1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dịch và thuốc vận mạch trong hồi sức sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức Bệnh viện Nhi Đồng 1

5 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 391,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập sốc nhiễm khuẩn trong nước thường gặp và hiện có tỷ lệ tử vong cao. Hồi sức bằng dịch và thuốc vận mạch, thuốc tăng co bóp cơ tim là nền tảng của hồi sức sốc. Đề tài này nhằm khảo sát tình hình hồi sức bằng dịch và vận mạch ở trẻ sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức của một trong những bệnh viện Nhi đầu ngành trong cả nước

Trang 1

DỊCH VÀ THUỐC VẬN MẠCH TRONG HỒI SỨC   SỐC NHIỄM KHUẨN TẠI KHOA HỒI SỨC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 

Phùng Nguyễn Thế Nguyên*  

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Sốc nhiễm khuẩn trong nước thường gặp và hiện có tỷ lệ tử vong cao. Hồi sức bằng dịch và 

thuốc vận mạch, thuốc tăng co bóp cơ tim là nền tảng của hồi sức sốc. Đề tài này nhằm khảo sát tình hình hồi sức  bằng dịch và vận mạch ở trẻ sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức của một trong những bệnh viện Nhi đầu ngành 

trong cả nước. 

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu trên 83 trẻ sốc nhiễm khuẩn từ 10/2008 đến 4/2011. 

Kết quả: 96,4% dùng dung dịch điện giải ngay từ đầu để hồi sức, trong đó 44,6% chỉ dùng đơn thuần điện 

giải và 51,8% dùng dung dịch keo sau đó. Lượng dịch chống sốc 20 ml/kg được dùng trong 94% trường hợp.  44,6% trường hợp dịch này được dùng ≤ 20 phút. Tổng dịch trong giờ đầu ≥ 40 ml/kg trong 49,4% trường hợp.  Lượng dịch trung bình trong giờ đầu là 34,8 ± 15,4 ml/kg. Những trường hợp chỉ dùng đơn thuần dịch keo có tỷ 

lệ tử vong thấp và không có mối liên quan giữa tổng lượng dịch giờ đầu với tử vong. 69,1% dùng từ 2 thuốc vận  mạch và thuốc tăng co bóp cơ tim trở lên, trong đó 35% dùng 3 thuốc. Tỷ lệ dùng dobutamin cao trong nghiên  cứu. Tỷ lệ sốc kháng catecholamin là 36,1% và liều thuốc epinephrin và norepinephrin còn thấp. Tử vong cao khi 

sốc kháng catecholamin và phải dùng từ 3 thuốc vận mạch trở lên 

Kết luận: Sử dụng dịch truyền và thuốc vận mạch, thuốc tăng co bóp cơ tim trong hồi sức sốc nhiễm khuẩn 

còn chưa thích hợp. Cần nhiểu khóa huấn luyện, cập nhật thông tin, thống nhất và cần theo dõi huyết động để bù 

dịch và dùng thuốc co mạch, thuốc tăng sức co bóp cơ tim hiệu quả. 

Từ khóa: Sốc nhiễm khuẩn, thuốc vận mạch, tăng co bóp, dịch truyền. 

ABSTRACT 

FLUID RESUSCITATION AND VASOPRESSOR THERAPY OF PEDIATRIC SEPTIC SHOCK  

IN PEDIATRIC INTENSITIVE CARE UNIT, CHILDREN’S HOSPITAL 1 

Phung Nguyen The Nguyen* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 240 ‐ 244 

Objectives: Septic shock is common severe infection and currently has a high mortality rate in our country. 

The  resuscitation  with  fluids,  vasopressors  and  inotropes  is  essential  in  treatment  of  septic  shock.  This  study  investigates reality of resuscitations with fluids and vasopressors in pediatric septic shock in intensive care unit of  one of the leading pediatric hospitals in our country.  

Methods: Prospective described in 83 children with septic shock from October 2008 to April 2011. 

Results: 96.4% cases were used electrolyte solutions at the first step in resuscitation, in which only 44.6% 

pure electrolyte solutions and 51.8% colloid solutions after that. Amount of fluid 20 ml/kg was used in 94% of  cases;  44.6%  of  this  fluid  was  given  ≤  20  minutes.  Total  amount  of  fluid  ≥  40  ml/kg  in  the  first  hour  of  resuscitation  was  seen  in  49.4%  of  cases.  A  mean  fluid  used  in  the  first  hour  was  34.8 ±  15.4  ml/kg.  The  mortality rate was low in cases given pure colloid solutions but there were no correlation between the first hour  fluid  with  death.  69.1%  cases  were  used  more  than  2  vasopressor  and  inotropes,  in  which  35%  cases  given  3  drugs. The proportion of catecholamin resistant shock was 36.1% and dose of epinephrine and norepinephrine 

* Đại Học Y Dược TPHCM 

Trang 2

Conclusions: The treatments with fluids, vasopressors and inotropes in septic shock resuscitation were still 

inappropriate. Then we need more training courses, updates and unified, in addition to hemodynamic monitor for  fluid, vasopressor and inotrope applying effectively. 

Key words: Septic shock, vasopressor, inotrope, fluid resuscitation. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sốc  nhiễm  khuẩn  (SNK)  là  một  hội  chứng 

thường  gặp,  tỷ  lệ  tử  vong  cao.  Trong  những 

năm đầu thế kỷ 21, tỷ lệ tử vong trong nước vẫn 

còn rất cao từ 60‐80%(1). Điều trị bao gồm kháng 

sinh, loại bỏ ổ nhiễm khuẩn và hồi sức tích cực. 

Sử dụng dịch và thuốc vận mạch, tăng co bóp cơ 

tim hợp lý là những yếu tố chính quyết định hồi 

sức  thành  công.  Có  rất  nhiều  hướng  dẫn  hiện 

nay về sử dụng các chất này ở người lớn và trẻ 

em  trong  hồi  sức  sốc,  tuy  vậy  đa  phần  nghiên 

cứu  ở  nước  ngoài.  Mặc  dầu  được  dùng  và 

nghiên  cứu  nhiều  nhưng  đến  nay  vẫn  chưa  có 

một hướng dẫn hoàn hảo, điều trị vẫn phải tùy 

thuộc vào từng bệnh nhi cụ thể. Đầu  thế  kỷ  21 

này  có  nhiều  phân  tích  gộp  và  nghiên  cứu  mù 

đôi  với  cỡ  mẫu  lớn  về  dùng  dịch  và  vận  mạch 

trong hồi sức, cũng như nhiều khuyến cáo được 

đưa ra.  

Khoa  Hồi  sức  bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  áp 

dụng hướng dẫn sử trí trẻ sốc của Chương trình 

toàn cầu điều trị nhiễm khuẩn nặng và SNK và 

ngày  càng  hoàn  thiện(7).  Trong  khuôn  khổ  đó, 

nghiên  cứu  này  nhằm  đánh  giá  lại  tình  hình 

dùng dịch và thuốc vận mạch trong hồi sức trẻ 

sốc từ năm 2008 đến năm 2011. 

Mục tiêu nghiên cứu 

 Sốc nhiễm khuẩn trong nước thường gặp và 

hiện có tỷ lệ tử vong cao. Hồi sức bằng dịch và 

thuốc vận mạch, thuốc tăng co bóp cơ tim là nền 

tảng của hồi sức sốc. Đề tài này nhằm khảo sát 

tình  hình  hồi  sức  bằng  dịch  và  vận  mạch  ở  trẻ 

sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức của một trong 

những bệnh viện Nhi đầu ngành trong cả nước. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả có phân tích trên 83 trẻ SNK từ tháng 

10/2008 đến tháng 4/2011. 

Tiêu chí chọn bệnh  

Chọn tất cả trẻ nhập khoa Cấp Cứu ‐ Hồi sức 

bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian từ 10/2008  đến  4/2011  được  chẩn  đoán  SNK  (bao  gồm  rối  loạn  chức  năng  tuần  hoàn  +  tình  trạng  nhiễm  khuẩn)  theo  tiêu  chuẩn  về  chẩn  đoán  SNK  đã  thống nhất của Hội thảo Quốc tế về NKH năm 

2002 (8). 

Tiêu chí loại trừ  

Loại tất cả trẻ < 2 tháng, trẻ nhiễm HIV, trẻ 

có  bệnh  tim  bẩm  sinh  tím  hay  có  bệnh  lý  bẩm  sinh ảnh hưởng trên tiên lượng như bại não, bất  thường bẩm sinh thần kinh cơ, nội tiết. Trẻ có rối  loạn  chức  năng  các  cơ  quan  trước  khi  nhiễm  khuẩn huyết như suy gan, suy thận trước đó. 

Phương pháp tiến hành 

Tất  cả  các  trẻ  đều  được  hỏi  bệnh  sử,  khám  lâm sàng, thực hiện xét nghiệm và điều trị theo  phác đồ hiện nay của bệnh viện. 

