1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cải thiện thói quen vệ sinh răng miệng của một số học sinh tiểu học và phụ huynh thông qua tăng cường giáo dục sức khỏe răng miệng tại nhà

9 122 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 477,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc tăng cường giáo dục sức khỏe răng miệng tại nhà đối với thói quen vệ sinh răng miệng của một số học sinh Tiểu học và phụ huynh. Nghiên cứu được thực hiện trong 4 tuần trên 160 học sinh lớp 4 trường Tiểu học Phong Phú, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TPHCM.

Trang 1

CẢI THIỆN THÓI QUEN VỆ SINH RĂNG MIỆNG CỦA MỘT SỐ HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ PHỤ HUYNH THÔNG QUA TĂNG CƯỜNG

GIÁO DỤC SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG TẠI NHÀ

Nguyễn Lang Thanh * , Phan Ái Hùng **

TÓM TẮT

Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc tăng cường giáo dục sức khỏe răng miệng tại

nhà đối với thói quen vệ sinh răng miệng của một số học sinh Tiểu học và phụ huynh

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trong 4 tuần trên 160 học sinh lớp 4 trường Tiểu

học Phong Phú, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TPHCM Học sinh được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm chứng (80 học sinh) chỉ được giáo dục sức khỏe răng miệng tại trường; nhóm nghiên cứu (80 học sinh) được giáo dục sức khỏe răng miệng tại trường kết hợp với tăng cường nhắc nhở chải răng tại nhà thông qua bảng nhắc nhở và

tự theo dõi chải răng mỗi ngày cùng với gia đình Nghiên cứu cũng khảo sát sự thay đổi thói quen vệ sinh răng miệng của 66 phụ huynh học sinh tham gia tăng cường giáo dục sức khỏe răng miệng tại nhà Nghiên cứu ghi nhận

sự thay đổi kiến thức và thói quen vệ sinh răng miệng với bảng câu hỏi phỏng vấn, đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng với chỉ số vệ sinh răng miệng OHI-S (DI) vào thời điểm ban đầu và sau 4 tuần

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện đáng kể về kiến thức, thói quen và tình trạng vệ sinh răng

miệng của học sinh cũng như thói quen vệ sinh răng miệng của phụ huynh học sinh

Kết luận: Việc tăng cường nhắc nhở chải răng tại nhà kết hợp với giáo dục sức khỏe răng miệng tại trường

giúp cải thiện tốt kiến thức, thói quen và tình trạng vệ sinh răng của học sinh bên cạnh đó cũng góp phần cải thiện thói quen vệ sinh răng miệng của các thành viên trong gia đình

Từ khóa: Vệ sinh răng miệng, giáo dục sức khỏe răng miệng, kiến thức, thói quen, tình trạng vệ sinh

răng miệng

ABSTRACT

IMPROVING ORAL HYGIENE HABITS OF PRIMARY SCHOOL CHILDREN AND THEIR PARENTS

THROUGH PROMOTING ORAL HEALTH CARE EDUCATION AT HOME

Nguyen Lang Thanh, Phan Ai Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 184 - 192

The objectives of this study was to evaluate the effectiveness of promoting oral health care education on oral

hygiene habits of primary school children and their parents

Material and method: The study was conducted in 4 weeks 160 school children aged 10 (class 4th) were

randomly selected and divided into 2 groups: oral health care education was given at school to control group (80 children) and to experimental group (80 children) The later group also received posters to remind them of tooth brushing and a calendar to self follow at home The study also evaluated changes in oral health care habits of 66 parents in experimental group Data was collected using questionnaire and oral hygiene index (OHI-S) at baseline and after 4 weeks

Results of study showed that knowledge, habits and oral hygiene status of school children as well as oral

*: Chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe răng miệng “P/S Bảo Vệ Nụ Cười Việt Nam” – Unilever VN,

**: Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Lang Thanh ĐT: 0909034449; Email: langthanh@gmail.com

Trang 2

hygiene habits of their parents improved significantly

Conclusions: It is concluded that promoting oral health care education at home was effective in improving

knowledge, habits, oral hygiene status of school children and oral hygiene habits of their family members

Key words: Oral hygiene, oral health care education, knowledge, habit, oral hygiene status

MỞ ĐẦU

Giáo dục sức khỏe răng miệng (GDSKRM)

giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa

các bệnh răng miệng đặc biệt là ở lứa tuổi học

sinh, giúp các em sớm có ý thức và thói quen vệ

sinh răng miệng (VSRM) ngay từ nhỏ(13) Ở Việt

Nam, GDSKRM là nội dung đầu tiên và quan

trọng nhất trong 4 nội dung của chương trình

chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh

(Nha Học Đường) Hiện nay, nội dung này được

thực hiện gần 100% các trường Tiểu học và Mầm

non Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy

tình trạng VSRM của học sinh vẫn ở mức trung

bình và kém Vì vậy rất cần tăng cường

GDSKRM, tăng cường chải răng để giúp cải

thiện tình trạng VSRM của học sinh(6,8,14,15)

