1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm giải phẫu bệnh - lâm sàng bệnh mô bào langerhans ở trẻ em

7 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 410,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỉ lệ các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giải phẫu bệnh và mối liên quan với các thể bệnh mô bào langerhans ở trẻ em. Nghiên cứu thực hiện cho 80 trường hợp bệnh mô bào langerhans đã được chẩn đoán tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/01/2005-31/12/2011 với S100 hoặc CD1a dương tính.

Trang 1

LANGERHANS Ở TRẺ EM 

Trần Thanh Tùng*, Hưá Thị Ngọc Hà** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giải phẫu bệnh và mối liên quan với các thể 

bệnh mô bào Langerhans ở trẻ em. 

Phương  pháp  và  đối  tượng  nghiên  cứu:  Mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 80 trường hợp 

bệnh mô bào Langerhans đã được chẩn đoán tại bệnh viện Nhi Đồng I từ 01/01/2005 – 31/12/2011 với S100  hoặc CD1a dương tính. 

Kết quả: Bệnh xảy ra ở trẻ em từ 8 ngày đến 11 tuổi. Tuổi trung bình 2,7. Đỉnh tuổi là 1 tuổi (48,8%). Tỉ lệ 

nam:  nữ  là  1,4.  Lý  do  đến  khám  nhiều  nhất  là  nổi  u  hay  sưng  (47,6%).  Triệu  chứng  lâm  sàng  rất  đa  dạng  thường gặp nhất là u chiếm 41,3%, kế đến là sốt 37,5%, tổn thương da 30%, gan to 28,8%, lách to 25%, hạch to 

và tổn thương hệ tạo máu 23,8%, chảy mủ tai 11,3%. Ở da  ban  xuất  huyết  chiếm  nhiều  nhất  (21,3%).  Tổn  thương xương là 41,3%, nhiều nhất là xương sọ 23,9%. Bệnh đơn hệ thống chiếm 63,8%, nhiều nhất là thể một  xương 42,5%. Bệnh đa hệ thống chiếm 36,3%, nhiều nhất là thể có tổn thương cơ quan nguy cơ 30%. Chẩn  đoán lâm sàng phù hợp với giải phẫu bệnh 53,8% và không phù hợp 46,3%. Ở da, tổn thương ở lớp bì nông  91,7%, hướng thượng bì 87,5%, phản ứng tăng sinh 91,7%. Ở hạch, 100% xảy ra ở xoang hạch, đại bào hiện  diện 33,3%. Ở xương và phần mềm, chủ yếu là phản ứng u hạt, số lượng tế bào viêm tăng lên, đặc biệt là bạch  cầu ái toan. 

Kết  luận:  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuổi trung bình, tỉ lệ sốt, tỉ lệ tổn thương da, tỉ lệ tổn 

thương xương, phản ứng tăng sinh, phản ứng u hạt, tỉ lệ BCAT, BCTT, mô bào và hoại tử trong nhóm đơn hệ  thống và nhóm đa hệ thống. 

Từ khóa: bệnh mô bào Langerhans, trẻ em 

ABSTRACT 

CLINICAL PATHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF   LANGERHANS CELL HISTIOCYTOSIS IN CHILDREN 

Tran Thanh Tung, Hua Thi Ngoc Ha 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 108 ‐ 114 

Objective:  To determine the clinical presentation, radiologic and laboratory findings, pathological features 

of Langerhans cell histiocytosis and its subtypes in a pediatric population. 

Method  and  material:  A  cross‐sectional  study  of  80  cases  of  Langerhans  cell  histiocytosis  diagnosed  in 

Children’s  Hospital  N1  from  01/2005  to  31/2011.  All  cases  were  confirmed  by  immunopositivity  for  S100  or 

CD1a. 

Results: The patients age ranged from 8 days to 11 years old (mean: 2.7 years, peak of age: 1 year) with a 

ratio of male to female of 1:4. The most common reason for hospitalization was a mass or swelling (47.6%). A  wide range of clinical symptoms was documented with the presence of a tumor being the most common (41.3%), 

* Khoa Giải phẫu bệnh – BV Nhi Đồng 1 – TP. HCM 

** Bộ môn Giải phẫu bệnh – Đại học Y Dược TP. HCM 

Trang 2

followed  by  fever  (37.5%),  skin  lesions  (30%),  hepatomegaly  (28.8%),  spleenomealy  (25%),  lymphadenopathy  and  hematopoietic  lesions  (23.8%),  and  otorrhea  (11,3%).  The  most  common  cutaneous  manifestation  was  purpura (21,3%). Bone involvement was observed in 41.3% of the cases with the skull being the most frequently  involved bone. Single system LCH was the clinical presentation in 63.8% of the patients, most commonly as a  single  osseous  lesion  (42.5%).  Multisystem  LCH  was  noted  in  36.3%  of  the  cases,  most  frequently  as  involvement  of  risk  organs  (30%).  A  correlation  between  clinical  diagnosis  and  pathological  findings  were  documented  in  53.8%  of  the  cases.  In  the  skin,  the  lesions  were  seen  in  the  superficial  dermis  (91.7%),  epidermotrophism (87.5%), and as a proliferative reaction (91.7%). In the lymph nodes, sinus involvement was  observed in all cases whereas multinucleated giant cells were identified in 33.3% of the cases. Involvement of bone  and  soft  tissue  was  primarily  characterized  by  a  granulomatous  reaction  associated  with  an  increase  of  inflammatory cells, particularly eosinophils  

Conclusion:  Our study demonstrated a statistically significant difference in the mean age, fever rate, skin 

and  bone  lesions,  proliferative  and  granulomatous  reaction,  eosinophils,  neutrophils,  histiocytes,  and  necrosis  between the single‐system and multisystem type of LCH in children. 

Key words: Langerhans cell histiocytosis, children 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh mô bào Langerhans mà trước đây gọi 

là  bệnh  mô  bào  X,  là  một  bệnh  lí  hiếm 

gặp(10,19,20,22).  Tần  suất  bệnh  khoảng  5  phần 

triệu(6).  Bệnh  xảy  ra  ở  mọi  lứa  tuổi,  đa  số  các 

trường hợp xảy ra ở trẻ em(15,20,21), đỉnh tuổi từ 

3‐6  tuổi(3,11,19,23).  Tại  Khoa  Giải  phẫu  bệnh  ‐ 

Bệnh viện Nhi Đồng I hàng năm có từ 10 đến 

20  ca  với  bệnh  cảnh  lâm  sàng  đa  dạng,  giới 

hạn từ tổn thương đơn độc đến tổn thương đa 

cơ  quan,  đa  hệ  thống(14,15,22).  Chẩn  đoán  lâm 

sàng và giải phẫu bệnh thường khó khăn(6), vì 

ngoài  tỉ  lệ  bệnh  thấp,  thường  các  tổn  thương 

biểu  hiện  dưới  những  tình  trạng  bệnh  lí 

thường gặp như viêm tai ngoài, viêm tai giữa, 

viêm  tuyến  nước  bọt  cấp,  viêm  hạch,  hồng 

ban, chàm, sốt kéo dài… Do đó bệnh rất dễ bỏ 

sót  hay  chẩn  đoán  nhầm(22),  đặc  biệt  trong 

những  trường  hợp  tổn  thương  đơn  độc  việc 

chẩn  đoán  chậm  trễ  có  thể  làm  cho  10%  bệnh 

có thể tiến triển sang thể bệnh nặng hơn(6) mà 

tỉ lệ tử vong có thể lên tới 66%(9), trong khi đa 

số các thể đơn độc có tiên lượng sống còn đến 

95%  các  trường  hợp(21).  Vì  thế  chúng  tôi  thực 

hiện  đề  tài  này  với  mong  muốn  qua  mô  tả 

những đặc điểm giải phẫu bệnh ‐ lâm sàng của 

bệnh,  sẽ  giúp  cải  thiện  chẩn  đoán,  góp  phần 

tích cực cho điều trị và tiên lượng. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

80  bệnh  nhi  có  chẩn  đoán  bệnh  mô  bào  Langerhans tại khoa Giải phẫu bệnh Bệnh  viện  Nhi Đồng  I  TPHCM  từ  01/01/2005  –  31/12/2011 

với S100 hoặc CD1a dương tính. 

Phương pháp nghiên cứu 

Mô tả hàng loạt ca. 

Các bước tiến hành 

Hồi cứu hồ sơ: Thu thập các số liệu từ hồ sơ  bệnh án. 

Khảo sát các đặc điểm giải phẫu bệnh bằng  cách đọc lại các tiêu bản mô học. 

Nhuộm hóa mô miễn dịch với S100 và hoặc  CD1a theo phương pháp gián tiếp trên khối vùi  nến, kèm lam chứng dương. 

Sử  dụng  kháng  thể  S100,  mã  số  Z0311  và  CD1a, mã số M3571 của DAKO. 

Đánh  giá  hóa  mô  miễn  dịch  với  S100  và  CD1a dựa trên số lượng và cường độ tế bào bắt  màu theo 3 mức độ ít, vừa, nhiều. 

Xử lí số liệu 

Bằng phần mềm SPSS 19. 

Trang 3

Tuổi 

Bệnh mô bào  Langerhans  trong  nghiên  cứu 

này xảy ra ở trẻ em từ 8 ngày đến 11 tuổi. Tuổi 

trung  bình  2,69.  Đỉnh  tuổi  là  1  tuổi  (48,8%). 

Nhóm  tuổi  cao  nhất  tập  trung  dưới  4  tuổi 

(72,5%).  Tuổi  càng  tăng  tỉ  lệ  mắc  càng  giảm 

(Bảng 1). 

Bảng 1: Số ca mắc bệnh theo tuổi. 

Tuổi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

Tuổi  lúc  chẩn  đoán  thấp  nhất  trong  nghiên 

cứu này là 8 ngày, tương tự với tác giả Jia Wang 

13 ngày(19) và Zhu Li 4 giờ(15). Tuổi trung bình là 

2,69  tuổi,  hơi  thấp  hơn  so  với  các  tác  giả  Gong 

3,5 tuổi(5), Jia Wang 4,2 tuổi(19), Davidson 5 tuổi(3), 

Kilpatrick 6,4 tuổi(11). Theo J A Salotti giới hạn từ 

0,09  –  15,1  tuổi(17).  Nhóm  tuổi  thường  gặp  cao 

nhất  là  dưới  4  tuổi,  phù  hợp  với  Kasper  đỉnh 

tuổi  từ  2  đến  4  tuổi(10).  Đỉnh  tuổi  trong  nghiên 

cứu  này  là  1  tuổi  (48,8%)  thấp  hơn  so  với  Jia 

Wang 3‐6 tuổi(19). 

Giới 

Nữ chiếm 30 (38%). Nam chiếm 50 (62%). Tỉ 

lệ nam: nữ là 1,4. Tỉ lệ này hơi thấp hơn so với 

các  tác  giả  Kilpatrick(11) và  Jia  Wang  là  1,6(19), 

Davidson là 1,9(3), Gong là 1,8(5). Theo Salotti tỉ lệ 

nam nữ 1,5:1, gia tăng tới 2,7:1 ở trẻ 10‐14 tuổi(17). 

Triệu chứng lâm sàng 

Triệu  chứng  lâm  sàng  rất  đa  dạng,  thường 

gặp nhất là u hay sưng trên cơ thể là 47,6%, đặc 

biệt  ở  vùng  đầu  mặt  (37,5%),  phù  hợp  với 

Kilpatrick là 48% sưng mô mềm(11). Các đặc điểm 

lâm sàng khác như tổn thương xương 41,3%, sốt 

37,5%,  tổn  thương  da  30%,  gan  lách  to  28,8%, 

hạch  to  23,8%,  chảy  mủ  tai  11,3%,  tiêu  chảy  và 

đau nơi u 10%. U vùng đầu chiếm hơn 90%. Tổn 

thương da thường gặp ở nhiều nơi (45%) như ở 

đầu,  thân,  lòng  bàn  tay  ‐  bàn  chân.  Loại  tổn 

thương  da  thường  là  ban  (58%)  và  sẩn  (34%). 

Hạch đầu cổ chiếm nhiều nhất 68%. 

Tổn thương xương 

Tỉ  lệ  tổn  thương  xương  trong  nghiên  cứu  này 41,3%, phù hợp với nghiên cứu của Zhu Li  (38,78%)(15),  nhưng  thấp  hơn  so  với  Davidson  (61%)(3),  Singh  70%(32),  Kilpatrick  (73%)(11)  và  Jia  Wang  (73,1%)(19).  Tổn  thương  xương  trong  nghiên cứu này thấp hơn so với các tác giả khác 

có thể là do rất nhiều bệnh nhi không được chụp  kiểm tra xương (47%), nếu có chỉ chụp khu trú 1  vùng  mà  bác  sĩ  lâm  sàng  nghi  ngờ  có  tổn  thương. Hầu như tất cả các xương đều có thể bị  ảnh hưởng. 

Trong  nghiên  cứu  này  tổn  thương  chiếm  nhiều nhất là xương sọ 23,9%, kế đến là xương  hàm  5%,  xương  đùi  5%,  xương  chày  và  xương  khác  3,8%.  97%  là  tổn  thương  kiểu  hủy  xương. 

So với tác giả Kilpatrick(11) và Lau(13) (Bảng 2), tỉ 

lệ tổn thương các xương đều thấp hơn, đặc biệt  xương  cột  sống  trong  nghiên  cứu  này  là  0%  so  với 8% và 12% của Kilpatrick và Lau(11,13). 

Tổn thương da 

Tổn thương da trong nghiên cứu này chiếm  30% bằng với tác giả Hussein(8), thấp hơn so với  Kasper(10) là 50%, và Zhu Li 55,5%(15), nhưng cao  hơn so với Kilpatrick 13%(11), Singh 25%(18). Trong 

đó  da  đầu  18,8%,  thân  20%,  chi  12,5%.  Tổn  thương  da  nhiều  nơi  là  13,8%.  Ban  xuất  huyết  chiếm nhiều nhất (21,3%), sẩn (12,5%). 

Bảng 2: So sánh tỉ lệ tổn thương xương ở các vị trí. 

NC này (%) Kilpatrick (11) (%) Lau (12) (%)

Tổn thương hạch 

Trong  nghiên  cứu  này,  hạch  to  là  23,8%,  trong đó hạch đầu cổ 16,3%, hạch nách 5%, hạch  bẹn,  hạch  ổ  bụng  2%  và  hạch  nhiều  nơi  2,5%.  Theo  Glotzbecker  hạch  to  gặp  ít  hơn  10%,  thường  ở  vùng  đầu  cổ(4).  Theo  Zhu  Li  30,7%  hạch khu trú hay toàn thân(15). 

Trang 4

Trong  nghiên  cứu  này,  tuy  có  28,9%  có  tổn 

thương xương sọ trên X quang nhưng không có 

MRI  để  đánh  giá  có  ăn  lan  vào  mô  mềm  hay 

không  nên  không  đủ  tiêu  chuẩn  để  xác  định. 

Những  tổn  thương  khác  được  ghi  nhận  như 

chảy  mủ  tai  11,3%,  lồi  mắt  2,5%,  loét  miệng 

3,8%.  Theo  Singh  chảy  mủ  tai  10%,  rụng  răng 

5%(18). Theo Kilpatrick chảy mủ tai và giảm thính 

lực 7%(11). Theo Zhu Li, chảy mủ tai 13,4%(15). 

Tổn thương các cơ quan nguy cơ 

Tổn thương gan và lách 

Trong  nghiên  cứu  này,  tổn  thương  gan  là 

28,8%,  lách  25%.  Tỉ  lệ  này  thấp  hơn  so  với 

nghiên cứu của Zhu Li có tổn thương gan 52,3% 

và lách 48,3%(15). 

Tổn thương hệ tạo máu 

50% có Hemoglobin giảm, 6,3% có số lượng 

bạch cầu giảm, 25% có số lượng tiểu cầu giảm. 

Theo  Hội  mô  bào,  tổn  thương  đến  hệ  tạo 

máu  khi  có  giảm  hai  trong  ba  dòng  tế  bào 

máu(7).  Trong  nghiên  cứu  này,  có  23,8%  tổn 

thương  đến  hệ  tạo  máu,  trong  đó  73,7%  giảm 

dòng hồng cầu và tiểu cầu, 16% giảm ba dòng, 

10,3%  giảm  hai  dòng  bạch  cầu  và  tiểu  cầu. 

Theo  Zhu  Li  48,5%  Hb  giảm,  14%  bạch  cầu 

giảm, 15% tiểu cầu giảm(15). 

Chẩn đoán lâm sàng 

Chẩn đoán lâm sàng phù hợp với giải phẫu 

bệnh  53,8%  chủ  yếu  trong  bệnh  đa  hệ  thống 

83,3%  và  không  phù  hợp  46,3%  chủ  yếu  trong 

nhóm bệnh đơn hệ thống 58,8%. Điều này có thể 

là  do  bệnh  đơn  hệ  thống  có  triệu  chứng  lâm 

sàng nghèo nàn còn trong bệnh đa hệ thống có 

nhiều triệu chứng nặng như thiếu máu, gan lách 

to.  Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  p 

<0,006. 

Theo Zhu Li chẩn đoán nhầm chiếm 16,2%, 

chủ  yếu  xảy  ra  giai  đoạn  sớm  đặc  biệt  là 

Letterer‐Siwe không có tổn thương da đặc hiệu 

hay  rõ  ràng.  Vì  vậy,  khả  năng  là  bệnh  mô  bào 

Langerhans  nên  được  xem  xét  đối  với  trẻ  em, 

đặc  biệt  trẻ  dưới  1  tuổi  với  chàm  không  điển  hình, viêm da tiết bã, ban giống xuất huyết(15). 

Phân loại 

Theo  phân  lọai  của  Hội  mô  bào,  bệnh  mô  bào Langerhans được phân thành 2 nhóm chính 

là  bệnh  đơn  hệ  thống  và  bệnh  đa  hệ  thống.  Trong  từng  nhóm  chính  lại  chia  ra  thành  từng  nhóm  nhỏ  khác  nhau  tùy  mức  độ  và  vị  trí  cơ  quan tổn thương(7). 

Trong  nghiên  cứu  này,  bệnh  đơn  hệ  thống  chiếm  63,8%,  trong  đó  nhiều  nhất  là  thể  một  xương  42,5%.  Bệnh  đa  hệ  thống  chiếm  36,3%,  trong  đó  nhiều  nhất  là  thể  có  tổn  thương  cơ  quan nguy cơ 30%. 

Bảng 3: So sánh các thể bệnh với các nghiên cứu 

khác. 

NC này (%) Salotti (17) (%) Ceci (2) (%)

Mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng 

và phân loại 

Theo  Davidson,  bệnh  nhân  với  tổn  thương 

đa  cơ  quan  có  khuynh  hướng  tuổi  trẻ  nhất,  trung  bình  6  tháng  (giới  hạn  2  tháng  –  1  tuổi),  bệnh  với  tổn  thương  đa  xương  có  tuổi  trung  bình  2,5  tuổi  (giới  hạn  6  tháng  –  9  tuổi),  bệnh  nhân  với  tổn  thương  1  xương  thì  lớn  tuổi  nhất  với tuổi trung bình 7 tuổi (giới hạn từ 6 tháng – 

13 tuổi)(3).  Trong  nghiên  cứu  này,  tuổi  trung  bình  của  bệnh đa hệ thống 1,5 tuổi (1‐7 tuổi). Tuổi trung  bình của bệnh đơn hệ thống 3,5 tuổi (1‐11 tuổi).  Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả trên. 

Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  (p  =  0,028) (Bảng 4). 

Bảng 4: So sánh các đặc điểm lâm sàng của nhóm 

Trang 5

Đặc điểm Đơn hệ

thống

Đa hệ thống

P

Tỉ lệ sốt, tổn thương da, tổn thương xương 

trong nhóm đơn hệ thống và đa hệ thống khác 

biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  p  =  0,000 

(bảng 4). 

Vi thể 

LC  hiện  diện  ở  tất  cả  các  trường  hợp.  Việc 

nhận diện tế bào Langerhans đóng vai trò quan 

trọng trong chẩn đoán(14,7). Các trường hợp nhiều 

tế bào Langerhans nên việc nhận diện tế bào rất 

dễ  dàng.  Những  trường  hợp  ít  tế  bào 

Langerhans,  chúng  lẫn  lộn  trong  những  tế  bào 

khác  nên  việc  nhận  diện  khó  khăn  hoặc  khi 

chúng không điển hình nên dễ bỏ sót vì vậy cần 

làm hóa mô miễn dịch với CD1a hoặc Langerin 

(CD207) để xác định(7). 

Nền  tổn  thương  chứa  nhiều  loại  tế  bào 

viêm  với  số  lượng  thay  đổi,  tuy  không  đóng 

vai  trò  quyết  định  trong  chẩn  đoán  nhưng  có 

vai trò gợi ý và hỗ trợ chẩn đoán. Trong số các 

tế  bào  viêm,  thường  gặp  nhất  là  lymphô  bào 

81,3%, bạch cầu ái toan 66,3%, bạch cầu trung 

tính  51,3%,  mô  bào  60%,  đại  bào  26,3%,  bọt 

bào  6,3%,  hoại  tử  33,8%,  xuất  huyết  81,3%,  dị 

dạng 1,3 % và vi áp xe 16,3%. 

Mặc dù vi thể có ba dạng phản ứng mô học 

đã được mô tả trong bệnh mô bào Langerhans là 

phản  ứng  tăng  sinh  (biểu  hiện  bằng  thâm  nhiễm 

mạnh mô bào; ở da, thường thâm nhiễm lớp thượng 

bì  gây  ra  loét  và  đóng  mài,  với  phần  lớn  là  lymphô 

bào, bạch cầu ái toan và cả hồng cầu), u hạt và u mỡ 

vàng. Nhưng chỉ hai dạng đầu là thường thấy(8).  Theo  Zhu  Li  đa  số  tổn  thương  da  có  xâm  nhập lan tỏa tế bào Langerhans ở lớp bì nông,  hiện hượng phá hủy thượng bì kèm xâm nhập 

tế  bào  viêm  không  đặc  hiệu(15).  Như  vậy  đặc  tính  nổi  bật  của  tổn  thương  da  là  tế  bào  Langerhans  tập  trung  ở  lớp  bì  nông,  hướng  thượng bì, phản ứng tăng sinh và tế bào viêm 

ít. Phù hợp với nghiên cứu này có tổn thương 

ở  lớp  bì  nông  91,7%  và  hướng  thượng  bì  87,5%.  Phản  ứng  tăng  sinh  91,7%.  Tỉ  lệ  các  tế  bào viêm ít hoặc không có. 

Theo Kilpatrick, tổn thương hạch đặc trưng  với  1  phần  cấu  trúc  vẫn  còn  và  các  xoang  giãn  rộng chứa tế bào Langerhans. Đại  bào  đa  nhân  thường  nổi  bật,  tuy  nhiên  thành  phần  tế  bào  viêm  thường  thưa  thớt(11).  Trong  nghiên  cứu  này,  100%  xảy  ra  ở  xoang  hạch,  đại  bào  hiện  diện  33,3%  với  số  lượng  ít.  Trừ  tế  bào  Langerhans,  mô  bào,  các  tế  bào  khác  thường  hiện diện ít hoặc không có. 

Theo  Kilpatrick,  hình  ảnh  vi  thể  trong  tổn  thương  xương  với  tế  bào  Langerhans  sắp  xếp  thành mạng lưới, đám, rời. Số lượng bạch cầu ái  toan  thay  đổi,  thường  là  tế  bào  viêm  nổi  bật  nhất.  Vi  áp  xe  thường  thấy.  Lymphô  bào  là  thành  phần  tế  bào  viêm  thường  gặp  thứ  hai.  Bạch cầu trung tính mặc dù khó tìm thấy, cũng  gặp  trong  phần  lớn  các  trường  hợp  (91%),  có  21% các trường hợp, số bạch cầu trung tính bằng  hay hơn số bạch cầu ái toan(11). Trong nghiên cứu  này,  bạch  cầu  ái  toan  và  lymphô  bào  đều  hiện  diện với 86,4% nhưng bạch cầu ái toan hiện diện  với  số  lượng  nhiều  là  41%  so  với  lymphô  bào  17,9%. Hoại tử u chiếm 41% phù hợp với nghiên  cứu của Kilpatrick 43%, phân bào 12,8%(11). Như  vậy  tổn  thương  ở  xương  chủ  yếu  là  u  hạt,  rồi  đến  phản  ứng  tăng  sinh,  số  lượng  tế  bào  viêm  tăng lên, đặc biệt là bạch cầu ái toan. 

Trang 6

đơn hệ thống và đa hệ thống. 

Bệnh đơn hệ thống N=50

Bệnh đa hệ thống N=30

p

Mối liên quan giữa vi thể và phân loại 

Có mối liên quan tồn tại giữa các loại phản 

ứng mô học và thể bệnh(8). Nói chung, phản ứng 

tăng sinh với thâm nhiễm phần lớn mô bào điển 

hình  cho  Letterrer‐Siwe,  còn  phản  ứng  u  hạt 

điển hình cho bệnh một ổ hay nhiều ổ mạn tính 

như u hạt ái toan. Phản ứng u mỡ vàng thường 

thấy trong bệnh Hand‐Schüller‐Christain nhưng 

cũng thấy trong những cơ quan khác, đặc biệt là 

màng não và xương(1,23). 

So sánh các tổn thương vi thể giữa bệnh đơn 

hệ thống và đa hệ thống cho thấy sự khác biệt có 

ý nghĩa thống kê đối với BCAT, BCTT, mô bào, 

hoại tử, phản ứng tăng sinh và u hạt (Bảng 5). 

Hóa mô miễn dịch 

Trong 80 trường hợp, có 49 trường hợp được 

nhuộm  với  S100,  46  trường  hợp  được  nhuộm 

với  CD1a,  trong  đó  có  5  trường  hợp  được 

nhuộm với cả S100 và CD1a. 

CD1a  ngoài  ưu  thế  đặc  hiệu  hơn  so  S100, 

CD1a  chỉ  dương  tính  với  màng  bào  tương  và 

chấm cạnh nhân, ít dương tính nền nên dễ nhận 

diện tế bào dương tính hơn so với S100 ngay cả 

khi có xuất huyết kèm theo. 

Có  38,8%  trường  hợp  được  đánh  giá  số 

lượng  tế  bào  Langerhans  +  trên  phép  nhuộm 

HE,  nhưng  trên  hóa  mô  miễn  dịch  có  CD1a 

dương tính + 8,3%, ++ 19,4% +++ 11,1%. Điều này 

phép nhuộm HE mà chúng ta không nhận diện  được hết. Do đó nhuộm CD1a thật sự cần thiết  trong những trường hợp không điển hình.  CD1a  dương  tính  +++  72%  trong  phản  ứng  tăng sinh và 33,3% trong phản ứng u. Điều này  phù hợp với sự tăng sinh của tế bào Langerhans  trong phản ứng tăng sinh. 

KẾT LUẬN 

Qua  khảo  sát  80  trường  hợp  bệnh  mô  bào  Langerhans, chúng tôi ghi nhận: 

Bệnh mô bào Langerhans xảy ra ở trẻ em từ 

8  ngày  đến  11  tuổi.  Tuổi  trung  bình  2,7.  Đỉnh  tuổi là 1 tuổi (48,8%). Tỉ lệ nam: nữ là 1,4. Lý do  đến khám nhiều nhất là u hay sưng (47,6%), đặc  biệt u hay sưng vùng đầu mặt cổ (38,8%). Triệu  chứng lâm sàng rất đa dạng thường gặp nhất là 

u chiếm 41,3%, kế đến là sốt 37,5%, tổn thương 

da  30%,  gan  to  28,8%,  lách  to  25%,  hạch  to  23,8%, chảy mủ tai 11,3%, tiêu chảy và đau nơi u  10%.  Ban  xuất  huyết  chiếm  nhiều  nhất  (21,3%), 

kế  đến  là  sẩn  (12,5%).  Tổn  thương  xương  là  41,3%, nhiều nhất là xương sọ 23,9%. Hạch to là  23,8%,  trong  đó  hạch  đầu  cổ  nhiều  nhất  16,3%.  Tổn thương cơ quan nguy cơ thường gặp là gan,  lách, và hệ tạo máu 23,8%, trong đó 73,7% giảm  dòng hồng cầu và tiểu cầu. 

Bệnh đơn hệ thống chiếm 63,8%, nhiều nhất 

là thể một xương 42,5%. Bệnh đa hệ thống chiếm  36,3%, nhiều nhất là thể có tổn thương cơ quan  nguy cơ 30%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  giữa tuổi trung bình, tỉ lệ sốt, tỉ lệ tổn thương da, 

tỉ  lệ  tổn  thương  xương,  phản  ứng  tăng  sinh,  phản  ứng  u  hạt,  tỉ  lệ  BCAT,  BCTT,  mô  bào  và  hoại  tử  trong  nhóm  đơn  hệ  thống  và  nhóm  đa 

hệ thống. Chẩn đoán lâm sàng phù hợp với giải  phẫu  bệnh  53,8%  chủ  yếu  trong  bệnh  đa  hệ  thống  83,3%  và  không  phù  hợp  46,3%  chủ  yếu  trong nhóm bệnh đơn hệ thống 58,8%. 

Ở  da,  tổn  thương  ở  lớp  bì  nông  91,7%,  hướng  thượng  bì  87,5%,  phản  ứng  tăng  sinh  91,7%  và  tỉ  lệ  các  tế  bào  viêm  ít.  Ở  hạch,  100%  xảy ra ở xoang hạch, đại bào hiện diện 33,3%, tế  bào viêm ít. Ở xương và phần mềm, chủ yếu là 

Trang 7

đặc biệt là bạch cầu ái toan. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Burgdorf  WHC  (1997),  The  histiocytose,  Lever’s 

Histopathology of the skin, pp 591‐599. 

2 Ceci  A  (1993),  Langerhans  Cell  Histiocytosis  in  Childhood: 

Results  From  the  Italian  Cooperative,  Medical  and  Pediatric 

Oncology 21: 259 ‐264. 

3 Davidson L (2008), Craniospinal Langerhans cell histiocytosis 

in  Children:  30  years’  experience  at  a  single  institution,  J 

Neurosurg Pediatrics1: pp 187‐195. 

4 Glotzbecker MP (2002), Langerhans Cell Histiocytosis: Clinical 

presentation,  pathogenesis,  and  Treatment  from  the  LCH 

Etiology  Research  Group  at  the  Children’s  Hospital  of 

Philadelphia, The University of Pennsylvania Orthopaedic Journal 

15: 67‐73. 

5 Gong L (2010), Clonal Staus and Clinicopathological Features 

of  Langerhans  Cell  Histiocytosis,  The  Journal  of  International 

Medical Research, 38: 1099‐1105. 

6 Hin BNC (2011), Langerhans cell histiocytosis: old disease new 

treatment, QJMed, 104: pp 89‐ 96. 

7 Histiocyte  Society  (2009),  Evaluation  and  Treatment  Guidelines, 

pp 1‐21. 

8 Hussein  MRA  (2009),  Skin‐Limited  Langerhans  cell 

Histiocytosis in Children, Cancer Investigation, 27, 504‐511. 

9 Jaffe  R  (2008),  “Histiocytic  and  dendritic  cell  neoplasms, 

introduction”, Tumours of haematopoietic and lymphoid tissues, pp 

354‐355. 

10 Kasper  EM  (2011),  Histiocytosis  X:  Characteristics,  behavior, 

and treatments as illustrated in a case series, Surg Neurol Int, 2: 

57. 

11 Kilpatrick  SE  (1995),  Langerhans’  cell  histiocytosis  of  bone, 

Cancer, 76 (12), pp 2471‐2484. 

12 Lau  LMS  (2008),  Skeleta  langerhans  Cell  Histiocytosis  in  Children:  Permanent  Consequences  and  Health‐Related 

Quality of Life in Long‐Term Survivors, Pediatric Blood Cancer, 

50: 607‐612. 

13 Lau  SK  (2008),  Immunohistochemical  expression  of  Langerin 

in  Langerhans  cell  histiocytosis  and  non‐Langerhans  cell 

histiocytosis disorders, Am J Surg Pathol., 32(4): 615‐9. 

14 Lê Chí Dũng (2003), Bướu xương: lâm sàng – hình ảnh y học – 

giải phẫu bệnh và điều trị, Nhà xuất bản y học. 

15 Li  Z  (2010),  Two  cases  report  studies  of  Langerhans  cell  histiocytosis with an analysis of 918 patients of Langerhans cell 

histiocytosis  in  literatures  published  in  China,  International 

Journal of Dermatology, 49, pp 1169‐1174. 

16 Rosai J. (2004), Langerhans’ cell histiocytosis, Surgical pathology, 

pp1913‐1915. 

17 Salotti JA (2009), Incidence and clinical features of Langerhans 

cell histiocytosis in the UK and Ireland, Arch Dis Child; 94: 376‐

380. 

18 Singh  T  (2010),  Langerhans  cell  histiocytosis:  A  single 

institutional experience, Ind J of med and paediatric Oncology, vol 

31, issue 2, pp 51‐53. 

19 Wang  J.  (2010),  Langerhans  cell  histiocytosis  of  bone  in 

children: a clinicopathologic study of 108 cases, World J Pediatr, 

6 (3), pp 255‐259. 

20 Warnke R. A.  (1994),  “Langerhans’  cell  histiocytosis”,  Tumors 

of the lymph nodes and spleen, pp 341‐349. 

21 Weiss  L.M.,  Grogan  T.M.,  Muller‐Hermelink  H.K.  (2001), 

“Langerhans  cell  histiocytosis”,  Tumours  of  haematopoietic  and 

lymphoid tissues, pp 280‐282. 

22 Weitzman S., Egeler R. M. (2008), Langerhans cell histiocytosis: 

update for the pediatrician, Curr Opin Pediatr 20, pp 23‐29. 

23 Zelger B. (2006), Langerhans cell histiocytosis, Skin tumors, pp 

218‐219. 

Ngày nhận bài báo      16‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  20‐06‐2013  Ngày bài báo được đăng:     15–07‐2013

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w