1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi robot cắt u sau phúc mạc ở trẻ em: Báo cáo trường hợp đầu tiên ở Việt Nam

4 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 233,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về phẫu thuật nội soi robot trong điều trị các khối u ở trẻ em và báo cáo trường hợp đầu tiên ở Việt nam phẫu thuật nội soi robot thành công cắt u sau phúc mạc ở trẻ em. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phẫu thuật nội soi robot có thể thực hiện an toàn cắt u sau phúc mạc trong một số trường hợp chọn lọc ở trẻ em.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học

PHẪU THUẬT NỘI SOI ROBOT CẮT U SAU PHÚC MẠC Ở TRẺ EM:

BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM

Trần Ngọc Sơn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Phẫu thuật nội soi robot (PTNSR) còn ít được báo cáo trong điều trị các khối u ở trẻ em Chúng

tôi báo cáo trường hợp đầu tiên ở Việt nam PTNSR thành công cắt u sau phúc mạc ở trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu một ca bệnh

Kết quả: Bệnh nhân là trẻ nữ 6 tuổi, nhập viện vì lý do đau bụng từ 1 vài ngày trước Siêu âm và CT phát

hiện khối u dạng hỗn hợp phần đặc và nang nghi teratoma ở vị trí thượng thận phải 41 x 53 mm Khối đè đẩy cực trên thận phải và gan phải, nằm sát bên phải tĩnh mạch chủ dưới và tới sát cuống mạch thận P Bệnh nhân được PTNSR, sử dụng 5 trocar đi qua phúc mạc: 4 trocar cho các cánh tay robot và 1 trocar cho bác sĩ phụ mổ Khối u đươc phẫu tích tách khỏi các tổ chức xung quanh rồi cắt bỏ cho vào túi và cắt nhỏ đưa ra ngoài Thời gian mổ 100 phút Sau mổ bệnh nhân phục hồi tốt, ăn đường miệng từ ngày thứ 2 sau mổ Kết quả giải phẫu bệnh: teratoma trưởng thành Theo dõi sau ra viện 8 tháng sau mổ, bệnh nhân sức khỏe tốt, siêu âm không thấy u tái phát

Kết luận: PTNSR có thể thực hiện an toàn cắt u sau phúc mạc trong một số trường hợp chọn lọc ở trẻ em

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi robot.

ABSTRACT

ROBOTIC LAPAROSCOPIC RESECTION OF A RETROPERITONEAL TUMOR IN A CHILD: REPORT

OF THE FIRST CASE IN VIETNAM

Tran Ngoc Son * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 213 - 216

Objective: Reports on robotic laparoscopic surgery (RLS) for childhood tumors are still scant We report the

first case of successful robotic laparoscopic resection of a retroperitoneal tumor in a child in Vietnam

Methods: This is a case report with review of the literature

Results: The child was a 6 year old girl who suffered from abdominal pain several days prior to admission to

our hospital There were no remarkable findings in the past history, clinical examination or routine blood tests Ultrasound and CT scan showed a cystic tumor in the right suprarenal location with heterogenous characteristics, suspected for a teratoma, compressing the right liver and upper pole of the right kidney, in close relationship with the inferior vena cava (IVC) and the right kidney vessels The child underwent RLS, using 5 transperitoneal trocars: 4 trocars for robotic arms and 1 trocar for an assistant The tumor was dissected free from the surrounding structures The whole tumor were resected and placed into a nylon bag, morcelated and removed via the umbilical port The blood loss was insignificant The operative time was 100 minutes The patient recovered well, resumed oral feeding on second postoperative day The histology study showed a mature teratoma At a follow-up of 8 month, the child was in good health and ultrasound showed no recurrence

Conclusions: RLS can be performed safely for resection of selected cases of retroperitoneal tumor in children Keywords: Robotic laparoscopic surgery.

*Bệnh viện Nhi Trung Ương

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015

Chuyên Đề Ngoại Nhi 214

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật nội soi có robot hỗ trợ (robot

assisted laparoscopic surgery), hay được gọi tắt

là phẫu thuật nội soi robot (robotic surgery), đã

được ứng dụng khá nhiều trong điều trị các

bệnh ngoại khoa ở bệnh nhân người lớn, trong

đó có cả lĩnh vực phẫu thuật các khối u

Tuy nhiên ứng dụng của phẫu thuật nội soi

robot (PTNSR) trên trẻ em còn hạn chế, đặc biệt

là trong phẫu thuật các khối u ở bệnh nhi(3) Ở

Việt nam cho đến nay còn chưa cón nghiên cứu

nào về lĩnh vực này Chúng tôi báo cáo trường

hợp đầu tiên PTNSR thành công cắt u sau phúc

mạc trên bệnh nhi ở Việt nam

BÁO CÁO CA BỆNH

Bệnh nhân là trẻ nữ 6 tuổi, nhập viện vì lý do

đau bụng từ vài ngày trước Tiền sử gia đình,

khám lâm sàng và xét nghiệm máu (bao gồm cả

alphafeto protein) không có gì đặc biệt Siêu âm

phát hiện khối u dạng hỗn hợp phần đặc và

nang ở vị trí thượng thận phải Chụp CT thấy có

khối bao gồm nang và phần đặc vùng tuyến

thượng thận phải 41 x 53 mm, cấu trúc không

đồng nhất Khối đè đẩy cực trên thận phải và

gan phải, nằm sát bên phải tĩnh mạch chủ dưới

và tới sát cuống mạch thận P, nghĩ đến teratoma

thượng thận P (Hình 1 và Hình 2)

Bệnh nhân được PTNSR, sử dụng 5 trocar đi

qua phúc mạc: 4 trocar 5,5 mm-8,5 mm cho các

cánh tay robot (1trocar cho camera qua rốn, 2

trocar ở hạ sườn phải, 1 trocar ở hạ sườn trái gần

đường giữa ) và 1 trocar 5,5 mm cho dụng cụ của

bác sĩ phụ mổ bên phải rốn Khối u đươc phẫu

tích tách khỏi cực trên thận phải, khỏi gan phải,

tách dần u khỏi tĩnh mạch chủ dưới và cuống

mạch thận phải, cặp clip các mạch máu vào u

Trong mổ có tổn thương rách nhỏ nhu mô gan

phải do dụng cụ vén gan, nhưng tự cầm máu,

không phải xử trí gì

Toàn bộ khôi u được cắt bỏ cho vào túi rồi

cắt nhỏ đưa ra ngoài Lượng máu mất trong mổ

không đáng kể Thời gian mổ là 100 phút Sau

mổ bệnh nhân phục hồi tốt, ăn đường miệng từ ngày thứ 2 sau mổ Kết quả giải phẫu bệnh: teratoma trưởng thành Theo dõi sau ra viện 8 tháng sau mổ, bệnh nhân sức khỏe tốt, siêu âm không thấy u tái phát

Hình 1: Khối u tính chất hỗn hợp vị trí thượng thận

phải

Hình 2: Tương quan khối u với tĩnh mạch chủ dưới

và cuống mạch thận phải

BÀN LUẬN

PTNSR ở trẻ em chưa được ứng dụng nhiều

so với ở người lớn, đặc biệt trong lĩnh vực cắt các khối u(3,4,5,2,1,6) Năm 2002 Gutt và cộng sự(4) là đã công bố báo cáo đầu tiên ứng dụng PTNSR thành công cắt khối u gonadoblastoma ở tiểu khung trên một trẻ nữ 16 tuổi Từ đó đến nay đã

có thêm những nghiên cứu PTNSR cắt u ở trẻ em được công bố, tuy nhiên các báo cáo này thường

là trên một ca bệnh hoặc loạt bệnh nhân với số lượng nhỏ(3,5,6) Một nghiên cứu tổng quan của Cundi T và cộng sự (3) cho thấy đến năm 2014 mới có 23 báo cáo về PTNSR cắt u ở trẻ em, trong

đó có 2 nghiên cứu trên loạt nhỏ bệnh nhân và

21 báo cáo ca bệnh và với tổng số tất cả 40 bệnh

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học

nhân Các báo cáo này rất đa dạng với khoảng 20

loại phẫu thuật khác nhau

Các chỉ định ứng dụng PTNSR cắt u ở trẻ em

thường là các khối u bụng (52,5%); u vùng tiểu

khung (20%); u trung thất, lồng ngực (20%); u

vùng cổ (7,5%); trong đó các khối u sau phúc

mạc chiểm tới 1/3 tổng số các ca được báo cáo

Bệnh nhi trong báo cáo này có khối u

teratoma sau phúc mạc vị trí thượng thận phải

Đánh giá trước mổ khối u bệnh nhi này thấy có

các đặc điểm khó khăn và nguy cơ cao cho phẫu

thuật mổ mở cũng như phẫu thuật nội soi thông

thường là mối tương quan với các mạch máu lớn

xung quanh: u nằm sát tới cuống mạch thận phải

và sát bên phải tĩnh mạch chủ dưới Chúng tôi

chỉ định bệnh nhi này cho PTNSR với nhận định

các ưu điểm của PTNSR có thể được tận dụng

hợp lý trong tình huống này Trong mổ chúng

tôi đã dùng 1 dụng cụ robot nâng gan lên trên, 2

dụng cụ robot cho phẫu tích va 1 kênh dụng cụ

cho bác sĩ phụ mổ (ống hút, panh, căp clip) Khối

u đã được phẫu tích rời khỏi thành phải tĩnh

mạch chủ dưới, khỏi động mạch và tĩnh mạch

thận phải mà không bị tổn thương các cấu trúc

này Chúng tôi thấy rằng ưu điểm của PTNSR

với camera phóng đại không gian 3 chiều, cho

phép tiếp cận gần vào các trường mổ sâu như

khoảng sau phúc mạc và sự linh hoạt nhiều

hướng của khớp dụng cụ đã góp phần cho phẫu

tích khối u thành công với ít sang chấn, tương tự

như ý kiến của các tác giả khác (3,4,5,2,1,6) Những

ưu điểm khác của PTNSR là có thể cho phép

phẫu thuật viên giảm được độ run tay nếu có và

phẫu tích chính xác hơn, giảm sự mệt mỏi cho

phẫu thuật viên do được phẫu thuật trong tư thế

thuận lợi thoải mái hơn so với mổ mở hay mổ

nội soi thông thường(3)

Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy PTNSR

nói chung và ở trẻ em cũng có những nhược

điểm và hạn chế(3) Hoàn toàn không có cảm giác

tay khi thao tác khiến nguy cơ cao chấn thương

tổ chức khi phẫu tích Trong trường hợp của

chúng tôi dụng cụ vén gan đã làm rách nhỏ nhu

mô gan P cũng một phần vì hạn chế này So với

mổ nội soi thường, PTNSR cần thêm một trocar cho người phụ và như vậy là cần nhiều vết mổ hơn, kết quả thẩm mỹ kém hơn Ca mổ trong báo cáo này cần tới 5 trocar trong khi mổ NS thông thường chúng tôi thường cần 3 hoặc tối đa

4 trocar (7) Kích thước các dụng cụ lớn (5 mm -8,5 mm)

là nhược điểm, khi mổ nội soi thường ở trẻ em

đã có các dụng cụ 3 mm Thời gian mổ thường dài hơn so với mổ nội soi thông thường, ít nhất

là vì thời gian docking (sắp đặt dụng cụ robot) Hạn chế lớn nhất của PTNSR vẫn là chi phí Giá thành ca PTNSR ở các nước phát triển vẫn còn bị đánh giá là cao hơn hẳn so với mổ nội soi thường, chưa nói đến điều kiện kinh tế các nước đang phát triển như Việt nam Bài toán lợi ích đem lại liệu có xứng đáng so với chi phí bỏ ra trong PTNSR ở trẻ em hiện vẫn chưa có có câu trả lời Kết quả ở trên bệnh nhi được PTNSR cắt

u qua các nghiên cứu được công bố đến nay được đánh giá là tương đương với mổ nội soi thường, với tỷ lệ biến chứng 10% và tỷ lệ chuyển

mổ mở là 12,5%

KẾT LUẬN

PTNSR có thể thực hiện an toàn cắt u sau phúc mạc trong một số trường hợp chọn lọc ở trẻ

em Với những ưu điểm và hạn chế của PTNSR cần có thêm nhiều nghiên cứu với qui mô lớn để đánh giá hiệu quả ứng dụng của phương pháp này ở trẻ em

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cost NG, DaJusta DG, Granberg CF, et al (2012) Robot-assisted laparoscopic retroperitoneal lymph node dissection in

an adolescent population J Endourol;26(6):pp.635–640

2 Cost NG, Geller JI, DeFoorWR Jr, Wagner LM, Noh PH (2012)

A roboticassisted laparoscopic approach for pediatric renal cell carcinoma allows for both nephron-sparing surgery and

Surg;47(10):pp.1946– 1950

3 Cundy TP, Marcus HJ, Clark J, Hughes-Hallett A, Mayer EK, Najmaldin AS, Yang GZ, Darzi A (2014) Robot-assisted minimally invasive surgery for pediatric solid tumors: asystematic review of feasibility and current status Eur J Pediatr Surg Apr;24(2):pp.127-35

4 Gutt CN, Markus B, Kim ZG, Meininger D, Brinkmann L, Heller K (2002) Early experiences of robotic surgery in children Surg Endosc;16(7):pp.1083–1086

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015

Chuyên Đề Ngoại Nhi 216

5 Meehan JJ, Sandler A (2008) Pediatric robotic surgery: a

single-institutional review of the first 100 consecutive cases

Surg Endosc;22(1):pp.177–182

6 Rogers CG, Blatt AM, Miles GE, LinehanWM, Pinto PA

(2008) Concurrent robotic partial adrenalectomy and

extra-adrenal pheochromocytoma resection in a pediatric patient

with von Hippel-Lindau disease J Endourol;22(7):pp.1501–

1503

7 Trần Ngọc Sơn, Nguyễn Thanh Liêm (2011) Phẫu thuật nội

soi cắt u thượng thận ở trẻ em: tiếp cận đường qua phúc mạc

hay sau phúc mạc? Y học thành phố Hồ Chí Minh,; phụ trương 15(3): pp.116-120

Ngày đăng: 19/01/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w