Thực tế, học sinh học những kiến thức chăm

sóc răng miệng tại trường trong khi thực hành

các kỹ năng này chủ yếu ở nhà, đặc biệt là các

học sinh không học bán trú Số lượng học sinh

này chiếm đa số, nhất là ở các huyện ngoại

thành hiện nay Một số nghiên cứu cho thấy cha

mẹ giữ vai trò quan trọng trong việc GDSKRM

cho trẻ và ngược lại, kiến thức răng miệng của

trẻ có ảnh hưởng đối với cha mẹ và làm thay đổi

thói quen chăm sóc răng miệng của các thành

viên trong gia đình(2,4)

Hiện nay, trong nước chưa có nghiên cứu

nào khảo sát ảnh hưởng của việc GDSKRM tại

trường kết hợp tăng cường GDSKRM tại nhà đối

với thói quen VSRM của học sinh và phụ huynh

Việc tìm hiểu tác động của GDSKRM tại trường

kết hợp với gia đình là cần thiết để từ đó có

phương pháp thích hợp giúp cải thiện và nâng

cao sức khỏe răng miệng cho học sinh và cộng

đồng Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

này nhằm các mục tiêu sau:

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá sự cải thiện thói quen VSRM của một số học sinh Tiểu học và phụ huynh thông qua tăng cường GDSKRM tại nhà

Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá kiến thức, thói quen, tình trạng VSRM của học sinh (sau khi học sinh được GDSKRM tại trường theo chương trình Nha Học Đường), thói quen VSRM của phụ huynh học sinh (PHHS) trước nghiên cứu

- Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thói quen

và tình trạng VSRM của học sinh sau khi thực hiện tăng cường GDSKRM tại nhà

- So sánh sự thay đổi thói quen và tình trạng VSRM của nhóm học sinh có tăng cường GDSKRM tại nhà so với nhóm học sinh chỉ được GDSKRM đơn thuần tại trường

- Đánh giá sự thay đổi thói quen VSRM của phụ huynh học sinh trước và sau khi thực hiện tăng cường GDSKRM tại nhà

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm can thiệp cộng đồng

Mẫu nghiên cứu

160 học sinh và 66 phụ huynh học sinh lớp Bốn trường Tiểu học Phong Phú, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TPHCM Học sinh được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm chứng (nhóm 1) gồm 80 học sinh, nhóm nghiên cứu (nhóm 2) gồm 80 học sinh

Chọn toàn bộ phụ huynh của học sinh nhóm nghiên cứu (66 PHHS)

Phương tiện tăng cường GDSKRM

Bảng nhắc nhở học sinh chải răng gồm 2 bảng: một bảng được dán ở nơi chải răng với nội dung nhắc nhở các em chải răng sau khi ăn và tối trước khi đi ngủ, chải răng buổi tối là quan

Trang 3

trọng nhất, chải đủ các mặt răng của hàm trên

và hàm dưới; một bảng được dán ở góc học tập

với nội dung nhắc nhở chải răng sau khi ăn và

tối trước khi đi ngủ kết hợp với các phiếu theo

dõi chải răng

Phiếu theo dõi chải răng gồm 4 phiếu (mỗi

tuần có 1 phiếu) được gắn vào bảng nhắc nhở

chải răng dán ở góc học tập, mỗi phiếu gồm một

bảng với các ô vuông để học sinh ghi điểm chải

răng của mình và cha mẹ mỗi ngày

Phương tiện đánh giá kiến thức, thói quen

VSRM

Bộ câu hỏi phỏng vấn học sinh và PHHS về

kiến thức và thói quen VSRM với các nội dung

phù hợp chương trình GDSKRM của học sinh

tại trường

Phương tiện đánh giá tình trạng VSRM

Phiếu khám tình trạng VSRM, bộ đồ khám

răng, thuốc phát hiện mảng bám với thành phần

là FD&C blue No.1, D&C red No.28

Tiến trình nghiên cứu

Bước 1: Khảo sát kiến thức, thói quen và tình

trạng VSRM của học sinh; thói quen VSRM của

PHHS trước can thiệp

Bước 2: Triển khai tăng cường GDSKRM tại

nhà ở học sinh nhóm nghiên cứu

Mỗi học sinh được nhận 2 bảng nhắc nhở

chải răng và được giáo viên chủ nhiệm hướng

dẫn dán đúng vị trí, ghi điểm vào phiếu theo dõi

chải răng

Học sinh tự theo dõi chải răng và ghi điểm

chải răng của mình và cha mẹ vào ô vuông trên

phiếu theo dõi chải răng mỗi ngày: có chải răng

ghi điểm 1, không chải răng ghi điểm 0 Thời

gian bắt đầu ghi điểm chải răng là ngày thứ Hai

Sau 1 tuần (thứ Hai kế tiếp), học sinh nộp phiếu

theo dõi chải răng đã được ghi điểm chải răng

với chữ ký xác nhận của phụ huynh cho giáo

viên chủ nhiệm Việc theo dõi chải răng được

thực hiện trong 4 tuần

Bước 3: Đánh giá hiệu quả tăng cường

GDSKRM tại nhà sau 1 tháng với các tham số:

Sự thay đổi kiến thức, thói quen và tình trạng VSRM của học sinh; sự thay đổi thói quen VSRM của PHHS

Thu thập dữ liệu

Kiến thức và thói quen VSRM của học sinh

Học sinh tham gia nghiên cứu được phỏng vấn bằng cách trả lời bảng câu hỏi tự điền tại lớp sau khi được khám đánh giá tình trạng VSRM, dưới sự hướng dẫn và giám sát bởi các điều tra viên gồm các nội dung sau:

- Hiểu biết về nguyên nhân và cách phòng ngừa các bệnh sâu răng và viêm nướu, biện pháp VSRM quan trọng, phương pháp chải răng đúng, lần chải răng quan trọng nhất trong ngày

- Thói quen VSRM gồm tần suất chải răng, thời điểm chải răng, sử dụng kem đánh răng có Fluor, tự giác chải răng

Tình trạng VSRM của học sinh

Học sinh được khám đánh giá và ghi nhận tình trạng VSRM với chỉ số OHI-S (yếu tố bựa bám) Phân loại tình trạng VSRM của mỗi học sinh như sau:

- 0,0 – 0,6: VSRM tốt

- 0,7 – 1,8: VSRM trung bình

- 1,9 – 3,0: VSRM kém

Thói quen VSRM của phụ huynh học sinh

Phụ huynh học sinh tham gia nghiên cứu được gửi bảng câu hỏi phỏng vấn soạn sẵn về nhà, trả lời và gửi lại cho giáo viên chủ nhiệm vào ngày hôm sau Phỏng vấn PHHS được thực hiện trước khi phỏng vấn, khám và ghi nhận tình trạng VSRM của học sinh

Bảng câu hỏi gồm các nội dung: tần suất chải răng trong ngày, thời điểm chải răng, cách chải răng, việc sử dụng kem đánh răng có Fluor, sự quan tâm đến VSRM của con và ý kiến của PHHS về việc thực hiện tăng cường GDSKRM tại nhà

Kiểm soát sai lệch thông tin

Tham vấn ý kiến của các nhà chuyên môn, thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện bộ câu

Trang 4

hỏi Tập huấn điều tra viên và ghi nhận chỉ số

Kappa là 0,8 trước khi điều tra chính thức

Xử lý dữ liệu

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm

SPSS phiên bản 11.5 Sử dụng thống kê mô tả và

các kiểm định 2, kiểm định McNemar, kiểm định

t để phân tích, trình bày và so sánh các kết quả

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Phân bố tỉ lệ % học sinh của 2 nhóm nghiên

cứu theo giới

n % n %

Tổng 78 48,7 82 51,3 160

Kiểm định 2 = 3,602; p = 0,058

Bảng 2: Phân bố tỉ lệ % PHHS theo tuổi và giới

<34 4 (16,6) 16 (38,1) 20 (30,3)

35-44 13 (54,2) 20 (47,6) 33 (50)

>45 7 (29,2) 6 (14,3) 13 (19,7)

Tổng 24 (36,4) 42 (63,6) 66 (100)

Kiến thức VSRM của học sinh

Bảng 3: Điểm trung bình (TB) kiến thức VSRM của

2 nhóm học sinh

(1) Nguyên nhân sâu răng và viêm nướu

Nhóm 1 8 (7,361) 6,75 (6,708) 0,159

Nhóm 2 7,25 (7,459) 8,25 (7,758) 0,172

(2) Phòng ngừa sâu răng và viêm nướu

Nhóm 1 14,81 (4,503) 13,25 (5,240) 0,000

Nhóm 2 14,26 (5,048) 15,58 (4,227) 0,004

(3) Chải răng là biện pháp giữ VSRM quan trọng

Nhóm 1 7,63 (4,282) 7,88 (4,117) 0,620

Nhóm 2 7,75 (4,202) 9,38 (2,436) 0,000

(4) Phương pháp chải răng đúng

Nhóm 1 7,31 (3,275) 7,06 (3,440) 0,397

Nhóm 2 7,19 (3,718) 8,63 (2,513) 0,000

(5) Lần chải răng quan trọng nhất

Nhóm 1 3,88 (4,903) 4 (4,930) 0,783

Nhóm 2 4,88 (5,030) 9,5 (2,193) 0,000

Điểm trung bình chung về kiến thức VSRM (*)

Nhóm 1 41,63 (14,381) 38,94 (13,943) 0,039

Nhóm 2 41,33 (15,876) 51,33 (10,690) 0,000

(a) Kiểm định t bắt cặp; (b) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập; (*) Trung bình cộng của (1), (2), (3), (4), (5)

Bảng 4: Tỉ lệ % học sinh có kiến thức VSRM đạt yêu cầu

Nhóm

Trước can

Nhóm 1 29 (36,3) 25 (31,3) 0,541 Nhóm 2 31 (38,8) 49 (61,3) 0,000

(a) Kiểm định McNemar, (b) Kiểm định 2

Thói quen VSRM của học sinh

Bảng 5: Thói quen VSRM của học sinh

Chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày

Nhóm 1 44 (55) 54 (67,5) 0,013

Nhóm 2 42 (52,5) 78 (97,5) 0,000

Chải răng sáng mới thức dậy

Nhóm 1 78 (97,5) 73 (91,3) 0,063 Nhóm 2 76 (95) 69 (86,3) 0,092

Chải răng sau khi ăn

Nhóm 1 7 (8,8) 10 (12,5) 0,375 Nhóm 2 6 (7,5) 58 (72,5) 0,000

Chải răng tối trước khi đi ngủ

Nhóm 1 46 (57,5) 54 (67,5) 0,021

Nhóm 2 43 (53,8) 78 (97,5) 0,000

Chải răng với kem có Fluor

Nhóm 1 52 (65) 61 (76,3) 0,022

Nhóm 2 60 (75) 74 (92,5) 0,001

Tự giác chải răng

Nhóm 1 37 (46,3) 40 (50) 0,581 Nhóm 2 40 (50) 66 (82,5) 0,000

Trang 5

Tình trạng VSRM của học sinh

Bảng 6: Trung bình điểm số OHI-S của 2 nhóm học

sinh

Trước can thiệp Sau can thiệp

OHI-S Nhóm 1 2,315 (0,499) 2,225 (0,501) 0,013

Nhóm 2 2,381 (0,492) 1,652 (0,569) 0,000

(a) Kiểm định t bắt cặp, (b) Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Bảng 7: Tình trạng VSRM của học sinh

Trung

bình Nhóm 1 Nhóm 2 11 (13,7) 16 (20) 21 (26,3) 50 (62,5) 0,1800,000

p(b) 0,291 0,000

Kém Nhóm 1 64 (80) 59 (73,7) 0,180

Nhóm 2 69 (86,3) 29 (36,3) 0,000

p(b) 0,291 0,000

(a) Kiểm định McNemar, (b) Kiểm định 2

Thay đổi thói quen VSRM của phụ huynh học

sinh

Bảng 8: Thói quen chải răng của PHHS

Tham số

Thói quen chải răng, n (%)

p (a)

thiệp

Chải răng ít nhất 2

lần mỗi ngày

38 (57,6) 64 (97) 0,000

Chải răng sáng mới

thức dậy 63 (95,5) 61 (92,4) 0,718

Chải răng sau khi

ăn 4 (6,1) 48 (72,7) 0,000

Chải răng tối trước

khi đi ngủ

38 (57,6) 63 (95,5) 0,000

Chải răng đúng 12 (18,2) 65 (98,5) 0,000

Dùng kem đánh

răng có Fluor 35 (53) 55 (83,3) 0,000

(a) Kiểm định 2

Bảng 9: Sự quan tâm của PHHS đến VSRM của con

Tham số

Trước can thiệp

Sau can

Kiểm tra răng con sau

khi con chải răng

3 (4,5) 46 (69,7) 0,000

Nhắc con chải răng 8 (12,1) 56 (84,8) 0,000

(a) Kiểm định 2

BÀN LUẬN

Sự thay đổi kiến thức VSRM của học sinh

Kết quả ở Bảng 3 cho thấy trước can thiệp, điểm trung bình chung về kiến thức VSRM của học sinh giữa 2 nhóm không có sự khác biệt Điều này cho thấy học sinh của 2 nhóm được GDSKRM và tiếp thu các kiến thức VSRM từ chương trình GDSKRM tại trường tương tự nhau Sau can thiệp, điểm trung bình này ở học sinh nhóm nghiên cứu tăng đáng kể (p<0,001) và khác biệt rõ rệt so với học sinh nhóm chứng (p<0,001) Trong khi đó, điểm trung bình này giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm chứng cho thấy nếu kiến thức VSRM của học sinh chỉ được cung cấp một lần mà không được nhắc nhở thì kiến thức có khuynh hướng giảm dần theo thời gian Ngược lại, việc tăng cường nhắc nhở học sinh thực hành chải răng mỗi ngày đã gián tiếp giúp củng cố và nâng cao kiến thức về VSRM cho học sinh

Kết quả ở Bảng 4 cho thấy tỉ lệ học sinh có kiến thức VSRM đạt yêu cầu trước can thiệp ở 2 nhóm như nhau và rất thấp (36,3% ở nhóm chứng và 31,3% ở nhóm can thiệp) chứng minh kiến thức VSRM của học sinh trước can thiệp là đồng đều và có vẻ như việc cung cấp kiến thức VSRM cho học sinh trong chương trình Nha Học Đường chưa đủ Sau can thiệp, tỉ lệ này tăng lên đáng kể và đạt 61,3% ở nhóm nghiên cứu, có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu (p<0,001) Kết quả này cũng tương

tự như các nghiên cứu trước đây (Goel và cs; Toassi và cs)(3,12), cho thấy nếu chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh một lần thì chưa đủ, cần phải

có tăng cường thực hành hoặc thúc đẩy GDSKRM mới có thể giúp học sinh duy trì các kiến thức đã được học lâu hơn và có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện SKRM

Sự thay đổi thói quen VSRM của học sinh

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy tỉ lệ học sinh chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày ở 2 nhóm trước can thiệp tương tự nhau Sau can thiệp, tỉ lệ này ở nhóm nghiên cứu tăng lên rõ rệt so với nhóm

Trang 6

chứng (p<0,001) đã chứng minh việc tăng cường

nhắc nhở học sinh thực hành chải răng tại nhà

làm tăng số lần chải răng trong ngày của học

sinh Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu

trước đây (Livny và cs; Petersen)(7,9) Các kết quả

cho thấy tăng cường GDSKRM và tăng cường

chải răng đều có hiệu quả cải thiện thói quen

VSRM, làm tăng số lần chải răng trong ngày của

học sinh

Tỉ lệ học sinh chải răng sau khi ăn trước can

thiệp rất thấp, chỉ có 8,8% học sinh ở nhóm

chứng và 7,5% học sinh ở nhóm nghiên cứu có

chải răng sau khi ăn Tỉ lệ học sinh chải răng vào

buổi tối trước khi đi ngủ thấp (57,5% ở nhóm

chứng và 53,8% ở nhóm nghiên cứu) Mặc dù

học sinh đã được học tại trường về các thời điểm

và tầm quan trọng của các lần chải răng nhưng

kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh chưa ứng

dụng những kiến thức đã được học tại trường

vào trong thực hành hàng ngày mà thực hiện

theo thói quen nhiều hơn, rõ rệt nhất là kết quả

của lần chải răng sáng mới thức dậy, phần lớn

học sinh và PHHS có thói quen này Sau can

thiệp, tỉ lệ học sinh chải răng sau khi ăn không

thay đổi đáng kể ở nhóm chứng nhưng tăng rõ

rệt ở nhóm nghiên cứu (tăng 65%) và có sự khác

biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm (p<0,001) Kết quả

này cho thấy việc tăng cường nhắc nhở thực

hành chải răng đã có tác động giúp học sinh

nhận thức và cải thiện thói quen chải răng sau

khi ăn

Tỉ lệ học sinh chải răng tối trước khi đi ngủ

tăng 10% ở nhóm chứng (p<0,05) và 43,7% ở

nhóm nghiên cứu (p<0,001) Có sự khác biệt rõ

rệt giữa 2 nhóm về tỉ lệ này (p<0,001) Hầu hết

học sinh ở nhóm nghiên cứu có chải răng vào tối

trước khi đi ngủ, kết quả này phù hợp với kết

quả gia tăng hiểu biết về lần chải răng quan

trọng nhất của học sinh Điều này chứng minh

rằng khi học sinh nhận thức được tầm quan

trọng của lần chải răng tối trước khi đi ngủ, các

em sẽ thay đổi được hành vi và hình thành thói

quen tốt

Tỉ lệ học sinh dùng kem đánh răng có Fluor như nhau ở 2 nhóm trước can thiệp Sau can thiệp, 76,3% học sinh nhóm chứng và 92,5% học sinh nhóm nghiên cứu cho biết có sử dụng kem đánh răng có Fluor, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p<0,01) Kết quả cho thấy, hầu hết học sinh có chải răng với kem đánh răng, nhưng có thể chúng ít quan tâm kem

có chứa gì và có tác dụng gì đối với sức khỏe Theo thời gian, thói quen của học sinh sẽ cải thiện do học hỏi từ kinh nghiệm bản thân cũng như môi trường xung quanh và nếu có tăng cường thực hành thì sự cải thiện này sẽ cao hơn

Sự tự giác chải răng của học sinh nhóm can thiệp cũng có thay đổi rõ rệt và sự khác biệt giữa

2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Kết quả này cho thấy, việc nhắc nhở thực hành chải răng mỗi ngày tại nhà đã giúp học sinh có ý thức tự giác hơn

