1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em

7 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 597,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về bệnh động kinh trẻ em, xác định yếu tố nguy cơ quan trọng, đặc thù cho động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt, kế đến là tiền căn gia đình, viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương, co giật do sốt, vàng da sơ sinh và bất thường lượng nước ối.

Trang 1

Lê Văn Tuấn*, Nguyễn Thị Thùy Vân**  

TÓM TẮT 

Mở đầu: Có rất nhiều các nghiên cứu Dịch tễ học trên thế giới nhằm xác định các yếu tố nguy cơ liên quan 

đến động kinh trẻ em. Tuy nhiên kết quả thu được từ các nghiên cứu vẫn còn khác biệt nhau và còn đặc thù  riêng cho từng quốc gia, từng khu vực. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi hy vọng xác định được yếu tố nguy 

cơ quan trọng, đặc thù cho động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. 

Mục tiêu nghiên cứu: So sánh sự phân bố tỷ lệ phần trăm từng yếu tố nguy cơ giữa nhóm bệnh và nhóm 

chứng. Xác định tỷ số nguy cơ OR. Xác định những yếu tố nguy cơ thực sự quan trọng và đặc thù cho động  kinh ở trẻ em trong lô nghiên cứu. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Nghiên cứu bệnh‐ chứng. Một nhóm bệnh nhi được chẩn đoán là động kinh 

đang được điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại Khoa Thần Kinh BV Nhi Đồng 2 và một nhóm chứng không bị  động kinh tương tự về số lượng và tuổi. Các biến số thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0,  gồm phép kiểm Chi bình phương, tỷ số nguy cơ OR và hồi quy logistic.  

Kết quả: Tổng số 404 trường hợp (202 ca bệnh và 202 ca chứng), tuổi trung bình của nhóm bệnh là 50.9 

tháng và nhóm chứng là 56.9 tháng. Theo phân tích đơn biến, các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em  như: tiền căn gia đình; tiền căn sảy phá thai; tăng huyết áp thai kì; tiền căn sốt khi mang thai; bất thường lượng  nước ối; sinh non; sinh ngạt; vàng da sơ sinh; tiền căn nằm hồi sức‐ dưỡng nhi; sốt co giật; viêm nhiễm hệ thần  kinh trung ương; xuất huyết não. Theo phân tích hồi qui Logistic, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt  (OR=8,67), kế đến là tiền căn gia đình (OR=8,57); viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương (OR=6,53); co giật do  sốt (OR=6,43); vàng da sơ sinh (OR=3,67) và bất thường lượng nước ối (OR=2,76). 

Kết  luận: Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt, kế đến là tiền căn gia đình; viêm nhiễm hệ thần 

kinh trung ương; co giật do sốt; vàng da sơ sinh và bất thường lượng nước ối.  

Từ khóa: Pediatric epilepsy, childhood epilepsy, risk factors. 

ABSTRACT 

RISK FACTORS RELATING TO PEDIATRIC EPILEPSY 

Le Van Tuan, Nguyen Thi Thuy Van  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 521 ‐ 527 

Background : There were many epidemiological studies to identify risk factors for pediatric epilepsy in the 

world.  However,  the  results  are  quite  different  and  specific  among  nations  or  areas.  We  hope  to  identify  important, specific risk factors for Pediatric Epilepsy at the Children Hospital 2 through our study result. 

Objective:  Comparing  the  distribution  percentage  of  every  risk  factor  between  case  and  control  group. 

Identifying odd ratio OR. Identifying really important, specific risk factors for Pediatric Epilepsy in our research  plots. 

Methods: Case‐ Control study. Case group were in‐ out patients followed‐ up for epilepsy at the Pediatric 

Neurology Department of Children Hospital 2 and Controls were children attending the same hospital, similar  number and age‐ matched cases without epilepsy. Statistical analysis is done with the software SPSS 16.0 for  window, included chi‐square test, odd ratio OR and logistic regression. 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Thùy Vân ĐT: 0907227190 Email: drthuyvanneuro@gmail.com 

Trang 2

respectively.  On  univariate  analysis,  family  history  of  epilepsy,  previous  abortion  or  miscarriage,  maternal  hypertension,  fever  in  pregnancy,  abnormal  amniotic  fluid,  premature,  asphyxia  at  birth,  neonatal  jaundice,  admission  to  pediatric  intensive  care,  fibril  seizure,  CNS  infection,  cerebral  hemorrhage  were  found  to  be  significant. On logistic regression, the most important factor is asphyxia at birth (OR=8.67), the next were family  history  of  epilepsy  (OR=8.57),  CNS  infection  (OR=6.53),  febrile  seizure  (OR=6.43),  neonatal  jaundice  (OR=3.67) and abnormal amniotic fluid (OR=2.76). 