Dữ  liệu  được  thu  thập  bằng  bệnh  án  mẫu  thống nhất. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 

18.  So  sánh  trung  bình  của  các  biến  số  định  lượng  giữa  các  nhóm  bằng  phép  kiểm  Mann  whitney  test.  So  sánh  tỉ  lệ  của  các  biến  số  định  tính  bằng  phép  kiểm  Chi  bình  phương  (χ2)  có  hiệu  chỉnh  Fisher  exact  test.  Sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa khi p < 0,05. 

KẾT QUẢ  

Trong thời gian từ 10/2008 đến 4/2011 có 83  trẻ thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu. 

Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu. 

Vị trí nhiễm khuẩn (%)

Trang 3

Đặc điểm Kết quả

Lâm sàng

Cận lâm sàng

Bảng 2. Loại dịch dùng trong hồi sức. 

Bảng 3. Lượng dịch dùng. 

Lượng dịch cho liều đầu tiên

Thời gian cho dịch đầu tiên

Tổng dịch giờ đầu

Tổng dịch trung bình trong giờ đầu tiên: 34,8 

±  15,4  ml/kg.  Tổng  dịch  điều  trị  86,4  ±  41,1 

ml/kg. 

Chỉ có 1 trường hợp dịch trong giờ đầu tiên 

là 10 ml/kg. 

Bảng 4. Liên quan tử vong và dịch truyền. 

0,008

Tổng dịch giờ đầu

1,00

Bảng 5. Thuốc vận mạch và tăng sức co bóp cơ tim. 

Số lượng thuốc vận mạch

Loại sốc

µg/kg/phút

µg/kg/phút

µg/kg/phút

µg/kg/phút

Bảng 6. Liên quan tử vong và thuốc vận mạch. 

Số lượng thuốc vận mạch

0,003

Loại sốc

0,0001

Kháng

BÀN LUẬN  Dịch 

80 trẻ (96,4%) được dùng đầu tiên là dung  dịch điện giải, chỉ có 3 trẻ dùng dung dịch keo 

Trang 4

ngay  từ  đầu.  Trong  đó  37  trẻ  chỉ  dùng  đơn 

thuần điện giải, 43 trẻ sau đó được dùng dung 

dịch keo.  

Các  nghiên  cứu  cho  thấy  không  có  sự  khác 

biệt  về  tử  vong  giữa  dung  dịch  điện  giải  hay 

dung  dịch  keo  trong  hồi  sức.  Chúng  tôi  không 

có trường hợp nào dung albumin để chống sốc. 

Dung  dịch  keo  được  dùng  nhiều  là  gelatin,  kế 

đến là Hes 200/0,5.  

Năm 2012 khuyến cáo của chương trình toàn 

cầu  không  dùng  Hes  có  trọng  lượng  phân  tử  > 

200.000 dalton(7).  

Chúng  tôi  không  nhận  thấy  tỷ  lệ  suy  thận 

khác biệt giữa 2 nhóm dùng dung dịch điện giải 

và  dung  dịch  keo.  Những  trẻ  được  dùng  dung 

dịch keo tỷ lệ tử vong cao hơn trẻ dùng điện giải 

đơn thuần. Tại bệnh viện Nhi Đồng 1 điện giải 

được dùng đầu tiên, sau 1‐2 liều mà bệnh nhân 

không cải thiện, dung dịch keo được dùng nhằm 

trành  nguy  cơ  quá  nhiều  dịch  và  nhanh  chống 

đưa  bệnh  nhân  ra  khỏi  sốc.  Vì  vậy,  những  trẻ 

được  dùng  dung  dịch  keo  thêm  vào  thường 

nặng,  sốc  kéo  dài  cho  nên  tỷ  lệ  tử  vong  cao  ở 

nhóm này. 

Lượng dịch trong giờ đầu tiên trung bình là 

34,8  ±  15,4  ml/kg,  cao  nhất  là  70  ml/kg.  Lượng 

dịch  này  ít  hơn  theo  khuyến  cáo  của  chương 

trình toàn cầu hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn 

huyết và sốc nhiễm khuẩn. Tuy vậy, theo chứng 

tôi  bằng  nhiều  khóa  huấn  luyện,  cập  nhật  kiến 

thức, các bác sĩ đã mạnh dạn hơn trong việc bồi 

hoàn dịch ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. Trước 

đây  tại  bệnh  viện  Nhi  đồng  2  năm  2000‐2002 

trong giờ đầu tiên 90% có lượng dịch trong giờ 

đầu tiên là 20 ml/kg. Tại Viện Nhi Trung ương, 

năm 2003‐2005, lượng dịch trung bình cho nhóm 

sốc lạnh là 23,2 ± 20,3 ml/kg(1). Tại bệnh viện Nhi 

Đồng 1, năm 2002‐2008, lượng dịch trung bình là 

28,5 ± 17,2 ml/kg(2). Mặc dù lượng dịch còn thấp 

hơn  khuyến  cáo  nhưng  tổng  lượng  dịch  trong 

giờ  đầu  tiên  đã  tăng  lên.  Theo  nhiều  tác  giả 

trung  bình  lượng  dịch  trong  giờ  đầu  là  40‐60 

ml/kg(4,5).  Bù  dịch  nhanh  này  không  làm  tăng 

nguy  cơ  phù  phổi.  Chúng  tôi  cần  huấn  luyện 

hơn  nữa  các  bác  sĩ  tại  đơn  vị  cũng  như  tại  các  tuyến cơ sở trong bù dịch bệnh nhân sốc, nhằm  nhanh chống đưa bệnh nhân ra khỏi sốc. 34 trẻ  được chống sốc 20 ml/kg/giờ đầu tiên theo phác 

đồ cũ được khuyến cáo. Rõ ràng có sự thay đổi  tích  cực  hơn  trong  bù  dịch  chống  sốc  ở  trẻ  sốc  nhiễm khuẩn. 

Tỷ  lệ  tử  vong  giữa  nhóm  trẻ  có  tổng  dịch  giờ  đầu  tiên  ≥  40  ml/kg  và  <  40  ml/kg  không  khác biệt.  

Có thể do các trẻ SNK nặng, nhập viện trong  tình trạng trễ, sốc mất bù (100%) và tổn thương  nhiều cơ quan.  

Nên tỷ lệ tử vong không khác biệt. Claudio 

F.  Oliveira  năm  2002‐2003  nghiên  cứu  dịch  truyền  trong  hồi  sức  75  trẻ  sốc  nhiễm  khuẩn  ở  khoa săn sóc tăng cường, tại Brazil tác giả nhận  thấy  tỷ  lệ  tử  vong  của  những  trẻ  hồi  sức  bằng  dịch trong giờ đầu tiên < 20 ml/kg là 73%, từ 20‐

40 ml/kg là 52% và > 40 ml/kg là 33%.  

Các  nghiên  cứu  cho  thấy  các  tác  giả  chẩn  đoán  sớm  khi  mạch  nhanh  không  giải  thích  được,  dịch  đã  được  cho.  Không  chờ  đến  khi  huyết áp giảm. Do vậy trong nghiên cứu trẻ nào  đáp ứng sớm với bù dịch điện giải thì cải thiện 

tử vong. 

Vận mạch 

Tỷ lệ trẻ dùng từ 2 thuốc vận mạch trở lên là  75%.  Chúng  tôi  dùng  dopamin  là  thuốc  vận  mạch đầu  tiên  trong  sốc  nhiễm  khuẩn.  Nếu  trẻ  không  đáp  ứng  trẻ  được  thêm  dobutamin  hay  norepinephrin  hay  epinephrin  tùy  theo  nhận  định của bác sĩ. Tuy nhiên các bác sĩ thường theo  phác đồ cũ thêm dobutamin vào khi không đáp  ứng  với  dopamin.  37,3%  phối  hợp  norepinephrin trong điều trị so với 6,4% từ năm  2002‐2008. Theo Hướng dẫn của SSC năm 2012,  nếu  dùng  dopamin  ban  đầu  trong  điều  trị,  khi  không  đáp  ứng  với  dopamin  thì  thêm  epinephrin  cho  sốc  lạnh  và  norepinephrin  cho  sốc  ấm.  Như  vậy  mặc  dù  cải  thiện  tình  trạng  dùng  vận  mạch  trong  điều  trị  thì  tỷ  lệ  dùng  dobutamin  phối  hợp  khi  không  đáp  ứng  dopamin  còn  cao.  Chúng  tôi  thiếu  các  phương 

Trang 5

tiện  do  cung  lượng  tim  tại  chỗ  trong  đánh  giá 

huyết  động,  do  vậy  chưa  thể  khẳng  định  cách 

dùng nào là hoàn hảo. Trong tương lai với việc 

dùng  các  phương  tiện  theo  dõi  huyết  động 

không  xâm  lấn  sẽ  giúp  điều  trị  bệnh  nhi  sốc 

nhiễm khuẩn tốt hơn. Tỷ lệ dùng từ 3 thuốc vận 

mạch  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  cao  hơn  của 

Trần Minh Điển (26,5%)(9).Tỷ lệ tử vong cao khi 

dùng từ 3 loại thuốc vận mạch trở lên cũng như 

kháng  catecholamin.  Do  vậy  thời  điểm  dùng 

vận mạch, nhất là chỉ định sớm thích hợp giúp 

cải thiện tử vong.  

Trong  nghiên  của  Trần  Minh  Điển  liều 

dopamin  trung  bình  là  10  μg/kg/phút, 

norepinephirn là 0,5 μg/kg/phút và epinephrin 

là  0,45  μg/kg/phút(9).  Norepinephrin  trong 

nghiên cứu của chúng tôi dùng liều cao hơn (6). 

Tuy  nhiên  nhiều  tác  giả  sử  dụng 

norepinephrin  với  liều  cao  hơn  nhằm  duy  trì 

huyết  áp.  Liều  cao  của  norepinephrin  có  thể 

cho  an  toàn  qua  đường  truyền  ngoại  biên. 

Khác  với  người  lớn  trẻ  em  có  cung  lượng  tim 

thấp (3), kháng lực mạch máu cao, do đó thước 

được  dùng  nhiều  có  thể  là  để  tác  dụng 

inotrope,  vì  vậy  SSC  năm  2012  khuyến  cáo 

dùng  dopamin  hay  epinephrin  liều  β  để  tăng 

sức  co  bóp  cơ  tim(7).  Tuy  nhiên  cần  lưu  ý  là 

diễn  tiến  huyết  động  này  thay  đổi  theo  bệnh 

và phải theo dõi để thay đổi thuốc thích hợp(6). 

Mặc  dù  vậy,  khi  không  có  các  thăm  dò  để  đo 

cung lượng tim và kháng lực mạch máu ngoại 

biên thì việc điều trị còn rất lâu mới đạt được 

độ chính xác tuyệt đối. 

KẾT LUẬN 

Sử  dụng  dịch  và  thuốc  vận  mạch,  tăng  co  bóp  cơ  tim  trong  hồi  sức  ở  trẻ  sốc  nhiễm  khuẩn còn chưa thích hợp, cần nhiều hơn nữa  nghiên  cứu,  các  khóa  huấn  luyện,  cập  nhật  kiến  thức,  thông  tin  cũng  như  những  hướng  dẫn thống nhất từ bệnh viện. Cần các can thiệp  theo  dõi  huyết  động  để  việc  theo  dõi  điều  trị  phù hợp hơn nhằm cải thiện tử vong hiện nay  của bệnh lý này. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Aneja  R,  Carcillo  J  (2011).  Differences  between  adult  and  pediatric septic shock. Minerva Anestesiol 77(10): pp 986‐992. 

2 Carcillo  JA,  Davis  AL.  Zaritsk  yA  (1991).  Role  of  early  fluid  resuscitation  in  pediatric  septic  shock.  JAMA  266(9):pp  1242‐

1245. 

3 Carcillo  JA  (2002).  Clinical  practice  parameters  for  hemodynamic  support  of  pediatric  and  neonatal  patients  in  septic shock. Crit Care Med 30(6): pp 1365–1378. 

4 Ceneviva  G,  Paschall  A,  Maffeiet  F  (1998).  Hemodyneamic  support in fluid‐refractory pediatric septic shock. pp 102. 

5 Dellinger  RP,  Levy  MM,  Rhodeset  A  (2013).  Surviving  Sepsis  Campaign: International Guidelines for Management of Severe  Sepsis  and  Septic  Shock:  2012.  Critical  care  medicine  41(2):  pp580‐637. 

6 Goldstein  B,  Giroir  B.  Randolph  A  (2005).  International  pediatric sepsis consensus conference: definitions for sepsis and  organ dysfunction in pediatrics. Pediatr Crit Care Med 6(1): 2‐8. 

7 Marshall  JC,  Maier  RV,  Jimenezet  M  (2004).  Source  control  in  the management of severe sepsis and septic shock: an evidence‐ based review. Crit Care Med 32 (11 Suppl): S513‐526. 

8 Phạm  Văn  Quang,  Bạch  Văn  Cam,  Trần  Hữu  Minh  Quân  (2010). Điều trị ban đầu sốc nhiễm khuẩn trẻ em tại khoa Cấp  Cứu  bệnh  viện  Nhi  đồng  1.  Y  Học  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  14(1): tr15 ‐22. 

9 Trần Minh Điển (2010). Nghiên cứu kết quả điều trị và một số  yếu tố tiên lượng tử vong trong sốc nhiễm khuẩn trẻ em. Luận 

án tiến sỹ y học. Đại Học Y Hà Nội. Hà Nội. 

 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w