Sự thay đổi tình trạng VSRM của học sinh

Theo kết quả ở Bảng 6, trung bình điểm số OHI-S giữa hai nhóm học sinh không khác nhau trước can thiệp Điểm số này phản ánh VSRM của hai nhóm học sinh ở mức độ kém (OHI-S>1,9) Sau can thiệp, giá trị này giảm ở hai nhóm Tuy nhiên, trung bình điểm số OHI-S ở nhóm nghiên cứu giảm rõ rệt hơn (p<0,001) và thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p<0,001) VSRM của nhóm nghiên cứu được cải thiện rõ rệt, chuyển từ kém lên trung bình (OHI-S <1,8) Trung bình điểm số OHI-S của học sinh nhóm chứng giảm nhưng VSRM vẫn còn ở mức độ kém (OHI-S>1,9) và tình trạng mảng bám giảm chủ yếu ở vùng răng 11 và 31 Kết quả này phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu trước đây (Nguyễn Thị Phương Uyên và cs, Vũ Thị Kiều Diễm)(8,14) và cho thấy

có vẻ việc GDSKRM trong chương trình Nha Học Đường hiện nay chưa đem lại kết quả mong muốn thể hiện qua tình trạng VSRM và khả năng chải sạch răng của học sinh Các biện pháp tăng cường GDSKRM riêng lẻ và thực hiện trong thời gian ngắn dù có kết quả cải thiện VSRM cũng như khả năng chải sạch răng của

Trang 7

học sinh rõ rệt nhưng dường như chưa đủ sức

mang lại sự thay đổi lớn về tình trạng VSRM của

học sinh

Xét về tỉ lệ % học sinh theo tình trạng VSRM,

kết quả ở Bảng 7 cho thấy trước can thiệp, tình

trạng VSRM của phần lớn học sinh cả hai nhóm

ở mức kém, chiếm 80% ở nhóm chứng và 86,3%

ở nhóm nghiên cứu; không có học sinh với tình

trạng VSRM tốt ở cả hai nhóm; tỉ lệ học sinh có

tình trạng VSRM trung bình là 20% ở nhóm

chứng và 13,7% ở nhóm nghiên cứu Sau can

thiệp, tình trạng VSRM ở học sinh nhóm chứng

gần như không thay đổi, trong khi ở nhóm

nghiên cứu, tỉ lệ học sinh có tình trạng VSRM

trung bình tăng đáng kể (48,8%); tỉ lệ học sinh có

tình trạng VSRM kém giảm rõ rệt (50%) và có sự

khác biệt đáng kể về tình trạng VSRM giữa hai

nhóm (p<0,001) Kết quả cải thiện VSRM bằng

các biện pháp tăng cường GDSKRM tương tự

cũng được chứng minh qua một số nghiên cứu

khác (Ferrazzano và cs, Leous, Rodrigues và cs,

Swain và cs)(1,5,10,11)

Như vậy, tăng cường GDSKRM tại nhà có

hiệu quả củng cố và nâng cao kiến thức VSRM

đồng thời cải thiện thói quen và tình trạng

VSRM của học sinh Việc tự theo dõi chải răng là

phương tiện giúp học sinh tự giác trong thực

hành chải răng và tập cho các em hình thành

thói quen VSRM tốt

Sự thay đổi thói quen VSRM của phụ

huynh học sinh

Kết quả ở Bảng 8 cho thấy, trước can thiệp tỉ

lệ PHHS chải răng ít 2 lần mỗi ngày chiếm 57,6

%, tỉ lệ PHHS chải răng sau khi ăn và tối trước

khi đi ngủ rất thấp Hầu hết PHHS có thói quen

chải răng mỗi ngày một lần vào buổi sáng mới

thức dậy Thói quen này cũng rất cao ở học sinh

cho thấy các thành viên trong gia đình có thói

quen giống nhau và phản ánh thói quen chưa

đúng vẫn còn tồn tại ở số đông học sinh và

PHHS ở vùng ven hoặc ở tầng lớp lao động

Điều này cũng có thể là do phụ huynh chưa hiểu

biết được tầm quan trọng của việc chải răng sau

khi ăn cũng như buổi tối trước khi đi ngủ Ngoài

ra, thói quen chải răng còn chịu ảnh hưởng bởi cách sống, điều kiện ăn uống, sinh hoạt và ý thức của mỗi người và gia đình Sau can thiệp, tỉ

lệ PHHS chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày tăng rõ rệt (p<0,001) và chiếm đến 97% Tỉ lệ PHHS chải răng sau khi ăn và tối trước khi ngủ tăng đáng

kể (72,7%) so với trước can thiệp (1,5%) Kết quả cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong thói quen chải răng của PHHS

Tỉ lệ PHHS biết kem đánh răng mình đang

sử dụng có Fluor tăng lên 83,3% sau can thiệp và

có khác biệt rõ rệt so với trước can thiệp (p<0,001) cho thấy qua việc thực hành chải răng mỗi ngày cùng học sinh, PHHS đã có quan tâm hơn đến thành phần và công dụng của loại kem đánh răng được sử dụng

Tỉ lệ PHHS nhận thức được chải răng vào buổi tối trước khi đi ngủ là quan trọng nhất tăng

từ 31,8% lên 92,4% và có khác biệt đáng kể so với trước nghiên cứu (p<0,001) Tỉ lệ PHHS biết cách chải răng đúng là 98,5% so với trước nghiên cứu tỉ lệ này chỉ có 18,2% Điều này chứng minh khi phụ huynh được tác động gián tiếp bởi việc nhắc nhở và tự theo dõi chải răng của học sinh, phụ huynh quan tâm và tìm hiểu nhiều hơn về VSRM, họ có thể học hỏi từ kinh nghiệm bản thân và từ nhiều nguồn thông tin xung quanh, đặc biệt là từ chính con của họ Tương tự, trong nghiên cứu của Garbin và cs(2), tỉ lệ phụ huynh cho rằng họ học được từ trẻ những vấn đề về sức khỏe răng miệng là 90,5% trong đó chải răng

là yếu tố được các phụ huynh quan tâm và 87,3% phụ huynh cho biết có sự thay đổi thói quen về sức khỏe răng miệng của các thành viên trong gia đình

Kết quả ở Bảng 9 cho thấy sau 1 tháng thực hiện tăng cường GDSKRM tại nhà, PHHS cũng quan tâm đến VSRM của con nhiều hơn so với trước can thiệp Điều này cho thấy việc nhắc nhở học sinh chải răng mỗi ngày có tác động làm tăng sự quan tâm của PHHS đến các vấn đề răng miệng của con và của chính mình

Có 95,5% phụ huynh cho rằng việc dán bảng nhắc nhở học sinh chải răng tại nhà là cần thiết

Trang 8

và tỉ lệ phụ huynh đồng ý tiếp tục dán bảng

nhắc nhở học sinh chải răng là 90,9 % Đây là

điều thuận lợi nếu tiếp tục triển khai và mở rộng

mô hình tăng cường GDSKRM tại nhà bên cạnh

chương trình GDSKRM tại trường trong thời

gian tới

Như vậy, mô hình tăng cường GDSKRM tác

động đến việc thực hành rất thực tế và đơn giản

trên đối tượng học sinh, nhắc nhở các em chải

răng mỗi ngày tại nhà, trao quyền cho các em tự

theo dõi việc chải răng của mình và gia đình

Với lứa tuổi này trẻ thích tự khẳng định mình

nên rất hào hứng tham gia và nhắc nhở cha mẹ

tham gia Việc tăng cường GDSKRM tại nhà tuy

không trực tiếp cung cấp kiến thức VSRM

nhưng có tác động giúp PHHS hiểu và cùng học

sinh tham gia thực hành chải răng, một biện

pháp VSRM quan trọng trong việc phòng ngừa

các bệnh răng miệng Bên cạnh đó, học sinh

cũng truyền đạt những kiến thức được học ở

trường cho cha mẹ, đặc biệt là cách chải răng

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu này còn một số hạn chế như:

chọn mẫu không xác suất; số lượng cá thể trong

mẫu PHHS mất nhiều (19,5%), thời gian thực

hiện nghiên cứu tương đối ngắn Vì vậy rất cần

có thêm các nghiên cứu tiếp tục sâu và rộng hơn,

thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá sự thay

đổi và duy trì các kết quả cải thiện thói quen

VSRM cũng như tình trạng sức khỏe răng miệng

của học sinh và PHHS

KẾT LUẬN

Sau một tháng thực hiện và đánh giá hiệu

quả của việc tăng cường GDSKRM với hình thức

nhắc nhở và tự theo dõi chải răng tại nhà ở học

sinh lớp Bốn trường Tiểu học Phong Phú, huyện

Bình Chánh, TP HCM, có thể đưa ra một số kết

luận như sau:

Kiến thức VSRM của học sinh

Trước can thiệp, tỉ lệ học sinh có kiến thức

VSRM đạt yêu cầu rất thấp và không khác biệt

giữa 2 nhóm học sinh Sau can thiệp, tỉ lệ này

không thay đổi đáng kể ở nhóm chứng, nhưng

tăng rõ rệt ở nhóm có tăng cường GDSKRM tại nhà (từ 38,8% lên 61,3%) Sự khác biệt về kiến thức VSRM giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,001)

Thói quen VSRM của học sinh

Trước can thiệp, không có sự khác biệt về thói quen VSRM giữa 2 nhóm học sinh Sau can thiệp, thói quen VSRM cải thiện rõ rệt ở nhóm học sinh có tăng cường GDSKRM tại nhà Sự khác biệt về thói quen VSRM giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,001 và p<0,01)

