1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thói quen xấu về răng miệng và tình trạng sai khớp cắn ở nhóm trẻ 6-10 tuổi tại quận 8, TP. Hồ Chí Minh

5 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 272,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỉ lệ thói quen xấu về răng miệng (TQXRM) và khảo sát tương quan giữa các thói quen này và các dạng sai khớp cắn trên một nhóm trẻ 6-10 tuổi tại quận 8 thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

THÓI QUEN XẤU VỀ RĂNG MIỆNG VÀ TÌNH TRẠNG SAI KHỚP CẮN

Ở NHÓM TRẺ 6 – 10 TUỔI TẠI QUẬN 8, TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bạch Lan*, Cù Hoàng Anh*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thói quen xấu về răng miệng (TQXRM) và khảo sát tương quan giữa các thói quen

này và các dạng sai khớp cắn trên một nhóm trẻ 6-10 tuổitại quận 8thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 634 trẻ 6-10 tuổi tại quận 8, thành

phố Hồ Chí Minh, bao gồm 310 nam và 324 nữ Các TQXRM và các dạng sai khớp cắn được xác định thông qua khám lâm sàng, bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp trẻ và bảng câu hỏi dành cho phụ huynh

Kết quả: Tỉ lệ trẻ mắc phải ít nhất một TQXRM là 76,8%, trong đó nhai một bên hàm chiếm tỉ lệ cao nhất

(34,7%), tiếp theo là cắn móng tay (26,2%) và thở miệng (20,4%) Đối với đa số các dạng TQXRM, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa hai giới và giữa các độ tuổi, ngoại trừ thói quen mút cắn đồ vật (p<0,01) và cắn má (p<0,05) phổ biến ở trẻ nam hơn trẻ nữ và thói quen nhai một bên có tỉ lệ cao ở nhóm 6, 7 tuổi, giảm dần ở lứa tuổi lớn hơn (p<0,01) Nghiên cứu cho thấy một số tương quan có ý nghĩa thống kê giữa: Thở miệng – Cắn hở răng trước (p=0,016), Đẩy lưỡi – Cắn chìa quá mức (p=0,01), Mút ngón tay – Cắn hở răng trước (p=0,016), Mút ngón tay – Xoay lệch răng trước (p=0,008), Mút cắn đồ vật- Xoay lệch răng trước (p=0,021), Cắn má - Cắn kéo răng sau (p=0,004)

Kết luận: Nghiên cứu chứng minh được tương quan chặt chẽ giữa TQXRM và sai khớp cắn đồng thời cho

thấy tỉ lệ TQXRM ở nhóm trẻ khảo sát rất cao

ABSTRACT

ORAL HABITS, PREVALENCE AND EFFECTS ON OCCLUSION OF 6-10 YEAR OLD CHILDREN IN

DISTRICT 8, HO CHI MINH CITY

Nguyen Thi Bach Lan, Cu Hoang Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 2 - 2013: 92 - 96

Objectives: To determine the prevalence of oral habits and to evaluate the effect of these habits on the

occlusion in a group of 6-10 year-old children in HCM city

Methods: A cross-sectional & descriptive study was realized on 634 children aged 6-10 years from a primary

school in District 8 of Ho Chi Minh City, including 310 boys and 324 girls Oral habits and malocclusion were determined through parents’questionaire, children’s interview and clinical examination

Results: Of the total studied population, 76.8% children exhibited at least one oral habits One-side chewing

was the habit with highest prevalence (34.7%), followed by nail biting (26.2%) and mouth breathing (20.4) There was no significant difference in prevalence of habits between male and female except for object biting (p<0.01) and cheek biting (p<0.05) The relationship between age and prevalence of habits was not statistically significant except for one-side chewing (p<0.01) Significant relationship were found between mouth breathing and anterior

open bite (p=0.016), tongue thrusting and increased overjet (p=0.01), digit sucking and anterior open bite (p=0.016), digit sucking and irregularity of anterior teeth (p=0.008), object biting and irregularity of anterior teeth (p=0.021), cheek biting and scissor bite (p=0.004).

