1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả khúc xạ ban đầu đặt kính nội nhãn nguyên phát ở trẻ em

5 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 336,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả khúc xạ ban đầu sau đặt kính nội nhãn nguyên phát ở trẻ em và độ chính xác của công thức tính công suất kính nội nhãn. Nghiên cứu thực hiện trên 52 mắt chọn từ các bệnh nhi đến khám tại bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHÚC XẠ BAN ĐẦU ĐẶT KÍNH NỘI NHÃN

NGUYÊN PHÁT Ở TRẺ EM

Võ Thị Chinh Nga**, Phan Thị Anh Thư*, Trần Thị Kim Loan**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả khúc xạ ban đầu sau đặt kính nội nhãn nguyên phát ở trẻ em và độ chính xác

của công thức tính công suất kính nội nhãn

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện trên 52 mắt chọn từ các bệnh nhi đến khám tại bệnh viện

Mắt TP Hồ Chí Minh được phẫu thuật lấy thể thủy tinh và đặt kính nội nhãn thành công Các biến số bao gồm: tuổi lúc phẫu thuật, công suất khúc xạ giác mạc, chiều dài trục nhãn cầu, khúc xạ dự đoán trước phẫu thuật Khúc xạ sau phẫu thuật được tính bằng độ cầu tương đương của kết quả khúc xạ hậu phẫu 4 tuần Sai biệt khúc

xạ đại số bằng hiệu số của khúc xạ dự đoán trước phẫu thuật với khúc xạ biểu hiện thật sự sau phẫu thuật

Kết quả: Sai biệt khúc xạ trung bình trong cả mẫu nghiên cứu là -3,62 D (SD=4,50) Sự sai biệt khúc xạ

không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) ở mắt có trục nhãn cầu ≥21mm và ở trẻ ≥24 tháng tuổi Độ sai biệt khúc xạ có mối tương quan cao với số tháng tuổi của trẻ lúc phẫu thuật (r=0,66; p<0,001) và với chiều dài trục nhãn cầu

(r=0,78; p<0,001)

Kết luận: Độ sai biệt khúc xạ giữa khúc xạ thật sự sau phẫu thuật và khúc xạ dự đoán trước phẫu thuật

càng tăng ở mắt có trục nhãn cầu càng ngắn và trẻ càng nhỏ Do đó, cần thiết kế công thức tính công suất kính nội nhãn đặc biệt dành riêng cho trẻ nhỏ

Từ khóa: Kính nội nhãn (IOL), khúc xạ, đặt kính nội nhãn nguyên phát

ABSTRACT

CLINICAL EVALUATION OF EARLY REFRACTIVE OUTCOMES AFTER PRIMARY IOL

IMPLANTATION IN CHILDREN

Vo Thi Chinh Nga, Phan Thi Anh Thu, Tran Thi Kim Loan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 80 - 84

Purpose: The purpose of this study was to evaluate the early refractive outcome and the accuracy of IOL

power calculation after primary IOL implantation in children

Method: This prospective study included 52 eyes selected from the children who attended The Eye Hospital

Hochiminh City, who successfully underwent cataract extraction and primary IOL implantation The following parameters were included: age at the time of surgery, keratometry, axial length, estimated refraction The postoperative refractive outcome was taken as the spherical equivalent of the refraction at 4 months after surgery The prediction error was taken as the difference between the estimated and actual postoperative refraction

Results: For the overall group the mean prediction error was -3.62 D (Sd = 4.50) Prediction errors were not

statistically significant (p>0.05) in eyes with axial lengths ≥ 21mm and in children ≥ 24 months old There were high correlations between prediction errors and age at the time of surgery (r=0.66; p<0.001, between prediction

errors and axial length (r=0.78; p<0.001)

Conclusions: In eyes with shorter axial lengths and in younger children larger errors can arise This study

* Bộ môn Mắt, Đại học Y Dược TP.HCM; ** Bệnh viện Mắt TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS Phan Thị Anh Thư ĐT: 0908611604 Email: dr.phananhthu@gmail.com

Trang 2

demonstrates the need for an IOL formula specifically designed for paediatric use

Keywords: intraocular lens (IOL), refraction, primary IOL implantation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc đặt kính nội nhãn nguyên phát ở trẻ em

ngày càng được chấp nhận rộng rãi nhờ vào

những tiến bộ của kỹ thuật mổ, sự hoàn thiện

của kính nội nhãn và hiểu biết nhiều hơn về sự

phát triển của nhãn cầu Điều chỉnh khúc xạ sau

đặt kính nội nhãn nguyên phát giúp thị giác

phát triển tối ưu(4) Ở trẻ bị đục thể thủy tinh một

mắt thì việc đặt kính nội nhãn nguyên phát giúp

hạn chế bất đồng khúc xạ sau phẫu thuật lấy

thểy thủy tinh, cải thiện thị lực, đạt được thị giác

hai mắt và giảm lé(2,7) Để có được kết quả khúc

xạ thỏa đáng về lâu dài sau khi đặt kính nội

nhãn ở trẻ em đòi hỏi phải tính đến sự phát triển

của trục nhãn cầu và hiện tượng cận thị hóa xảy

ra trong suốt thời thơ ấu(5,8,10) Do đó, kết quả

khúc xạ mong đợi ban đầu sau khi đặt kính nội

nhãn là viễn thị mà mức độ phụ thuộc vào độ

tuổi của trẻ(6) Các công thức dự đoán công suất

kính nội nhãn như Sanders–Retzlaff–Kraff

(SRK)-II, SRK-T, Holladay and Hoffer-Q thường

dùng trong phẫu thuật đục thể thủy tinh ở trẻ

em, tuy nhiên mức độ chính xác đối với trẻ nhỏ

hoặc ở mắt có trục nhãn cầu ngắn chưa được

công nhận(9) Do đó, nghiên cứu của chúng tôi

được thực hiện nhằm đánh giá ban đầu độ khúc

xạ của trẻ sau đặt kính nội nhãn nguyên phát và

độ chính xác của công thức dự đoán công suất

kính nội nhãn

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá độ khúc xạ của trẻ sau khi đặt kính

nội nhãn nguyên phát và độ chính xác của công

thức dự đoán công suất kính nội nhãn

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Các bệnh nhi dưới 15 tuổi được chẩn đoán

đục thể thủy tinh bẩm sinh đến khám và điều trị

tại khoa Nhi Bệnh viện Mắt TP.HCM từ tháng

3/2011 đến hết tháng 6/2011 có chỉ định đặt IOL

nguyên phát và đủ điều kiện phẫu thuật

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bất thường pha lê thể, võng mạc trên siêu âm

- Tật nhãn cầu nhỏ, giác mạc nhỏ không thể đặt IOL

- Có bệnh lý mắt khác được chẩn đoán ngoài đục thể thủy tinh bẩm sinh

- Có biến chứng trong khi phẫu thuật

Cỡ mẫu: 50 mắt

Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu

Các bước tiến hành

Chọn bệnh nhân thỏa mãn tiêu chí chọn mẫu đưa vào hồ sơ nghiên cứu

- Tại phòng mổ tiến hành đo K1, K2 bằng máy KM 500 Autokeratometer và sau đó đo chiều dài trục nhãn cầu bằng máy EchoScan Model US 800 bởi một bác sĩ cộng tác viên

- Người thực hiện đề tài là phẫu thuật viên chính tiến hành phẫu thuật phaco A, cắt pha lê thể trước và đặt kính nội nhãn theo công suất được tính toán bằng công thức SRK-T dựa vào các chỉ số K1, K2 và chiều dài trục nhãn cầu đo được, đồng thời để lại độ viễn thị dựa vào tuổi của trẻ theo phác đồ của bệnh viện Mắt TP.HCM:

+ Trẻ <6 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 70% Công suất IOL tính được

+ Từ 06 – 12 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 75% Công suất IOL tính được

+ Từ 13 – 18 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 80% Công suất IOL tính được

+ Từ 19 – 24 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 85% Công suất IOL tính được

+ Từ 25 – 36 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 90% Công suất IOL tính được

+ Từ 37 – 48 tháng tuổi: Công suất IOL được chọn = 95% Công suất IOL tính được

- Khám lại mắt trẻ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần sau phẫu thuật Loại trừ

Trang 3

những mắt có các biến chứng trong và sau phẫu

thuật như chảy máu, lệch IOL, viêm màng bồ

đào, tăng nhãn áp

- Đo khúc xạ lúc 4 tuần sau phẫu thuật bởi

một kỹ thuật viên khúc xạ bằng phương pháp

soi bóng đồng tử khi đồng tử dãn

- Tính khúc xạ dự đoán trước phẫu thuật

bằng tổng sai số khúc xạ (Error) của công thức

SRK-T và độ viễn để lại trên mắt trẻ

- Tính sai biệt khúc xạ đại số bằng hiệu số

của khúc xạ dự đoán trước phẫu thuật với khúc

xạ biểu hiện thật sự sau phẫu thuật tính theo độ

cầu tương đương SE (Spherical Equivalent = độ

cầu + ½ độ trục): Độ sai biệt khúc xạ = Khúc xạ

sau phẫu thuật – Khúc xạ dự đoán

- Tính sai biệt khúc xạ tuyệt đối bằng trị

tuyệt đối sai biệt khúc xạ đại số

- Độ chính xác của công thức được xác

định dựa vào sai biệt khúc xạ tuyệt đối, sai

biệt khúc xạ tuyệt đối càng nhỏ thì công thức

càng chính xác

Phân tích thống kê

Chương trình Epidata 3.1, Stata 10.0 với mức

ý nghĩa p<0,05

KẾT QUẢ

Nghiên cứu được thực hiện trên 52 mắt của

42 bệnh nhi trong đó có 28 mắt nam (53,8%) và

24 mắt nữ (46,2%), độ tuổi trung bình là 37,63 ±

39,38 tháng tuổi, nhỏ nhất là 3 tháng tuổi và lớn

nhất là 11 tuổi

Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu (N=52)

K 1 (D) 44,12 2,89 38,25 49,75

K 2 (D) 46,12 3,08 40,25 56,00

K (D) 45,12 2,91 40,13 52,88

AL (mm) 20,60 3,14 11,3 25,04

Khúc xạ dự đoán (D) 5,69 5,63 -1,00 16,38

Khúc xạ sau phẫu thuật (D) 2,07 2,48 -4,75 8,00

Độ sai biệt khúc xạ (D) -3,62 4,50 -13,56 2,55

K 1 , K 2 : Công suất khúc xạ của giác mạc đo bằng máy KM

500 Autokeratometer; K: Công suất khúc xạ giác mạc

trung bình: K = (K1 + K2)/2; AL: chiều dài trục nhãn cầu

đo bằng máy EchoScan Model US 800; M, Sd: Trung bình,

độ lệch chuẩn; Min – Max: Giá trị nhỏ nhất – lớn nhất

Bảng 2: So sánh khúc xạ dự đoán và khúc xạ sau

phẫu thuật

Cả mẫu 52 Paired– t test <0,0001

<12 20 Wilcoxon 0,0001

≥12 32 Wilcoxon 0,0444

<24 32 Wilcoxon < 0,0001

≥24 20 Wilcoxon 0,4666 Chiều dài trục nhãn cầu N test p

<20mm 18 Wilcoxon 0,0002

≥20mm 34 Wilcoxon 0,0210

<21mm 26 Wilcoxon <0,0001

≥21mm 26 Wilcoxon 0,1275 Khúc xạ dự đoán và khúc xạ thật sự sau phẫu thuật khác nhau có ý nghĩa thống kê trên

cả mẫu.Tuy nhiên độ sai biệt khúc xạ giữa khúc

xạ dự đoán trước phẫu thuật và khúc xạ thật sự sau phẫu thuật khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) ở mắt trẻ trên 24 tháng tuổi hoặc có chiều dài trục nhãn cầu từ 21mm trở lên

Bảng 3: So sánh giữa các nhóm độ sai biệt khúc xạ

Độ sai biệt khúc

xạ

N

M±SD Test(p) M±SD Test(p)

≤0(D) 39 19,85±3,21 t-test

(p=0,0019)

25,95±33,35 t-test

(p=0,0001)

>0(D) 13 22,87±1,42 72,69±35,98 Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả sai số do đặt thiếu công suất (Độ sai biệt khúc

xạ > 0) được mong đợi nhiều hơn đặt thừa hoặc đặt đúng công suất (Độ sai biệt khúc xạ

≤ 0) vì đây là những mắt trẻ còn đang phát triển Khi so sánh giá trị trung bình của trục nhãn cầu và số tháng tuổi giữa hai nhóm này chúng tôi nhận thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm

có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Bảng 4: Các mức độ sai biệt khúc xạ tuyệt đối

N (%)

Tháng tuổi

<12(N=20) ≥12(N=32) <24(N=32) ≥24(N=20)

≤2 25(48,1) 1(5,0) 24(75,0) 6(18,8) 19(95,0)

≤3 29(55,8) 2(10,0) 27(84,4) 9(28,1) 20(100,0)

≤5 34(65,4) 2(10,0) 32(100,0) 14(43,8) 20(100,0)

>5 18(34,6) 18(90,0) 0(0,0) 18(56,2) 0(0,0) Trẻ trên 12 tháng tuổi có 75% độ sai biệt khúc xạ nằm trong khoảng ±2D, trẻ trên 24 tháng tuổi có 95% độ sai biệt khúc xạ nằm trong

Trang 4

khoảng ±2D, và 100% độ sai biệt khúc xạ nằm

trong khoảng ±3D Hay nói cách khác số tháng

tuổi của trẻ càng lớn thì độ sai biệt khúc xạ tuyệt

đối càng nhỏ hay công thức dự đoán công suất

khúc xạ của IOL trên mắt trẻ càng chính xác

Bảng 5: Sự tương quan và phương trình hồi quy

AL & Tháng 0,67 <0,001 AL = 18,59 + 0,05 x

tháng

K & Tháng 0,45 <0,001 K = 46,35 – 0,03 x tháng

Độ sai biệt &

Tháng 0,66 <0,001

Độ sai biệt = -6,44 + 0,07 x tháng

Độ sai biệt & K 0,59 <0,001 Độ sai biệt = 37,68 –

0,92 x K

Độ sai biệt & AL 0,78 <0,001 Độ sai biệt = -26,67 +

1,12 x AL

Chieu dai truc nhan cau 95% CI Fitted values

Thang tuoi Ktrungbinh 95% CI Fitted values

Biểu đồ 1: Tương quan giữa chiều dài trục nhãn cầu

và tháng tuổi

Biểu đồ 2: Tương quan giữa công suất khúc xạ giác

mạc trung bình K và tháng tuổi

Chiều dài trục nhãn cầu có mối tương quan

thuận cao với số tháng tuổi của trẻ (r=0,67;

p<0,001) nhưng công suất khúc xạ giác mạc

trung bình thì chỉ có mối tương quan nghịch

trung bình với số tháng tuổi của trẻ (r=0,45; p<0,001)

Chieu dai truc nhan cau (mm) Sai biet khuc xa dai so (D) Fitted values

0 12 24 36 48 60 72 84 96 108 120 132 144

Thang tuoi Sai biet khuc xa dai so (D) Fitted values

Biểu đồ 3: Tương quan giữa độ sai biệt khúc xạ đại số

và chiều dài trục nhãn cầu

Biểu đồ 4: Tương quan giữa độ sai biệt khúc xạ đại số

và tháng tuổi

Độ sai biệt khúc xạ có mối tương quan thuật

rất cao với chiều dài trục nhãn cầu (r=0,78;

p<0,001) và số tháng tuổi của trẻ (r=0,66;

p<0,001) Bên cạnh đó độ sai biệt khúc xạ chỉ có

mối tương quan nghịch trung bình với công suất khúc xạ giác mạc trung bình (r=0,59; p<0,001)

Trang 5

BÀN LUẬN

Từ các kết quả trên chúng tôi nhận thấy độ

sai biệt khúc xạ giữa khúc xạ thật sự đo được

trên mắt trẻ sau phẫu thuật và khúc xạ dự đoán

trước phẫu thuật càng cao khi tuổi phẫu thuật

càng nhỏ cà trục nhãn cầu càng ngắn Trong

nghiên cứu của chúng tôi khi trẻ lớn hơn hoặc

bằng 24 tháng tuổi và/hoặc mắt có chiều dài trục

nhãn cầu từ 21mm trở lên thì sự sai biệt khúc xạ

không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả này

cũng tương tự như trong nghiên cứu của các tác

giả khác Theo Tromans(9), độ sai biệt khúc xạ

càng cao ở mắt trẻ có chiều dài trục nhãn cầu

ngắn hơn 20mm hoặc trẻ nhỏ hơn 36 tháng tuổi

Tác giả Barry(3), cũng cho kết luận tương tự

Tromans, hai tác giả này đề nghị cần có một

công thức thích hợp hơn để sử dụng ở trẻ nhỏ

Ngược lại, theo tác giả Ashworth(1), sự khác

nhau này không có ý nghĩa thống kê ở trẻ nhỏ

Tuy nhiên, một số yếu tố khác cũng gây ảnh

hưởng đến độ sai biệt khúc xạ: Sai số do dụng

cụ (máy đo khúc xạ tự động cầm tay, máy siêu

âm A), sai số do phẫu thuật (vị trí kính đặt, lệch

kính), sai số do công thức tính công suất kính,

sai số do các yếu tố khác như gây mê làm mềm

nhãn cầu, ảnh hưởng của vành mi lên mắt trẻ

khi đo công suất khúc xạ giác mạc

KẾT LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy

công thức SRK-T dùng để tính công suất IOL

đặt cho mắt trẻ cho kết quả khá chính xác ở mắt

trẻ trên 24 tháng tuổi hay mắt có trục nhãn cầu

trên 21 mm Ở trẻ có số tháng tuổi càng nhỏ

hoặc trục nhãn cầu càng ngắn thì sai số dự đoán khúc xạ hậu phẫu càng cao Đây cũng là cơ sở

để chúng ta xác định nguyên nhân sai số trong việc tính công suất kính ở mắt trẻ em, nghiên cứu tốc độ phát triển của mắt trẻ được đặt kính nội nhãn và để đưa ra một công thức tính công suất IOL chính xác hơn chuyên dùng cho trẻ nhỏ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

outcomes after primary intraocular lens implantation in infants"

Br J Ophthalmol, 91: 596 – 599

primary intraocular lens implantation or contact lens correction for aphakia in the first year of age" Ophthalmologica, 219(2): 72 – 79

3 Barry JS, Ewings P, Gibbon C, Quinn AG (2006) "Refractive outcomes after cataract surgery with primary lens implantation

in infants" Br J Ophthalmol, 90: 1386 – 1389

4 Birch EE, Cheng C, Stager DR, Felius J (2005) "Visual Acuity Development After the Implantation of Unilateral Intraocular Lenses in Infants and Young Children" J AAPOS, 9(6): 527 –

532

5 Crouch ER, Crouch ER Jr., Pressman SH (2002) "Prospective analysis of pediatric pseudophakia: myopic shift and postoperative outcomes" J AAPOS, 6(5): 277 – 282

6 Dahan E (2000) "Intraocular lens implantation in children" Curr Opin Ophthalmol, 11(1): 51 – 55

Medow NB, Wilson ME, Buckley EG (2004) "Optotype acuity and re-operation rate after unilateral cataract surgery during the first 6 months of life with or without IOL implantation" Br J Ophthalmol, 88(11): 1387 – 1390

"Refractive change in pediatric pseudophakia: 6-year follow-up"

J Cataract Refract Surg, 28(5): 810 – 815

intraocular lens power calculation in paediatric cataract surgery"

Br J Ophthalmol, 85(8): 939 – 941

after congenital cataract surgery" Am J Ophthalmol, 138(6): 915 – 924

Ngày đăng: 19/01/2020, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w