1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả trấn an của midazolam đường uống ở bệnh nhi nha khoa từ 2-5 tuổi

6 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 322,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả trấn an và tính an toàn của midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) ở bệnh nhi nha khoa từ 2-5 tuổi. Nghiên cứu tiến hành ở 30 trẻ (2-5 tuổi) có hành vi không hợp tác (điểm số 1 hoặc 2 theo thang frankl) được uống midazolam (liều 0,5 mg/kg) trước khi điều trị nha khoa.

Trang 1

HIỆU QUẢ TRẤN AN CỦA MIDAZOLAM ĐƯỜNG UỐNG Ở BỆNH NHI

NHA KHOA TỪ 2 – 5 TUỔI

Nguyễn Phạm Nhật Tuyền*, Phan Ái Hùng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả trấn an và tính an toàn của midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) ở bệnh

nhi nha khoa từ 2 – 5 tuổi

Phương pháp: 30 trẻ (2 – 5 tuổi) có hành vi không hợp tác (điểm số 1 hoặc 2 theo thang Frankl) được uống

midazolam (liều 0,5 mg/kg) trước khi điều trị nha khoa Đánh giá thay đổi hành vi của trẻ (ngủ, cử động, khóc) trong quá trình điều trị theo thang điểm Houpt và dùng máy Pulse Oximetry theo dõi chỉ số sinh tồn của trẻ trong suốt quá trình trấn an

Kết quả: Midazolam đường uống (0,5 mg/kg) có hiệu quả trấn an tốt, hầu hết trẻ đều giảm khóc và cử động,

đặc biệt là trong giai đoạn đầu của việc điều trị Các chỉ số sinh tồn giữ ổn định, tác dụng ngoại ý không đáng kể

Kết luận: Midazolam đường uống (liều 0,5 mg/kg) là loại thuốc trấn an thích hợp và an toàn khi điều trị cho

bệnh nhi nha khoa (2 – 5 tuổi) có hành vi không hợp tác

Từ khóa: midazolam đường uống, trấn an, bệnh nhi nha khoa

ABSTRACT

EFFICACY OF ORAL MIDAZOLAM FOR SEDATION OF YOUNG PAEDIATRIC DENTAL PATIENTS

(2 -5 YEARS)

Nguyen Pham Nhat Tuyen, Phan Ai Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2015: 243 ‐ 248

Objective: The aim of this study was to assess the efficacy and safety of oral midazolam (0.5mg/kg) for

sedation in children (2-5 years-old) undergoing dental treatment

Materials and method: Thirty uncooperative children (rating 1 or 2 on Frankl Scale) received oral

midazolam (0.5 mg/kg) before dental treatment The Houpt scale was used to assess patient’s behaviour (alertness, movement, crying) during treatment A Pulse Oximetry was used to monitor vital signs during the sedation

Results: The efficacy of oral midazolam (0.5 mg/kg) was good, as assessed by lack of or minimal crying

and/or movement, especially in the early stage of treatment The vital signs were stable, adverse effects were not significant

Conclusion: Oral midazolam (0.5 mg/kg) was acceptable and safe for sedation in uncooperative pediatric

dental patients (2 – 5 years)

Key words: oral midazolam, sedation, pediatric dental patients.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xử trí hành vi bệnh nhi nha khoa là một

thách thức đối với bác sĩ răng hàm mặt, đặc biệt

là lứa tuổi mầm non (2 – 5 tuổi)(4) Đa số trẻ đáp ứng tốt với các phương pháp tâm lý nhưng trong một số trường hợp như trẻ sợ hãi quá mức, quá nhỏ hay chậm phát triển tâm thần thì những

*BS Nội trú Khóa 2011‐2014 – Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

** Bộ môn Răng trẻ em – Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Phạm Nhật Tuyền ĐT: 0913778789 Email: nhattuyen2008@gmail.com

Trang 2

phương pháp này sẽ không hữu hiệu(10)