Conclusion: The most important factor is asphyxia at birth, the next were family history of epilepsy, CNS 

infection, fibril seizure, neonatal jaundice and abnormal amniotic fluid. 

Keywords: Pediatric epilepsy, childhood epilepsy, risk factors. 

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Động kinh là một bệnh lý thường gặp của hệ 

thần  kinh,  biểu  hiện  lâm  sàng  rất  đa  dạng,  đặc 

trưng  bởi  sự  lặp  đi  lặp  lại  của  các  cơn  do  sự 

phóng điện quá mức và đồng bộ của một nhóm 

tế bào trong não hay toàn bộ não. Theo khảo sát 

của  Tổ  chức  Y  tế  thế  giới  (WHO)  động  kinh 

chiếm  1%  gánh  nặng  y  tế(6).  Bệnh  xảy  ra  ở  mọi 

lứa tuổi nhưng 60% khởi phát từ lúc nhỏ. Tỷ lệ 

hiện  mắc  khoảng  0,04%‐1%  dân  số  trẻ  em(10). 

Hàng năm có khoảng 1,12 triệu trẻ em mới mắc 

động  kinh  ở  các  nước  đang  phát  triển(7).  Động 

kinh  ở  trẻ  em  có  nhiều  khác  biệt  so  với  động 

kinh  ở  người  lớn  về  biểu  hiện  lâm  sàng,  căn 

nguyên, hiệu quả điều trị, tác dụng phụ và tiên 

lương  bệnh.  Ngoài  ra,  động  kinh  ảnh  hưởng 

không nhỏ đến sự phát triển về thể chất, trí tuệ, 

chất lượng sống, khả năng học tập, hành vi cũng 

như thích nghi xã hội. 

Tuy  nhiên,  theo  tài  liệu  y  văn  hiện  hành, 

nguyên nhân bệnh học gây ra động kinh chỉ mới 

được xác định ở khoảng 1/3 các trường hợp mới 

chẩn  đoán(8).  Chính  vì  thế,  đã  có  rất  nhiều  các 

nghiên  cứu  dịch  tễ  học  trên  thế  giới  nhằm  xác 

định thêm các yếu tố nguy cơ có liên quan đến 

động  kinh  trẻ  em.  Có  những  yếu  tố  nguy  cơ 

nhận  được  rất  nhiều  sự  đồng  thuận  từ  các 

nghiên cứu khác nhau nhưng cũng có các yếu tố 

đang  là  vấn  đề  tranh  cãi  từ  những  ý  kiến  trái 

chiều. Mặc dù kết quả giữa các nghiên cứu còn 

khác nhau và có nhiều bàn cãi xung quanh một 

vấn  đề  nhưng  đã  cho  thấy  được  toàn  cảnh  chung  của  các  yếu  tố  nguy  cơ  liên  quan  đến  động kinh trẻ em. 

Tại Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên  cứu  về  động  kinh  trẻ  em.  Trong  phần  nghiên  cứu  của  mình,  chúng  tôi  tập  trung  vào  những  yếu  tố  nguy  cơ  liên  quan  như  thế  nào  đối  với  động  kinh  trẻ  em  khu  vực  TPHCM  và  các  tỉnh  lân cận, đặc biệt là những yếu tố nguy cơ từ mẹ  (trước  sinh)  như  nghề  nghiệp,  bệnh  lý  mẹ  mắc  phải trong thai kỳ, thuốc và độc chất mà mẹ tiếp  xúc hay môi trường sống xung quanh, các yếu tố  nguy cơ chu sinh và sau sinh song song với việc 

so  sánh  ở  một  nhóm  chứng  tương  tự  về  số  lượng,  tuổi  và  không  bị  động  kinh.  Qua  đó,  chúng tôi hy vọng có thể đưa ra kết luận về các  yếu  tố  nguy  cơ  động  kinh  một  cách  riêng  biệt  đặc thù trong lô nghiên cứu. Từ đây có thể đưa 

ra hướng phòng ngừa kiểm soát các yếu tố nguy 

cơ nhằm giảm tỷ lệ động kinh trẻ em. 

