1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi điều trị nang ruột đôi ở trẻ em

5 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 384,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị nang ruột đôi ở trẻ em. Nghiên cứu tiến hành trên các bệnh nhân có chẩn đoán cuối cùng là nang ruột đôi được phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2013.

Trang 1

Trần Ngọc Sơn*, Vũ Xuân Hoàn* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị nang 

ruột đôi ở trẻ em. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Hồi cứu các bệnh nhân có chẩn đoán cuối cùng là nang ruột đôi được phẫu 

thuật nội soi tại bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2013. Hai phương pháp phẫu thuật  nội soi được ứng dụng: Phẫu thuật nội soi toàn bộ khi toàn bộ ca mổ được thực hiện trong ổ bụng, và Phẫu thuật  nội soi hỗ trợ khi nang ruột đôi được đưa ra ngoài qua đường rạch rốn và thực hiện cắt nang (cùng với cắt ruột  hoặc không) ở ngoài ổ bụng. 

Kết quả: Có 29 bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu với tuổi trung vị là 24 tháng (dao động 10 ngày đến 9 

tuổi). Triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là đau bụng (89,7%), nôn (62,1%), chướng bụng (27,6%). Vị trí của  nang  ruột  đôi  ở  hồi  tràng  là  72,4%,  manh  tràng  (17,2%),  tá  tràng  (3,4%),  hỗng  tràng  (3,4%)  và  đại  tràng  ngang (3,4%). Cắt toàn bộ nang ruột đôi được thực hiện trên 34,5%, mở chỏm nang ở 42,4% và cắt đoạn ruột  cùng với nang ở 24,1%. phẫu thuật nội soi hỗ trợ được thực hiện ở 58,6% và phẫu thuật nội soi toàn bộ – ở  41,4%. Cắt toàn bộ nang hoặc mở chỏm nang đều được thực hiện tương đương với 2 phương pháp nhưng cắt  ruột chỉ được thực hiện bởi phẫu thuật nội soi phẫu thuật nội soi hỗ trợ. Ở 31% bệnh nhân phẫu thuật được  thực hiện bằng 1 trocar duy nhất. Thời gian mổ trung bình là 64 ± 17,0 phút. Không có biến chứng nào trong và  sau mổ, không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. Thời gian trung vị nằm viện sau mổ là 4 ngày (giao động 

2 ‐ 6 ngày). Với thời gian theo dõi 1 ‐ 36 tháng (trung vị 12 tháng), tất cả bệnh nhân đều có sức khỏe tốt và  không có tái phát. 

Kết luận: Phẫu thuật nội soi có tính khả thi, an toàn, hiệu quả và là lựa chọn hàng đầu trong điều trị nang 

ruột đôi ở trẻ em. Cả 2 phương pháp phẫu thuật nội soi toàn bộ và phẫu thuật nội soi hỗ trợ có thể ứng dụng 

trong các trường hợp chọn lọc, tuy nhiên phẫu thuật nội soi hỗ trợ có ưu thế hơn trong trường hợp phải cắt ruột. 

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi, nang ruột đôi, trẻ em. 

ABSTRACT  

LAPAROSCOPIC MANAGEMENT OF INTESTINAL DUPLICATION CYST IN CHILDREN 

 Tran Ngoc Son, Vu Xuan Hoan  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 40 ‐ 44 

Objectives: To investigate the feasibility, safety and efficacy of laparoscopic surgery (LS) in management of 

intestinal duplication cyst in children. 

Methods: The medical records of all patients diagnosed with intestinal duplication cyst undergoing LS at 

our center from March, 2009 to March, 2013 were reviewed. All patients underwent either of the two types of  laparoscopic procedures: complete laparoscopic when the entire operation was carried out inside the abdomen and  laparoscopic‐assisted (LA) when the intestinal duplication cyst was exteriorized through an umbilical incision for  extracorporeal excision.  

Results: 29 patients were identified with a median age of 24 months (range 10 days – 9 years). The most 

common clinical presentations were abdominal pain (89.7%), vomiting (62.1%), abdominal distention (27.6%). 

* Bệnh viện nhi Trung Ương. 

Trang 2

The  locations  of  the  intestinal  duplication  cyst  were  the  ileum  (72.4%),  the  caecum  (17.2  %),  the  jejunum  (3.4%), the transverse colon (3.4%) and the duodenum (3.4%). Complete cyst excision was carried out in 34.5%,  cystic unroofing in 41.4% and intestinal resection in 24.1%. Laparoscopic‐assisted was performed in 58.6% and  complete  laparoscopic  in  41.4%.  Cyst  excision  and  cyst  unroofing  were  equally  performed  through  either  techniques, but all intestinal resections were performed only by the laparoscopic‐assisted approach. In 31%, only 

a  single  umbilical  port  was  used.  The  mean  operative  time  was  64  ±  17.0  minutes.  There  were  no  intra‐  or  postoperative complications, no conversion to open surgery. The median postoperative hospital stay was 4 days  (range 2‐6 days). At follow up 1‐ 36 months (median 12 months), all patients were in good health and without  recurrence.  

Conclusions: Laparoscopic management is feasible, safe, effective and should be the treatment of choice for 

most  cases  of  intestinal  duplication  cyst  in  children.  Both  complete  laparoscopic  and  laparoscopic‐assisted  approaches  could  be  used  in  selected  cases  but  laparoscopic‐assisted  would  be  preferred  in  case  of  intestinal  resection. 

Key words: Laparoscopic surgery, intestinal duplication, children. 

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Dị tật ống tiêu hóa đôi khá hiếm gặp, với tần 

suất được báo cáo là 1/4500. Mặc dù dị tật này có 

thể gặp ở mọi vị trí từ hầu họng cho tới hậu môn, 

nhưng  hay  gặp  nhất  là  ở  hồi  tràng,  hỗng  tràng, 

đại tràng, dạ dày và tá tràng(2,4,5,7,9,). Ruột đôi hay 

gặp ở dạng nang (cystic type) và hiếm khi hơn – ở 

dạng ống (tubular type)(2). Điều trị qui chuẩn đối 

với nang ruột đôi (NRĐ) là phẫu thuật cắt nang 

(có cắt hoặc không cắt ruột) và mổ mở bụng vẫn 

là phương pháp phẫu thuật phổ biến nhất(4,5,9). Vai 

trò  của  phẫu  thuật  nội  soi  (PTNS)  trong  điều  trị 

thường qui cho NRĐ vẫn còn chưa được xác định 

rõ  do  chỉ  có  số  ít  báo  cáo  về  chủ  đề  này(2,3,6,7,10). 

Trong  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  báo  cáo  kinh 

nghiệm của mình trong PTNS điều trị NRĐ ở trẻ 

em và đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả 

của phương pháp này.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Nghiên cứu đánh giá tính khả thi, an toàn và 

hiệu  quả  của  phẫu  thuật  nội  soi  trong  điều  trị 

nang ruột đôi ở trẻ em. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Chúng  tôi  hồi  cứu  lại  tất  cả  các  bệnh  nhân 

với chẩn đoán NRĐ được phẫu thuật nọi soi tại 

bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 3/2009 đến 

tháng 3/2013. Về kỹ thuật mổ, chúng tôi sử dụng 

một  trocar  10  mm  ở  rốn  và  0  –  2  trocar  khác  5 

mm.  Hai  loại  PTNS  được  thực  hiện  là  phẫu 

thuật  nội  soi  toàn  bộ  (PTNSTB)  khi  toàn  bộ  ca 

mổ được thực hiện trong ổ bụng và phẫu thuật  nội soi hỗ trợ (PTNSHT) khi NRĐ cùng với quai  ruột liền kề được đưa ra ngoài ổ bụng qua  rốn 

và  cắt  nang  ±  cắt  ruột  được  thực  hiện  ở  bên  ngoài. Chọc kim qua thành bụng hút dịch nang  dưới  sự  kiểm  soát  của  nội  soi  làm  giảm  tối  đa  thể tích nang và giúp đưa nang ra ngoài dễ dàng  hơn. Giải phóng manh tràng được thực hiện cho  đại đa số các trường hợp NRĐ ở góc hồi manh  tràng,  làm  cho  NRĐ  cùng  manh  tràng  đủ  di  động để có thể đưa ra ngoài qua rốn. Ở vị trí này  của NRĐ, chúng tôi cắt ruột thừa thường qui.  Trong  trường  hợp  cắt  chỏm  nang,  phần  thành  nang  tự  do  của  NRĐ  được  cắt  tối  đa  có  thể, niêm mạc của thành nang còn lại được đốt  bằng dao điện và khi thành nang phồng ra ngoài  nhiều như túi thừa, chúng tôi khâu xếp nếp lại  thành nang đó. 

Sau  khi  ra  viện,  bệnh  nhân  được  theo  dõi  định kỳ bằng khám lâm sàng và siêu âm bụng.  Các dữ liệu về đặc điểm bệnh nhân, triệu chứng  lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, mô 

tả trong mổ, kỹ thuật mổ, diễn biến  sau  mổ  và  thời gian nằm viện được tập hợp và phân tích. 

KẾT QUẢ  

Có 29 bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu, 17  nam (58,6%) và 12 nữ (41,4%), với độ tuổi trung 

vị  là  24  tháng  (dao  động  từ  10  ngày  cho  đến  9 

Trang 3

bụng  (89,7%),  nôn  (62,1%),  chướng  bụng 

(27,6%), sốt (13,8%). Siêu âm và CT cho thấy cấu 

trúc nang dạng ống tiêu hóa ở đa số các trường 

hợp và chẩn đoán trước mổ chính xác đạt được 

ở 25 bệnh nhân (86,2%). Các  bệnh  nhân  còn  lại 

có  các  chẩn  đoán  không  chính  xác  như  nang 

bạch huyết ổ bụng, viêm ruột thừa, nang buồng 

trứng  và  nang  ống  mật  chủ.  Kích  thước  trung 

bình của NRĐ là 4,2 ± 1,8 cm (dao động từ 2 cm 

đến 9 cm). Vị trí của NRĐ phổ biến nhất là ở hồi 

tràng  (72,4%  ‐  21  bệnh  nhân)  sau  đó  là  manh 

tràng  (17,2%  ‐  5  bệnh  nhân),  tá  tràng  (3,4%  ‐  1 

bệnh nhân), hỗng tràng (3,4% ‐ 1 bệnh nhân) và 

đại tràng ngang (3,4% ‐ 1 bệnh nhân). PTNSHT 

được  thực  hiện  ở  58,6%  ‐  17  bệnh  nhân)  và 

PTNSTB  (41,4%  ‐  12  bệnh  nhân).  Cắt  toàn  bộ 

NRĐ được thực hiện trên 34,5%, mở chỏm nang 

ở 42,4% và cắt đoạn ruột cùng với nang ở 24,1%. 

Ở  31%  bệnh  nhân  phẫu  thuật  được  thực  hiện 

bằng  1  trocar  duy  nhất.  Tất  cả  các  trường  hợp 

cắt ruột đều được thực hiện bởi PTNSHT.  

Thời  gian  mổ  trung  bình  là  64  ±  17,0  phút 

(dao  động  30  ‐  90  phút).  Không  có  biến  chứng 

nào trong và sau mổ, không có trường hợp nào 

phải  chuyển  mổ  mở.  Thời  gian  trung  vị  nằm 

viện sau mổ là 4 ngày (dao động 2 ‐ 6 ngày). Với 

thời  gian  theo  dõi  1  ‐  36  tháng  (trung  vị  12 

tháng), tất cả bệnh nhân đều có sức khỏe tốt và 

không có tái phát. 

Bảng 1. Phẫu thuật nội soi hỗ trợ và phẫu thuật nội 

soi toàn bộ trong điều trị NRĐ. 

Biến nghiên cứu

Phẫu thuật nội soi hỗ trợ (n=17)

Phẫu thuật nội soi toàn

bộ (n=12) Đặc điểm bệnh nhân:

Tuổi (tháng) 31,0 ± 29,0 26,7 ± 22,8

Vị trí nang ruột đôi

Biến nghiên cứu

Phẫu thuật nội soi hỗ trợ (n=17)

Phẫu thuật nội soi toàn

bộ (n=12) Phẫu thuật

Cắt toàn bộ NRĐ 6 4

Thời gian mổ (phút) 63,8 ± 17,5 64,6 ± 17,1 Ngày nằm viện sau mổ 4,0 ± 1,2 4,4 ± 1,2

*   Biến nghiên cứu với khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 

0,05). 

Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm  PTNSHT  và  PTNSTB  về  đặc  điểm  bệnh  nhân,  kích thước NRĐ, thời gian mổ và thời gian nằm  viện  sau  mổ  (Bảng  1).  Tuy  nhiên  cắt  ruột  chỉ  thực hiện ở nhóm PTNSHT (p < 0,05). Số lượng  trocar trung bình dùng trong nhóm PTNSHT là 

ít  hơn  có  ý  nghĩa  so  với  nhóm  PTNSTB  (1,9  so  với 3,0; p < 0,05) và nội soi 1 trocar duy nhất chỉ 

sử dụng ở nhóm PTNSHT. 

Bảng 2. Phẫu thuật nội soi cắt bỏ toàn bộ nang ± 

cắt ruột so với mở chỏm nang. 

Biến nghiên cứu Cắt toàn bộ (n=17) Mở chỏm nang (n=12)

Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi (tháng) 38,2 ± 28,9 20,5 ± 19,3

Vị trí nang ruột đôi

Kích thước (cm) 4,1 ± 2,3 4,4 ± 1,0 Phẫu thuật: *

Thời gian mổ (phút) 63,5 ± 18,9 65,0 ± 14,9 Ngày nằm viện sau mổ 4,0 ± 1,3 4,3 ± 1,2

*  Variable with statistical significant difference (p < 0,05). 

So  sánh  giữa  nhóm  bệnh  nhân  được  cắt  bỏ  toàn  bộ  NRĐ  (có  cắt  hoặc  không  cắt  ruột),  và  nhóm  bệnh  nhân  được  mở  chỏm  nang  thấy  có 

sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  về  phương 

Trang 4

nang hơn so với PTNSHT. Các biến còn lại (với 

loại trừ về giới) không có sự khác biệt có ý nghĩa 

thống kê, kể cả ngày nằm viện sau mổ.  

BÀN LUẬN  

Cho  đến  nay  số  lượng  các  nghiên  cứu  về 

PTNS trong điều trị NRĐ là rất hạn chế và đa số 

các nghiên cứu này là dựa trên số lượng một vài 

bệnh  nhân(7,8,9).  Một  báo  cáo  số  lượng  lớn  bệnh 

nhân  là  nghiên  cứu  đa  trung  tâm  từ  18  bệnh 

viện  trong  vòng  15  năm(2).  Nghiên  cứu  của 

chúng tôi là trên số lượng bệnh nhi lớn nhất tại 

một trung tâm cho tới nay. 

Biểu hiện lâm sàng của NRĐ ở trẻ em là tùy 

thuộc  vào  vị  trí  của  nang(2,4).  Tất  cả  NRĐ  của 

trong  nghiên  cứu  này  đều  là  trong  ổ  bụng  và 

không  có  triệu  chứng  lâm  sàng  đặc  hiệu.  Chẩn 

đoán xác định NRĐ trong báo cáo này chủ yếu 

dựa  vào  siêu  âm  và/hoặc  CT.  Tuy  nhiên  trong 

một  số  trường  hợp  các  phương  tiện  chẩn  đoán 

hình ảnh này cũng không phân biệt được NRĐ 

với các bệnh lý khác như u nang buồng trứng, u 

nang bạch huyết ổ bụng, nang ống mật chủ như 

đã thấy ở nghiên cứu này cũng như các báo cáo 

khác(1,7). Mặc dù xạ đồ với 99 mTc‐pertechnetate 

có  thể  có  ích  trong  phát  hiện  niêm  mạc  dạ  dày 

lạc  chỗ  trong  NRĐ,  phương  pháp  này  cũng 

không  thể  phân  biệt  được  NRĐ  với  túi  thừa 

Mecjkel(10).  Theo  kinh  nghiệm  của  chúng  tôi  và 

các  tác  giả  khác,  nội  soi  ổ  bụng  có  thể  được  sử 

dụng  như  phương  tiện  chẩn  đoán  hữu  hiệu 

trong các trường hợp như vây.  

Điều  trị  tối  ưu  cho  NRĐ  là  phẫu  thuật  cắt 

toàn  bộ  nang  nhưng  điều  này  không  phải  lúc 

nào cũng đạt được vì nhiều vị trí khác nhau và 

mối  liên  quan  của  NRĐ  với  các  tổ  chức  xung 

quanh(2,4). Các kỹ thuật khác nhau trong điều trị 

NRĐ đã được báo cáo trong y văn bao gồm cắt 

nang  có  cắt  hoặc  không  cắt  ruột  liền  kề,  mở  lỗ 

thông thành nang vào lòng ruột liền kề, cắt nang 

một phần và bóc niêm mạc nang còn lại, nối ruột 

với  nang  chủ  yếu  được  thực  hiện  bằng  mổ 

mở(4,5,9). Trong một nghiên cứu đa trung tâm về 

PTNS điều trị đường tiêu hóa đôi(2), kỹ thuật phổ 

biến nhất là bóc cắt nang ‐ 48%, cắt ruột 28% và 

mở  chỏm  nang  –  24%,  với  PTNSTB  được  sử  dụng  nhiều  hơn  PTNSHT.  Trong  nghiên  cứu  của chúng tôi cả PTNSTB và PTNSHT  được  sử  dụng và lựa chọn giữa 2 kỹ thuật này phụ thuộc  vào chủ quan của phẫu thuật viên. Kết quả của  chúng tôi cho thấy vị trí của NRĐ có thể có vai  trò trong lựa chọn kỹ thuật, khi tất cả các nang  manh  tràng  đôi  được  điều  trị  bằng  PTNSHT  trong khi NRĐ của hổng tràng, đại tràng ngang 

và tá tràng được điều trị bởi PTNSTB. Tất nhiên 

là PTNSHT có thể ứng dụng cho các trường hợp  NRĐ  di  động  hoặc  có  thể  giải  phóng  làm  di  động đủ để đưa ra ngoài qua rốn (cùng với quai  ruột sát kề). 

Cắt  toàn  bộ  NRĐ  được  thực  hiện  ở  58,6%  trong loạt bệnh nhân của chúng tôi và tỷ lệ  cắt  ruột chỉ 23%, thấp hơn so với một nghiên cứu đã  công  bố(2).  Mở  chỏm  nang  là  kỹ  thuật  được  chúng  tôi  sử  dụng  trên  gần  một  nửa  số  bệnh  nhân,  trong  trường  hợp  NRĐ  dích  không  rõ  ranh  giới  với  ruột  lành  liền  kề.  Kết  quả  của  chúng  tôi  cho  thấy  mở  chỏm  nang  có  thể  cho  hiệu  quả  như  cắt  toàn  bộ  nang  nhưng  có  ưu  điểm  hơn  là  không  phải  cắt  ruột.  Trong  khi  có  tác giả thông báo tỷ lệ tổ chức NRĐ còn lại sau  cắt có thể siêu âm thấy là 18% ở các bệnh nhân  cắt  nang  một  phần(2),  trong  loạt  bệnh  nhân  của  chúng  tôi  không  có  trường  hợp  nào  như  vậy.  Chúng  tôi  khuyến  cáo  cắt  toàn  bộ  NRĐ  khi  có  thể  cắt  được  không  cần  cắt  ruột.  Trong  các  trường  hợp  còn  lại  có  thể  cân  nhắc  mở  chỏm  nang là một sự lựa chọn thích hợp.  

Tỷ lệ chuyển mổ mở được báo cáo là tới 32%  trong một nghiên cứu đa trung tâm(3).Trong loạt  bệnh  nhân  của  chúng  tôi  không  có  trường  hợp  nào phải chuyển mổ mở. Theo kinh nghiệm của  chúng tôi cắt toàn bộ  nang  hay  mở  chỏm  nang 

có  thể  thực  hiện  được  bởi  cả  PTNSTB  hoặc  PTNSHT.  PTNSHT  thực  hiện  dễ  dàng  hơn  khi  các thao tác phẫu thuật được tiến hành ngoài ổ  bụng  giống  như  phẫu  thuật  mổ  mở  kinh  điển.  Khi cần cắt ruột, PTNSHT sẽ là sự lựa chọn hàng  đầu.  Tất  cả  các  trường  hợp  cắt  ruột  của  chúng 

Trang 5

tôi  đều  thực  hiện  bằng  PTNSHT.  Với  mở  rộng 

tối thiểu vết mổ rốn, kết quả thẩm mỹ sau mổ là 

rất tốt. Chúng tôi nhận thấy ở đa số các trường 

hợp NRĐ, PTNSHT có thể thực hiện được với 1 

trocar  duy  nhất.  Kinh  nghiệm  tương  tự  cũng 

được  báo  cáo  bởi  một  số  tác  giả  khác(1,8).  Theo 

kinh  nghiệm  của  chúng  tôi,  camera  10mm  có 

kèm kênh 5mm cho dụng cụ là một phương tiện 

rất hữu ích để thực hiện kỹ thuật này.  

Kết quả nghiên cứu này cho thấy PTNS là an 

toàn  trong  điều  trị  NRĐ  ở  trẻ  em.  Trong  khi 

nhiều  nhóm  trung  tâm  báo  cáo  biến  chứng 

thường  gặp  nhất  trong  mổ  là  mở  ống  tiêu  hóa 

không  mong  muốn  (gần  9%)(2),  trong  loạt  bệnh 

nhân của chúng tôi không có  biến  chứng  trong 

mổ nào. Tắc ruột là biến chứng khác thường gặp 

sau mổ(2), nhưng chúng tôi cũng không có bệnh 

nhân nào bị tắc ruột trong thời gian theo dõi. 

KẾT LUẬN 

Phẫu  thuật  nội  soi  có  tính  khả  thi,  an  toàn, 

hiệu quả và là lựa chọn hàng đầu trong điều trị 

NRĐ  ở  trẻ  em.  Cả  2  phương  pháp  PTNSTB  và 

PTNSHT có thể ứng dụng trong các trường hợp 

chọn  lọc,  tuy  nhiên  PTNSHT  có  ưu  thế  hơn 

trong trường hợp phải cắt ruột. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Al‐Zaiem MM (2011). Assisted laparoscopic excision of huge 

abdominal cysts in newborns and infants using the umbilical 

laparoscopic port incision. J Pediatr Surg,46(7): pp 1459‐1463. 

2 Guérin  F,  PodevinG,  Petit  T  (2012).  Outcome  of  alimentary  tract duplications operated on by minimally invasive surgery: 

a  retrospective  multicenter  study  by  the  GECI  (Groupe  dʹEtude en Coeliochirurgie Infantile). Surg Endosc,26(10): pp  2848‐2855.  

3 Hartin  CW,  Lau  ST,  Escobar  MA,  Glick  PL  (2008).  Laparoscopic excision of a newborn rectal duplication cyst. J  Pediatr Surg,43(8): pp 1572‐1574. 

4 Iyer  CP,  Mahour  GH  (1995).  Duplications  of  the  alimentary  tract  in  infants  and  children.  J  Pediatr  Surg,30(9):  pp  1267‐

1270. 

5 Laje P, Flake AW, Adzick NS (2010). Prenatal diagnosis and  postnatal  resection  of  intraabdominal  enteric  duplications.  J  Pediatr Surg,45(7): pp 1554‐1558. 

6 Lee  KH,  Tam  YH,  Yeung  CK  (2000).  Laparoscopy  in  the  management of intestinal duplication in childhood. Aust N Z 

J Surg,70(7): pp 542‐544. 

7 Lima M, Molinaro F, Ruggeri G, Gargano T, Randi B (2012).  Role  of  mini‐invasive  surgery  in  the  treatment  of  enteric  duplications in paediatric age: A survey  of  15  years.  Pediatr  Med Chir,34(5): pp 217‐222. 

8 Martino  A,  Zamparelli  M,  Cobellis  G,  Mastroianni  L,  Amici  G(2001).  One‐trocar  surgery:  A  less  invasive  videosurgical  approach in childhood. J Pediatr Surg, 36(5): pp 811‐814. 

9 Schalamon J, Schleef J, Höllwarth ME (2000). Experience with  gastro‐intestinal  duplications  in  childhood.  Langenbecks  Arch Surg,385(6): pp 402‐405. 

10 Schleef J, Schalamon J (2000). The role of laparoscopy in  the  diagnosis  and  treatment  of  intestinal  duplication  in  childhood. A report of two cases. Surg Endosc,14(9): pp 865.   

Ngày bài báo được đăng:    15–09‐2013  

 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w