Từ thực tế trên, nhiều nước tiên tiến trên thế

giới đã áp dụng “kỹ thuật trấn an còn ý thức”

với thuốc midazolam như là một phương pháp

hiệu quả, có thể thực hiện thường xuyên nhằm

giải quyết sự lo âu cho bệnh nhi nha khoa(6) Tại

Việt Nam, nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả của

midazolam trên bệnh nhi nha khoa từ 2 – 5

tuổi(11) cho thấy midazolam nhỏ mũi với liều 0,3

mg/kg có hiệu quả trấn an tốt, hồi phục nhanh,

an toàn cao và ít tác dụng ngoại ý Tuy vậy, việc

dùng midazolam theo đường mũi có hạn chế là

xâm lấn và gây khó chịu cho niêm mạc mũi

Trong khi đó, midazolam đường uống có thể

khắc phục nhược điểm này

Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

với các mục tiêu sau:

‐ Xác định thời gian đạt tác dụng và thời

lượng tác dụng trung bình của midazolam

đường uống liều 0,5 mg/kg ở trẻ từ 2 – 5 tuổi

‐ Đánh giá sự thay đổi hành vi của trẻ sau

khi uống thuốc ở 5 thời điểm: thuốc bắt đầu tác

dụng (H0), đặt cục cắn (H1), gây tê (H2), khi điều

trị (H3) và kết thúc điều trị (H4)

‐ Đánh giá kết quả điều trị tại thời điểm kết

thúc điều trị

‐ Đánh giá sự thay đổi nhịp tim, nhịp thở,

độ bão hòa oxy trong máu ngoại vi (SpO2) của

trẻ trước và sau khi uống midazolam (liều 0,5

mg/kg) ở 8 thời điểm: trước khi uống thuốc 5

phút (T0), ngay sau khi uống thuốc (T1), thuốc

bắt đầu tác dụng (T2), đặt cục cắn (T3), gây tê

(T4), khi điều trị (T5), kết thúc điều trị (T6) và

khi hồi tỉnh (T7)

‐ Đánh giá mức độ chấp nhận uống thuốc

của trẻ và tác dụng gây quên thuận chiều, tác

dụng ngoại ý của thuốc trong vòng 24 giờ sau

trấn an

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu

Gồm 30 bệnh nhi từ 2 ‐ 5 tuổi có hành vi

không hợp tác đến điều trị tại khu điều trị Răng

Trẻ Em, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 10/2013 đến tháng 03/2014, được lựa chọn theo kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện với các tiêu chí sau đây:

Tiêu chí chọn mẫu

‐ Trẻ có tình trạng sức khỏe xếp loại I hoặc II theo ASA:

+ Loại I: Bệnh nhân khỏe mạnh, không có rối loạn về sinh lý, sinh hóa hay tâm lý

+ Loại II: Bệnh nhân có những rối loạn toàn thân ở mức độ nhẹ đến trung bình như: tiểu đường nhẹ, thiếu máu vừa, hen suyễn kiểm soát tốt, không bị tàn tật

‐ Trẻ có nhu cầu điều trị răng miệng

‐ Trẻ lo âu, có hành vi không hợp tác (điểm

số 1 hay 2 theo thang điểm Frankl) và thất bại với các phương pháp tâm lý xử trí hành vi: + Phản đối quyết liệt (điểm số 1): từ chối việc điều trị, la khóc, sợ hãi, không hợp tác, có những

cử động kịch liệt

+ Phản đối (điểm số 2): không tự nguyện chấp nhận việc điều trị, không hợp tác, có những biểu hiện phản đối nhưng không rõ ràng, ví dụ: rầu rĩ, lãnh đạm,…

Tiêu chí loại trừ

Trẻ đang sử dụng thuốc ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương hoặc các thuốc tương tác với midazolam

Trẻ đang mắc bất kỳ bệnh lý nào khác vào ngày tiến hành trấn an

Trẻ nhổ một phần hay toàn bộ thuốc ra ngoài Phụ huynh không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả loạt ca

Vật liệu và phương tiện nghiên cứu

‐ Vì midazolam dạng uống không có trên thị trường Việt Nam nên chúng tôi sử dụng

dung dịch midazolam dạng tiêm (Midazolam –

Trang 3

Hypnovel ® 5 mg/ml, Roche Products Pty Ltd,

Australia) với liều 0,5 mg/kg, tối đa 15 mg, pha

cùng sirô dâu (Sirô dâu Trinh ® , chai 350 m, cơ sở

sirô Trinh, Việt Nam) với thể tích gấp đôi dung

dịch midazolam tính toán cho trẻ

‐ Máy Pulse Oximetry (PulseOx 5500 TM, Micro Direct, Inc) theo dõi nhịp tim và SpO2 của trẻ trong suốt quá trình trấn an

Quy trình nghiên cứu

Bảng 1: Thang điểm Houpt (5) đánh giá hành vi của trẻ

trong quá trình điều trị

Điểm Đánh giá ngủ

Đánh giá cử động

Cử động liên tục gây khó khăn cho việc điều trị 2

Cử động không liên tục, có thể chế ngự để can thiệp

điều trị

3

Đánh giá khóc

Khóc dai dẳng, liên tục gây khó khăn cho việc điều trị 2

Khóc không liên tục, khóc nhỏ, không cản trở việc

điều trị

3

Đánh giá hoạt động toàn thể

Yếu - điều trị không liên tục, chỉ điều trị được 1phần 2

Khá - điều trị không liên tục, nhưng điều trị hoàn thành 3

Tốt - khó khăn, nhưng tất cả điều trị đều thực hiện

được

4 Rất tốt - điều trị hoàn thành, khóc nhỏ, ít hoạt động 5

Xử lý thống kê

Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon: so sánh các điểm số ngủ, cử động, khóc ở thời điểm H1, H2, H3, H4 với thời điểm H0;

so sánh các chỉ số nhịp tim, nhịp thở, SpO2 ở thời điểm T1, T2, T3, T4, T5, T6, T7 với thời điểm T0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Nghiên cứu thực hiện trên 30 bệnh nhi từ 2 –

5 tuổi (16 nam và 14 nữ) với độ tuổi trung bình là 48,03 ± 14,22 tháng tuổi, có nhu cầu điều trị nha khoa tại khu điều trị Răng trẻ em Khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2013 đến tháng 03/2014 Hầu hết các bệnh nhi (94%) có nhu cầu điều trị tủy hoặc nhổ răng, chứng tỏ tình trạng bệnh lý răng

- Đánh giá mức độ chấp nhận uống thuốc

- Xác định thời gian đạt tác dụng, thời lượng

tác dụng

30 trẻ (2-5 tuổi)

Lần hẹn 1:

- Kiểm tra sức khỏe tổng quát (I/II ASA)

- Đánh giá hành vi (1 hoặc 2 thang Frankl)

- Khám, lập kế hoạch điều trị

Lần hẹn 2:

- Trấn an với midazolam uống

- Thực hiện việc điều trị

- Đánh giá hành vi theo thang Houpt tại 5 thời điểm: H

0 , H

1 , H

2 , H

3 , H

4

- Đánh giá dấu hiệu sinh tồn tại 8 thời điểm:

T

0 , T

1 , T

2 , T

3 , T

4 , T

5 , T

6 , T

7

24 giờ sau trấn an:

- Đánh giá tác dụng ngoại ý

- Đánh giá tác dụng gây quên thuận chiều

Trang 4

miệng ở mức độ nặng và khẩn cấp Ngoài ra,

toàn bộ trẻ trong nghiên cứu đều cần đến thủ

thuật gây tê khiến việc điều trị trở nên khó khăn,

không an toàn khi trẻ có hành vi phản đối Điều

này cho thấy cần thiết phải trấn an cho trẻ để tạo

thuận lợi cho quá trình điều trị

Thời gian đạt tác dụng và thời lượng tác

dụng

Bảng 2: Thời gian đạt tác dụng và thời lượng tác

dụng của midazolam

Thời gian (phút) TB ± ĐLC Khoảng tin cậy 95%

Thời gian đạt tác

dụng

Sau khi cho trẻ uống thuốc, chúng tôi theo

dõi những biểu hiện thay đổi hành vi của trẻ

như: ánh mắt bớt linh hoạt, đờ đẫn, hết khóc

(nếu có), nói líu lưỡi, mất đồng vận các cơ, ngồi

hay đứng không vững Những dấu hiệu này

giúp xác định thời gian đạt tác dụng của thuốc Bảng 1 cho thấy kết quả nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu trong y văn, cho rằng thời gian đạt tác dụng trấn an của midazolam đường uống dao động từ 15 đến 40 phút(7) và thời lượng tác dụng trung bình của midazolam đường uống là 30 – 60 phút(11)

Từ kết quả trên, có thể thấy thời gian đạt tác dụng trung bình của midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg khoảng 20 phút là ở mức chấp nhận được và khoảng thời gian này cũng không dài hơn thời gian cần thiết để áp dụng những biện pháp tâm lý xử trí hành vi cho trẻ Bên cạnh

đó, thời lượng tác dụng trung bình của thuốc khoảng 50 phút, đủ dài để bác sĩ có thể thực hiện những thủ thuật phức tạp như điều trị tủy Trẻ hồi phục nhanh, có thể ra về an toàn trong buổi điều trị

Thay đổi hành vi của trẻ sau khi uống thuốc

Bảng 3: Điểm số Houpt (TB ± ĐLC) qua các thời điểm: khi thuốc bắt đầu tác dụng hay lúc cho trẻ lên ghế nha

(H 0 ), đặt cục cắn (H 1 ), gây tê (H 2 ), khi điều trị (H 3 ) và kết thúc điều trị (H 4 )

Ngủ

Cử động

Khóc

(*): Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon so sánh với thời điểm thuốc bắt đầu có tác dụng (H 0 ), khác biệt có ý nghĩa khi p < 0,05; (#): p < 0,05; (##): p ≤ 0,001

Tại thời điểm H1 và H2, điểm số ngủ, cử

động, khóc của trẻ hầu như thay đổi rất ít so với

thời điểm H0 Điều này cho thấy tác dụng trấn an

của midazolam khiến hầu hết trẻ có biểu hiện lơ

mơ, buồn ngủ, không khóc hoặc khóc nhỏ, cử

động ít trong suốt giai đoạn đầu của việc điều trị,

kể cả giai đoạn gây tê vốn có nhiều thách thức Tuy

nhiên, trong giai đoạn sau của quá trình điều trị,

điểm số ngủ của trẻ giảm dần nhưng chỉ đến khi

kết thúc điều trị, điểm số này mới giảm có ý

nghĩa thống kê so với thời điểm H0 (p < 0,05), có

lẽ do thuốc giảm tác dụng và trẻ bắt đầu tỉnh lại Mặt khác, điểm số cử động và khóc của trẻ giảm

có ý nghĩa ở thời điểm H3, H4 so với H0 (p ≤ 0,001), nghĩa là trẻ có khuynh hướng tăng cử động và khóc theo thời gian Kết quả này tương

tự như nghiên cứu của Fraone(3) và Somri(14)

Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có hiệu quả trấn an và cải thiện hành vi hợp tác của trẻ từ 2 – 5 tuổi trong quá trình

Trang 5

điều trị nha khoa, đặc biệt là trong giai đoạn

đầu điều trị vốn có nhiều thách thức Tuy

nhiên, liều lượng này chưa đủ trấn an trẻ

trong suốt giai đoạn còn lại của điều trị khi trẻ

có khuynh hướng tăng cử động và khóc theo

thời gian khiến việc điều trị không đạt mức tối

ưu như mong đợi

Kết quả điều trị

Có 96,7% cuộc điều trị hoàn tất, chỉ 1 trường

hợp phải dừng lại nửa chừng do trẻ quá kích

động, không hợp tác Việc điều trị được đánh giá

thành công ở 76,7% trường hợp Còn lại, 20% trẻ

khóc dai dẳng và giãy giụa, cần có người kìm giữ

để hoàn tất việc điều trị Trong những trường

hợp thành công, có 60% trẻ thụ động, hợp tác,

không khóc hoặc khóc ít trong quá trình điều trị

(hành vi toàn thể xếp loại rất tốt đến xuất sắc), việc điều trị cho những trẻ này rất thoải mái và

có thể so sánh tương đương với những trẻ bình thường (không cần dùng thuốc trấn an) có hành

vi hợp tác

Mức độ chấp nhận uống thuốc

Toàn bộ trẻ đều chấp nhận uống thuốc và không có trẻ nào nhổ thuốc ra ngoài Cụ thể, có đến 76,7% trẻ sẵn sàng uống thuốc với thái độ tích cực, 23,3% trẻ chấp nhận uống thuốc với sự

dỗ ngọt, động viên của cha mẹ và không có trẻ nào phản đối mạnh mẽ hay bị bắt ép, kìm giữ để uống thuốc Ngoài ra không có trẻ nào than phiền khó chịu sau khi uống Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác(12,13)

Thay đổi các chỉ số sinh tồn

Bảng 4: Thay đổi các chỉ số sinh tồn (TB (ĐLC)) qua các thời điểm: trước khi uống thuốc 5 phút (T 0 ), ngay sau khi uống thuốc (T 1 ), thuốc đạt tác dụng (T 2 ), đặt cục cắn (T 3 ), gây tê (T 4 ), khi điều trị(T 5 ), kết thúc điều trị (T 6 ) và khi hồi tỉnh (T 7 )

Nhịp tim

(lần/phút)

p*

112,67 (9,90)

113,20 (9,67) 0,23

113,17 (9,53) 0,84

114,30 (8,32) 0,54

114,50 (9,10) 0,08

115,93 (8,54) 0,10

114,53 (7,08) 0,35

112,80 (9,61) 0,71 Nhịp thở

(lần/phút)

p*

26,37 (4,72)

26,40 (4,86) 0,89

26,67 (5,17) 0,24

26,40 (4,78) 0,89

26,73 (4,49) 0,15

26,70 (4,14) 0,09

26,77 (4,03) 0,11

26,33 (4,67) 0,32 SpO 2 (%)

p*

97,43 (1,33)

97,33 (1,30) 0,61

97,30 (1,18) 0,51

97,23 (1,10) 0,30

97,20 (0,89) 0,38

97,53 (1,22) 0,62

97,57 (1,19) 0,56

97,40 (1,07) 0,82

(*): Kiểm định phi tham số xếp hạng và dấu Wilcoxon so sánh với thời điểm trước khi uống thuốc (T 0 ), khác biệt có ý nghĩa khi

p < 0,05

Chỉ số nhịp tim của trẻ có xu hướng tăng dần

từ thời điểm ban đầu T0 cho đến thời điểm T5,

sau đó giảm dần đến thời điểm T7 Điều này

cũng phù hợp với đáp ứng hành vi (ngủ, cử

động, khóc) của trẻ trong quá trình điều trị Tuy

nhiên khi so sánh với thời điểm T0 thì sự khác

biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Tương tự, nhịp thở và SpO2 của trẻ trước và

sau khi uống thuốc midazolam đều thay đổi rất

ít (p > 0,05) Không có trẻ nào bị suy hô hấp, chỉ

số SpO2 dao động từ 95% đến 99%, tương đồng

với kết quả của rất nhiều nghiên cứu khác(3,11,12,13)

Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có tác động an toàn lên hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ

Tác dụng gây quên thuận chiều của midazolam

Có đến 76,7% trẻ không nhớ lại những sự kiện lúc điều trị nha khoa Kết quả này tương đồng với nhiều tác giả khác(1,2,9) cho rằng tác dụng gây quên thuận chiều xảy ra ở 50 – 80% trường hợp sau khi điều trị y hoặc nha khoa với midazolam theo đường uống Đây là một ưu

Trang 6

điểm không thể có được ở các phương pháp xử

trí hành vi không dùng thuốc

Tác dụng ngoại ý của midazolam

Nghiên cứu cho thấy 76,7% trẻ không có bất

kỳ tác dụng ngoại ý nào Còn lại, 10% trẻ có biểu

hiện nấc cục, 10% biểu hiện kích động và 3,3%

trẻ biểu hiện hưng phấn Như vậy, midazolam

cũng như bất kỳ loại thuốc trấn an nào đều có

thể gây ra tác dụng ngoại ý Do đó, điều cần thiết

là phải theo dõi trẻ cẩn thận để phát hiện và xử

trí thích hợp khi các tác dụng ngoại ý này xảy ra

Tuy vậy, các tác dụng ngoại ý của midazolam

trong nghiên cứu này không đáng kể và chưa

cần phải can thiệp điều trị nên vẫn được xem là

an toàn

KẾT LUẬN

Midazolam đường uống liều 0,5 mg/kg có

thời gian đạt tác dụng trung bình ở mức chấp

nhận được, khoảng 20 phút và thời lượng tác

dụng trung bình khoảng 50 phút, đủ dài để thực

hiện những thủ thuật phức tạp như điều trị tủy

Thuốc có hiệu quả trấn an tốt ở giai đoạn đầu

điều trị, đặc biệt là trong lúc gây tê, đa số trẻ đều

trở nên thụ động, hợp tác, làm tăng khả năng

thành công của điều trị Midazolam có mức an

toàn cao, các chỉ số sinh tồn giữ ổn định trong

suốt quá trình trấn an, tác dụng ngoại ý không

đáng kể Toàn bộ trẻ đều chấp nhận uống thuốc,

tác dụng gây quên thuận chiều cao, điều này

giúp trẻ không nhớ đến quá trình điều trị, có lợi

cho những lần tái khám sau

Như vậy, midazolam đường uống liều 0,5

mg/kg là loại thuốc thích hợp và an toàn để trấn

an cho bệnh nhi nha khoa không hợp tác từ 2 – 5

tuổi trong điều kiện hiện nay ở khoa Răng Hàm

Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh,

khi chưa có đủ trang thiết bị để áp dụng những

phương pháp trấn an hiệu quả hơn như nitrous

oxide hay gây mê

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al‐Rakaf H, Bello L, Turkustani A (2001) Intra‐nasal midazolam in conscious sedation of young paediatric dental

patients International Journal of Paediatric Dentistry, 11: 33‐40

2 Elder JS, Longenecker R (1995) Premedication with oral midazolam for voiding cystourethrography in children: safety

and efficacy AJR Am J Roentgenol, 164: 1229‐1232

3 Fraone G, Wilson S, Casamassimo P (1999) The effect of orally administered midazolam on children of three age groups

during restorative dental care Pediatr Dent, 21: 235‐241

4 Henry RJ, Jerrell RG (1990) Ambient nitrous oxide levels

during pediatric sedations Pediatr Dent, 12: 87‐91

5 Houpt MI, Kupietzky A, Tofsky NS (1996) Effects of nitrous

oxide on diazepam sedation of young children Pediatr Dent,

18: 236‐241

6 Lourenco‐Matharu L, Ashley PF, Furness S (2012) Sedation of

children undergoing dental treatment Cochrane Database Syst Rev, 3: 1‐82

7 McMillan C, Spahr‐Schopfer I, Sikich N (1992) Premedication

of children with oral midazolam Canadian journal of anaesthesia, 39: 545‐550

8 Nguyễn Thị Thúy Lan, Phan Ái Hùng (2008) Hiệu quả trấn

an bệnh nhi nha khoa từ 2 – 5 tuổi với thuốc midazolam theo đường mũi Luận văn bác sĩ nội trú chuyên ngành Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

9 Payne K, Mattheyse F, Liebenberg D (1989), The pharmacokinetics of midazolam in paediatric patients

European journal of clinical pharmacology, 37: 267‐272

10 Phan Thị Thanh Yên (2011) Xử trí trẻ em trong nha khoa Trong: Phan Thị Thanh Yên, Phan Ái Hùng Sổ tay thực hành Răng trẻ em, ấn bản lần 1, tr.13‐27 Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh

11 Pisalchaiyong T, Trairatvorakul C, Jirakijja J (2005) Comparison of the effectiveness of oral diazepam and midazolam for the sedation of autistic patients during dental

treatment Pediatr Dent, 27: 198‐206

12 Sheta SA, AlSarheed M (2009) Oral midazolam premedication for children undergoing general anaesthesia for

dental care International journal of pediatrics, 2009: 2‐7

13 Shrestha S, Shrestha B (2007) Oral administration of intravenous solution of midazolam mixed in syrup of paracetamol is an effective way of premedicating children

undergoing surgery under general anaesthesia Kathmandu Univ Med J (KUMJ), 5: 449‐455

14 Somri M, Parisinos CA, Kharouba J (2012) Optimising the dose of oral midazolam sedation for dental procedures in children: a prospective, randomised, and controlled study

International Journal of Paediatric Dentistry, 22: 271‐279

Ngày nhận bài báo: 02/02/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2015 Người phản biện: PGS-TS Nguyễn Thị Hồng Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w