3%) và thấp hơn tỷ lệ SDD của

tỉnh Bắc Giang năm 2010 (31,9%), như vậy

việc thực hiện hiệu quả Chương trình phòng

chống SDD ở xã đã hạn chế tình trạng SDD

thể thấp còi

Tỷ lệ SDD thể gầy còm là 6,0% và thấp hơn

so với tỷ lệ chung của tỉnh Bắc Giang (7,8%)

trong cùng thời điểm nghiên cứu, tỷ lệ này

của toàn quốc năm 2010 là 7,1%

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em ở xã Đồng Việt

- Yếu tố kinh tế hộ gia đình: những trẻ em sống trong gia đình nghèo có tỷ lệ SDD cao hơn những trẻ em sống ở các gia đình không nghèo là 1,19 đến 1,67 lần (bảng 3.6)

- Yếu tố trình độ học vấn của mẹ: trình độ học vấn của mẹ có liên quan đến tình trạng SDD của trẻ ở cả 3 thể, những người mẹ có trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ SDD của trẻ giảm

rõ rệt

- Yếu tố nghề nghiệp của mẹ: nghề nghiệp của mẹ có liên quan đến tình trạng SDD của trẻ ở cả 3 thể, mẹ làm nghề nông dân thì tỷ lệ trẻ bị bệnh SDD cao hơn so với mẹ làm các nghề khác là từ 1,13 đến 1,67 lần

- Yếu tố liên quan giữa số con trong gia đình

và DD của trẻ: số con trong gia đình có liên quan đến tình trạng SDD của trẻ ở cả 3 thể, những gia đình có số con từ 3 trở lên thì tỷ lệ trẻ bị SDD cao hơn so với những gia đình có

số con từ 2 trở xuống

- Ăn bổ sung thêm sữa ngoài: tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ không uống thêm sữa ngoài là thấp nhất (7,4%), trong khi đó trẻ thường xuyên uống sữa ngoài lại SDD nhiều nhất (26%) chứng tỏ việc cho trẻ thường xuyên uống sữa ngoài là không tốt, có thể điều này

đã ảnh hưởng đến việc cung cấp đầy đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng cho trẻ Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở nhóm trẻ uống sữa ngoài không thường xuyên là thấp nhất (14%), trong khi

đó ở nhóm trẻ không uống sữa ngoài là cao nhất (29,6%), như vậy việc cho trẻ uống bổ sung thêm sữa ngoài là có tác dụng tốt cho việc phát triển chiều cao ở trẻ, nhưng nếu lạm dụng nhiều quá thì lại không tốt

- Yếu tố bệnh tật của trẻ: tiền sử bệnh tật của trẻ có liên quan đến tình trạng SDD của trẻ

em ở nhóm nhẹ cân Tỷ lệ SDD ở những trẻ

có tiền sử bệnh tật cao gấp 1,2 lần so với những trẻ không bị bệnh ở nhóm SDD thể nhẹ cân

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 170

Nguyên nhân của SDD là phối hợp của các

yếu tố trực tiếp là ăn uống, bệnh tật đến các

yếu tố về chăm sóc và nguyên nhân gốc rễ

chính là sự nghèo đói Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy có nhiều yếu tố liên

quan đến tỷ lệ SDD Điều này chứng tỏ, để

cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em cần

tác động vào nhiều yếu tố như nâng cao điều

kiện kinh tế hộ gia đình; học vấn của bà mẹ;

hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ, chăm sóc sức

khoẻ, bổ sung sữa ngoài hợp lý, tập trung hơn

vào các hộ nông dân

KẾT LUẬN

Tình trạng SDD trẻ em 0 - 5 tuổi ở xã

Đồng Việt

- Tỷ lệ SDD của trẻ em từ 0 - 5 tuổi là: SDD thể

nhẹ cân 19,9%, SDD thể thấp còi 17,7%, SDD

thể gầy còm 6,0% và chủ yếu là SDD độ I

- Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở nam (16,3%) thấp

hơn nữ (23,7%), tỷ lệ SDD của nam và nữ ở thể

thấp còi và thể gầy còm là tương đương nhau

- Tỷ lệ SDD ở trẻ em < 5 tuổi thể nhẹ cân và

thể thấp còi tăng cao ở nhóm tuổi từ 13- 36

tháng tuổi còn ở nhóm tuổi khác thì giảm, đặc

biệt là ở nhóm tuổi 49- 60 tháng tuổi Tỷ lệ

SDD ở thể gầy còm thì tăng cao ở nhóm tuổi

từ 37- 48 tháng tuổi

Một số yếu tố liên quan đến SDD trẻ em 0 -

5 tuổi ở xã Đồng Việt

* Yếu tố liên quan đến SDD nhẹ cân:

- Kinh tế hộ gia đình OR = 1,36

- Trình độ học vấn của mẹ OR = 1,36

- Nghề nghiệp của mẹ OR = 1,38

- Gia đình có 3 con trở lên OR = 2,31

- Tiền sử bệnh tật của trẻ OR = 1,2

* Yếu tố liên quan đến SDD thấp còi:

- Kinh tế hộ gia đình OR = 1,19

- Trình độ học vấn của mẹ OR = 1,24

- Nghề nghiệp của mẹ OR = 1,67

- Gia đình có 3 con trở lên OR = 1,11

* Yếu tố liên quan đến SDD gầy còm:

- Kinh tế hộ gia đình OR = 1,67

- Trình độ học vấn của mẹ OR = 1,68

- Nghề nghiệp của mẹ OR = 1,13

- Gia đình có 3 con trở lên OR = 1,34 KHUYẾN NGHỊ

6.1 Để cải thiện tình trạng DD của trẻ dưới 5 tuổi, ngành y tế địa phương cần có các chương trình can thiệp như: tuyên truyền giáo dục SK và hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng trẻ tới các BM có con dưới 5 tuổi và PN có thai, hướng dẫn phòng chống một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ nhỏ

6.2 Ngành y tế tham mưu với chính quyền địa phương để có sự phối hợp liên ngành nhằm cải thiện điều kiện kinh tế xã hội, nâng cao dân trí và chất lượng dân số, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên

6.3 Ngành y tế địa phương cần xây dựng kế hoạch định kỳ đánh giá tỷ lệ suy dinh dưỡng theo từng thể, có các biện pháp can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp để từng bước cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới

5 tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lương Thị Thu Hà (2007), “Nghiên cứu thực trạng SDD thiếu protein năng lượng ở trẻ em dưới

5 tuổi tại 2 xã của huyện Phú Lương, Thái Nguyên”, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại

học Y khoa Thái Nguyên

[2] Hà Xuân Sơn (2005), “Đánh giá hiệu quả phục hồi dinh dưỡng trẻ em bằng giáo dục dinh dưỡng cộng đồng cho các bà mẹ ở Nga My và Tân Kim, Phú Bình, Thái Nguyên”, Luận văn thạc sỹ Y

học, Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên

[3] Nguyễn Minh Tuấn (2008), “Huy động nguồn lực cộng đồng chăm sóc dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên”, Báo cáo

tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ, Mã số B 2006- TN05-02, Thái Nguyên

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 171

SUMMARY

REAL OF MALNUTRITION OF CHILDREN UNDER 5 YEAR OLD IN DONG VIET

COMMUNITY, BAC GIANG DISTRICT AND FACTOR REALATED

Ha Xuan Son 1,* , Nguyen Van Tuy 2 , Nghiem Thi Ninh Dung 1

1

Thai Nguyen university of Medecine and Pharmacy

2

Dong Viet Medicine Station

Objectives: 1 Identify percentage of malnutrition among under 5 years children in Dong Viet commune,

Yen Dung district, Bac Giang province 2 Identify factors related to the nutritional status among under 5

years children in the study area Research subject: under 5 years children, mothers with under 5 years children Methods: cross sectional study Results and conclusions: 1 Percentage of malnutrition among

under 5 years children is: 19.9% of underweight, 17.7% of stunting, 6.0% of wasting; and mainly is malnutrition at level 1 Percentage of underweight at male chidren is 16.3%, lower than at female children (23.7%), percentage of stunting and wasting at male chidren and female children are similar Percentage of underweight and stunting increased in the age group from 13 to 36 months Percentage of wasting increased in the age group from 37 to 48 months old 2 Some factors related

to the nutritional status among under 5 years children are: the household economy, education level of parents, occupation of mothers, families with three or more children

Keywords: malnutrition, nutrition, children, Bac Giang, Yen Dung, Dong Viet

*

Ngày đăng: 19/01/2020, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w