Trang 2

Conclusion: This study shows a high prevalence of bad oral habits and a tight relationship between these

harmful habits and malocclusions in primary school children in Ho Chi Minh city

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các lực cân bằng từ môi, má bên ngoài và

lưỡi bên trong giúp răng sắp xếp đều đặn trên

cung hàm Khi trẻ mắc phải TQXRM, cân bằng

này bị phá vỡ gây sai lệch vị trí răng, cản trở sự

tăng trưởng hàm mặt bình thường cũng như làm

xáo trộn chức năng hệ thống thần kinh cơ

miệng-mặt Nếu các TQXRM được phát hiện

sớm và loại trừ kịp thời ở giai đoạn răng sữa hay

giai đoạn răng hỗn hợp có thể giúp các sai lệch

răng tự điều chỉnh hoặc không tiến triển xấu

hơn, giúp giảm nhẹ điều trị chỉnh hình răng mặt

toàn diện về sau

Nghiên cứu này là một nghiên cứu thăm dò

bước đầu với các mục tiêu như sau: (1)Xác định

tỉ lệ các thói quen xấu về răng miệng thường gặp

ở trẻ em từ 6 - 10 tuổi tại quận 8, thành phố Hồ

Chí Minh (2) Khảo sát sự khác biệt tỉ lệ các thói

quen xấu về răng miệng theo tuổi và theo giới

tính (3) Đánh giá tương quan giữa các thói quen

xấu về răng miệng và các dạng sai khớp cắn

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên

mẫu thuận tiện gồm 634 trẻ từ 6 - 10 tuổi tại một

trường tiểu học công lập thuộc quận 8, TP.Hồ

Chí Minh

Các TQXRM được chọn khảo sát trong

nghiên cứu của chúng tôi bao gồm: thở miệng,

đẩy lưỡi, nhai một bên, nhóm thói quen mút

(mút ngón tay, mút cắn môi, mút cắn đồ vật),

nhóm thói quen cắn (cắn móng tay, cắn má),

nghiến răng Việc xác định trẻ có hay không các

TQXRM nêu trên được thực hiện thông qua

khám lâm sàng kết hợp với phỏng vấn trẻ và

phụ huynh Việc phỏng vấn phụ huynh thông

qua bảng câu hỏi soạn sẵn điền tại nhà Việc

phỏng vấn trẻ diễn ra độc lập và trước quá trình

khám lâm sàng

Khám đánh giá biểu hiện của TQXRM bao

gồm:

Khám mũi: hình dạng lỗ mũi, tình trạng thở Khám môi: tình trạng niêm mạc môi, khả năng khép kín môi

Khám lưỡi: kích thước, dấu răng trên bờ lưỡi, vị trí đặt lưỡi ở tư thế nghỉ, điểm bám thắng lưỡi

Khám ngón tay: da nhăn nheo, chai sẹo Khám móng tay: móng nham nhở, sắc nhọn Khám niêm mạc má: các vết sẹo chai tương ứng với bờ nhai các răng sau

Một TQXRM được ghi nhận là có nếu thông tin thu thập từ việc phỏng vấn phụ huynh và trẻ đồng thuận dương tính với kết quả khám lâm sàng

Các dạng sai khớp cắn khảo sát bao gồm: Tương quan răng cối vĩnh viễn thứ nhất theo phân loại Angle, cắn chìa quá mức, cắn chéo răng trước, cắn sâu, cắn hở răng trước, cắn chéo răng sau, cắn kéo răng sau, cắn hở răng sau, lệch đường giữa răng cửa, lệch lạc răng trước

Đánh giá độ kiên định của điều tra viên giữa

2 lần khám cho chỉ số Kappa từ 0,73 đến 1,0 Đánh giá sự đồng thuận giữa 2 điều tra viên thu được chỉ số Kappa từ 0,62 đến 1,0

Dữ liệu từ phiếu khám và các bảng câu hỏi được nhập và mã hóa bằng phần mềm Excel

2007, sau đó được đưa vào xử lý bằng phần mềm Stata 10.0 Các khác biệt về tỉ lệ TQXRM theo tuổi và giới được xác định bằng phép kiểm chi bình phương Pearson và Fisher’s Exact với độ tin cậy 95% (p<0.05) Để khảo sát mối tương quan giữa các dạng TQXRM và các dạng SKC, chúng tôi sử dụng phân tích hồi quy logistic

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là 634 trẻ bao gồm 324 trẻ

nữ, chiếm tỉ lệ 51,1% và 310 trẻ nam, chiếm tỉ lệ 48,9% Tỉ lệ trẻ thuộc 5 lứa tuổi 6,7,8,9 và 10 lần lượt là 27,4%, 29,5%, 11,4%, 11,7% và 20%

Trang 3

Tỉ lệ thói quen xấu về răng miệng

Số trẻ mắc phải một trong các dạng TQXRM

khảo sát trong nghiên cứu là 487 trong tổng số

634 trẻ, chiếm tỉ lệ 76,8% Tỉ lệ này rất cao so với

các nghiên cứu khác cùng thể loại: Andrija

Bošnjak(1)và cs (2002) nghiên cứu trên 1025 trẻ

6-11 tuổi báo cáo tỉ lệ này là 33,37%, Deepak(2) và cs

(2009)(1000 trẻ 11-13 tuổi) tỉ lệ 38%, Quashie(7)và

cs (2010) (928 trẻ 4-15 tuổi) tỉ lệ 34,1%

Tỉ lệ phần trăm các loại TQXRM khảo sát

trong nghiên cứu được biểu diễn theo biểu đồ 1

Biểu đồ 1: Tỉ lệ răng miệng phần trăm thói quen xấu

được khảo sát trong nghiên cứu

So với nghiên cứu của Andrija Bošnjak và cs (2002), Deepak và cs (2009), Quashie và cs (2010)

là 3 nghiên cứu có cỡ mẫu tương đương, cũng khảo sát nhiều loại thói quen xấu răng miệng- thì các tỉ lệ biểu diễn ở Biểu đồ 1 cao hơn nhiều

So với các nghiên cứu khác chỉ khảo sát một loại thói quen xấu răng miệng thì tỉ lệ này là tương đương hoặc thấp hơn Cụ thể, Valdenice Aparecida de Menezes(11) và cs (2007) nghiên cứu

về thở miệng cho tỉ lệ 55,2%, Rajchanovska Domnika(8) và cs (2010) nghiên cứu về cắn móng tay cho tỉ lệ 22,02%

Sự khác biệt trên có thể do yếu tố địa dư, do

đó cần mở rộng địa bàn khảo sát và cỡ mẫu để xác định vai trò của yếu tố địa lý trên tỉ lệ thói quen xấu răng miệng

Sự phân bố các dạng TQXRM theo giới tính và độ tuổi

Bảng 1: Phân bố các dạng thói quen xấu về răng miệng theo giới tính và độ tuổi

Nữ Nam 6 tuổi 7 tuổi 8 tuổi 9 tuổi 10 tuổi

n (%) n (%) p n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) P

Thở miệng 69 (10,9) 60 (9,5) 0,557 26 (4,1) 37 (5,8) 14 (2,2) 22 (3,5) 30 (4,7) 0,09

