Nội dung của bài viết trình bày về bệnh động kinh trẻ em, xác định yếu tố nguy cơ quan trọng, đặc thù cho động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt, kế đến là tiền căn gia đình, viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương, co giật do sốt, vàng da sơ sinh và bất thường lượng nước ối.
Trang 1Lê Văn Tuấn*, Nguyễn Thị Thùy Vân**
TÓM TẮT
Mở đầu: Có rất nhiều các nghiên cứu Dịch tễ học trên thế giới nhằm xác định các yếu tố nguy cơ liên quan
đến động kinh trẻ em. Tuy nhiên kết quả thu được từ các nghiên cứu vẫn còn khác biệt nhau và còn đặc thù riêng cho từng quốc gia, từng khu vực. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi hy vọng xác định được yếu tố nguy
cơ quan trọng, đặc thù cho động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2.
Mục tiêu nghiên cứu: So sánh sự phân bố tỷ lệ phần trăm từng yếu tố nguy cơ giữa nhóm bệnh và nhóm
chứng. Xác định tỷ số nguy cơ OR. Xác định những yếu tố nguy cơ thực sự quan trọng và đặc thù cho động kinh ở trẻ em trong lô nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh‐ chứng. Một nhóm bệnh nhi được chẩn đoán là động kinh
đang được điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại Khoa Thần Kinh BV Nhi Đồng 2 và một nhóm chứng không bị động kinh tương tự về số lượng và tuổi. Các biến số thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0, gồm phép kiểm Chi bình phương, tỷ số nguy cơ OR và hồi quy logistic.
Kết quả: Tổng số 404 trường hợp (202 ca bệnh và 202 ca chứng), tuổi trung bình của nhóm bệnh là 50.9
tháng và nhóm chứng là 56.9 tháng. Theo phân tích đơn biến, các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em như: tiền căn gia đình; tiền căn sảy phá thai; tăng huyết áp thai kì; tiền căn sốt khi mang thai; bất thường lượng nước ối; sinh non; sinh ngạt; vàng da sơ sinh; tiền căn nằm hồi sức‐ dưỡng nhi; sốt co giật; viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương; xuất huyết não. Theo phân tích hồi qui Logistic, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt (OR=8,67), kế đến là tiền căn gia đình (OR=8,57); viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương (OR=6,53); co giật do sốt (OR=6,43); vàng da sơ sinh (OR=3,67) và bất thường lượng nước ối (OR=2,76).
Kết luận: Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là sinh ngạt, kế đến là tiền căn gia đình; viêm nhiễm hệ thần
kinh trung ương; co giật do sốt; vàng da sơ sinh và bất thường lượng nước ối.
Từ khóa: Pediatric epilepsy, childhood epilepsy, risk factors.
ABSTRACT
RISK FACTORS RELATING TO PEDIATRIC EPILEPSY
Le Van Tuan, Nguyen Thi Thuy Van
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 521 ‐ 527
Background : There were many epidemiological studies to identify risk factors for pediatric epilepsy in the
world. However, the results are quite different and specific among nations or areas. We hope to identify important, specific risk factors for Pediatric Epilepsy at the Children Hospital 2 through our study result.
Objective: Comparing the distribution percentage of every risk factor between case and control group.
Identifying odd ratio OR. Identifying really important, specific risk factors for Pediatric Epilepsy in our research plots.
Methods: Case‐ Control study. Case group were in‐ out patients followed‐ up for epilepsy at the Pediatric
Neurology Department of Children Hospital 2 and Controls were children attending the same hospital, similar number and age‐ matched cases without epilepsy. Statistical analysis is done with the software SPSS 16.0 for window, included chi‐square test, odd ratio OR and logistic regression.
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Thùy Vân ĐT: 0907227190 Email: drthuyvanneuro@gmail.com
Trang 2respectively. On univariate analysis, family history of epilepsy, previous abortion or miscarriage, maternal hypertension, fever in pregnancy, abnormal amniotic fluid, premature, asphyxia at birth, neonatal jaundice, admission to pediatric intensive care, fibril seizure, CNS infection, cerebral hemorrhage were found to be significant. On logistic regression, the most important factor is asphyxia at birth (OR=8.67), the next were family history of epilepsy (OR=8.57), CNS infection (OR=6.53), febrile seizure (OR=6.43), neonatal jaundice (OR=3.67) and abnormal amniotic fluid (OR=2.76).
Conclusion: The most important factor is asphyxia at birth, the next were family history of epilepsy, CNS
infection, fibril seizure, neonatal jaundice and abnormal amniotic fluid.
Keywords: Pediatric epilepsy, childhood epilepsy, risk factors.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một bệnh lý thường gặp của hệ
thần kinh, biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, đặc
trưng bởi sự lặp đi lặp lại của các cơn do sự
phóng điện quá mức và đồng bộ của một nhóm
tế bào trong não hay toàn bộ não. Theo khảo sát
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) động kinh
chiếm 1% gánh nặng y tế(6). Bệnh xảy ra ở mọi
lứa tuổi nhưng 60% khởi phát từ lúc nhỏ. Tỷ lệ
hiện mắc khoảng 0,04%‐1% dân số trẻ em(10).
