1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu thực trạng các rối loạn lo âu, trầm cảm ở học sinh trường tiểu học Hoàng Văn Thụ thành phố Thái Nguyên

6 193 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 137,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết là nghiên cứu thực trạng các rối loạn lo âu, trầm cảm ở học sinh trường tiểu học Hoàng Văn Thụ Thành phố Thái Nguyên. Phương pháp: nghiên cứu được tiến hành qua 2 bước, thực hiện trên một mẫu 744 học sinh từ 6 – 11 tuổi, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Trang 2

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÁC RỐI LOẠN LO ÂU, TRẦM CẢM Ở HỌC

SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG VĂN THỤ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Đàm Thị Bảo Hoa 1* , Nguyễn Thị Phương Loan 2 1

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

2 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu thực trạng các rối loạn lo âu, trầm cảm ở học sinh trường tiểu học Hoàng

Văn Thụ Thành phố Thái Nguyên

Phương pháp: nghiên cứu được tiến hành qua 2 bước, thực hiện trên một mẫu 744 học sinh từ 6 –

11 tuổi, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

Kết quả: tổng số trẻ có rối loạn 5,24%, trong đó trầm cảm là 4,7%, rối loạn lo âu 2,28% Trong số

trẻ có rối loạn trầm cảm: trầm cảm đơn thuần chỉ chiếm 28,57%, trầm cảm phối hợp với các rối

loạn khác chiếm 71,43% Trong số trẻ có rối loạn lo âu: lo âu ám ảnh sợ đơn thuần là 5,88%, lo âu

kết hợp xấp xỉ 94% Trong 39 trẻ có rối loạn trầm cảm, lo âu thì chỉ có10 trẻ có rối loạn trầm cảm

đơn thuần (25,64%), 1 trẻ có rối loạn lo âu ám ảnh sợ (2,56%) còn lại chủ yếu là các rối loạn kết

hợp (71,77%) trong đó trầm cảm kết hợp với lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất (25,64%)

Từ khóa: Thực trạng, lo âu, trầm cảm, trẻ em rối loạn cảm xúc, rối loạn hỗn hợp

Rối loạn tâm thần, hành vi trẻ em và thanh

thiếu niên là vấn đề phổ biến ở mọi quốc gia

trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong đó,

thường gặp nhất là các rối loạn lo âu, trầm

cảm Đặc biệt, trẻ em thường chịu tác động

bởi nhiều yếu tố: môi trường sống, áp lực học

hành, sang chấn tâm lý, sự biến đổi lớn về

sinh học và cơ thể nên rất nhậy cảm và dễ bị

tổn thương Theo các số liệu điều tra gần

đây của hầu hết các quốc gia trên thế giới rối

loạn lo âu, trầm cảm ngày càng có chiều

hướng gia tăng Ở Mỹ, trầm cảm chủ yếu gặp

ở 1% trẻ mẫu giáo, 2% ở trẻ thiếu niên và 5 –

8 % ở trẻ vị thành niên Khoảng 10% trẻ em

có các rối loạn lo âu [1], [10] Ở Việt Nam

theo nghiên cứu của trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn cho thấy tỷ lệ trẻ em và

thanh thiếu niên có biểu hiện của trầm cảm và

lo âu là 13,14%[6] Tuy nhiên lo âu, trầm

cảm trẻ em thường không được phát hiện và

can thiệp kịp thời, thích đáng Các rối loạn

này kéo dài sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự phát

triển tư duy của đứa trẻ, đến nhận thức, tính

quyết đoán và nghiêm trọng hơn là ảnh

hưởng đến học tập, sinh hoạt hàng ngày Hậu

*

quả dẫn đến không có khả năng thích ứng với trường học, dễ chuyển trường, quan hệ với bạn bè kém, giảm tính tự trọng, dễ mắc tệ nạn

xã hội, khó điều chỉnh được cảm xúc, hành vi

và có thể dẫn đến nguy cơ tự sát Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở khu vực Miền núi phía Bắc với dân số khoảng 1.127.000, là nơi sinh sống của 8 dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, H’mông, Sán Chay, Hoa và Dao

Khoảng 1/3 dân số Thái Nguyên ở độ tuổi <

18 Với đặc điểm là trung tâm của khu vực Miền núi phía bắc, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và trường học nên Thái Nguyên

có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng là tỉnh có nhiều vấn đề xã hội phức tạp trong đó

có vấn đề rối loạn tâm thần và hành vi ở trẻ

em và thanh thiếu niên Để góp phần tìm hiểu thực trạng các rối loạn trầm cảm và lo âu ở trẻ

em thành phố Thái Nguyên, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:

Nghiên cứu thực trạng các rối loạn lo âu, trầm cảm ở học sinh trường tiểu học Hoàng Văn Thụ Thành phố Thái Nguyên

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đố i tượng nghiên cứu: 744 học sinh từ lớp 1

đến lớp 5 trường tiểu học Hoàng Văn Thụ

Thành phố Thái Nguyên

Trang 3

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Tháng 01/2010

- Địa điểm: Trường tiểu học Hoàng Văn Thụ

Thành phố Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Phương pháp chọn mẫu

- Mẫu nghiên cứu là toàn bộ học sinh trường

tiểu học Hoàng Văn Thụ được cha mẹ đồng ý

tham gia nghiên cứu sau khi đã được thông

báo về yêu cầu, mục đích nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: những trẻ mà cha mẹ từ

chối tham gia nghiên cứu

Chỉ tiêu nghiên cứu

- Các đặc điểm nhóm nghiên cứu: tuổi, giới

- Thực trạng, đặc điểm lâm sàng rối loạn lo

âu, trầm cảm ở học sinh Trường tiểu học

Hoàng Văn Thụ Thành phố Thái Nguyên

- Đặc điểm các rối loạn phối hợp trong rối

loạn trầm cảm và lo âu

Kỹ thuật thu thập số liệu

- Thiết kế mẫu bệnh án nghiên cứu phù hợp

với yêu cầu và mục đích nghiên cứu

- Số liệu được thu thập qua 2 bước

+ Bước 1: sàng lọc trẻ có vấn đề sức khỏe tâm

thần bằng thang SDQ 25

+ Bước 2: khám lâm sàng tâm thần trẻ có vấn

đề sức khẻ tâm thần sau khi đã sàng lọc bằng

thang SDQ 25 (SDQ25 > 14điểm) để xác

định chẩn đoán theo các tiêu chí chẩn đoán

các rối loạn trầm cảm và lo âu ICD10 [8]

* Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu (F41)

1 Sợ hãi (lo lắng về bất hạnh tương lai, cảm giác dễ cáu, khó tập trung tư tưởng )

2 Căng thẳng vận động (bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau căng đầu , run rẩy không có khả năng thư giãn)

3 Hoạt động quá mức thần kinh tự trị (đầu óc trống rỗng, ra mồ hôi, mạch nhanh, khó chịu vùng thượng vị, chóng mặt, khô mồm…)

Ở trẻ em luôn đòi hỏi được an ủi và các phàn

nàn về cơ thể tái diễn có thể trội lên

* Tiêu chuẩn chẩn đoán Trầm cảm (F32)

+ Các triệu chứng đặc trưng

1 Khí sắc trầm

2 Mất mọi quan tâm và thích thú

3 Giảm năng lượng dẫn đế tăng mệt mỏi và giảm hoạt động

+ Các triệu chứng phổ biến khác: Giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, những ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai thấy ảm đạm

và bi quan, ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng

- Phối hợp sử dụng Test Beck,Test Zung để

hỗ trợ xác định chẩn đoán trầm cảm và lo âu

Xử lý số liệu: Sử dụng sự hỗ trợ của phần

mềm STATA 10.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặ c điểm chung

Bảng 1: Đặc điểm chung

Tuổi

Giới

Tổng

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 4

Nhận xét: - tỷ lệ trẻ ở các khối không đồng đều nhau

- tỷ lệ trẻ nam và nữ tương đương nhau nam 50,94%, nữ 49,06%

Kết quả khám lâm sàng của bác sỹ chuyên khoa tâm thần

Bảng 2: Kết quả khám lâm sàng

Kết quả khám lâm sàng Số Lượng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: tỷ lệ các rối loạn trầm cảm là 4,7%, rối loạn lo âu 2,28%, tổng số trẻ có rối loạn 5,24%

Bảng 3: Đặc điểm rối loạn trầm cảm

Các hình thái Số Lượng (n) Tỷ lệ (%)

Trầm cảm đủ tiêu chuẩn phối hợp rối loạn khác 19 54,29

Nhận xét: rối loạn trầm cảm đơn thuần chiếm tỷ lệ thấp 28,57%, phần lớn là trầm cảm phối hợp các rối loạn khác chiếm 71,43%

Bảng 4: Đặc điểm các rối loạn lo âu

Các hình thái Số Lượng (n) Tỷ lệ (%)

Lo âu đủ TC chẩn đoán kết hợp rối loạn khác 10 58,82

Nhận xét: rối loạn lo âu ám ảnh sợ đơn thuần gặp 1 trường hợp tỷ lệ 5,88%, chủ yếu là rối loạn lo

âu kết hợp chiếm tỷ lệ xấp xỉ 94%

Bảng 5: Đặc điểm các rối loạn kết hợp với các rối loạn trầm cảm và lo âu

Các hình thái Số Lượng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: các hình thái rối loạn lo âu kết hợp trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất 25,64%

Trang 5

BÀN LUẬN

Đặ c điểm nhóm nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu là những trẻ em tuổi từ 6

