1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh phình đại tràng bẩm sinh

6 138 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 207,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết là mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BN bị PĐTBS được PTNS một thì. Đối tượng và phương pháp NC: mô tả tiến cứu BN bị PĐTBS được PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi trung Ương từ 1/2008 đến 3/2010.

Trang 1

BỆNH PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH

Vũ Thị Hồng Anh *

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BN bị PĐTBS được PTNS một thì Đối tượng và phương pháp NC: mô tả tiến cứu BN bị PĐTBS được PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi trung Ương từ 1/2008 đến 3/2010 Kết quả: 71 BN gồm 12 nữ (16,9%), 59 nam (83,1%) 5 BN có

dị tật kèm theo (2 Down; 2 tim bẩm sinh; 1 thận đa nang) Có 22 BN sơ sinh (31,0%) Tuổi phẫu thuật TB là 5,6 tháng (16 ngày ÷ 24 tháng) 43 BN (60,6%) không đại tiện phân su kèm tắc ruột 71,8% khởi phát triệu chứng ở tuổi sơ sinh Khởi phát với táo bón (39,4%), tắc ruột (38,0%) Triệu chứng lúc vào viện: tắc ruột (32,4%), bụng to (60,6%), viêm ruột (5,6%), u phân (1,4%) 23 BN được chụp bụng (17,4% có hình mức nước và hơi) 100% BN có hình ảnh “ba đoạn” trên phim chụp ĐT, độ nhạy của chụp đại tràng là 79,7%

Kết luận: Không đại tiện phân su sau đẻ, táo bón và chướng bụng xuất hiện sớm trong những

tháng đầu sau đẻ là triệu chứng chính của bệnh PĐTBS Có triệu chứng lâm sàng của bệnh cùng với hình ảnh “ba đoạn” trên phim chụp ĐT hoàn toàn có thể chỉ định mổ

Từ khóa:

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Bệnh PĐTBS được đặc trưng bởi không có tế

bào hạch trong đám rối thần kinh ruột Bệnh

chiếm khoảng 1/5000 trẻ sinh còn sống [8]

Phẫu thuật thường được ưa chuộng hiện nay

là phẫu thuật Soave cải tiến và phẫu thuật

Swenson Sau khi cắt bỏ đoạn vô hạch, đại

tràng lành được nối với ống hậu môn, nếu đại

tràng bị giãn nhiều sẽ tăng nguy cơ bục miệng

nối mà đây là biến chứng nặng đối với bệnh

nhân Vì vậy, để an toàn, những bệnh nhân

này thường được mổ nhiều thì Biểu hiện của

bệnh PĐTBS thường xuất hiện rất sớm từ

ngay sau sinh với những triệu chứng như

chậm đại tiện phân su, táo bón, bụng to, tắc

ruột Với những bệnh nhân tắc ruột thường

được đưa tới viện ngay, nhưng những bệnh

nhân bị táo bón thường không được đưa tới

viện sớm Đôi khi mặc dù đã được đưa tới

viện nhưng cũng chưa được chẩn đoán kịp

thời dẫn đến tình trạng đại tràng bị giãn to

Một số trường hợp xuất hiện biến chứng viêm

ruột, đôi khi cần phải làm hậu môn nhân tạo

để cứu sống bệnh nhân bị viêm ruột nặng

Mặc dù không phải là bệnh hiếm gặp nhưng

những hiểu biết về chẩn đoán bệnh cũng như

những tiến bộ trong phẫu thuật với những

*

bệnh nhân bị PĐTBS được chẩn đoán và can thiệp sớm tại các tuyến y tế cơ sở còn hạn chế Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chẩn đoán bệnh PĐTBS

là rất cần thiết Bệnh nhân sẽ được chẩn đoán sớm ngay từ khi có triệu chứng khởi phát, tạo

cơ hội cho BN được phẫu thuật một thì với những đường mổ ít sang chấn, thẩm mĩ, hạn chế biến chứng liên quan đến các lần gây mê, đến mở và đóng HMNT, giảm chi phí kinh tế

cho gia đình và xã hội Mục tiêu: Phân tích

các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bị PĐTBS được PTNS một thì ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Gồm 71 BN bị PĐTBS được

PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi Trung Ương

từ 1/2008 đến 3/2010 Tiêu chuẩn chẩn đoán: sinh thiết lạnh trong mổ không có tế bào hạch trong đám rối thần kinh ruột

Phương pháp nghiên cứu: mô tả, tiến cứu

Các chỉ tiêu nghiên cứu được thu thập theo mẫu bệnh án thống nhất bao gồm tuổi, giới, dị tật kèm theo, thời gian đại tiện phân su, tuổi khởi phát triệu chứng, triệu chứng khởi phát, thời gian từ khi khởi phát đến khi vào viện, các triệu chứng lúc vào viện Kết quả chụp bụng không chuẩn bị Số lần chụp đại tràng,

Trang 2

vị trí đoạn hẹp trên phim chụp đại tràng, đối

chiếu với vị trí vô hạch trong mổ Các số liệu

được xử lí trên phần mềm SPSS 15.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu, 71 BN được

PTNS một thì chữa PĐTBS gồm 12 BN nữ

(16,9%), 59 BN nam (83,1%), tỉ lệ nam/nữ là

4,5:1 Có 59,2% là con thứ nhất, 32,3% con

thứ hai, 8,5% con thứ ba

Dị tật kèm theo: 2 BN có hội chứng Down, 2

BN bị tim bẩm sinh, 1 BN có thận đa nang

Tiền sử gia đình: một BN nam có anh trai bị

PĐTBS Chưa có BN nào trong nghiên cứu

được xét nghiệm gen

Tuổi BN lúc phẫu thuật TB là 5,6 tháng (16

ngày ÷ 24 tháng) Tuổi BN khi vào viện và

tuổi lúc PT được trình bày ở bảng 3.1

Bảng 1 Tuổi vào viện và tuổi phẫu thuật

Sơ sinh 22 31,0 16 22,5

2 – 6 tháng 30 42,3 36 50,8

7 – 12 tháng 9 12,7 9 12,7

Trên 12 tháng 10 14,0 10 14,0

Triệu chứng lâm sàng

Thời gian đại tiện phân su sau đẻ được trình

bày ở biểu đồ 3.1

Biểu đồ 1 Thời gian đại tiện phân su

Nhận xét: 18,3% đại tiện trong 24 giờ sau đẻ,

21,1% đại tiện phân su từ 25 - 48 giờ sau đẻ,

60,6% không tự đại tiện phân su kèm triệu

chứng tắc ruột: chướng bụng, nôn, không bú

Tuổi khởi phát: 51 BN (71,8%) có triệu

chứng khởi phát ở tuổi sơ sinh, 25,4% triệu

chứng khởi phát từ 1 – 6 tháng tuổi, chỉ có

2,8% triệu chứng khởi phát sau 6 tháng tuổi

Bảng 2 Tuổi khởi phát và thời gian đại tiện

phân su sau đẻ

Thời gian đại tiện

Tuổi khởi phát (tháng) Tổng

n (%)

Sơ sinh 1-6 > 6

≤ 24 giờ (92,3) 12 1 (7,7) 0 13

(100) 25- 48

giờ

10 (66,7)

5 (33,3) 0

15 (100) Không

đại tiện,

TR

29 (67,4)

12 (27,9)

2 (4,7) 43

(100)

Tổng (71,8) 51 (25,4) 18 (2,8) 2 (100) 71

Thời gian từ khi khởi phát tới khi vào viện:

Có 36,6% BN vào viện trong vòng 30 ngày kể

từ khi khởi phát triệu chứng, 42,3% vào viện sau khi khởi phát từ 1 – 6 tháng, còn 21,1% vào viện sau khởi phát trên 6 tháng

Triệu chứng khởi phát và tuổi khởi phát

Bảng 3 Triệu chứng và tuổi khởi phát

Triệu chứng khởi phát

Tuổi khởi phát

Tổng

Sơ sinh > 1 tháng

Tắc ruột 27

(52,9) 0 27 (38,0) Viêm

ruột 3 (9,8) 0 3 (4,2) Táo bón 10

(19,6) 18 (90,0) 28 (39,5) Bụng to 5 (9,8) 1 (5,0) 6 (8,5) Bụng to,

đại tiện ít 3 (5,9) 1 (5,0) 4 (5,6) Táo bón,

bụng to 3 (5,9) 0 3 (4,2)

Tổng 51 (100) 20 (100) 71 (100)

Chẩn đoán của tuyến điều trị: Có 1/4 BN

vào bệnh viện huyện được chẩn đoán là PĐTBS Trong 29,6% BN vào bệnh viện tỉnh

có 4,2% được chẩn đoán là PĐTBS Có 42,3% BN vào BVNTW trên một lần trong đó 21,1% BN được chẩn đoán là táo bón, 16,9% được chẩn đoán tắc ruột

Lí do vào viện

Bảng 4 Lí do vào viện

KHÔNG CÓ HÌNH VẼ

Trang 3

Lí do vào viện n (%)

Không đại tiện, chướng

bụng, nôn 23 (32,4)

Táo bón 32 (45,1)

Bụng to 10 (14,1)

Đại tiện phân lỏng,

mùi khẳn, chướng bụng 4 (5,6)

Lí do khác 2 (2,8)

Triệu chứng lúc vào viện được trình bày ở

bảng 5

Bảng 5 Triệu chứng lúc vào viện

Triệu chứng lúc vào n (%)

Tắc ruột 23 (32,4)

Bụng to 43 (60,6)

Viêm ruột 4 (5,6)

U phân 1 (1,4)

Tình trạng dinh dưỡng: 28,2% BN bị suy

dinh dưỡng (22,6% độ I; 5,6% độ II)

Viêm ruột trước mổ: 9/71 BN (12,7%) bị

viêm ruột trước mổ, cả 9 BN có biểu hiện

viêm ruột mức độ nhẹ

Cận lâm sàng:

Chụp bụng: 23 BN được chụp bụng không

chuẩn bị, 82,6% có hình ảnh quai ruột giãn,

17,4% có hình ảnh mức nước và hơi, không

ghi nhận thấy hình ảnh “bóng hơi hình

chóp”

Chụp đại tràng: 71 BN đều có hình ảnh “ba

đoạn” trên phim chụp ĐT trong đó 54 BN

(76,1%) chụp ĐT một lần, 15 BN (21,1%)

chụp ĐT hai lần, 2 BN (2,8%) phải chụp ĐT

3 lần Tổng số là 89 lần chụp, độ nhạy của

chụp ĐT trong chẩn đoán PĐTBS là 79,7%

Trong 17 BN phải chụp đại tràng trên 1 lần

thì có tới 12 BN bị táo bón, 3 BN thường

chướng ụng và đại tiện són, 2 BN bị tắc ruột

Vị trí đoạn vô hạch: 14,1% đoạn hẹp ngang

S3 (90% trong số này vô hạch trong mổ ở

trực tràng), 36,6% đoạn hẹp ngang S1-S2

(80,8% số này vô hạch trong mổ từ trực tràng

tới 2/3 dưới ĐT xích ma, không có BN nào vô

hạch lên tới 1/3 trên ĐT xích ma), 49,3%

đoạn hẹp trên S1 (34,3% trong số này vô hạch hết ĐT xích ma, không có vô hạch ở trực

tràng) Xét nghiệm máu: 8,5% có tỉ lệ huyết

sắc tố ≤ 9 g/dl, tất cả BN này đều được truyền máu trước mổ

BÀN LUẬN

Một số đặc điểm của nhóm nghiên cứu

Bệnh PĐTBS gặp ở nam nhiều hơn nữ, kết quả của chúng tôi phù hợp với nhiều nghiên cứu Một BN trong nghiên cứu này có anh trai cũng bị PĐTBS Tỷ lệ PĐTBS có tính chất gia đình từ 6% đến 20% [10] Hầu như tất cả

BN đều sống, sẽ lập gia đình và sinh con Những BN này và anh em ruột của họ có nguy cơ truyền bệnh cho con Chính vì vậy, khai thác tiền sử gia đình đầy đủ hết sức quan trọng để cung cấp lời khuyên đúng đắn cho

BN bị PĐTBS Đến nay, đã xác định đột biến

ở 8 gen có liên quan đến bệnh PĐTBS, do vậy cần xác định gen cho tất cả BN bị PĐTBS Chưa có BN nào trong nghiên cứu này được xét nghiệm gen

Tỷ lệ dị tật bẩm sinh kết hợp với PĐTBS từ 13,5%- 24% Dị tật thường xuất hiện ở hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu sinh dục, thần kinh Hội chứng Down là dị tật hay gặp nhất, khoảng 5 % [3] Chúng tôi có 7% BN có dị tật kèm theo, trong đó 2,8% còn ống thông động mạch, thông liên thất Trong PTNS, bơm CO2 vào khoang phúc mạc có thể gây những biến loạn về tuần hoàn và hô hấp BN

bị tim bẩm sinh thì khả năng thích ứng với những biến loạn này hạn chế Vì vậy, những

BN này cần được đánh giá trước mổ kỹ lưỡng Tất cả BN trong nghiên cứu này đều được bác sỹ gây mê khám và đánh giá trước

mổ Với BN bị tim bẩm sinh nặng, không nên

áp dụng PTNS [6]

Tuổi trung bình của BN lúc PT là 5,6 tháng (16 ngày ÷ 24 tháng) Trong 22 BN vào viện lúc sơ sinh có 8 BN vào viện ở tuần đầu tiên sau đẻ Có 16/71 BN (22,5%) được PT ở tuổi

sơ sinh Khác với PT kinh điển, PTNS cần bơm CO2 vào khoang phúc mạc làm tăng áp lực ổ bụng do đó có thể dẫn tới biến loạn về

hô hấp, tuần hoàn, chuyển hóa và các chức năng khác Ở trẻ em do cơ thể chưa hoàn

Trang 4

thiện (hệ thần kinh, hệ cơ, hệ tuần hoàn, hệ hô

hấp, thăng bằng kiềm toan, sự điều nhiệt), các

chức năng chưa phát triển đầy đủ và rất nhạy

cảm với tác động từ bên ngoài, đặc biệt là trẻ

sơ sinh [1] Có tác giả PTNS thành công cho

BN bị PĐTBS có tuổi TB là 5 ngày [7]

Trong giai đoạn đầu thời kỳ sơ sinh, sự thích

nghi với môi trường của trẻ còn kém, đồng

thời khi đã chẩn đoán xác định PĐTBS, việc

thụt tháo cho trẻ dễ dàng, ĐT giãn ít, trì hoãn

PT không làm tình trạng bệnh xấu đi Vì vậy,

để an toàn cho BN, chúng tôi thấy nên PT khi

BN trên 2 tuần tuổi, một số tác giả khác cũng

có chủ trương như vậy [11]

Đặc điểm lâm sàng

Biểu hiện sớm nhất của PĐTBS ngay sau khi

sinh là chậm đại tiện phân su Theo y văn,

khoảng 90% BN bị PĐTBS không đại tiện

phân su trong 24 giờ đầu sau đẻ [8] Trong

nghiên cứu này, có 60,6% không đại tiện

phân su kèm triệu chứng tắc ruột như chướng

bụng, nôn, không bú (biểu đồ 3.1) Mặc dù 28

BN đại tiện phân su trong 48 giờ sau sinh

nhưng 22/28 BN này lại xuất hiện triệu chứng

của bệnh như tắc ruột, chướng bụng tăng dần,

táo bón ngay trong giai đoạn sơ sinh (bảng

3.2; bảng 3.3) Ngoài giai đoạn sơ sinh, táo

bón là triệu chứng khởi phát thường gặp nhất

Như vậy, dù không có chậm đại tiện phân su

nhưng sau đó nếu các triệu chứng của bệnh

PĐTBS xuất hiện trong giai đoạn sơ sinh

hoặc vài tháng đầu sau sinh thì cần nghĩ tới

khả năng BN bị PĐTBS, từ đó đề ra những

cận lâm sàng phù hợp để có chẩn đoán xác

định sớm

Trong nghiên cứu này, táo bón, tắc ruột

(không đại tiện, nôn, chướng bụng) và bụng

to là những lí do chính gia đình đưa BN tới

viện (lần lượt là 45,1%; 32,4% và 14,1%)

Phần lớn BN sơ sinh vào viện vì có triệu

chứng tắc ruột, không có BN nào vào viện

trong lứa tuổi này vì táo bón Trong nghiên

cứu này, biểu hiện tắc ruột sơ sinh xuất hiện

ngay sau đẻ thường được chẩn đoán là hội

chứng nút phân su, sau khi được thụt tháo BN

hết các triệu chứng tắc, một số BN được chụp

đại tràng để chẩn đoán, một số BN cho về luôn và vào lại viện ở giai đoạn sau đó Qua kết quả này chúng tôi thấy rằng, với những

BN sau đẻ không đại tiện được phân su kèm theo có triệu chứng tắc ruột thì nên cho chụp

ĐT giúp chẩn đoán sớm Một số tác giả có cùng quan điểm như vậy [4]

Táo bón là triệu chứng chính của PĐTBS và là lí do vào viện chủ yếu của BN ở

độ tuổi ngoài giai đoạn sơ sinh Một số BN táo bón đơn thuần, một số táo bón kèm theo chướng bụng hoặc chướng bụng kèm đại tiện són Mặc dù là triệu chứng chính của bệnh nhưng bản thân cha mẹ BN cũng thường trì hoãn việc đưa trẻ đi khám, tự điều trị bằng thay đổi chế độ ăn của mẹ, thay đổi loại sữa

ăn của trẻ, thụt mật ong hoặc kích thích hậu môn bằng tăm bông Bên cạnh đó, trong số những BN được vào BV Nhi Trung Ương trên một lần, có đến 50% số BN cũng chỉ được chẩn đoán là táo bón, được tư vấn điều trị mà không được chụp ĐT Qua phân tích thấy rằng những BN bị táo bón xuất hiện sớm

từ một vài tháng đầu sau sinh, dù có chậm đại tiện phân su hay không đều nên chụp ĐT để chẩn đoán Trường hợp không rõ hình ảnh

“ba đoạn” trên phim chụp ĐT thì nên hẹn BN sau một tháng đến khám lại Tuy nhiên cần giải thích rõ cho gia đình BN về khẳ năng bị bệnh PĐTBS, nếu được mổ sớm sẽ được mổ một thì với đường mổ ít xâm lấn Thực tế có những trường hợp sau nhiều tháng (lâu nhất là

16 tháng) mới cho BN đến khám lại mặc dù

BN vẫn bị táo bón, hàng tuần mới đại tiện Thời gian mắc bệnh lâu làm ĐT giãn nhiều, khó khăn cho PT, tăng nguy cơ bục miệng nối

Không tính trường hợp tắc ruột, bụng to là triệu chứng thực thể thường gặp nhất khi BN vào viện (60,6%; bảng 3.5) Bụng của BN chỉ

to ở mức độ vừa phải, to hơn so với trẻ cùng lứa tuổi, không chướng như BN bị tắc ruột, không điển hình như mổ tả trong y văn vì tuổi

BN nhỏ (73,3% ≤ 6 tháng tuổi) Mặt khác,

BN có táo bón nhưng hầu hết đều được can thiệp điều trị như nong HM, thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo Duy nhất một BN 16

Trang 5

tháng có u phân do táo bón kéo dài nhưng

không được can thiệp gì khi chưa vào viện Vì

có u phân nên BN cần thời gian chuẩn bị

trước mổ lâu (thụt tháo đến khi không còn u

phân) Viêm ruột là biến chứng thường gặp cả

trước và sau mổ đối với BN bị PĐTBS, là

một trong những nguyên nhân tử vong chính

có liên quan đến bệnh Tuy nhiên, 12,7% BN

đều bị viêm ruột mức độ nhẹ Vì tuổi BN nhỏ

nên mặc dù có 28,2% BN suy dinh dưỡng

nhưng 22,6% suy dinh dưỡng độ I, chỉ có

5,6% suy dinh dưỡng độ II Những BN vào

viện có các triệu chứng cấp tính như tắc ruột,

VR vẫn được PTNS vì các BN này được điều

trị bằng kháng sinh, lập lại cân bằng nước và

điện giải, truyền đạm, thụt tháo, khi ổn định

mới xếp lịch mổ

Đặc điểm cận lâm sàng

Mặc dù 23 BN có triệu chứng tắc ruột lúc vào viện

nhưng chỉ ghi nhận thấy 17,4% có hình ảnh mức

nước và hơi, 82,6% quai ruột giãn Không ghi

nhận thấy hình ảnh “bóng hơi hình chóp” của

vùng chuyển tiếp như nghiên cứu của Pratap [9]

Hình ảnh đặc trưng của PĐTBS trên phim chụp

ĐT là hình ảnh “ba đoạn” gồm đoạn vô hạch hẹp,

đoạn chuyển tiếp hình phễu và đoạn giãn Khi đối

chiếu với kết quả giải phẫu bệnh thấy 100% BN

có các triệu chứng lâm sàng của bệnh, có hình ảnh

“ba đoạn” trên phim chụp ĐT đều không có tế bào

hạch trong đám rối thần kinh ruột Trong phạm vi

nghiên cứu này, độ nhạy của chụp ĐT là 79,7%,

kết quả này tương tự một số nghiên cứu [4] Trong

điều kiện hiện nay của Bệnh viện Nhi Trung

Ương, chụp ĐT là phương pháp thăm dò duy nhất

để chẩn đoán PĐTBS trươc mổ Vì vậy, với những

trường hợp không rõ hình ảnh “ba đoạn” mà vẫn

có triệu chứng lâm sàng cần chụp lại ĐT hoặc hẹn

BN chụp lại sau một tháng Tránh để lâu quá làm

ĐT phía trên đoạn vô hạch giãn to hoặc có biến

chứng viêm ruột, có thể phải làm HMNT hoặc đe

dọa tính mạng BN Có thể đối chiếu vị trí đoạn

chuyển tiếp với các đốt sống cùng 1,2,3 để dự

đoạn vị trí vô hạch từ đó dự kiến đường mổ Với

vị trí đoạn chuyển tiếp phía trên S1 thì chắc chắn

vị trí vô hạch đã lên tới ĐT xích ma Trên phim

thẳng, nếu vị trí đoạn chuyển tiếp tương ứng với

phần ngang của ĐT xích ma thì vô hạch đã lên tới

1/3 trên ĐT xích ma Khi đó có thể khó khăn nếu lựa chọn phẫu thuật qua đường hậu môn

KẾT LUẬN Không đại tiện phân su sau đẻ, táo bón và chướng bụng xuất hiện sớm trong những tháng đầu sau đẻ

là triệu chứng chính của bệnh PĐTBS Có triệu chứng lâm sàng của bệnh cùng với hình ảnh “ba đoạn” trên phim chụp ĐT hoàn toàn có thể chỉ định mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Phương Anh (2003), Nghiên cứu

gây mê trong mổ nội soi ổ bụng ở trẻ em, Luận văn

Thạc sỹ Y học, Hà nội

[2] Ali K.A.E (2010), "Transanal Endorectal Pull-through for Hirschsprung's Disease During the First

Month of Life", Annal Pediatr Surg, 6 (2), pp 81-8

[3] Amiel J., Lyonnet S (2001), "Hirschsprung’s

disease, associated syndromes, and genetics: a review", J

Med Genet, 38, pp 729-739

[4] De Lorijn F., Kremer L.C.M., Reitsma J.B et al (2006), "Diagnostic Tests in Hirschsprung Disease: A

Systematic Review", J Pediatr Gastroentero and Nutri,,

42 (5), pp 496-505

[5] Georgeson K.E., Robertson D.J (2004),

"Laparoscopic-assisted approaches for the definitive

surgery for Hirschsprung's disease ", Semin Pediatr

Surg 13 (4), pp 256-62

[6] Gupta R., Singh S (2009), "Challenges in

Paediatric Laparoscopic Surgeries", Ind J of Anaesth, 53

(5), pp 560-66

[7] Kumar R., Mackay A., Borzi P (2003),

"Laparoscopic Swenson procedure an optimal approach for both primary and secondary pull-through

for Hirschsprung's disease ", J Pediatr Surg, 38 (10),

pp 1440-3

[8] Lawson J.O.N (1993), "Hirschsprung’s

disease", Surgery of the Anus, rectum and colon,

Saunder Company pulisher, pp 2351-2415

[9] Pratap A (2007), "Application of a plain abdominal radiograph transition zone (PARTZ) in

Hirschsprung's disease ", BMC Pediatr 7(1), pp 1-5

[10] Standnard V.A., Fower C., Robinson L et.al (1991), "Familial HD: Report of Autosomal Dominant

and Probable Recessive X-Linked Kindreds", J Pediatr

Surg, 26 (5), pp 591-594

[11] Wang N.L., Lee H., Yeh M et al (2004),

"Experience with primary laparoscopy-assisted

endorectal pull-through for Hirschsprung's disease ",

Surg Int 20 (2), pp 118-22

Trang 6

SUMMARY

Vu Thi Hong Anh *

Thai Nguyen University of Medicine & Pharmacy

Purpose: To descibe the clinical symtoms, investigation of Hirschsprung’s disease treated by primary

laparoscopic

Materials and methods: We studied the patients with Hirschsprung’s disease referred to National Hospital

of Pediatric, from 2008 to 2010 In this cross sectional descriptive- analytic study, all data were collected from patients’ files and questionnaires including demographic data, clinical presentations, diagnostic methods

Results: There were 71 patients, including 59 boys and 12 girls, 5 patients had associated anomalies, 22

patients were newborn Mean age operation was 5.6 month (from 16 days to 24 months) 60.6% con-stipation The primary symtoms rose at first month of life in 71.8% Clinical findings were variable such as: ileus (32.4%), abdominal distension (60.6%), enterocolitis (5.6%) and fecaloma (1.4%) 23 patients were abdominal radiograph (fluid level in 17.4%) Barium enema diganosis with cone – shaped transition zone in all patients, the sensitive of contrast enema was 79,7%

Conclusion: The main clinical symtoms of Hirschsprung’s disease were constipation, constation,

abdominal distension in few months of life The operation can be performed base on cilical symtoms and cone shaped transition zone on contrast enema

Keywords: Hirschsprung’s disease, Laparoscopic, constipation

*

Ngày đăng: 19/01/2020, 15:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm