1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự thay đổi một số đặc điểm khớp cắn từ giai đoạn bộ răng sữa sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp ở trẻ em

7 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 403,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá một số đặc điểm khớp cắn bộ răng sữa bao gồm tương quan răng cối sữa thứ hai, tương quan răng nanh sữa và khe hở linh trưởng. Đồng thời khảo sát sự thay đổi của các đặc điểm khớp cắn này khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp.

Trang 1

SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KHỚP CẮN TỪ GIAI ĐOẠN

BỘ RĂNG SỮA SANG GIAI ĐOẠN BỘ RĂNG HỖN HỢP Ở TRẺ EM

Bùi Minh Khánh*,Nguyễn Thị Kim Anh**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá một số đặc điểm khớp cắn bộ răng sữa bao gồm tương quan răng cối sữa

thứ hai, tương quan răng nanh sữa và khe hở linh trưởng Đồng thời khảo sát sự thay đổi của các đặc điểm khớp cắn này khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp

Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu dọc thuần túy được thực hiện trên 106 cặp mẫu hàm của 53 trẻ ở hai

giai đoạn: bộ răng sữa (3-5 tuổi) và bộ răng hỗn hợp (7-9 tuổi) Các đặc điểm khớp cắn ở giai đoạn bộ răng sữa và những thay đổi của những đặc điểm này khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp được quan sát và đánh giá trực tiếp trên mẫu hàm thạch cao Tương quan răng cối sữa thứ hai được đánh giá theo tiêu chuẩn của Baume (1950), tương quan răng nanh sữa được đánh giá dựa trên phân loại của Foster và Hamilton (1969)

Kết quả:Ở bộ răng sữa: Tỉ lệ tương quan răng cối sữa thứ hai có mặt phẳng tận cùng của dạng thẳng là

51%, dạng bậc xuống gần là 32,1%, dạng bậc xuống xa là 9,4%;Trong khi đó, tỉ lệ từng loại tương quan răng nanh sữa là 58,5% Hạng I, 22,6% Hạng II, 13,2% Hạng III; Khe hở linh trưởng (KHLT) hàm trên xuất hiện với

tỉ lệ 81,1% cao hơn so với hàm dưới (60,4%) Ở bộ răng hỗn hợp: Tương quan răng cối sữa thứ hai thay đổi có ý nghĩa: giảm tỉ lệ tương quan dạng thẳng và tăng tỉ lệ tương quan dạng bậc xuống gần; Tương quan răng nanh sữa hạng I đa số không thay đổi và chiếm tỉ lệ cao nhất (86,2%); Khe hở linh trưởng hàm dưới đóng gần như toàn

bộ (98,2%)

Kết luận:Những đặc điểm khớp cắn bộ răng sữa có sự thay đổi có ý nghĩa khi chuyển sang giai đoạn bộ răng

hỗn hợp

Từ khóa: Mặt phẳng tận cùng, bộ răng hỗn hợp, bộ răng sữa, khe hở linh trưởng, tương quan răng nanh sữa

ABSTRACT

OCCLUSAL CHANGES FROM PRIMARY DENTITION TO MIXED DENTITION IN CHILDREN

Bui Minh Khanh, Nguyen Thi Kim Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 24 - 30

Objectives: The purpose of this study was to evaluate the changes in primary molar and canine

relationships, the primate spaces in transition from primary to mixed dentition on 53 Vietnamese children living

in Ho Chi Minh city

Method: The longitudinal study investigated 106 samples of 53 children (39 boys, 16 girls) between two

periods of time: primary dentition (3-5 years of age) and mixed dentition (7-9 years of age) Some occlusal features

of primary dentition and changes from primary to mixed dentition were observed directly on dental casts The terminal plane was assessed using Baume classification (1950) and primary canine relationships were determined using Foster and Hamilton classification (1969).

Results: The findings indicated the prevalence of terminal plane relationship as follows: 51% flush terminal

plane, 32.1% mesial step, 9.4% distal step in primary dentition While the prevalence of class I primary canine

* BS RHM Khóa 2008- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM

** Bộ môn NKCS- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS Bùi Minh Khánh ĐT: 0979735759 Email: bs.buiminhkhanh@gmail.com

Trang 2

relationship accounted for 58.5%,22.6% with Class II and 13.2% with Class III; The prevalence of primate space

in maxilla was high (81.1%) in comparison to the mandible (60.4%) During the transition to mixed dentition, there was a statistically significant change in second molar relationship with a decrease in flush terminal plane and increase in mesial step (p<0.001); Class I primary canine relationship maintainedthe highest level of 86.2%; The majority of primate space in the mandible closed completely in transition to mixed dentition (98.2%)

Conclusion: Significant changes in certain features of occlusion in primary dentitionwere observed in

transition to mixed dentition

Keywords: Terminal plane, Primary dentition, Mixed dentition, Primate space, Primary canine

relationship

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bộ răng sữa giữ một vai trò quan trọng trong

việc hình thành và phát triển khớp cắn ở bộ răng

vĩnh viễn Một số dạng sai lệch có thể được phát

hiện và chẩn đoán ở giai đoạn bộ răng sữa Do

đó, những thông tin về đặc điểm khớp cắn bộ

răng sữa rất cần thiết trong việc tiên lượng khớp

cắn của bộ răng vĩnh viễn sau này.Trong đó,

tương quan răng cối sữa thứ hai, tương quan

răng nanh sữa là một trong những đặc điểm

quan trọng được sử dụng để đánh giá tương

quan theo chiều trước sau của bộ răng sữa và

đồng thời cho phép chúng ta phần nào đánh giá

tương quan hạng xương ở trẻ em Ngoài ra, sự

hiện diện khe hở giữa các răng ở bộ răng sữa sẽ

tạo điều kiện thuận lợi để đạt được sự sắp xếp

tốt giữa các răng vĩnh viễn và đồng thời giảm

nguy cơ chen chúc xảy ra ở bộ răng vĩnh viễn(9)

Otuyemt và Cs(13) ghi nhận rằng khe hở phổ biến

nhất ở bộ răng sữa là khe hở linh trưởng Vì vậy,

sự có mặt của khe hở linh trưởng được xem là

một trong những đặc điểm lý tưởng ở bộ răng

sữa và ít nhiều sẽ có ảnh hưởng đến bộ răng

vĩnh viễn sau này Các đặc điểm khớp cắn này

đã được ghi nhận bởi nhiều tác giả trên thế

giới(5,8,9,Error! Reference source not found.)

Khớp cắn của bộ răng sữa luôn diễn ra

những thay đổi trong suốt quá trình tồn tại, đặc

biệt là giai đoạn chuyển sang bộ răng hỗn hợp

Sự thay đổi này đã được quan sát bởi Onyeaso

CO, Isiekwe MC (2008) trên trẻ da màu ở

Nigieria, châu Phi(12) Nghiên cứu tương tự cũng

được ghi nhận giảm có ý nghĩa tương quan mặt phẳng tận cùng dạng thẳng và tăng có ý nghĩa mặt phẳng tận cùng dạng bậc xuống gần, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc hình thành tương quan hạng I ở bộ răng vĩnh viễn sau này.Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ

lệ sai khớp cắn ở trẻ em lẫn người trưởng thành, tuy nhiên chưa có nghiên cứu đánh giá và ghi nhận sự thay đổi các đặc điểm khớp cắn khi chuyển từ bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp

Mục tiêu nghiên cứu

1- Xác định tương quan của răng cối sữa thứ hai, tương quan răng nanh sữa ở hai giai đoạn:

bộ răng sữa (3-5 tuổi) và bộ răng hỗn hợp (7-9 tuổi)

2- Xác định tỉ lệ có khe hở linh trưởng ở bộ răng răng sữa (3-5 tuổi) và tỉ lệ đóng khe hở linh trưởng ở hàm dưới trong giai đoạn bộ răng hỗn hợp (7-9 tuổi)

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Là nghiên cứu dọc mô tả, khảo sát một số đặc điểm khớp cắn của bộ răng sữa (từ 3-5 tuổi)

và sự thay đổi của những đặc điểm khớp cắn

này ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp (từ 7-9 tuổi)

Mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu hàm thạch cao của

287 trẻ em (151 nam và 136 nữ), đây là những trẻ tham gia chương trình “Theo dõi và chăm sóc răng miệng đặc biệt trong 15 năm (1996 – 2010)” được thực hiện tại khoa Răng Hàm Mặt, Trường

Trang 3

- Đối tượng nghiên cứu được chọn theo các

tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn tổng quát

Có cha mẹ, ông bà nội ngoại là người Việt

Nam, dân tộc Kinh

Không mắc bệnh ảnh hưởng đến sự phát

triển đầu mặt và cung răng

Tiêu chuẩn chọn mẫu hàm tham gia nghiên cứu

Mẫu hàm chất lượng tốt ở cả bộ răng sữa và

bộ răng hỗn hợp và đánh giá được các đặc điểm

khớp cắn cần khảo sát trên mẫu hàm

Chọn mẫu ở giai đoạn bộ răng sữa (9,12,16)

Có đầy đủ răng sữa trên cả hai cung hàm của

bộ răng sữa

Chưa mọc răng vĩnh viễn

Không có bất thường số lượng răng trên

cung hàm

Không bị sâu răng hay sâu nhưng đã được

trám ở mặt tiếp cận

Không bị vỡ, gãy các răng

Chọn mẫu ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp (6,8,12)

Răng cối sữa II vẫn còn và ăn khớp với nhau

trên cả hai cung răng

Răng nanh sữa và răng cối sữa I hàm dưới

vẫn còn trên cung răng

Không sâu răng ở mặt nhai và mặt bên ảnh

hưởng tới những đặc điểm khớp cắn cần quan

sát

Chưa từng được điều trị chỉnh hình răng

mặt trước đây

Mỗi trẻ được chọn phải có đủ 2 cặp mẫu hàm

thỏa đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu (một ở giai

đoạn bộ răng sữa, một ở giai đoạn bộ răng hỗn

hợp) Kết quả có 53 trẻ được chọn Như vậy,

nghiên cứu được thực hiện trên 106 cặp mẫu

hàm: 53 cặp ở giai đoạn bộ răng sữa (3-5 tuổi) và

53 cặp ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp (7-9 tuổi)

Phương pháp nghiên cứu

a- Tương quan răng cối sữa II

Hình 1: Tương quan mặt phẳng tận cùng của răng

cối sữa II ở bộ răng sữa

Tương quan mặt phẳng tận cùng của răng cối sữa II ở lồng múi tối đa xác định theo phân loại của Baume (1950)(9) được chia làm 3 dạng:

Dạng thẳng: khi mặt xa của răng cối sữa II

trên và dưới nằm trên cùng một mặt phẳng theo chiều đứng

Bậc xuống gần: khi mặt xa răng cối sữa II hàm

dưới ở phía trước (tức phía gần) so với mặt xa của răng cối sữa II hàm trên;

Bậc xuống xa: khi mặt xa răng cối sữa II hàm

dưới ở phía sau (tức phía xa) so với mặt xa của răng cối sữa II hàm trên

b- Tương quan răng nanh sữa

Xác định tương quan răng nang sữa theo tiêu chuẩn củaFoster và Hamilton (1969)(16): được chia thành 3 loại(Hình 2)

A- Tương quan răng nanh sữa hạng I: khi múi nhọn răng nanh sữa trên nằm ở cùng mặt phẳng với mặt phía xa của răng nanh sữa hàm dưới ở khớp cắn trung tâm

B- Tương quan răng nanh sữa hạng II: khi múi nhọn răng nanh sữa trên nằm về phía trước

so với mặt phía xa của răng nanh sữa hàm dưới

ở khớp cắn trung tâm

C- Tương quan răng nanh sữa hạng III: khi múi nhọn răng nanh sữa trên nằm về phía sau so với mặt phía xa của răng nanh sữa hàm dưới ở khớp cắn trung tâm

Bậc xuống xa Bậc xuống gần

Dạng thẳng

Trang 4

Hạng III Hạng II Hạng I

Hình 2: Phân loại tương quan răng nanh sữa ( http://www.cudental.creighton.edu )

c- Khe hở linh trưởng (KHLT)

Hình 3: Xác định khe hở linh trưởng bằng dây đồng

đường kính 0,5mm

Dùng dây đồng đường kính 0.5 mm để xác

định có hay không có khe hở linh trưởng

Đối với hàm trên: nếu dây đồng được đưa dễ

dàng từ mặt nhai đến cổ răng ở khoảng kẽ răng

giữa răng nanh sữa và răng cửa bên sữa thì ghi

nhận là có khe hở, ngược lại thì không có khe hở

Đối với hàm dưới: nếu dây đồng được đưa dễ

dàng từ mặt nhai đến cổ răng ở khoảng kẽ răng

giữa răng nanh sữa và răng cối sữa I thì ghi nhận

là có khe hở, ngược lại thì không có khe hở

Xử lý số liệu

Các số liệu được nhập vào máy tính, lưu giữ

và xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Tương quan răng cối sữa II (RCsII)

Tỉ lệ từng loại tương quan RCsII ở giai đoạn

bộ răng sữa (3-5 tuổi) khi quan sát ở cả hai bên hàm được thể hiện ở Bảng 1 Kết quả cho thấy tương quan mặt phẳng tận cùng dạng thẳng chiếm tỉ lệ cao nhất (51%) và tương quan dạng bậc xuống xa chiếm tỉ lệ thấp nhất(9,4%) Trong nghiên cứu của Nanda(7) tỉ lệ này là 52% dạng thẳng và 9% bậc xuống xa Còn theo Bhayya(9) có 52,5% tương quan dạng thẳng và 8,4% bậc xuống

xa ở tương quan răng cối sữa II Tuy nhiên, một

số tác giả khác lại ghi nhận tương quan dạng bậc xuống gần chiếm tỉ lệ cao nhất và tương quan dạng bậc xuống xa chiếm tỉ lệ thấp nhất(1,2)

Bảng1: Tỉ lệ % các loại tương quan mặt phẳng tận

cùng răng cối sữa II

Thẳng

Bậc xuống gần

Bậc xuống

xa

Bất đối xứng

Tổng cộng

N (%)

27 (51)

17 (32,1)

5 (9,4)

4 (7,5)

53 (100)

Bảng 2 Sự thay đổi tương quan RCsII khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp

Tương quan răng cối sữa II

(giai đoạn bộ răng sữa)

Phép kiểm Mcnemar, P <0.001 (*) Quan sát tương quan RCsII ở từng phần hàm (bên trái và bên phải): 106 phần hàm

Khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp,

tương quan răng răng cối sữa II có những thay

đổi có ý nghĩa: giảm tỉ lệ tương quan dạng thẳng

(P<0,001) (Bảng 2) Ở giai đoạn bộ răng sữa, chúng tôi quan sát được tỉ lệ tương quan mặt phẳng tận cùng dạng thẳng chiếm tỉ lệ cao nhất

Trang 5

cao nhất (69,8%) Trong nghiên cứu gần đây của

Z.Kirzioglu(8) kết quả cho thấy tương quan dạng

thẳng chiếm tỉ lệ cao nhất (64,3%) ở giai đoạn bộ

răng sữa, khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn

hợp thì tương quan dạng bậc xuống gầnchiếm

ưu thế (66,3%) Miranda da Silva, Gleiser (2008)(4)

nghiên cứu trên trẻ em ở Brazin cũng cho kết

quả tương tự Sự thay đổi tương quan RCsII là

do trong nghiên cứu có hơn 60% tương quan

dạng thẳng đã chuyển thành tương quan dạng

bậc xuống gần khi chuyển sang giai đoạn bộ

răng hỗn hợp, điều này làm tăng tỉ lệ tương

quan dạng bậc xuống gần từ 34,9% ở giai đoạn

bộ răng sữa lên đến 69,8% ở giai đoạn bộ răng

hỗn hợp Theo Bishara, tương quan răng răng cối

sữa II dạng bậc xuống xa vẫn giữ nguyên tương

quan trong quá trình phát triển của bộ răng và

dẫn đến hình thành tương quan hạng II ở răng

cối lớn vĩnh viễn sau này Tuy nhiên, kết quả

nghiên cứu cho thấy trong tổng số 11 phần hàm

(10,4%) có tương quan dạng bậc xuống xa ở giai

đoạn bộ răng sữa thì có 5 phần hàm (45,4%)

chuyển sang tương quan dạng thẳng, 2 phần

hàm (18,2%) chuyển sang bậc xuống gần và 4

phần hàm (36,4%) vẫn giữ tương quan bậc

xuống xa khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn

hợp, điều này làm giảm tỉ lệ tương quan dạng

bậc xuống xa từ 10,4% ở bộ răng sữa xuống còn

4% ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp Tỉ lệ này theo

Z.Kirzioglu(8) là 22,4% ở bộ răng sữa, giảm xuống

còn 11,2% ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp

Tsourakis(2) đã ghi nhận sự thay đổi tương quan

răng cối sữa II chủ yếu xảy ra ở tương quan dạng

thẳng; tương quan dạng bậc xuống gần và bậc

xuống xa tồn tại tương đối bền vững trong quá

trình phát triển Hiện tượng thay đổi tương quan

răng cối sữa II khi chuyển sang giai đoạn bộ răng

hỗn hợp đã được lý giải bởi nhiều tác giả Trong

nghiên cứu của Clinch(2) trên 61 mẫu khi chuyển

sang bộ răng hỗn hợp, tác giả đã quan sát được

sự di chuyển về phía gần của cung răng hàm

dưới cùng với nền của xương hàm dưới do đó

làm thay đổi tương quan vùng răng cối sữa Tác

giả Nanda (1973)(11) thì cho rằng nguyên nhân

thay đổi tương quan ở vùng răng cối sữa khi tuổi tăng dần có thể do sự kết hợp cả hai quá trình di gần của cung răng dưới và sự dịch chuyển về phía trước và xuống dưới của hàm dưới do sự tăng trưởng

Tương quan răng nanh sữa (RNs)

Bảng 3: Tỉ lệ % các loại tương quan răng nanh sữa

(giai đoạn bộ răng sữa)

Hạng I Hạng II Hạng III Bất đối

xứng

Tổng cộng

(58,5)

12 (22,6)

7 (13,2)

3 (5,7)

53 (100)

Về tương quan răng nanh sữa ở giai đoạn bộ răng sữa, kết quả trong nghiên cứu cho thấy: tương quan hạng I chiếm tỉ lệ cao nhất (58,5%), theo sau là tương quan hạng II (22,6%), tương quan hạng III (13,2%) và tỉ lệ có tương quan bất đối xứng hai bên hàm là 5,7% Abu Alhaija(1) ghi nhận tương quan hạng I vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất giai đoạn bộ răng sữa (57%), theo Z Kirzioglu(8)

nhận thấy tỉ lệ này là 75,5% Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tương quan răng nanh sữa hầu hết là đối xứng ở hai bên hàm, tỉ lệ có tương quan bất đối xứng hai bên hàm là rất ít (5,7%) Tỉ

lệ này trong nghiên cứu của Abu Alhaija(1) là 10,3%

Bảng 4: Sự thay đổi tương quan RNs khi chuyển

sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp

Tương quan răng nanh sữa (giai đoạn bộ răng sữa)

Tương quan răng nanh sữa (giai đoạn bộ răng hỗn hợp)

Tổng cộng

9

Phép kiểm Mcnemar, P=0,252 (*) Quan sát tương quan RNs ở từng phần hàm (bên trái và bên phải): 106 phần hàm

Giống như tương quan răng cối sữa II, khi khảo sát sự thay đổi của tương răng nanh sữa

Trang 6

chúng tôi quan sát trên từng phần hàm (tổng

cộng 106 phần hàm ở từng giai đoạn) Khi

chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp, tương

quan răng nanh sữa thay đổi không có ý nghĩa

(P>0,05) và tương quan hạng I vẫn duy trì và

chiếm ưu thế (66%) Tỉ lệ này trong nghiên cứu

của Da Silva (2008)(4) là 74% Theo Di Nicolo’

(2001)(9), tương quan hạng I răng nanh sữa vẫn

chiếm ưu thế khi chuyển từ giai đoạn bộ răng

sữa sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp theo sau vẫn

là tương quan hạng II và hạng III răng nanh sữa

Trong tất cả các phần hàm có tương quan hạng I

ở giai đoạn bộ răng sữa thì có 56 phần hàm

(86,2%) vẫn duy trì tương quan hạng I, 3 phần

hàm (4,6%) chuyển sang tương quan hạng II và 6

phần hàm (9,2%) chuyển sang tương quan hạng

III ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp Trong nghiên

cứu của chúng tôi có 33,3% tương quan hạng II

và 35,7% tương quan hạng III răng nanh sữa

chuyển sang hạng I ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp

Di Nicolo’(4) cũng nhận thấy rằng tương quan hạng III răng nanh kết hợp với sự xuất hiện khe

hở linh trưởng ở bộ răng sữa sẽ có xu hướng chuyển sang tương quan hạng I ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp Theo Clinch(2) và Moyers(15), sự di

xa của răng nanh sữa xảy ra ở hàm dưới, và răng nanh hàm trên di gần là yếu tố chính làm cho tương quan hạng III chuyển thành hạng I ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp Ngoài ra, tốc độ phát triển khác nhau giữa hai xương hàm cũng được cho là nhân tố không kém phần quan trọng cho

sự phát triển này Như vậy, những yếu tố bao gồm hình dạng cung răng, khe hở linh trưởng,

sự di chuyển của răng và cung răng trên nền xương hàm, hay khác biệt ở sự phát triển của xương hàm thì góp phần ảnh hưởng lên sự thay đổi của tương quan răng nanh sữa trong quá trình phát triển của bộ răng

Khe hở linh trưởng

Bảng 5:Tỉ lệ phân bố khe hở linh trưởng ở hai bên hàm

hàm HT/HD

Không có KHLT ở cả 2 hàm

Trong nghiên cứu, khe hở linh trưởng hàm

trên xuất hiện với tỉ lệ 81,1% cao hơn so với khe

hở linh trưởng hàm dưới (60,4%) Kết quả này

tương tự như trong nghiên cứu Mahmoodian(9):

khe hở linh trưởng xuất hiện ở 95% hàm trên và

90% hàm dưới, theo Abu Alhaija(1) thì tỉ lệ này

là 69,6% ở hàm trên và 51,2% ở hàm dưới Kết

quả cũng tương tự với những nghiên cứu trước

đây trên cộng đồng trẻ em Nigerian, Iran, Irac,

Ấn Độ, Trung Quốc Nhìn chung, khe hở linh

trưởng xuất hiện với tỉ lệ cao ở bộ răng sữa và

khe hở linh trưởng hàm trên nhiều hơn khe hở

linh trưởng ở hàm dưới Kết quả của nghiên

cứu còn cho thấy: tỉ lệ khe hở linh trưởng chỉ

xuất hiện ở hàm trên chiếm 24,5%, trong khi đó

tỉ lệ này ở hàm dưới là 3,8% Tỉ lệ không có khe

Khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp, chúng tôi chỉ khảo sát sự đóng khe hở linh trưởng hàm dưới mà không khảo sát sự đóng khe hở linh trưởng hàm trên do ở giai đoạn này hầu như các răng cửa sữa hàm trên đều đã được thay thế bởi răng vĩnh viễn Kết quả cho thấy khe hở linh trưởng hàm dưới đóng gần như toàn bộ với tỉ lệ 98,2% trong tổng số 56 phần hàm hàm dưới có khe hở linh trưởng được quan sát ở giai đoạn bộ răng sữa Baume(3) cho rằng hiện tượng đóng khe hở linh trưởng là do sự di chuyển về phía gần của các răng cối sữa khi răng cối lớn vĩnh viễn I mọc, điều này cũng làm thay đổi tương quan mặt phẳng tận cùng ở răng cối sữa II làm cho tương quan mặt phẳng tận cùng dạng bậc xuống gần ngày càng chiếm

Trang 7

phía trước là do sự mọc răng cửa vĩnh viễn làm

di xa răng nanh, điều này cũng làm thay đổi

tương quan răng nanh sữa

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu dọc trên 53 trẻ, bằng cách

quan sát trực tiếp các đặc điểm khớp cắn trên

mẫu hàm ở giai đoạn bộ răng sữa (3-5 tuổi) và

giai đoạn bộ răng hỗn hợp (7-9 tuổi), chúng tôi

đưa ra một số kết luận như sau:

Tỉ lệ tương quan răng cối sữa II ở giai đoạn

bộ răng sữa (3-5 tuổi) lần lượt: 51% dạng thẳng,

32,1% bậc xuống gần, 9,4% bậc xuống xa và 7,5%

có tương quan bất đối xứng hai bên hàm Khi

chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn hợp: một số

khớp cắn có tương quan dạng thẳng và dạng bậc

xuống xa chuyển thành bậc xuống gần làm tăng

tỉ lệ tương quan dạng bậc xuống gần lên 69,8%

- Tỉ lệ từng loại tương quan răng nanh sữa ở

giai đoạn bộ răng sữa (3-5 tuổi) lần lượt là 58,5%

Hạng I, 22,6% Hạng II, 13,2% Hạng III và 5,7% có

tương quan bất đối xứng hai bên Khi chuyển

sang giai đoạn bộ răng hỗn: tương quan răng

nanh sữa hạng I đa số không thay đổi (86,2%);

Trong một số trường hợp răng nanh sữa có

tương quan hạng III có thể chuyển sang tương

quan hạng I (35,7%)

Khe hở linh trưởng hàm trên xuất hiện với tỉ

lệ 81,1% cao hơn so với hàm dưới(60,4%) Tỉ lệ

không có khe hở linh trưởng ở cả hai hàm là

15,1% Khi chuyển sang giai đoạn bộ răng hỗn

hợp, khe hở linh trưởng hàm dưới đóng gần như

toàn bộ (98,2%)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

tooth/arch dimensions in the primary dentition of preschool

Jordanian children, International Journal of Paediatric Dentistry;

13: 230–239

molar occlusion development, degree of Master of Science in

Dentistry, the Center for Advanced Dental Education at Saint Louis University, in St Louis, Missouri, USA

significance for the development of occlusion.II- The biogenesis of the accessional dentition J Dent Res.;29:123-27

Primary and Mixed Dentitions: A 5-year Longitudinal Study, J

Dent Child; 75: 287-94

Shivaprakash (2012) Study of occlusal characteristics of primary dentition and the prevalence of maloclusion in 4 to 6

years old children in India, Dent Res J (Isfahan); 9(5): 619-23

Longitudinal changes in the molar relationship from primary

to permanent dentition, ConScientiae Saúde; 8(2) :171-176

chi nhánh thành phố Hồ chí Minh, trang 38-42

occlusal changes during the primary dentitionand during the passage from primary dentition to mixed dentition among a group of Turkish children ;14(2):97-103

Determination of Primate Space on 4 to 5 Years Old Children

of Tehran’s Kindergarten in 2000, Journal of Dentistry, Tehran University of Medical Sciences, Tehran, Iran 2004; 1(1):21-26

Deciduous Dentition among Urban and Rural Children in

Baghdad Province Iraqi Orthod J; 1(2): 13-17

thái đường rìa cắn- đỉnh múi ngoài cung răng dưới theo ba

chiều trong không gian, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học

Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược TPHCM, tr 24-30

Primary to Mixed Dentitions in Nigerian Children, Angle

Orthodontist, Vol 78, No 1: 64-6

crowding of teeth in dentition of 3-4- year-old child Nigerian

Int J Pediatr Dent; 7(3): 155-60

of Iowa, 51-60

Closed Dentition And Its Relationship With Malocclusion In

Primary Dentition, IJCDS; Nov 1(1): 16-19

Occlusion and Arch Dimensions in the Primary Dentition of

an Iranian Population J Dent Mater Tech; 2(1): 11-6

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/03/2015 Người phản biện: TS Trần Thị Nguyên Ny

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w