đến 10 tuổi, trong đó nhiều nhất là nhóm 9

tuổi (học sinh khối 4)

Tỷ lệ giữa học sinh nam và nữ trong nhóm

nghiên cứu tương đối đồng đều: nam 50,94%,

nữ 49,16%

Kết quả khám lâm sàng

Trong 744 trẻ được sàng lọc bằng test

SDQ25 dành cho thầy cô giáo và phụ huynh

học sinh đã sàng lọc ra được những trẻ có

nghi ngờ biểu hiện rôi nhiễu tâm trí Những

trẻ này sau đó được các bác sỹ chuyên khoa

tâm thần khám lâm sàng và được đánh giá bổ

xung bằng test Beck, test Zung Kết quả có 35

trẻ có biểu hiện trầm cảm chiếm tỷ lệ 4,7%,

rối loạn lo âu có 17 trẻ chiếm tỷ lệ 2,28% và

tổng số trẻ có biểu hiện rối loạn là 39 trẻ

chiếm tỷ lệ 5,24% Với kết quả nghiên cứu

này của chúng tôi tỷ lệ trẻ bị trầm cảm, lo âu

thấp hơn so với 1 số tác giả khác như: nghiên

cứu dịch tễ của khoa tâm lý trường đại học

Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc

Gia Hà Nội nghiên cứu trên học sinh 1 số

trường trung học phổ thông Hà Nội trẻ em có

rối loạn lo âu, trầm cảm là 13,14% và theo kết

quả điều tra vế rôí loạn lo âu, trầm cảm ở học

sinh trung học cơ sở Long Xuyên tỷ lệ này là

16,56% [3], [6] Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu trên

có lẽ do nhóm trẻ chúng tôi tiến hành nghiên

cứu là những trẻ nhỏ tuổi từ 6 đến 10 với lứa

tuổi này thường trẻ ít bị tác động về tâm lý

hơn, hơn nữa sự thay đổi về tâm sinh lý chưa

có biến đổi nhiều

Đặ c điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm:

Trong 35 trẻ có biểu hiện trầm cảm thì trầm

cảm đơn thuần chiếm tỷ lệ 28,57%, trong đó

trầm cảm đủ tiêu chuẩn chẩn đoán là 22,86%

Trầm cảm kết hợp rối loạn khác chiếm tỷ lệ

71,43% ( bao gồm 54,29% trầm cảm đủ tiêu

chuẩn chẩn đoán phối hợp rối loạn khác và

17,14% trầm cảm dưới ngưỡng kết hợp)

Như vậy nghiên cứu của chúng tôi cũng phù

hợp với 1 số tác giả khác như Nguyễn Thị

Kim Hạnh, Nguyễn Hữu Kỳ…[2], [4] đó là trầm cảm đơn thuần thường gặp với tỷ lệ thấp , đa số các trường hợp trầm cảm kèm theo một số rối loạn khác Ngoài ra nghiên cứu của chúng tôi còn gặp 17,14% là trầm cảm phối hợp dưới ngưỡng là những trầm cảm có thể

đủ tiêu chuẩn chẩn đoán về lâm sàng nhưng

chưa đủ về mặt thời gian

Đặ c điểm lâm sàng của rối loạn lo âu:

Cũng như rối loạn trầm cảm kết quả nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn lo âu thường ít gặp rối loạn lo âu đơn thuần mà gặp chủ yếu là rối loạn lo âu phối hợp các rối loạn khác Trong 17 trẻ có rối loạn lo âu thì có tới

16 trẻ có rối loạn lo âu kết hợp với rối loạn khác chiếm tỷ lệ gần 94%

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thọ: rối loạn lo âu đơn thuần ở trẻ em thường gặp tỷ lệ thấp, thường gặp có triệu chứng của lo âu phối hợp với một hoặc nhiều rối loạn khác [7]

Đặ c điểm rối loạn kết hợp trong các rối loạn

lo âu và trầm cảm

Trong 39 trẻ có rối loạn về các mặt tâm thần thì chỉ có10 trẻ có rối loạn trầm cảm đơn thuần (25,64%), 1 trẻ có rối loạn lo âu ám ảnh

sợ (2,56%) còn lại chủ yếu là các rối lọan tâm thần kết hợp (71,77%): Trong đó trầm cảm kết hợp với lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất (25,64%), trầm cảm kết hợp với tăng động, giảm chú ý (17,95%) Ngoài ra còn gặp các rối loạn phối hợp giữa trầm cảm, lo âu với rối loạn ứng xử, ám ảnh, nghiện điện tử Các rối loạn kết hợp này thường làm cho bệnh nặng hơn và quá trình can thiệp gặp nhiều khó khăn hơn Trên thực tế trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã gặp những trẻ có biểu hiện trầm cảm + lo âu quá mức dẫn đến có hành vi tự sát nhiều lần

KẾT LUẬN

- Trong 744 trẻ tham gia vào nghiên cứu tỷ lệ các rối loạn trầm cảm là 4,7%, rối loạn lo âu 2,28%, tổng số trẻ có rối loạn 5,24%

- Trong số trẻ có rối loạn trầm cảm: trầm cảm

đơn thuần chiếm tỷ lệ thấp 28,57%, phần

lớn là trầm cảm phối hợp các rối loạn khác chiếm 71,43%

Trang 6

- Trong số trẻ có rối loạn lo âu: rối loạn lo âu

ám ảnh sợ đơn thuần gặp 1 trường hợp tỷ lệ

5,88%, chủ yếu là rối loạn lo âu kết hợp

chiếm tỷ lệ sấp xỉ 94%

- Trong 39 trẻ có rối loạn trầm cảm, lo âu thì

chỉ có10 trẻ có rối loạn trầm cảm đơn thuần

(25,64%), 1 trẻ có rối loạn lo âu ám ảnh sợ

(2,56%) còn lại chủ yếu là các rối loạn kết

hợp (71,77%): Trong đó trầm cảm kết hợp

với lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất (25,64%)

KHUYẾN NGHỊ

- Cần tuyên truyền cho cộng đồng đặc biệt là

cha mẹ và giáo viên về các rối loạn tâm thần

và hành vi ở trẻ em đặc biệt là các rối loạn

trầm cảm, lo âu để kịp thời nhận biết và can

thiệp, giúp đỡ

- Cần có thêm các nghiên cứu sâu rộng hơn

về các rối loạn tâm thần và hành vi ở lứa tuổi

học sinh tiểu học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dorothy S (2007), Child and Adolescent

Psychiatry: A Practical Guide, 1st Edition,

Lippincott Williams & Wilkins: 58 – 68

[2] Nguyễn Thị Kim Hạnh và cộng sự (2005),

Nghiên cứu tỷ lệ mắc và một số yếu tố liên

quan đến 10 nhóm bệnh tâm thần thường gặp

tại Thanh Hoá

[3] Trần Thị Huyền (2006), Nghiên cứu rối loạn

lo âu ở học sinh một số trường trung học cơ sở thành phố Long Xuyên, An Giang

[4] Nguyễn Hữu Kỳ (2004), Nghiên cứu tỷ lệ mắc

và một số yếu tố liên quan đến 10 nhóm bệnh tâm thần thường gặp tại phường Đúc thành phố Huế

[5] Linda W (2005), Essentials of Child Psychopathology, John Wiley & Sons, Inc: 61 – 81

[6] Nguyễn Hằng Phương (2005) Nghiên cứu dịch

tễ các rối loạn tâm thần ở học sinh trung học phổ thông, Hà Nội

[7] Nguyễn Văn Thọ ( 2007), Nghiên cứu thành lập mô hình chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho học sinh phổ thông ở Đồng Nai, Kỷ yếu hội thảo khoa

học “chăm sóc sức khoẻ tinh thần”, Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam Tr: 245 – 265

[8] Tổ chức Y tế thế giới (1992), Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD – 10), Geneva

[9] Trần Đình Xiêm (1997), Tâm thần học,

Trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

[10] Benjamin J.S.; Virginia A.S (2007), Kaplan

& Sadock's Synopsis of Psychiatry: Behavioral Sciences/Clinical Psychiatry, 10th Edition, Lippincott Williams & Wilkins: 1259 – 1282

[11] William M Klykylo and Jerald L Kay

(2005), Clinical Child Psychiatry, Second Edition,

John Wiley & Sons Ltd ISBN: 153 – 190

SUMMARY

THE FACT OF ANXIOUSTY AND DEPRESSION IN HOANG VAN THU

PRIMARY SCHOOL, THAI NGUYEN CITY

Dam Thi Bao Hoa * , Nguyen Thi Phuong Loan

Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy

Objective: to estimate the prevalence of anxiousty and depression disorders in Hoang Van Thu

primary school, Thai Nguyen City, Vietnam

Method: this is a two-stage cross-sectional study The study was conducted on a school- sample of

744 children, aged 6 to 11 of Hoang Van Thu primary school on the fact of anxiousty and

depression

Results: the prevalence of anxiousty and depression were 5.24%, in which, depression dissorders

were 4.7%; anxiousty dissorders were 2.88% 28.57% of the depression children were merely

depression; 71.43 % were mix depression Most of the anxiousty children were mix anxiousties

(∼94%) Merely anxiousties were very few Of the 39 affective children, most of them were mix

dissorders (71.77%) In which, depression dissorders combinated with anxiousty dissorders were

highest (25.64%)

Key words: Fact, anxiousty, depression, affective children, mix dissorder

*

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w