Tình trạng VSRM của học sinh

Trước can thiệp, không có sự khác biệt về tình trạng VSRM giữa 2 nhóm học sinh Sau can thiệp, tình trạng VSRM cải thiện rõ rệt ở nhóm học sinh có tăng cường GDSKRM tại nhà (p<0,001) Sự khác biệt về tình trạng VSRM giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Tuy nhiên, tỉ lệ học sinh có tình trạng VSRM trung bình vẫn còn khá cao

Thói quen VSRM của PHHS

Trước can thiệp, tỉ lệ PHHS chải răng sau khi

ăn và chải răng đúng rất thấp; tỉ lệ PHHS chải răng ít nhất 2 lần mỗi ngày, chải răng buổi tối trước khi đi ngủ và chải răng với kem có Fluor ở mức trung bình; tỉ lệ PHHS quan tâm đến VSRM của con rất thấp Sau can thiệp, thói quen VSRM của PHHS có cải thiện rõ rệt so với trước can thiệp (p<0,001)

Đề xuất

- Mô hình tăng cường GDSKRM tại nhà không ảnh hưởng nhiều đến thời gian học tập của học sinh ở trường cũng như ở nhà, hình thức dễ thực hiện vì vậy có thể mở rộng trên số lượng lớn học sinh, áp dụng cho nhiều lứa tuổi học sinh Tiểu học

- Cải tiến GDSKRM tại trường kết hợp với thực hiện tăng cường GDSKRM tại nhà:

Tăng cường hướng dẫn thực hành chải răng Nhắc nhở học sinh chải răng tại nhà kết hợp việc tự theo dõi chải răng của học sinh và phụ huynh

Trang 9

Thực hiện tăng cường GDSKRM với thời

gian dài hơn: 6-9 tháng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ferrazzano G.F., Cantile T., Sangianantoni G., Ingenito A

(2008) "Effectiveness of a motivation method on the oral

hygiene of children" Eur J Paediatr Dent 9(4) pp 183-187

2 Garbin C.A.S., Garbin A.J.I., Dos Santos K.T., Lima D.P

(2009) "Oral health education in schools: promoting health

agents" International Journal of Dental Hygiene 7(3) pp

212-216

3 Goel P., Sehgal M., Mittal R (2005) "Evaluating the

effectiveness of school-based dental health education

program among children of difference socioeconomic

groups" Journal of Indian Society of Pedodontics and

Preventive Dentistry 23(3) pp 131-133

4 Kwan S., Petersen P.E., Pine C.M., Borutta A (2005)

"Health-promoting schools: an opportunity for oral health

promotion" Bulletin of the World Health Organization 83

pp 677-685

5 Leous P., Palianskaya L., Leous L (2009) "Oral Hygiene and

Gingival Inflammation in 6-8 years old from a Junior School

in Minsk who participated in a Supervised Oral Hygiene

Programme" OHDMBSC 3(1)

6 Lê Thị Kim Oanh (2002) "Khảo sát kiến thức và tình trạng vệ

sinh răng miệng của học sinh tiểu học tỉnh Long An" Luận

văn Thạc sĩ Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP Hồ

Chí Minh

7 Livny A., Vered Y., Slouk L., Sgancohen H.D (2008) "Oral

health promotion for schoolchildren-evaluation of a

pragmatic approach with emphasis on improving brushing skills" BMC Oral Health 8

8 Nguyễn Thị Phương Uyên, Trần Thu Thủy, Đào Thị Hồng Quân (2004) "Khảo sát hiệu quả làm sạch mảng bám của phương pháp hướng dẫn chải răng tích cực trên học sinh tiểu học" Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt, TP Hồ Chí Minh Trang 50-58

9 Petersen PE (2004) "Effect of a school-based oral health education programme in Wuhan City, Peoples Republic of China" International Dental Journal 54 pp 33-41

10 Rodrigues J.A., Dos Santos K.T., Garcia P.P.N.S., Corona S.A.M., Loffredo L.C.M (2003) "Evaluation of motivation methods used to obtain appropriate oral

11 Swain J.J., Allard G.B., Holborn S.W (1982) "The good toothbrushing game: a school-based dental hygiene program for increasing the toothbrushing effectiveness of children" Journal of applied behavior analysis 15(1) pp 171-176

12 Toassi R.F., Petry P.C (2002) "Motivation on plaque control and gingival bleeding in school children" Rev Saude Publica 36(5) pp 634-637

13 Võ Thế Quang, Nguyễn Thị Tịnh, Vũ Thị Ngọc Hương (1987) "Giáo dục sức khỏe răng miệng cho học sinh" Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh

14 Vũ Thị Kiều Diễm (2005) "Đánh giá hiệu quả chải răng có theo dõi trên tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh một trường tiểu học ở TP Hồ Chí Minh" Luận văn Thạc sĩ Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

15 Vũ Thị Thúy Hồng, Huỳnh Anh Lan, Võ Đắc Tuyến (2008)

"Tình trạng mảng bám răng ở học sinh 12 tuổi" Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt TP Hồ Chí Minh Trang 74-80

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm