1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính u nguyên bào thận trẻ em

6 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 545,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm hình ảnh chung của u nguyên bào thận (u wilms) trên phim chụp cắt lớp vi tính (CCVT) và xác định giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong đánh giá sự xâm lấn vỏ bao thận, phát hiện huyết khối tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới, phát hiện hạch ổ bụng trên bệnh nhân có u wilms.

Trang 1

TRẺ EM 

Đào Thị Thùy Trang* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm hình ảnh chung của u nguyên bào thận (u 

Wilms) trên phim chụp cắt lớp vi tính (CCVT) và xác định giá trị của CCVT trong đánh giá sự xâm lấn vỏ bao  thận, phát hiện huyết khối tĩnh mạch thận và tĩnh mạch chủ dưới, phát hiện hạch ổ bụng trên bệnh nhân có u  Wilms. 

Đối tương và phương pháp: 36 bệnh nhân có u Wilms được khảo sát CLVT không và có tiêm thuốc cản 

quang trước phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng I với máy Somatom Emotion 16 lát cắt, thuốc cản quang là  Xenetix 300mg, liều lượng 2ml/Kg. 

Kết quả: U Wilms phần lớn xảy ra ở một bên thận, tỉ lệ xảy ra ở hai bên thận là 5,6%. U Wilms có thể xảy 

ra trên thận có thương tổn bẩm sinh như thận móng ngựa. Kích thước của u Wilms ngay lúc phát hiện thường  lớn, trung bình là 10,8 ± 3 cm, 61% u có kích thước từ 8 đến12 cm. 100% u Wilms bắt thuốc cản quang kém  hơn nhu mô thận bình thường. Đa số u Wilms có cấu trúc không đồng nhất với tỷ lệ 83,3%, hoại tử trong u xảy 

ra khoảng 80,6%, vôi hóa trong u khoảng 13,9%, thành phần mỡ trong u khoảng 5,6%. Giá trị của chụp cắt lớp 

vi tính trong đánh giá bệnh nhân có u Wilms: Độ chính xác trong đánh giá xâm lấn vỏ bao là 74,3%. Độ nhạy  trong phát hiện xâm lấn vỏ bao là 75%, độđđặc hiệu 73,7%, giá trị tiên đoán dương 70,6%, giá trị tiên đoán âm  77,8%. Độ chính xác trong đánh giá huyết khối tĩnh mạch thận là 88,2%. Độ nhạy trong phát hiện huyết khối  tĩnh mạch thận là 20%, độđđặc hiệu 100%, giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán âm 87,9%. Độ chính  xác trong phát hiện hạch ổ bụng là 65,7%. Độ nhạy trong phát hiện hạch bụng là 62,5%, độ đặc hiệu 68,4%, giá  trị tiên đoán dương 62,5%, giá trị tiên đoán âm 68,4%. 

Kết  luận: CLVT có vai trò đánh giá đặc điểm u Wilms và góp phần đánh giá sự xâm lấn tại chỗ củas u 

Wilms. 

Từ khóa: cắt lớp vi tính, u nguyên bào thận 

ABSTRACT 

COMPUTED TOMOGRAPHY IMAGING CHARACTERISTICS OF NEPHROBLASTOMA IN 

CHILDREN 

Dao Thi Thuy Trang** Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 504 ‐ 509 

Objective:  The  purpose  of  this  study  was  to  determine  computed  tomography  imaging  characteristics  of 

nephroblastoma and value of computed tomography in evaluation of renal capsule extension, renal venous and  vena caval thrombosis, lymph node in patients with Wilms’ tumor. 

Materials  and  methods:  36  patients  with  Wilms  tumor  were  enrolled  in  this  study.  They  had  were 

investigated computed tomographic scan before and after intravenous administration of contrast material before  they were operated. We used a 16 slice Somatom Emotion, Xenetix 300mg with dose 2ml/Kg 

Results: Most Wilms tumor occurs unilateral. Wilms tumor is bilateral in 5.6% of children. Wilms tumor 

can associate with congenital nephropathy such as horseshoe kidney. Dimension of Wilms tumor at detection is 

* Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh BV Chợ Rẫy  

Tác giả liên lạc: BSCKI. Đào Thị Thùy Trang   ĐT: 01687877442    Email: hoamoclan8353@yahoo.com 

Trang 2

often large, arithmetic mean is 10.8+/‐ 3cm,  61%  of  tumors  have  dimension  from  8  to  12cm.  100%  of  Wilms  tumors enhance less than the surrounding normal parenchyma. Most tumors are heterogeneous with rate 83.3%,  central necrosis with rate 80.6%, calcification with rate 13.9%, fat in tumors with rate 5.6%. Value of computed  tomography in evaluation patients with Wilms tumor: A accuracy rate in evaluation of renal capsule extension is  74.3% with a sensitivity rate 75%, a specificity rate 73.7%, positive predictive value 70.6%, negative predictive  value 77.8%. A accuracy rate in evaluation of renal venous thrombosis is 88.2% with a sensitivity rate 20%, a  specificity  rate  100%,  positive  predictive  value  100%,  negative  predictive  value  87.9%.  A  accuracy  rate  in  evaluation  of  lymph  node  is  65.7%  with  a  sensitivity  rate  62.5%,  a  specificity  rate  68.4%,  positive  predictive  value 62.5%, negative predictive value 68.4%. 

Conclusions:  Computed  tomography  has  role  in  evaluation  characteristics  of  nephroblastoma  and 

participate evaluation local extension of Wilms tumor. 

Keywords: computed tomography (CT), nephroblastoma (Wilms tumor) 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

U  nguyên  bào  thận  là  một  trong  năm  bệnh 

lý  ác  tính  đứng  đầu  ở  trẻ  em  và  là  loại  u  thận 

phổ biến nhất và đứng hàng thứ hai trong các u 

đặc  trong  bụng  ở  trẻ  em(1,2,3,5).  Trong  điều  trị  u 

Wilms, phẫu thuật là một phương pháp điều trị 

quan  trọng.  Phẫu  thuật  để  cắt  bỏ  thận  có  u  và 

sinh thiết hạch, đồng thời đánh giá giai đoạn của 

u(3). Tuy nhiên, để phẫu thuật thành công thì nhà 

phẫu  thuật  cần  có  một  đánh  giá  trước  mổ  về 

khối u để có thể lên kế hoạch cũng như dự trù 

trước  những  tình  huống  có  thể  xảy  ra  lúc  mổ. 

Ngoài ra, với những khuyến cáo về các phương 

pháp  điều  trị  gần  đây,  các  nhà  điều  trị  có  xu 

hướng hóa trị trước phẫu thuật đối với những u 

dự  đoán  không  thể  cắt  bỏ  được  để  làm  giảm 

kích thước khối u cũng như sự lan tỏa của khối 

u, giúp cho việc cắt bỏ toàn bộ khối u sẽ dễ dàng 

hơn(1,2,4,6,8,10). 

CCVT là một phương pháp khảo sát dễ thực 

hiện mà vẫn cung cấp được nhiều thông tin cần 

thiết, quan trọng cho việc đưa ra phác đồ điều trị 

và  tiên  lượng  thích  hợp.  Vì  thế,  mục  đích  của 

nghiên cứu này để mô tả đặc điểm của u Wilms 

cũng  như  đánh  giá  sự  xâm  lấn  tại  chỗ  của  u 

Wilms trước mổ trên CCVT là cần thiết để cung 

cấp cho các nhà phẫu thuật những thông tin cần 

thiết  trên  từng  bệnh  nhi  nhằm  đưa  ra  phương 

cách điều trị tốt nhất. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Tác giả hồi cứu lại dữ liệu tại Bệnh Viện Nhi 

Đồng I từ tháng 01 nam 2007 đến tháng 6 năm 

2010, danh sách tất cả các bệnh nhân được phẫu  thuật lần đầu tiên với chẩn đoán là u Wilms và 

có  kết  quả  giải  phẫu  bệnh  là  u  Wilms.  Sau  đó,  tìm  các  đĩa  lưu  hình  ảnh  CLVT  của  các  bệnh  nhân  này.  Tác  giả  và  một  bác  sĩ  tại  bệnh  viện  Nhi Đồng I độc lập đọc lại các hình CLVT theo  một bảng đánh giá rồi thống nhất để đưa ra kết  luận  chung  về  các  đặc  điểm  của  u  Wilms  cũng  như  tính  xâm  lấn  tại  chỗ  của  u  Wilms.  Cuối  cùng,  thu  thập  thông  tin  về  tường  trình  phẫu  thuật và kết quả giải phẫu bệnh và so sánh với  CLVT. 

KẾT QUẢ 

Phân  tích  đặc  điểm  hình  ảnh  u  wilms  trên  CLVT cho thấy: Về vị trí, 36 trường hợp u Wilms 

18  (50%)  trường  hợp  bên  phải  và  16  (44,4%)  trường  hợp  bên  trái,  2  trường  hợp  (5,6%)  u  Wilms hai bên. Đặc biệt, có một trường hợp xảy 

ra  trên  thận  móng  ngựa.  Về  kích  thước,  trung  bình là 10,8 ±‐ 3 cm, u nhỏ nhất là 5,4 cm, u lớn  nhất là 17,7cm. U có độ lớn trong khoảng 8 đến 

12  cm  chiếm  61%.  Về  độ  tăng  quang,  100%  các  trường hợp u tăng quang ít hơn so với nhu mô  thận bình thường. Về độ đồng nhất của khối u, 

30  (83,3%)  trường  hợp  không  đồng  nhất  và  6  (16,7%) trường hợp đồng nhất. Về tính chất hoại 

tử  hóa  nang  trong  u,  29  (80,6%)  trường  hợp  có  hoại tử hóa nang trong u và 7 (19,4%) không có. 

Về các thành phần đặc biệt trong u, có 5 (13,9%)  trường  hợp  có  vôi  hóa  trong  u  và  2  (5,6%)  trường hợp có mỡ trong u.  

Trang 3

xâm lấn tại chỗ của u Wilms cho thấy: Về đánh 

giá xâm lấn vỏ bao, trong 36 trường hợp chỉ ghi 

nhận được 35 trường hợp về tính chất  xâm  lấn 

vỏ bao vì có một trường hợp u Wilms rất to ôm 

sát đường giữa và di căn gan và lách nên chỉ mổ 

thám sát và sinh thiết gan không ghi nhận tình 

trạng xâm lấn vỏ bao. Kết quả phẫu thuật –giải 

phẫu  bệnh  có  16  trường  hợp  xâm  lấn  vỏ  bao, 

trong  đó,  CLVT  phát  hiện  được  12  trường  hợp 

và  có  4  trường  hợp  là  âm  tính  giả.  CLVT  ghi 

nhận nghi ngờ xâm lấn vỏ bao trong 17 trường 

hợp  thì  trong  đó  có  12  trường  hợp  thật  sự  có 

xâm  lấn  vỏ  bao,  5  trường  hợp  còn  lại  l  dương 

tính  giả.  Số  trường  hợp  đánh  giá  tương  thích 

giữa CLVT và kết quả phẫu thuật – bệnh học là 

26 trường hợp, chiếm tỉ lệ 74,3%. Số trường hợp 

không  tương  thích  là  9  trường  hợp  chiếm  tỉ  lệ 

15,7%. Độ nhạy trong phát hiện xâm lấn vỏ bao 

là 12/16 (75%), độ đặc hiệu 14/19 (73,7%), giá trị 

tiên  đoán  dương12/17  (70,6%),  giá  trị  tiên  đoán 

âm  14/18  (77,8%).  Về  đánh  giá  huyết  khối  tĩnh 

mạch  thận,  trong  36  trường  hợp  chỉ  ghi  nhận 

được  34  trường  hợp  về  tính  chất  xâm  lấn  tĩnh 

mạch thận vì có một trường hợp u Wilms rất to 

ôm sát đường giữa và di căn gan và lách nên chỉ 

mổ  thám  sát  và  sinh  thiết  gan  không  ghi  nhận 

tình trạng tĩnh mạch thận và một trường hợp u 

rất  to  không  còn  cấu  trúc  rốn  thận  và  cũng 

không  ghi  nhận  tình  trạng  tĩnh  mạch  thận  lúc 

mổ.  Kết  quả  phẫu  thuật  –giải  phẫu  bệnh  có  5 

trường hợp có huyết khối tĩnh mạch thận, trong 

đó, CLVT phát hiện được 1 trường hợp và có 4 

trường  hợp  là  âm  tính  giả.  Trường  hợp  CLVT 

nghĩ có huyết khối tĩnh mạch thận dựa vào tính 

chất  không  cịn  ghi  nhận  thấy  lịng  tĩnh  mạch 

thận v cĩ huyết khối trong tĩnh mạch chủ dưới. 

Số trường  hợp  đánh  giá  tương  thích  giữa  chụp 

cắt lớp vi tính và kết quả phẫu thuật – bệnh học 

là  30  trường  hợp,  chiếm  tỉ  lệ  88,2%.  Số  trường 

hợp không tương thích là 4 trường hợp chiếm tỉ 

lệ  11,8%.  Độ  nhạy  trong  phát  hiện  huyết  khối 

tĩnh  mạch  thận  l  1/5  (20%),  độ  đặc  hiệu  29/29 

(100%), giá trị tiên đoán dương 1/1 (100%), giá trị 

tiên  đoán  âm  29/33  (87,9%).  Về  đánh  giá  huyết 

khối  tĩnh  mạch  chủ  dưới,  trong  34  trường  hợp  khảo  sát,  CLVT  nghi  ngờ  một  trường  hợp  có  huyết  khối  tĩnh  mạch  chủ  dưới,  nhưng  phẫu  thuật không ghi nhận huyết khối. Còn 33 trường  hợp  còn  lại  đều  được  ghi  nhận  là  không  có  huyết khối tĩnh mạch chủ dưới trên cả CLVT và  kết  quả  phẫu  thuật.  Về  đánh  giá  hạch  ổ  bụng,  trong  36  trường  hợp  chỉ  ghi  nhận  được  35  trường  hợp  về  tính  chất  hạch  bụng  vì  có  một  trường  hợp  u  Wilms  rất  to  không  còn  cấu  trúc  rốn  thận.  Kết  quả  phẫu  thuật  –  giải  phẫu  bệnh 

có 16 trường hợp có hạch bụng, trong đó, CLVT  phát  hiện  được  10  trường  hợp  và  có  6  trường  hợp  là  âm  tính  giả.  CLVT  ghi  nhận  nghi  ngờ  hạch bụng trong 16 trường hợp thì trong đó có 

10  trường  hợp  thật  sự  có  hạch  bụng,  6  trường  hợp cịn lại l dương tính giả. Số trường hợp đánh  giá  tương  thích  giữa  CLVT  và  kết  quả  phẫu  thuật  –  bệnh  học  là  23  trường  hợp,  chiếm  tỉ  lệ  65,7%.  Số  trường  hợp  không  tương  thích  là  12  trường  hợp  chiếm  tỉ  lệ  34,3%.  Độ  nhạy  trong  phát  hiện  hạch  bụng  là  10/16  (62,5%),  độ  đặc  hiệu 13/19 (68,4%), giá trị tiên đoán dương 10/16  (62,5%), giá trị tiên đoán âm 13/19 (68,4%). 

BÀN LUẬN 

Trong  nhóm  nghiên  cứu,  kích  thước  u  trung  bình  là  10,8  cm  ±  3  cm,  độ  lớn  của  u  trong  khoảng  8  ‐12  cm  chiếm  61%.  Theo  Siegel(13), kích thước trung bình của u Wilms là  11cm.  Theo  tác  giả  Miniati  D(7)  nghiên  cứu  68  trường hợp u Wilms và 24 trường hợp u thận  khác thì kích thước trung bình của u Wilms là  12,2  cm  ±  3,5  cm  và  các  loại  u  không  phải  u  Wilms là 8,2± 3,9cm. Điều này gần tương ứng  với  nghiên  cứu  của  chúng  tôi.  Như  vậy,  u  Wilms thường có kích thước lớn tại thời điểm  chẩn đoán. Vì thế lý do phát hiện bệnh thường 

là  sờ  thấy  được  một  khối  u  bụng  trên  lâm  sàng(3,5). Theo nghiên cứu của Trần Tấn Quang  năm 2005(14) trên 80 trường hợp u Wilms thì có 

66  trường  hợp  (82,5%)  có  u  bụng  làm  bụng  bệnh nhân to lên và có thể kèm đau bụng.  Tính  không  đồng  nhất  của  u  chiếm  tỉ  lệ  83,3%.  Theo  Siegel(13),  khoảng  80%  u  Wilms  là 

Trang 4

không  đồng  nhất  do  có  các  thành  phần  xuất 

huyết,  hoại  tử,  hóa  nang  trong  u.  Về  mặt  giải 

phẫu  bệnh  đại  thể,  diện  cắt  u  có  màu  sắc  thay 

đổi tùy thuộc vào loại mô trong u(9). 

 

Hình 1: Hình CT trước và sau khi tiêm thuốc thể 

hiện u Wilms có cấu trúc không đồng nhất. 

80,6%  trường  hợp  có  hoại  tử  trong  u.  Theo 

nghiên  cứu  của  Reiman  T.A(11)  trên  13  trường 

hợp  có  10/13  trường  hợp  có  hoại  tử  trong  u 

chiếm  tỉ  lệ  76,9%.  Điền  này  cũng  phù  hợp  với 

nghiên  cứu  và  cũng  phù  hợp  với  bản  chất  mô 

học của u Wilms phần lớn làm u bở mềm dễ vỡ. 

Điều  này  càng  nhấn  mạnh  rằng  các  nhà  phẫu 

thuật  cần  phải  cẩn  thận  trong  quá  trình  mổ  để 

hạn chế làm vỡ u, vì khi u bị vỡ trong quá trình 

phẫu thuật thì đánh giá giai đoạn của bệnh nhân 

tăng lên và tiên lượng xấu hơn. 

Trên  hình  CT  nằm  ngang  và  đứng  ngang  sau  khi  tiêm  thuốc  cản  quang  của  bệnh  nhân  Dương Thị Ngọc N. cho thấy u Wilms bên (T) có  thành  phần  hoại  tử  hóa  nang  trong  u  (mũi  tên  kép) đã bị vỡ u trước khi phẫu thuật với lớp dịch  bao quanh thận (các mũi tên đơn). 

Hình 2. Hình u Wilms bị vỡ trước khi phẫu thuật 

 

Hình 3. Hình chụp cắt lớp vi tính của bệnh nhân 

Trần Tố A. 

Hình CT trước và sau tiêm thuốc cản quang  của bệnh nhân cho thấy có hoại tử hóa nang và  xuất huyết trong u. Trong lúc phẫu thuật u bị bể 

dù khối u không lớn lắm (# 10cm). 

Việc xác định được u có xâm lấn vỏ bao thận 

ra  mô  mềm  xung  quanh,  sẽ  giúp  phẫu  thuật  viên  dự  đoán  được  khả  năng  dính  và  bóc  tách  khó khăn làm tăng nguy cơ vỡ u và còn sót lại 

mô u sau mổ.  

Theo nghiên cứu của chúng tôi, độ chính xác  trong  đánh  giá  xâm  lấn  vỏ  bao  là  74,3%.  Độ  nhạy  trong  phát  hiện  xâm  lấn  vỏ  bao  là  12/16  (75%),  độ  đặc  hiệu  14/19  (73,7%),  giá  trị  tiên  đoán  dương12/17  (70,6%),  giá  trị  tiên  đoán  âm  14/18 (77,8%). So sánh với tác giả Reiman T.A(11)  trên  13  trường  hợp  thì  độ  chính  xác  là  10/13  (76,9%), độ nhạy là 4/6 (66,7%), đđộ đđặc hiệu là  6/7 (85,7%), giá trị tiên đoán dương là 4/5 (80%),  giá trị tiên đoán âm là 6/8 (75%). Các giá trị độ  chính xác, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương  của  nghiên  cứu  này  thấp  hơn  so  với  tác  giả 

Trang 5

Reiman.  Ngược  lại  giá  trị  đđộ  nhạy  và  giá  trị 

tiên đoán âm thì cao hơn. Nhưng nói chung đđộ 

chính xác của hai nghiên cứu chỉ khoảng 74,3 ‐ 

76,9% thì chụp cắt lớp vẫn chưa đáng giá tốt sự 

xâm lấn vỏ bao thận của u Wilms. Sự khó khăn 

trong đánh giá sự xâm lấn vỏ bao, một phần là 

do ở trẻ em lớp mỡ quanh thận và sau phúc mạc 

rất ít làm cho việc đánh giá u thận bị hạn chế. 

 

Hình 4. Hình chụp cắt lớp vi tính của bệnh nhân Võ 

Thành T  

Trên  là  hình  CT  sau  khi  tiêm  thuốc  cản 

quang  cho  thấy  u  thận  (T)  rất  to  quá  đường 

giữa với cấu trúc dạng nốt bên (P) khối u (mũi 

tên) chứng tỏ u đã xâm lấn vỏ bao thận ra mô 

mềm  xung  quanh.  Trong  lúc  phẫu  thuật  bóc 

tách  khó  khăn,  u  bể  và  còn  sót  phần  u  xâm 

nhiễm rốn thận. 

Theo nghiên cứu của chúng tôi, độ chính xác 

trong  đánh  giá  huyết  khối  tĩnh  mạch  thận  là 

88,2%,  độ  nhạy  1/5  (20%),  độ  đặc  hiệu  29/29 

(100%), giá trị tiên đoán dương 1/1 (100%), giá trị 

tiên  đoán  âm  29/33  (87,9%).  Theo  nghiên  cứu 

của Reiman (11) trên 13 trường hợp u Wilms có 3 

trường  hợp  có  huyết  khối  tĩnh  mạch  thận  mà 

chụp cắt lớp vi tính xác định đúng 1 trường hợp 

(33%). Qua các số liệu trên ta thấy chụp cắt lớp 

vi tính rất hạn chế trong đánh giá có hay không 

có huyết khối tĩnh mạch thận. 

Trong 34 trường hợp khảo sát, chụp cắt lớp 

vi tính nghi ngờ một trường hợp có huyết khối 

tĩnh  mạch  chủ  dưới,  nhưng  phẫu  thuật  không  ghi nhận huyết khối. Còn 33 trường hợp còn lại  đều được ghi nhận là không có huyết khối tĩnh  mạch chủ dưới trên cả chụp cắt lớp vi tính và kết  quả phẫu thuật. Khi xem lại ca này, ta thấy hình  ảnh  huyết  khối  tĩnh  mạch  chủ  dưới  rất  rõ  mà  tường  trình  phẫu  thuật  không  ghi  nhận.  Đây  chính  là  nhược  điểm  của  phương  pháp  nghiên  cứu hồi cứu.  

Hình 5. Hình ảnh huyết khối tĩnh mạch chủ dưới 

trên bệnh nhân u Wilms 

Hình  CT  của  bệnh  nhân  Nguyễn  Tuấn  A.  sau  khi  tiêm  thuốc  trong  thì  tĩnh  mạch,  ta  thấy  lòng  của  tĩnh  mạch  chủ  dưới  giãn  lớn,  có  đậm 

độ thấp, không thấy lấp đầy thuốc so với phần  tĩnh  mạch  chủ  dưới  phía  dưới  có  lòng  nhỏ  và  lấp  đầy  thuốc,  hình  ảnh  này  rất  phù  hợp  với 

huyết khối tĩnh mạch chủ dưới. 

Hạch  nhỏ  trong  ổ  bụng  có  thể  là  bình  thường  ở  thanh  niên  và  người  lớn  nhưng  hạch  bụng thì hiếm thấy ở nhũ nhi và trẻ nhỏ. Bất cứ  hạch  nào  sau  phúc  mạc  bất  kể  kích  thước  nên  được nghi ngờ ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không phải  tất cả hạch lớn đều có tế bào u mà hạch lớn có  thể do phản ứng tăng sản. Vì vậy, hạch sau phúc  mạc phải được sinh thiết thường qui như là một  phần của điều trị phẫu thuật u Wilms(12). Vì lí do  trên, nghiên cứu không lấy mốc đường kính bao  nhiên  là  hạch  lớn  mà  chỉ  nghiên  cứu  khả  năng  phát hiện hạch của chụp cắt lớp vi tính.  

Kết  quả  của  nghiên  cứu  cho  thấy  tất  cả  các  hạch  được  sinh  thiết  đều  có  kết  quả  giải  phẫu  bệnh  là  hạch  tăng  sinh  phản  ứng  và  một  số  trường hợp có ghi nhận hạch mà không gởi làm  kết  quả  giải  phẫu  bệnh.  Trong  khi  đđó  theo  y  văn,  u  Wilms  di  căn  hạch  xảy  ra  trong  khoảng 

Trang 6

lớn. Như vậy có thể là do chúng ta lấy mẫu sinh 

thiết hạch không đủ hoặc do giải phẫu bệnh đọc 

chưa chính xác. 

Xét  về  khả  năng  phát  hiện  có  hạch  trong  ổ 

bụng của chụp cắt lớp vi tính thì độ chính xác là 

65,7%.  Độ  nhạy  trong  phát  hiện  hạch  bụng  là 

10/16  (62,5%),  độ  đặc  hiệu  13/19  (68,4%),  giá  trị 

tiên đoán dương 10/16 (62,5%), giá trị tiên đoán 

âm  13/19  (68,4%).  So  sánh  với  tác  giả  Reiman 

T.A(11)  trên  13  trường  hợp  thì  độđchính  xac  là 

10/13  (76,9%),  đđộ  nhạy  là  2/5(40%),  đđộ  đđặc 

hiệu là 8/8 (100%), giá trị tiên đoán dương là 5/5 

(100%), giá trị tiên đoán âm là 8/11 (72,7%). Qua 

các giá trị trên, ta thấy chụp cắt lớp vi tính cũng 

không có độ chính xác cao trong phát hiện hạch 

trong ổ bụng. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu ta thấy chụp cắt lớp vi tính 

vẫn còn hạn chế trong đánh giá mức độ xâm lấn 

của u Wilms. Từ đó ta có thể thấy đánh giá trong 

phẫu  thuật  vẫn  là  rất  quan  trọng  để  đánh  giá 

giai  đoạn  tại  chỗ  của  u  Wilms  vì  có  đánh  giá 

đúng  giai  đoạn  ta  mới  có  hướng  điều  trị  phù 

hợp. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

the  management  of  Wilms’  tumor”.  The  Jounral  of  cancer 

surgery, 33(7): pp.824‐831. 10 

Wilms’tumor”. Journal of pediatric urology, 5(5): pp.416‐419.12 

for the surgeon”. Surgical Oncology, 16(3):pp.157‐171.14 

tumour‐Immediate  nephrectomy  or  delayed  nephrectomy?”. 

European journal of cancer, 43(17): pp.2453‐2456.22 

Cancer imaging, 7(1): pp.41‐51.28 

three  common  paediatric  solid  tumours”.  European  journal  of 

radiology, 37(2): pp.72‐78.29 

and  incidence  of  Wilms’  and  non‐Wilms’  renal  tumors  in 

children”. Journal of Pediatric Surgery, 43(7): pp.1301‐1307. 30 

“Wilms’tumour  with  persistent  intravascular  extension:  A 

review  of  the  surgical  aspects  of  management”.  Journal  of 

pediatric urology, 2(5): pp.439‐445.32 

xuất bản y học, tr.210. 9 

10 Owens CM, Brisse HJ, Olsen OE, Begent J, Smets AM (2008). 

“Bilateral  disease  and  new  trends  in  Wilms  tumour”.  Pediatr 

radiol, 38(1): pp.30‐39.33 

11 Reiman TA, Siegel MJ, Shackelford GD (1986). “Wilms tumor 

in  children:  abdominal  CT  and  US  evaluation”.  Radiology, 

160(2): pp.501‐505.35 

12 Resnick  M.I,  Older  R.A  (1997).  “Diagnosis  genitourinary 

disease”. Thieme Medical Publishers. 2: pp.412‐413. 36 

13 Siegel MJ, Babyn PS, Lee EY (2008). “The kidney and ureter”. 

Pediatric  body  CT,  Lippincott  Williams  &  Wilkins,  2:  pp.298‐

308.39 

14 Trần Tấn Quang (2005). “Bướu nguyên bào thận ở trẻ em lâm  sàng và điều trị”. Luận văn chuyên khoa II ung thư học, Đại  học y dược TPHCM. 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w