Luận văn này được thực hiện để nghiên cứu  các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ 

em với các mục tiêu sau: So sánh sự phân bố tỷ 

lệ  phần  trăm  từng  yếu  tố  nguy  cơ  giữa  nhóm  bệnh  và  nhóm  chứng.  Xác  định  tỷ  số  nguy  cơ  OR; Xác định những yếu tố nguy cơ thực sự ảnh  hưởng và đặc thù cho động kinh ở trẻ em trong 

lô nghiên cứu. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Dân số mục tiêu gồm Toàn bộ trẻ từ 1 tháng  đến 15 tuổi và bà mẹ đến khám tại phòng khám  động  kinh  hoặc  nhập  viện  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng 2 và được chẩn đoán là động kinh. Dân số 

Trang 3

chọn  mẫu:  Nhóm  bệnh (Toàn  bộ  trẻ  từ  1  tháng 

đến 15 tuổi và bà mẹ đến khám tại phòng khám 

động  kinh  hoặc  nhập  viện  tại  bệnh  viện  Nhi 

Đồng  2  và  được  chẩn  đoán  là  động  kinh  trong 

thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 

2013)  và  Nhóm  chứng  (Một  nhóm  trẻ  tương  tự 

về số lượng, tuổi, giới không bị bệnh động kinh 

và các bà mẹ cũng đến khám hoặc nhập viện tại 

bệnh  viện  Nhi  Đồng  2  trong  cùng  thời  điểm). 

Nghiên cứu bệnh – chứng. Các biến số độc lập là 

các đặc điểm sự phơi nhiễm với các yếu tố nguy 

cơ,  biến  số  phụ  thuộc  là  tình  trạng  bệnh  và 

không bệnh.  

Các dữ liệu thu thập được ghi trong bệnh án 

nghiên cứu, sau đó nhập liệu vào phần nhập dữ 

liệu của phần mềm thống kê SPSS 16.0 để khảo 

sát  về  sự  liên  quan  của  các  yếu  tố  nguy  cơ  với 

động kinh. Trong phân tích đơn biến, các biến số 

định  tính  được  phân  tích  bằng  phép  kiểm  chi 

bình  phương,  xác  định  tỷ  số  nguy  cơ  OR,  các 

biến số định lượng phân tích bằng phép kiểm T 

mẫu độc lập nếu có phân bố chuẩn, bằng phép 

kiểm  Mann‐Whitney  nếu  không  có  phân  phối 

chuẩn.  Trong  phân  tích  đa  biến,  các  biến  số  có 

liên  quan  với  động  kinh  trẻ  em  được  đưa  vào 

phân tích hồi qui  logistic  đa  biến  bằng  phương 

pháp đưa vào một lần để khử nhiễu và xác định 

độ mạnh của các yếu tố nguy cơ. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Mẫu  nghiên  cứu  404  trường  hợp,  trong  đó 

202  ca  bệnh  và  202  ca  chứng.  Tuổi  trung  bình 

của nhóm động kinh: 50,92 ± 42,8 (tháng). Tuổi 

trung bình của nhóm không động kinh: 56,529 ± 

53,53 (tháng). Sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi này 

không  có  ý  nghĩa  thống  kê,  p=  0,8,  theo  phép 

kiểm  Mann‐  Whitney  U.  Kết  luận  trung  bình 

tuổi của 2 nhóm tương đương nhau. Thỏa điều 

kiện của nghiện cứu bệnh‐ chứng. 

 

Biểu đồ so sánh sự phân bố tuổi. 

Đặc điểm riêng của nhóm bệnh 

Dạng cơn 

Cơn cục bộ đơn giản      31,2%  Cơn cục bộ phức tạp      15,3%  Cơn cục bộ toàn thể hóa      10,9%  Cơn vắng ý thức        3% 

Cơn co cứng co giật     8,9% 

Cơn mất trương lực     3% 

Cơn không phân loại được    8,4% 

 

Biểu đồ sự phân bố dạng cơn  Tuổi khởi phát: 

29,06 ± 34,572 (tháng), đa số khởi phát trước 

3 tuổi riêng nhóm khởi phát trước 1 tuổi chiếm 

tỷ lệ khá cao. 

 

Biểu đồ sự phân bố tuổi khởi phát  Tháng

Tần suất

Trang 4

So sánh sự phân bố tỷ lệ phần trăm từng yếu tố nguy cơ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Xác  định tỷ số nguy cơ OR 

Bảng 1: Kết quả phân tích đơn biến: 

Tiền căn gia đình 

Không  82,7  96,5  1    χ 2  Q.hệ huyết thống 1 5,4  0,5  12,844  1,641‐ 100,526 0,002  Q.hệ huyết thống 2 5,9  1,0  7,006  1,546‐ 31,750  0,004  Q.hệ huyết thống 3 5,9  2,0  3,503  1,109‐ 11,066  0,024  Tiền căn sảy‐phá thai  Không  68,3  80,2  1    χ

2 

Có  31,7  19,8  1,878  1,191‐ 2,962  0,006 

TC mẹ THA thai kì  Không  93,1  97,5  1    χ

2 

Có  6,9  2,5  2,934  1,037‐ 8,305  0,034 

TC sốt trong thai kì  Không  84,7  91,1  1    χ

2 

Có  15,3  8,9  1,853  3,435  0,048  Bất thường lượng ối  Không  7,6  6,0  1    χ

2 

Có  12,4  4,0  3,445  1,514‐ 7,836  0,02  Bất thường tuổi thai  Không  83,7  90,6  1    χ

2  Sinh non  14,9  8,4  1,911  1,017‐ 3,590  0,042  Thai quá ngày    1,5  1,0  1,624  0,268‐ 9,840  F(NS) Sinh ngạt  Không  76,7  97,5  1    χ

2 

Có  23,3  2,5  11,947  4,640‐ 30,759  <0,001 Vàng da sơ sinh  Không  76,2  93,6  1    χ

2 

Có  23,8  6,4  4,531  2,369‐ 8,669  0,001  Nhiễm trùng nặng, nằm hồi sức, 

dưỡng nhi, thở máy 

Không  78,2  96,0  1    χ 2 

Có  21,8  4,0  6,753  3,089‐ 14,762  <0,001 Sốt co giật 

Không  71,8  93,6  1    χ 2  Đơn giản  12,9  5,9  2,824  1,378‐ 5,787  0,03  Phức tạp  15,3  0,5  40,407  5,452‐299,480  <0,001 Viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương  Không  93,6  98,5  1    χ 2 

  Có  6,4  1,5  4,563  1,280‐ 16,264  0,011  Xuất huyết não  Không  97  100  ‐   

Xác  định  những  yếu  tố  nguy  cơ  thực  sự  ảnh 

hưởng  và  đặc  thù  cho  động  kinh  ở  trẻ  em 

trong lô nghiên cứu. 

Bảng 2: Bảng phân tích hồi qui Logistic Regression 

đa biến 

Tiền căn sảy thai Không 1

Có 1,604 0,925- 2,779 0,092 Tiền căn gia đình Không 1

Có 8,565 3,493- 20,998 <0,001 Tăng huyết áp

thai kỳ

Không 1

Có 1,859 0,539- 6,412 0,326 Sốt trong thai kỳ Không 1

Có 1,699 0,799- 3,487 0,173 Vấn đề về lượng

nước ối

Không 1

Có 2,761 1,052- 7,242 0,039

Bất thường tuổi thai

Có 1,100 0,505- 2,394 0,811 Ngạt sơ sinh Không 1

Có 8,665 3,021- 24,850 <0,001 Vàng da sơ sinh Không 1

Có 3,670 1,691- 7,965 0,001 Nhiễm trùng

nặng, nằm hồi sức dưỡng nhi, hoặc thở máy

Có 1,857 0,717- 4,811 0,202

Co giật do sốt Không 1

Có 6,425 3,176- 12,999 <0,001 Viêm não, màng

não

Có 6,527 1,665- 25,577 0,007

Sau  khi  phân  tích  đơn  biến  để  xác  định  ra  các  yếu  tố  nguy  cơ  có  ý  nghĩa,  chúng  tôi  tiến  hành  phân  tích  hồi  qui  Logistic  Regression  đa 

Trang 5

của từng yếu tố trong những yếu tố trên. 

Từ bảng kết quả trên, như vậy chỉ còn lại 6 

yếu  tố  nguy  cơ  thực  sự  có  ý  nghĩa  sau  khi  loại 

các  yếu  tố  nhiễu,  các  yếu  tố  này  được  sắp  xếp 

theo  độ  mạnh  giảm  dần  gồm:  Sanh  ngạt 

OR=8,665  >Tiền  căn  gia  đình  OR=8,565  >Viêm 

não  màng  não  OR=6,527  >Co  giật  do  sốt 

OR=6,425  >Vàng  da  sơ  sinh  OR=3,670  >Bất 

thường lượng nước ối OR=2,761. 

BÀN LUẬN 

Trong nghiên cứu của chúng tôi khi khảo sát 

đơn  biến,  nhận  thấy  có  12  yếu  tố  nguy  cơ  liên 

quan  đến  động  kinh  trẻ  em  gồm:  tiền  căn  gia 

đình;  tiền  căn  sảy  thai‐  phá  thai  trước  đó;  tiền 

căn mẹ bị THA thai kì; tiền căn mẹ bị sốt trong 

thai  kì;  bất  thường  lượng  nước  ối  như  thiểu  ối 

hoặc  đa  ối;  bất  thường  tuổi  thai  như  sinh  non 

hoặc thai quá ngày; sinh ngạt; vàng da sơ sinh có 

điều  trị  chiếu  đèn  hoặc  thay  máu;  nhiễm  trùng 

nặng  nằm  hồi  sức  hoặc  dưỡng  nhi  có  chỉ  định 

máy thở; co giật do sốt đơn giản hoặc phức tạp; 

viêm não màng não và xuất huyết não. Sau khi 

đem  12  yếu  tố  trên  phân  tích  hồi  qui  Logistic 

Regression đa biến để  khử  yếu  tố  nhiễu  và  xác 

định  độ  mạnh,  độ  quan  trọng  của  từng  yếu  tố 

trên,  chúng  tôi  nhận  thấy  chỉ  còn  lại  6  yếu  tố 

thực sự có ý nghĩa. 

Trong  đó,  yếu  tố  sinh  ngạt  là  yếu  tố  có  độ 

mạnh,  độ  quan  trọng  cao  nhất  với  OR=8,665; 

p<0,001.  Kế  đến  là  tiền  căn  gia  đình  với 

OR=8,565; viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương 

với OR=6,527; co giật do sốt với OR=6,425; vàng 

da sơ sinh với OR=3,670 và bất thường nước ối 

với OR=2,761. 

Về điểm này, thì còn tùy vào điều kiện y tế 

đặc thù cho từng quốc gia, từng khu vực mà yếu 

tố nguy cơ nào trở nên nặng ký nhất. Ví dụ khi 

so sánh  với  các  phân  tích  Logistic  Regession  từ 

những nghiên cứu khác: 

Theo tác giả Attumalil (2011) khi nghiên cứu 

trên dân số trẻ em động kinh tại Kerela thì yếu 

tố quan trọng nhất là sang chấn sản khoa kế đến 

là chậm phát triển tâm thần vận động sau cùng 

là chấn thương đầu(2).  Tác giả Ngugi (2013) nghiên cứu trên dân số  trẻ  em  động  kinh  tại  vùng  bên  dưới  Sahara  Châu Phi thì kết luận: ở những trẻ <18 tuổi, yếu 

tố nguy cơ liên quan nhiều nhất đến sự gia tăng  tần suất động kinh đó là khó khăn trong việc bú,  khóc  hay  khó  thở  với  OR=  10,23;  95%  CI:  5,85‐ 17,88; p<0,0001 kế đến là sự bất thường trong gia  đoạn  mang  thai  OR=2,15;  95%  CI:  1,53‐3,02;  p<0,0001  và  sau  cùng  là  chấn  thương  đầu  với  OR= 1,97; 95% CI: 1,28‐ 3,03; p= 0,002(12). 

Nghiên  cứu  trên  trẻ  động  kinh  vùng  Tanzania  của  Burton  (2012),  kết  quả  này  cho  thấy rằng những yếu tố chu sinh làm tăng nguy 

cơ động kinh lên gấp 14,9 lần (OR=14,9; 95% CI:  1,4‐151,3), còn yếu tố tiền căn gia đình có co giật  không kèm sốt làm tăng nguy cơ động kinh lên  gấp 5,7 lần (OR= 5,7; 95% CI: 1,0‐27,5)(4). 

Còn  tác  giả  Cansu  (2007)  nghiên  cứu  trên  dân số động kinh trẻ em Thổ Nhĩ Kì, yếu tố bất  thường  hệ  thần  kinh  là  quan  trọng  nhất  >chấn  thương đầu >co giật do sốt >tiền căn động kinh 

>yếu  tố  trước  sinh,  chu  sinh  hoặc  vàng  da  sơ  sinh >nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương(5).   Nghiên  cứu  của  tác  giả  Bhalla  (2012)  thực  hiện tại Campuchia, một người bạn láng giềng  của chúng ta, thì cho rằng: yếu tố tiền căn gia  đình chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là những sự 

cố  trong  thai  kì  và  sinh  khó  hoặc  chuyển  dạ  kéo dài(3).  

Điều này cho thấy rằng, đối với những quốc  gia  những  khu  vực  còn  khó  khăn  về  y  tế,  thì  những yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh  trẻ em cũng rất đặc thù đa số đều liên quan đến  thai  kì;  giai  đoạn  chu  sinh  như  sang  chấn  sản  khoa,  hay  sinh  ngạt  và  nhìn  chung  các  yếu  tố  này đều có thể dự phòng được nếu đầu tư phát  triển mạng lưới chăm sóc y tế. Còn riêng đối với  các nước đã phát triển thì những yếu tố nguy cơ  cũng  rất  đăc  thù  như  tiền  căn  gia  đình  (yếu  tố  gen) hay bất thường hệ thần kinh vì tại các quốc  gia  này  chăm  sóc  trước  sinh,  chu  sinh  và  sau 

Trang 6

tố nguy cơ quan trọng đặc thù cho động kinh trẻ 

em nữa. 

Yếu  tố  quan  trọng  thứ  2  trong  nghiên  cứu 

của  chúng  tôi  là  tiền  căn  gia  đình.  Thực  vậy, 

những  nghiên  cứu  gần  đây  cho  thấy  rằng  có 

nhiều  gen  khác  nhau  có  thể  gây  động  kinh. 

Riêng trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy 

2 cặp sinh đôi cùng  bị  động  kinh  toàn  thể,  hay 

trong  gia  đình  có  2  con  thì  cả  2  cùng  bị,  hoặc 

những đứa trẻ là anh chị em họ của nhau…Điều 

này cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò khá 

quan  trọng  đặc  biệt  là  trong  nhóm  động  kinh 

không  có  tổn  thương  thực  thể  ở  não.  Tương  tụ 

như  kết  quả  của  chúng  tôi,  tác  giả  L.T.K.Vân 

(2011) cũng đưa ra kết luận yếu tố gia đình được 

chú  ý  nhiều  hơn  trong  nhóm  hội  chứng  động 

kinh vô căn (23,4% trong nhóm cục bộ và 27,1% 

trong nhóm toàn thể); tỷ lệ này thấp hơn nhiều 

trong  nhóm  hội  chứng  ĐK  triệu  chứng  và  căn 

nguyên ẩn(9). Đây là yếu tố nguy cơ thuộc về gen 

đặc  trưng  cho  từng  chủng  tộc,  đặc  điểm  di 

truyền  còn  mơ  hồ  nên  y  học  hiện  tại  chưa  thể 

can thiệp hay tư vấn di truyền nhằm giảm tỷ lệ 

động kinh xuống được. 

Yếu tố quan trọng thứ 3 là viêm não, màng 

não. Theo kết quả của chúng tôi những đứa trẻ 

có  tiền  căn  viêm  não  màng  não  thì  nguy  cơ  bị 

động  kinh  về  sau  sẽ  gấp  6,53  lần  trẻ  không  bị. 

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới như nước ta, tỷ 

lệ bệnh lý viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương 

còn khá cao: 13,1% trong nghiên cứu của Lê Thị 

Khánh Vân(9). So sánh với các nghiên cứu đã đề 

cập ở trên, thì một số quốc gia không xem nhiễm 

trùng  hệ  thần  kinh  trung  ương  là  yếu  tố  quan 

trọng(2,3,4,12); còn theo Cansu (2007) thì tại Thổ Nhĩ 

Kì yếu tố này là yếu và kém quan trọng nhất(5). 

Điều  này  cho  thấy  tùy  từng  quốc  gia  khu  vực, 

từng  vùng  địa  dư  khí  hậu  mà  mức  độ  ảnh 

hưởng  của  yếu  tố  viêm  nhiễm  hệ  thần  kinh 

trung ương lên ĐKTE cũng khác nhau. 

Yếu  tố  đứng  thứ  tư  trong  bảng  xếp  hạng 

chính là co giật do sốt. Ở bệnh nhi của chúng 

tôi  có  tiền  căn  co  giật  do  sốt  thì  nguy  cơ  trở  thành động kinh  sẽ  gấp  6,43  lần  trẻ  không  bị.  Tuy nhiên, nguy cơ này không chia đều cho cả 

2 nhóm, mà nhóm co giật do sốt phức tạp (có  thời  gian  co  giật  kéo  dài  hơn  15  phút,  co  giật  vận  động  cục  bộ  hoặc  sau  cơn  có  liệt  Todd,  trên  1  cơn  trong  24  giờ,  tình  trạng  thần  kinh  không  bình  thường;  cha  mẹ  anh  chị  em  có  co  giật  không  kèm  sốt)  có  nguy  cơ  cao  rất  nhiều 

so với nhóm co giật do sốt đơn giản (thời gian 

co giật <15 phút, co giật toàn thể không có dấu  thần kinh cục bộ, không có cơn thứ 2 trong 24  giờ, khi khỏi không để lại di chứng gì). Yếu tố  này  gần  như  nhận  được  rất  nhiều  sự  đồng  thuận  từ  các  nghiên  cứu  khác  nhau  Cansu  (2007)  kết  luận  rằng  co  giật  do  sốt  đơn  giản  tăng  nguy  cơ  động  kinh  gấp  4,04  lần  (OR=  4,04;  95%  CI:  2,22‐  7,46;  p=0,0001),  co  giật  do  sốt  phức  tạp  tăng  nguy  cơ  động  kinh  lên  gấp  21.97  lần  (OR=  21.97;  95%  CI:  9,24‐  55,80;  p=0,0001)(5).  Tương  tự  vậy,  nghiên  cứu  của  Mung’ala  (2008)  tại  Kenya  cũng  cho  rằng  co  giật do sốt tăng nguy cơ động kinh trẻ em lên  gấp 3,01 lần (OR=3,01; 95% CI: 1,50‐6,01)(11).  Yếu tố quan trọng thứ 5 là vàng da sơ sinh.  Như  chúng  ta  đã  biết  sự  lắng  đọng  quá  mức  nồng độ Bilirubin trên não trẻ sơ sinh sẽ làm tổn  thương tế bào não có khả năng gây động kinh về  sau. Với kết quả OR=3.67, nghiên cứu của chúng  tôi  tương  tự  Cansu  (2007)  cũng  cho  kết  quả  là  vàng da sơ sinh làm tăng nguy cơ động kinh lên  gấp  3,12  lần  (OR=3,12;  95%  CI:  1,45‐  6,90;  p=0,002)(5).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  khác  với  Asadi‐  Pooya  (2005)  vì  kết  quả  này  cho  rằng  vàng  da  sơ  sinh  không  làm  tăng  nguy  cơ  ĐKTE(1). Kết quả khác nhau có thể do cách chọn  mẫu khác nhau. Như đã biết vàng da sơ sinh có 

2 mức độ nặng và nhẹ, chúng tôi chọn đưa vào  những  ca  vàng  da  mà  có  chỉ  định  điều  trị  như  chiếu  đèn  hay  thay  máu.  Còn  các  nghiên  cứu  trên không đề cập ở mức độ vàng da nào. Hay  thêm một lý do nữa là chất lượng điều trị vàng 

da. Nếu một trường hợp vàng da sơ sinh nhưng  được chẩn đoán sớm ở giai đoạn chưa quá nặng, 

Trang 7

nồng  độ  Bilirubin  trong  máu  chưa  quá  cao  và 

kéo dài, tế bào não chưa bị tổn thương thì nguy 

cơ động kinh về sau sẽ rất khác biệt so với việc 

chẩn  đoán  trễ,  điều  trị  chưa  tích  cực.  Chúng  ta 

cần chú ý phát triển khoa sơ sinh mạnh hơn nữa 

để phòng ngừa yếu tố này. 

Và  sau  cùng  là  yếu  tố  bất  thường  lượng 

nước  ối.  Yếu  tố  này  được  khai  thác  gián  tiếp 

thông qua bà mẹ, chúng tôi không thể có được 

những  dữ  liệu  chính  xác  như  kết  quả  siêu  âm 

thai, chỉ số ối…Nhưng qua kết quả nghiên cứu 

cũng thể hiện một điều, đây là một yếu tố cũng 

rất đáng được quan tâm. 

Ngoài  ra  các  yếu  tố  khác  như  tiền  căn  sảy 

thai phá thai, THA thai kì, tiền căn sốt trong thai 

kì,  bất  thường  tuổi  thai,  tiền  căn  nằm  hồi  sức 

dưỡng nhi và xuất huyết não khi phân tích đơn 

biến  riêng  từng  yếu  tố  thì  OR  và  P  có  ý  nghĩa 

nhưng  sau  khi  phân  tích  đa  biến  để  khử  nhiễu 

thì những yếu tố này trở nên không còn ý nghĩa. 

Điều  này  cho  thấy  rằng  nhiều  yếu  tố  nguy  cơ 

cùng tác động qua lại chồng chéo lên nhau ảnh 

hưởng lên ĐKTE nên sau khi khử nhiễu chúng 

ta  thấy  chúng  trở  nên  kém  quan  trọng  hơn 

những  yếu  tố  kể  trên.  Nhưng  chúng  ta  cũng 

không thể loại trừ chúng hoàn toàn vì trên thực 

tế khảo sát riêng từng thành phần, thì tỷ lệ phân 

bố của chúng giữa nhóm bệnh và nhóm chứng 

là rất khác biệt và có ý nghĩa thống kê. 

KẾT LUẬN 

Yếu  tố  nguy  cơ  quan  trọng  là  sinh  ngạt,  kế 

đến  là  tiền  căn  gia  đình,  viêm  nhiễm  hệ  thần 

kinh trung ương, co giật do sốt, vàng da sơ sinh 

và  bất  thường  lượng  nước  ối.  Những  yếu  tố 

nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em còn rất 

đặc  thù,  rất  riêng  cho  điều  kiện  y  tế  khó  khăn 

của Việt Nam và nếu được quan tâm đúng mức 

đa số yếu tố còn có thể phòng ngừa được để góp  phần giảm tỷ lệ động kinh ở trẻ em xuống thấp  hơn nữa. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Asadi‐Pooya AA, Hojabri K (2005). ʺRisk factors for childhood 

epilepsy: a case‐control studyʺ. Epilepsy Behav, 6 (2), pp. 203‐6. 

2 Attumalil  TV,  Sundaram  A,  Varghese  VO,  Vijayakumar  K, 

Kunju PA (2011). ʺRisk factors of childhood epilepsy in Keralaʺ.  Ann Indian Acad Neurol, 14 (4), pp. 283‐6. 

3 Bhalla D, Chea K, Hun C, Vannareth M, Huc P, et al (2012).  ʺPopulation‐Based  Study  of  Epilepsy  in  Cambodia  Associated  Factors,  Measures  of  Impact,  Stigma,  Quality  of 

Life,  Knowledge‐Attitude‐Practice,  and  Treatment  Gapʺ.  PLoS One, 7 (10). 

4 Burton KJ, Rogathe J, Whittaker R, Mankad K, Hunter E, et 

al (2012). ʺEpilepsy in Tanzanian children: Association with 

perinatal  events  and  other  risk  factorsʺ.  Epilepsia,  53(4), 

pp.752‐60. 

5 Cansu  A,  Serdaroglu  A,  Yuksel  D,  Dogan  V,  Ozkan  S,  et  al  (2007).  ʺPrevalence  of  some  risk  factors  in  children  with 

epilepsy compared to their controlsʺ. Seizure, 16 (4), pp.338‐

44. 

6 Engel  Jorome  Jr,  Pedley  Tymothy  A  (2008).  ʺIntroduction:  What  is  epilepsyʺ,  In:  Epilepsy  a  comprehensive  Textbook, 

Lippincott William & Wilkins, pp. pp 54‐66. 

7 Guerrini  R  (2006).  ʺEpilepsy  in  childrenʺ. Lancet,  367  (9509), 

pp. 499‐524. 

8 Hesdorffer  Dale  C  (2008).  ʺRisk  factorʺ,  In:  Epilepsy  a  comprehension  Textbook,  Lippincott  William  &  Wilkins,  2. 

pp.156‐170. 

9 Lê  Thị  Khánh  Vân  (2011).  ʺPhân  loại  và  điều  trị  động  kinh 

trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP Hồ Chí Minhʺ, Luận án  Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 

10 Lê  Văn  Tuấn,  Lê  Minh  (2002).  ʺChẩn  đoán  phân  biệt  động 

kinhʺ. Tạp chí Y học TP.HCM, tr.39‐43. 

11 Mungʹala‐Odera V, White S, Meehan R, Otieno GO, Njuguna 

P,  et  al  (2008).  ʺPrevalence,  incidence  and  risk  factors  of 

epilepsy in older children in rural Kenyaʺ. Seizure, 17(5), pp. 

396‐404. 

12 Ngugi  AK,  Bottomley  C,  Kleinschmidt  I,  Wagner  RG,  Kakooza‐Mwesige  A,  et  al  (2013).  ʺPrevalence  of  active  convulsive  epilepsy  in  sub‐Saharan  Africa  and  associated 

risk  factors:  cross‐sectional  and  case‐control  studiesʺ. Lancet  Neurol, 12 (3), pp. 253‐63. 

Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w