Nhai một bên 118 (18,6) 102(16,1) 0,528 70 (11,0) 79 (12,5) 20(3,2) 16 (2,5) 35 (5,5) 0,002 Mút ngón tay 55 (8,7) 55(8,7) 0,797 36 (5,7) 28 (4,4) 7 (1,1) 14 (2,2) 25 (3,9) 0,223 Mút môi 43 (6,8) 52 (8,2) 0,203 26 (4,1) 26 (4,1) 10 (1,6) 8 (1,3) 25 (3,9) 0,524 Mút cắn vật 41 (6,5) 66 (10,4) 0,004 30 (4,7) 30 (4,7) 14 (2,2) 9 (1,4) 24 (3,8) 0,827 Cắn móng tay 78 (12,3) 88 (13,9) 0,205 43 (6,8) 44 (6,9) 28 (4,4) 16 (2,5) 35 (5,5) 0,121

Nghiến răng 37 (5,8) 40 (6,3) 0,4 26 (4,1) 21 (3,3) 12 (1,9) 7 (1,1) 11 (1,7) 0,225 TQXRM 246 (38,8) 241 (38,0) 0,588 138 (21,8) 139 (21,9) 58 (9,1) 54 (8,5) 98 (15,5) 0,655 Nhìn chung, không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về tỉ lệ mắc phải TQXRM giữa

nam và nữ trong nghiên cứu này (p > 0,05) Điều

này phù hợp với kết quả từ các nghiên cứu tại

Việt Nam (Vũ Hải Liêm (2010)(12)) cũng như trên

thế giới (châu Á: Deepak P.B (2009)(2); châu Phi:

Quashie (2010)(7); châu Âu: Andrija B (2002)(1))

Tuy nhiên, khi xét riêng từng loại TQXRM,

tật mút cắn đồ vật (chủ yếu là cắn bút) phổ biến

ở trẻ nam (10,4%) hơn trẻ nữ (6,5%) có ý nghĩa

thống kê (p = 0,004) Tật cắn má cũng phổ biến ở trẻ nam (5,7%) hơn trẻ nữ (3,6%) (p = 0,05) Theo Massler, các TQXRM kéo dài lâu hơn ở trẻ nam

so với trẻ nữ bởi vì các bé trai thường có khuynh hướng chống lại các quy định của gia đình hoặc

xã hội(6) Kết quả trình bày ở bảng 1cho thấy không có

sự khác biệt có ý nghĩa trong sự phân bố tỉ lệ của

đa số các dạng TQXRM theo độ tuổi (p>0,05) Điều này phù hợp với nghiên cứu của Andrija B

Trang 4

(2002)(1) trên trẻ Croatia 6-11 tuổi

Xét riêng từng loại TQXRM, có sự khác biệt

có ý nghĩa ở thói quen nhai một bên với tỉ lệ cao

ở nhóm 6, 7 tuổi và giảm đi nhiều ở nhóm 8, 9, 10

tuổi (p<0,01) Cần các nghiên cứu dọc với cỡ mẫu lớn hơn để chứng thực và giải thích thấu đáo phát hiện này

Tương quan giữa các dạng thói quen xấu về răng miệng và các dạng sai khớp cắn

Bảng 2: Tương quan giữa các thói quen xấu về răng miệng và các dạng sai khớp cắn

N = 634 Thở miệng ðẩy lưỡi Nhai một bên Mút môi Mút ngón

tay

Mút cắn ñồ vật

Cắn má Cắn móng

tay

Nghiến rang n(%) n(%) n(%) n(%) n(%) n(%) n(%) n(%) n(%)

Lệch ñường giữa R cửa 61 (9,6) 14 (2,2) 96 (15,1) 43 (6,8) 44 (6,9) 45 (7,1) 26 (4,1) 77 (12,1) 33 (5,2) Cắn chéo răng sau 4 (0,6) 0 (0) 8 (1,3) 2 (0,3) 4 (0,6) 5 (0,8) 0 (0) 3 (0,5) 2 (0,3) Cắn kéo răng sau 0 (0) 1 (0,2) 3 (0,5) 2 (0,3) 2 (0,3) 2 (0,3) 4 (0,6) 4 (0,6) 0 (0) Cắn sâu 36 (5,7) 9 (1,4) 51 (8) 27 (4,3) 31 (4,9) 26 (4,1) 14 (2,2) 30 (4,7) 19 (3) Cắn hở răng trước 7 (1,1) 0 (0) 8 (1,3) 1 (0,2) 5 (0,8) 2 (0,3) 0 (0) 2 (0,3) 2 (0,3)

Cắn chìa quá mức 32 (5) 12 (1,9) 47 (7,4) 18 (2,8) 25 (3,9) 22 (3,5) 7 (1,1) 26 (4,1) 17 (2,7) Cắn chéo răng trước 12 (1,9) 2 (0,3) 18 (2,8) 11 (1,7) 8 (1,3) 8 (1,3) 8 (1,3) 17 (2,7) 6 (0,9) Hạng II 25 (3,9) 5 (0,8) 39 (6,2) 23 (3,6) 21 (3,3) 19 (3,0) 9 (1,4) 31 (4,9) 13 (2,1) Hạng III 18 (2,8) 5 (0,8) 25 (3,9) 17 (2,7) 16 (2,5) 12 (1,9) 14 (2,2) 22 (3,5) 8 (1,3) Xoay lệch răng trước 16 (2,5) 3 (0,5) 16 (2,5) 14 (2,2) 17 (2,7) 5 (0,8) 4 (0,6) 19 (3) 10 (1,6) Thở miệng: Nghiên cứu ghi nhận mối tương

quan có ý nghĩa thống kê giữa thở miệng và cắn

hở răng trước (p=0.016) Nhiều tài liệu y văn cũng

khẳng định cắn hở răng trước là một dạng SKC

thường gặp ở trẻ thở miệng Điều này phù hợp

với kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi cũng

như của Souki BQ (2009)(9) và Vũ Hải Liêm

(2010)(12)

Đẩy lưỡi: Cắn chìa quá mức tương quan có ý

nghĩa với đẩy lưỡi (p=0.010) Kết quả này phù

hợp với nghiên cứu của Tahereh Jalaly và cs

(2009)(10) khi khẳng định độ cắn chìa trung bình

tăng có ý nghĩa ở nhóm trẻ có đẩy lưỡi (p<0.05)

Nhai một bên: Không tìm thấy tương quan

giữa nhai một bên và sai khớp cắn mặc dù tỉ lệ

trẻ có lệch đường giữa răng cửa ở nhóm có thói

quen nhai một bên là cao nhất Điều này phù

hợp với nhận định của H Yamaguchi (2003)(3)

rằng trẻ có thói quen nhai một bên có thể dẫn

đến sự nghiêng sang bên của mặt phẳng khớp

cắn và sự lệch đường giữa răng dưới sang bên

ăn nhai

Mút ngón tay: Nghiên cứu của chúng tôi ghi

nhận được mối tương quan có ý nghĩa thống kê

giữa thói quen mút ngón tay và tình trạng cắn hở

răng trước (p=0.016) Điều này phù hợp với

nghiên cứu của Vũ Hải Liêm (2010)(12) tại Hà Nội cũng như nhiều báo cáo dịch tễ học và tài liệu lâm sàng khác trên thế giới trước đây như Gellin

ME (1978), Larsson E (1987), Fukutua O.(1996), Warren JJ (2005)(13) Đặc biệt chúng tôi có ghi nhận được sự liên hệ có ý nghĩa rất cao giữa mút

ngón tay và tình trạng lệch lạc răng trước

(p=0,008), điều này cũng từng được Larsson E báo cáo năm 1994(5)

Mút cắn đồ vật: Trong nghiên cứu này, ghi nhận được mối tương quan có ý nghĩa thống kê

giữa mút cắn đồ vật với tình trạng lệch lạc răng

trước (p=0,021) Điều này cũng phù hợp với

những nhận định trong y văn thế giới vì thói quen mút cắn đồ vật thường chỉ tác động khu trú trên một vài răng chịu lực(5), trong đó vùng răng trước thường thuận tiện cho trẻ đặt vật hơn Bên cạnh đó, cắn bút bi là thói quen phổ biến nhất trong nhóm này

Cắn má: Trong nghiên cứu này, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong sự phân bố của

thói quen cắn má với cắn kéo răng sau (p=0,04)

Trên một khớp cắn bình thường, độ phủ ngoài của răng sau trên giúp giữ cho niêm mạc môi má tách khỏi mặt nhai của răng sau dưới trong quá trình ăn nhai Độ phủ ngoài quá mức của các

Trang 5

răng trên trong cắn dạng kéo hoàn toàn có thể là

yếu tố khởi phát cho thói quen này Nhưng xét ở

khía cạnh khác, động tác cắn kèm mút má có thể

tạo các lực bất thường làm thu hẹp cung răng

dưới gây cắn kéo

Mút cắn môi, cắn móng tay, nghiến răng:

Nghiên cứu này không ghi nhận được mối

tương quan có ý nghĩa thống kê nào giữa 3

TQXRM này với các dạng SKC

KẾT LUẬN

Tỉ lệ thói quen xấu răng miệng khảo sát

trong nghiên cứu rất cao

Đối với đa số TQXRM, không có sự khác biệt

thống kê trong sự phân bố theo giới tính và độ

tuổi

Nghiên cứu khẳng định tương quan chặt chẽ

giữa TQXRM và tình trạng khớp cắn ở bộ răng

hỗn hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andrija B (2002) Incidence of oral habits in children with

mixed dentition Journal of Oral Rehabilitation, 29: 902-905

2 Deepak PB, Tarulatha RS (2009) Prevalence of Oral Habits in

11–13 year-old School Children in Gulbarga city, India

Virtual Journal of Orthodontics, 8(3): 1-4

3 Francisco JMP (2011) Prevalence of non-nutritive buccal habits in a group of preschoolchildren in Nezahualcoyotl City, Mexico Bol Med Hosp Infant Mex 2011, 68(1): 24-33

4 Hideharu Y, Kenji S (2003) Malocclusion associated with abnormal posture Bull Tokyo dent, 44 (2): 43-54

5 Larsson E (1994) Artificial sucking habits, etiology, prevalence and effect on oclusion Int J Orofacial Myology, 20: 10-21

6 Massler M (1983) Oral Habits: Development and Management The Journal of Pedodontics, 7(2): 109-119

7 Quashie WR, Da Costa OO (2010) Oral habits, prevalence and effects on occlusion of 4-15 year old school children in Lagos, Nigeria Niger Postgrad Med J, 17(2): 113-120

8 Rajchanovska D (2010) Prevalence of nail biting among preschool children in Bitola The journal of special education and rehabilitation

9 Souki BQ, Pimenta GB (2009) Prevalence of malocclusion among mouth breathing children: do expectations meet reality? Int J Pediatr Otorhinolaryngol, 73(5): 767-773

10 Tahereh J, Farzaneh A (2009) Effect of tounge thrust swallowing on position of anterior teeth Journal of Dental research, Dental clinics, Dental Prospects, 3(3): 73-77

11 Valdenice A (2007) Influence of socio-economic and demographic factors in determining breathing patterns: a pilot study Rev.Bras.Otorrinolaringol, 73(6)

12 Vũ Hải Liêm (2010) Nhận xét mối liên quan giữa thói quen răng miệng xấu và lệch lạc khớp cắn ở trẻ em 7 – 11 tuổi tại trường tiểu học Tân Mai Hà Nội Đại học Y Hà Nội

13 Warren JJ, Slayton RL (2005) Effects of nonnutritive sucking habits on occlusal characteristics in the mixed dentition Pediatr Dent, 27(6): 445-450

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm