Nội dung bài viết nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả trấn an và tính an toàn của midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) ở bệnh nhi nha khoa từ 2-5 tuổi. Nghiên cứu tiến hành ở 30 trẻ (2-5 tuổi) có hành vi không hợp tác (điểm số 1 hoặc 2 theo thang frankl) được uống midazolam (liều 0,5 mg/kg) trước khi điều trị nha khoa.
Trang 1HIỆU QUẢ TRẤN AN CỦA MIDAZOLAM ĐƯỜNG UỐNG Ở BỆNH NHI
NHA KHOA TỪ 2 – 5 TUỔI
Nguyễn Phạm Nhật Tuyền*, Phan Ái Hùng**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả trấn an và tính an toàn của midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) ở bệnh
nhi nha khoa từ 2 – 5 tuổi
Phương pháp: 30 trẻ (2 – 5 tuổi) có hành vi không hợp tác (điểm số 1 hoặc 2 theo thang Frankl) được uống
midazolam (liều 0,5 mg/kg) trước khi điều trị nha khoa Đánh giá thay đổi hành vi của trẻ (ngủ, cử động, khóc) trong quá trình điều trị theo thang điểm Houpt và dùng máy Pulse Oximetry theo dõi chỉ số sinh tồn của trẻ trong suốt quá trình trấn an
Kết quả: Midazolam đường uống (0,5 mg/kg) có hiệu quả trấn an tốt, hầu hết trẻ đều giảm khóc và cử động,
đặc biệt là trong giai đoạn đầu của việc điều trị Các chỉ số sinh tồn giữ ổn định, tác dụng ngoại ý không đáng kể
Kết luận: Midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) là loại thuốc trấn an thích hợp và an toàn khi điều trị cho
bệnh nhi nha khoa (2 – 5 tuổi) có hành vi không hợp tác
Từ khóa: midazolam đường uống, trấn an, bệnh nhi nha khoa
ABSTRACT
EFFICACY OF ORAL MIDAZOLAM FOR SEDATION OF YOUNG PAEDIATRIC DENTAL PATIENTS
(2 -5 YEARS)
Nguyen Pham Nhat Tuyen, Phan Ai Hung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2015: 243 ‐ 248
Objective: The aim of this study was to assess the efficacy and safety of oral midazolam (0.5mg/kg) for
sedation in children (2-5 years-old) undergoing dental treatment
Materials and method: Thirty uncooperative children (rating 1 or 2 on Frankl Scale) received oral
midazolam (0.5 mg/kg) before dental treatment The Houpt scale was used to assess patient’s behaviour (alertness, movement, crying) during treatment A Pulse Oximetry was used to monitor vital signs during the sedation
Results: The efficacy of oral midazolam (0.5 mg/kg) was good, as assessed by lack of or minimal crying
and/or movement, especially in the early stage of treatment The vital signs were stable, adverse effects were not significant
Conclusion: Oral midazolam (0.5 mg/kg) was acceptable and safe for sedation in uncooperative pediatric
dental patients (2 – 5 years)
Key words: oral midazolam, sedation, pediatric dental patients.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xử trí hành vi bệnh nhi nha khoa là một
thách thức đối với bác sĩ răng hàm mặt, đặc biệt
là lứa tuổi mầm non (2 – 5 tuổi)(4) Đa số trẻ đáp ứng tốt với các phương pháp tâm lý nhưng trong một số trường hợp như trẻ sợ hãi quá mức, quá nhỏ hay chậm phát triển tâm thần thì những
*BS Nội trú Khóa 2011‐2014 – Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM
** Bộ môn Răng trẻ em – Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM
Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Phạm Nhật Tuyền ĐT: 0913778789 Email: nhattuyen2008@gmail.com
Trang 2phương pháp này sẽ không hữu hiệu(10)
Từ thực tế trên, nhiều nước tiên tiến trên thế
giới đã áp dụng “kỹ thuật trấn an còn ý thức”
với thuốc midazolam như là một phương pháp
hiệu quả, có thể thực hiện thường xuyên nhằm
giải quyết sự lo âu cho bệnh nhi nha khoa(6) Tại
Việt Nam, nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả của
midazolam trên bệnh nhi nha khoa từ 2 – 5
tuổi(11) cho thấy midazolam nhỏ mũi với liều 0,3
mg/kg có hiệu quả trấn an tốt, hồi phục nhanh,
an toàn cao và ít tác dụng ngoại ý Tuy vậy, việc
dùng midazolam theo đường mũi có hạn chế là
xâm lấn và gây khó chịu cho niêm mạc mũi
Trong khi đó, midazolam đường uống có thể
khắc phục nhược điểm này
Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
với các mục tiêu sau:
‐ Xác định thời gian đạt tác dụng và thời
lượng tác dụng trung bình của midazolam
đường uống liều 0,5 mg/kg ở trẻ từ 2 – 5 tuổi
‐ Đánh giá sự thay đổi hành vi của trẻ sau
khi uống thuốc ở 5 thời điểm: thuốc bắt đầu tác
dụng (H0), đặt cục cắn (H1), gây tê (H2), khi điều
trị (H3) và kết thúc điều trị (H4)
‐ Đánh giá kết quả điều trị tại thời điểm kết
thúc điều trị
‐ Đánh giá sự thay đổi nhịp tim, nhịp thở,
độ bão hòa oxy trong máu ngoại vi (SpO2) của
trẻ trước và sau khi uống midazolam (liều 0,5
mg/kg) ở 8 thời điểm: trước khi uống thuốc 5
phút (T0), ngay sau khi uống thuốc (T1), thuốc
bắt đầu tác dụng (T2), đặt cục cắn (T3), gây tê
(T4), khi điều trị (T5), kết thúc điều trị (T6) và
khi hồi tỉnh (T7)
‐ Đánh giá mức độ chấp nhận uống thuốc
của trẻ và tác dụng gây quên thuận chiều, tác
dụng ngoại ý của thuốc trong vòng 24 giờ sau
trấn an
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu
Gồm 30 bệnh nhi từ 2 ‐ 5 tuổi có hành vi
không hợp tác đến điều trị tại khu điều trị Răng
Trẻ Em, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 10/2013 đến tháng 03/2014, được lựa chọn theo kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện với các tiêu chí sau đây:
Tiêu chí chọn mẫu
‐ Trẻ có tình trạng sức khỏe xếp loại I hoặc II theo ASA:
+ Loại I: Bệnh nhân khỏe mạnh, không có rối loạn về sinh lý, sinh hóa hay tâm lý
+ Loại II: Bệnh nhân có những rối loạn toàn thân ở mức độ nhẹ đến trung bình như: tiểu đường nhẹ, thiếu máu vừa, hen suyễn kiểm soát tốt, không bị tàn tật
‐ Trẻ có nhu cầu điều trị răng miệng
‐ Trẻ lo âu, có hành vi không hợp tác (điểm
số 1 hay 2 theo thang điểm Frankl) và thất bại với các phương pháp tâm lý xử trí hành vi: + Phản đối quyết liệt (điểm số 1): từ chối việc điều trị, la khóc, sợ hãi, không hợp tác, có những
cử động kịch liệt
+ Phản đối (điểm số 2): không tự nguyện chấp nhận việc điều trị, không hợp tác, có những biểu hiện phản đối nhưng không rõ ràng, ví dụ: rầu rĩ, lãnh đạm,…
Tiêu chí loại trừ
Trẻ đang sử dụng thuốc ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương hoặc các thuốc tương tác với midazolam
Trẻ đang mắc bất kỳ bệnh lý nào khác vào ngày tiến hành trấn an
Trẻ nhổ một phần hay toàn bộ thuốc ra ngoài Phụ huynh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả loạt ca
Vật liệu và phương tiện nghiên cứu
‐ Vì midazolam dạng uống không có trên thị trường Việt Nam nên chúng tôi sử dụng
dung dịch midazolam dạng tiêm (Midazolam –
Trang 3Hypnovel ® 5 mg/ml, Roche Products Pty Ltd,
Australia) với liều 0,5 mg/kg, tối đa 15 mg, pha
cùng sirô dâu (Sirô dâu Trinh ® , chai 350 m, cơ sở
sirô Trinh, Việt Nam) với thể tích gấp đôi dung
dịch midazolam tính toán cho trẻ
‐ Máy Pulse Oximetry (PulseOx 5500 TM, Micro Direct, Inc) theo dõi nhịp tim và SpO2 của trẻ trong suốt quá trình trấn an
Quy trình nghiên cứu
Bảng 1: Thang điểm Houpt (5) đánh giá hành vi của trẻ
trong quá trình điều trị
Điểm Đánh giá ngủ
Đánh giá cử động
Cử động liên tục gây khó khăn cho việc điều trị 2
Cử động không liên tục, có thể chế ngự để can thiệp
điều trị
3
Đánh giá khóc
Khóc dai dẳng, liên tục gây khó khăn cho việc điều trị 2
Khóc không liên tục, khóc nhỏ, không cản trở việc
điều trị
3
Đánh giá hoạt động toàn thể
Yếu - điều trị không liên tục, chỉ điều trị được 1phần 2
Khá - điều trị không liên tục, nhưng điều trị hoàn thành 3
Tốt - khó khăn, nhưng tất cả điều trị đều thực hiện
được
4 Rất tốt - điều trị hoàn thành, khóc nhỏ, ít hoạt động 5
Xử lý thống kê
Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon: so sánh các điểm số ngủ, cử động, khóc ở thời điểm H1, H2, H3, H4 với thời điểm H0;
so sánh các chỉ số nhịp tim, nhịp thở, SpO2 ở thời điểm T1, T2, T3, T4, T5, T6, T7 với thời điểm T0
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Nghiên cứu thực hiện trên 30 bệnh nhi từ 2 –
5 tuổi (16 nam và 14 nữ) với độ tuổi trung bình là 48,03 ± 14,22 tháng tuổi, có nhu cầu điều trị nha khoa tại khu điều trị Răng trẻ em Khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2013 đến tháng 03/2014 Hầu hết các bệnh nhi (94%) có nhu cầu điều trị tủy hoặc nhổ răng, chứng tỏ tình trạng bệnh lý răng
- Đánh giá mức độ chấp nhận uống thuốc
- Xác định thời gian đạt tác dụng, thời lượng
tác dụng
30 trẻ (2-5 tuổi)
Lần hẹn 1:
- Kiểm tra sức khỏe tổng quát (I/II ASA)
- Đánh giá hành vi (1 hoặc 2 thang Frankl)
- Khám, lập kế hoạch điều trị
Lần hẹn 2:
- Trấn an với midazolam uống
- Thực hiện việc điều trị
- Đánh giá hành vi theo thang Houpt tại 5 thời điểm: H
0 , H
1 , H
2 , H
3 , H
4
- Đánh giá dấu hiệu sinh tồn tại 8 thời điểm:
T
0 , T
1 , T
2 , T
3 , T
4 , T
5 , T
6 , T
7
24 giờ sau trấn an:
- Đánh giá tác dụng ngoại ý
- Đánh giá tác dụng gây quên thuận chiều
Trang 4miệng ở mức độ nặng và khẩn cấp Ngoài ra,
toàn bộ trẻ trong nghiên cứu đều cần đến thủ
thuật gây tê khiến việc điều trị trở nên khó khăn,
không an toàn khi trẻ có hành vi phản đối Điều
này cho thấy cần thiết phải trấn an cho trẻ để tạo
thuận lợi cho quá trình điều trị
Thời gian đạt tác dụng và thời lượng tác
dụng
Bảng 2: Thời gian đạt tác dụng và thời lượng tác
dụng của midazolam
Thời gian (phút) TB ± ĐLC Khoảng tin cậy 95%
Thời gian đạt tác
dụng
Sau khi cho trẻ uống thuốc, chúng tôi theo
dõi những biểu hiện thay đổi hành vi của trẻ
như: ánh mắt bớt linh hoạt, đờ đẫn, hết khóc
(nếu có), nói líu lưỡi, mất đồng vận các cơ, ngồi
hay đứng không vững Những dấu hiệu này
giúp xác định thời gian đạt tác dụng của thuốc Bảng 1 cho thấy kết quả nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu trong y văn, cho rằng thời gian đạt tác dụng trấn an của midazolam đường uống dao động từ 15 đến 40 phút(7) và thời lượng tác dụng trung bình của midazolam đường uống là 30 – 60 phút(11)
Từ kết quả trên, có thể thấy thời gian đạt tác dụng trung bình của midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg khoảng 20 phút là ở mức chấp nhận được và khoảng thời gian này cũng không dài hơn thời gian cần thiết để áp dụng những biện pháp tâm lý xử trí hành vi cho trẻ Bên cạnh
đó, thời lượng tác dụng trung bình của thuốc khoảng 50 phút, đủ dài để bác sĩ có thể thực hiện những thủ thuật phức tạp như điều trị tủy Trẻ hồi phục nhanh, có thể ra về an toàn trong buổi điều trị
Thay đổi hành vi của trẻ sau khi uống thuốc
Bảng 3: Điểm số Houpt (TB ± ĐLC) qua các thời điểm: khi thuốc bắt đầu tác dụng hay lúc cho trẻ lên ghế nha
(H 0 ), đặt cục cắn (H 1 ), gây tê (H 2 ), khi điều trị (H 3 ) và kết thúc điều trị (H 4 )
Ngủ
Cử động
Khóc
(*): Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon so sánh với thời điểm thuốc bắt đầu có tác dụng (H 0 ), khác biệt có ý nghĩa khi p < 0,05; (#): p < 0,05; (##): p ≤ 0,001
Tại thời điểm H1 và H2, điểm số ngủ, cử
động, khóc của trẻ hầu như thay đổi rất ít so với
thời điểm H0 Điều này cho thấy tác dụng trấn an
của midazolam khiến hầu hết trẻ có biểu hiện lơ
mơ, buồn ngủ, không khóc hoặc khóc nhỏ, cử
động ít trong suốt giai đoạn đầu của việc điều trị,
kể cả giai đoạn gây tê vốn có nhiều thách thức Tuy
nhiên, trong giai đoạn sau của quá trình điều trị,
điểm số ngủ của trẻ giảm dần nhưng chỉ đến khi
kết thúc điều trị, điểm số này mới giảm có ý
nghĩa thống kê so với thời điểm H0 (p < 0,05), có
lẽ do thuốc giảm tác dụng và trẻ bắt đầu tỉnh lại Mặt khác, điểm số cử động và khóc của trẻ giảm
có ý nghĩa ở thời điểm H3, H4 so với H0 (p ≤ 0,001), nghĩa là trẻ có khuynh hướng tăng cử động và khóc theo thời gian Kết quả này tương
tự như nghiên cứu của Fraone(3) và Somri(14)
Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có hiệu quả trấn an và cải thiện hành vi hợp tác của trẻ từ 2 – 5 tuổi trong quá trình
Trang 5điều trị nha khoa, đặc biệt là trong giai đoạn
đầu điều trị vốn có nhiều thách thức Tuy
nhiên, liều lượng này chưa đủ trấn an trẻ
trong suốt giai đoạn còn lại của điều trị khi trẻ
có khuynh hướng tăng cử động và khóc theo
thời gian khiến việc điều trị không đạt mức tối
ưu như mong đợi
Kết quả điều trị
Có 96,7% cuộc điều trị hoàn tất, chỉ 1 trường
hợp phải dừng lại nửa chừng do trẻ quá kích
động, không hợp tác Việc điều trị được đánh giá
thành công ở 76,7% trường hợp Còn lại, 20% trẻ
khóc dai dẳng và giãy giụa, cần có người kìm giữ
để hoàn tất việc điều trị Trong những trường
hợp thành công, có 60% trẻ thụ động, hợp tác,
không khóc hoặc khóc ít trong quá trình điều trị
(hành vi toàn thể xếp loại rất tốt đến xuất sắc), việc điều trị cho những trẻ này rất thoải mái và
có thể so sánh tương đương với những trẻ bình thường (không cần dùng thuốc trấn an) có hành
vi hợp tác
Mức độ chấp nhận uống thuốc
Toàn bộ trẻ đều chấp nhận uống thuốc và không có trẻ nào nhổ thuốc ra ngoài Cụ thể, có đến 76,7% trẻ sẵn sàng uống thuốc với thái độ tích cực, 23,3% trẻ chấp nhận uống thuốc với sự
dỗ ngọt, động viên của cha mẹ và không có trẻ nào phản đối mạnh mẽ hay bị bắt ép, kìm giữ để uống thuốc Ngoài ra không có trẻ nào than phiền khó chịu sau khi uống Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác(12,13)
Thay đổi các chỉ số sinh tồn
Bảng 4: Thay đổi các chỉ số sinh tồn (TB (ĐLC)) qua các thời điểm: trước khi uống thuốc 5 phút (T 0 ), ngay sau khi uống thuốc (T 1 ), thuốc đạt tác dụng (T 2 ), đặt cục cắn (T 3 ), gây tê (T 4 ), khi điều trị(T 5 ), kết thúc điều trị (T 6 ) và khi hồi tỉnh (T 7 )
Nhịp tim
(lần/phút)
p*
112,67 (9,90)
113,20 (9,67) 0,23
113,17 (9,53) 0,84
114,30 (8,32) 0,54
114,50 (9,10) 0,08
115,93 (8,54) 0,10
114,53 (7,08) 0,35
112,80 (9,61) 0,71 Nhịp thở
(lần/phút)
p*
26,37 (4,72)
26,40 (4,86) 0,89
26,67 (5,17) 0,24
26,40 (4,78) 0,89
26,73 (4,49) 0,15
26,70 (4,14) 0,09
26,77 (4,03) 0,11
26,33 (4,67) 0,32 SpO 2 (%)
p*
97,43 (1,33)
97,33 (1,30) 0,61
97,30 (1,18) 0,51
97,23 (1,10) 0,30
97,20 (0,89) 0,38
97,53 (1,22) 0,62
97,57 (1,19) 0,56
97,40 (1,07) 0,82
(*): Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon so sánh với thời điểm trước khi uống thuốc (T 0 ), khác biệt có ý nghĩa khi
p < 0,05
Chỉ số nhịp tim của trẻ có xu hướng tăng dần
từ thời điểm ban đầu T0 cho đến thời điểm T5,
sau đó giảm dần đến thời điểm T7 Điều này
cũng phù hợp với đáp ứng hành vi (ngủ, cử
động, khóc) của trẻ trong quá trình điều trị Tuy
nhiên khi so sánh với thời điểm T0 thì sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Tương tự, nhịp thở và SpO2 của trẻ trước và
sau khi uống thuốc midazolam đều thay đổi rất
ít (p > 0,05) Không có trẻ nào bị suy hô hấp, chỉ
số SpO2 dao động từ 95% đến 99%, tương đồng
với kết quả của rất nhiều nghiên cứu khác(3,11,12,13)
Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có tác động an toàn lên hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ
Tác dụng gây quên thuận chiều của midazolam
Có đến 76,7% trẻ không nhớ lại những sự kiện lúc điều trị nha khoa Kết quả này tương đồng với nhiều tác giả khác(1,2,9) cho rằng tác dụng gây quên thuận chiều xảy ra ở 50 – 80% trường hợp sau khi điều trị y hoặc nha khoa với midazolam theo đường uống Đây là một ưu
Trang 6điểm không thể có được ở các phương pháp xử
trí hành vi không dùng thuốc
Tác dụng ngoại ý của midazolam
Nghiên cứu cho thấy 76,7% trẻ không có bất
kỳ tác dụng ngoại ý nào Còn lại, 10% trẻ có biểu
hiện nấc cục, 10% biểu hiện kích động và 3,3%
trẻ biểu hiện hưng phấn Như vậy, midazolam
cũng như bất kỳ loại thuốc trấn an nào đều có
thể gây ra tác dụng ngoại ý Do đó, điều cần thiết
là phải theo dõi trẻ cẩn thận để phát hiện và xử
trí thích hợp khi các tác dụng ngoại ý này xảy ra
Tuy vậy, các tác dụng ngoại ý của midazolam
trong nghiên cứu này không đáng kể và chưa
cần phải can thiệp điều trị nên vẫn được xem là
an toàn
KẾT LUẬN
Midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có
thời gian đạt tác dụng trung bình ở mức chấp
nhận được, khoảng 20 phút và thời lượng tác
dụng trung bình khoảng 50 phút, đủ dài để thực
hiện những thủ thuật phức tạp như điều trị tủy
Thuốc có hiệu quả trấn an tốt ở giai đoạn đầu
điều trị, đặc biệt là trong lúc gây tê, đa số trẻ đều
trở nên thụ động, hợp tác, làm tăng khả năng
thành công của điều trị Midazolam có mức an
toàn cao, các chỉ số sinh tồn giữ ổn định trong
suốt quá trình trấn an, tác dụng ngoại ý không
đáng kể Toàn bộ trẻ đều chấp nhận uống thuốc,
tác dụng gây quên thuận chiều cao, điều này
giúp trẻ không nhớ đến quá trình điều trị, có lợi
cho những lần tái khám sau
Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5
mg/kg là loại thuốc thích hợp và an toàn để trấn
an cho bệnh nhi nha khoa không hợp tác từ 2 – 5
tuổi trong điều kiện hiện nay ở khoa Răng Hàm
Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh,
khi chưa có đủ trang thiết bị để áp dụng những
phương pháp trấn an hiệu quả hơn như nitrous
oxide hay gây mê
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Al‐Rakaf H, Bello L, Turkustani A (2001) Intra‐nasal midazolam in conscious sedation of young paediatric dental
patients International Journal of Paediatric Dentistry, 11: 33‐40
2 Elder JS, Longenecker R (1995) Premedication with oral midazolam for voiding cystourethrography in children: safety
and efficacy AJR Am J Roentgenol, 164: 1229‐1232
3 Fraone G, Wilson S, Casamassimo P (1999) The effect of orally administered midazolam on children of three age groups
during restorative dental care Pediatr Dent, 21: 235‐241
4 Henry RJ, Jerrell RG (1990) Ambient nitrous oxide levels
during pediatric sedations Pediatr Dent, 12: 87‐91
5 Houpt MI, Kupietzky A, Tofsky NS (1996) Effects of nitrous
oxide on diazepam sedation of young children Pediatr Dent,
18: 236‐241
6 Lourenco‐Matharu L, Ashley PF, Furness S (2012) Sedation of
children undergoing dental treatment Cochrane Database Syst Rev, 3: 1‐82
7 McMillan C, Spahr‐Schopfer I, Sikich N (1992) Premedication
of children with oral midazolam Canadian journal of anaesthesia, 39: 545‐550
8 Nguyễn Thị Thúy Lan, Phan Ái Hùng (2008) Hiệu quả trấn
an bệnh nhi nha khoa từ 2 – 5 tuổi với thuốc midazolam theo đường mũi Luận văn bác sĩ nội trú chuyên ngành Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
9 Payne K, Mattheyse F, Liebenberg D (1989), The pharmacokinetics of midazolam in paediatric patients
European journal of clinical pharmacology, 37: 267‐272
10 Phan Thị Thanh Yên (2011) Xử trí trẻ em trong nha khoa Trong: Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng Sổ tay thực hành Răng trẻ em, ấn bản lần 1, tr.13‐27 Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh
11 Pisalchaiyong T, Trairatvorakul C, Jirakijja J (2005) Comparison of the effectiveness of oral diazepam and midazolam for the sedation of autistic patients during dental
treatment Pediatr Dent, 27: 198‐206
12 Sheta SA, AlSarheed M (2009) Oral midazolam premedication for children undergoing general anaesthesia for
dental care International journal of pediatrics, 2009: 2‐7
13 Shrestha S, Shrestha B (2007) Oral administration of intravenous solution of midazolam mixed in syrup of paracetamol is an effective way of premedicating children
undergoing surgery under general anaesthesia Kathmandu Univ Med J (KUMJ), 5: 449‐455
14 Somri M, Parisinos CA, Kharouba J (2012) Optimising the dose of oral midazolam sedation for dental procedures in children: a prospective, randomised, and controlled study
International Journal of Paediatric Dentistry, 22: 271‐279
Ngày nhận bài báo: 02/02/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2015 Người phản biện: PGS-TS Nguyễn Thị Hồng Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015