Hàng năm có khoảng 1,12 triệu trẻ em mới mắc
động kinh ở các nước đang phát triển(7). Động
kinh ở trẻ em có nhiều khác biệt so với động
kinh ở người lớn về biểu hiện lâm sàng, căn
nguyên, hiệu quả điều trị, tác dụng phụ và tiên
lương bệnh. Ngoài ra, động kinh ảnh hưởng
không nhỏ đến sự phát triển về thể chất, trí tuệ,
chất lượng sống, khả năng học tập, hành vi cũng
như thích nghi xã hội.
Tuy nhiên, theo tài liệu y văn hiện hành,
nguyên nhân bệnh học gây ra động kinh chỉ mới
được xác định ở khoảng 1/3 các trường hợp mới
chẩn đoán(8). Chính vì thế, đã có rất nhiều các
nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới nhằm xác
định thêm các yếu tố nguy cơ có liên quan đến
động kinh trẻ em. Có những yếu tố nguy cơ
nhận được rất nhiều sự đồng thuận từ các
nghiên cứu khác nhau nhưng cũng có các yếu tố
đang là vấn đề tranh cãi từ những ý kiến trái
chiều. Mặc dù kết quả giữa các nghiên cứu còn
khác nhau và có nhiều bàn cãi xung quanh một
vấn đề nhưng đã cho thấy được toàn cảnh chung của các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em.
Tại Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về động kinh trẻ em. Trong phần nghiên cứu của mình, chúng tôi tập trung vào những yếu tố nguy cơ liên quan như thế nào đối với động kinh trẻ em khu vực TPHCM và các tỉnh lân cận, đặc biệt là những yếu tố nguy cơ từ mẹ (trước sinh) như nghề nghiệp, bệnh lý mẹ mắc phải trong thai kỳ, thuốc và độc chất mà mẹ tiếp xúc hay môi trường sống xung quanh, các yếu tố nguy cơ chu sinh và sau sinh song song với việc
so sánh ở một nhóm chứng tương tự về số lượng, tuổi và không bị động kinh. Qua đó, chúng tôi hy vọng có thể đưa ra kết luận về các yếu tố nguy cơ động kinh một cách riêng biệt đặc thù trong lô nghiên cứu. Từ đây có thể đưa
ra hướng phòng ngừa kiểm soát các yếu tố nguy
cơ nhằm giảm tỷ lệ động kinh trẻ em.
Luận văn này được thực hiện để nghiên cứu các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ
em với các mục tiêu sau: So sánh sự phân bố tỷ
lệ phần trăm từng yếu tố nguy cơ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Xác định tỷ số nguy cơ OR; Xác định những yếu tố nguy cơ thực sự ảnh hưởng và đặc thù cho động kinh ở trẻ em trong
lô nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số mục tiêu gồm Toàn bộ trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi và bà mẹ đến khám tại phòng khám động kinh hoặc nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng 2 và được chẩn đoán là động kinh. Dân số
Trang 3chọn mẫu: Nhóm bệnh (Toàn bộ trẻ từ 1 tháng
đến 15 tuổi và bà mẹ đến khám tại phòng khám
động kinh hoặc nhập viện tại bệnh viện Nhi
Đồng 2 và được chẩn đoán là động kinh trong
thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm
2013) và Nhóm chứng (Một nhóm trẻ tương tự
về số lượng, tuổi, giới không bị bệnh động kinh
và các bà mẹ cũng đến khám hoặc nhập viện tại
bệnh viện Nhi Đồng 2 trong cùng thời điểm).
Nghiên cứu bệnh – chứng. Các biến số độc lập là
các đặc điểm sự phơi nhiễm với các yếu tố nguy
cơ, biến số phụ thuộc là tình trạng bệnh và
không bệnh.
Các dữ liệu thu thập được ghi trong bệnh án
nghiên cứu, sau đó nhập liệu vào phần nhập dữ
liệu của phần mềm thống kê SPSS 16.0 để khảo
sát về sự liên quan của các yếu tố nguy cơ với
động kinh. Trong phân tích đơn biến, các biến số
định tính được phân tích bằng phép kiểm chi
bình phương, xác định tỷ số nguy cơ OR, các
biến số định lượng phân tích bằng phép kiểm T
mẫu độc lập nếu có phân bố chuẩn, bằng phép
kiểm Mann‐Whitney nếu không có phân phối
chuẩn. Trong phân tích đa biến, các biến số có
liên quan với động kinh trẻ em được đưa vào
phân tích hồi qui logistic đa biến bằng phương
pháp đưa vào một lần để khử nhiễu và xác định
độ mạnh của các yếu tố nguy cơ.
KẾT QUẢ
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu 404 trường hợp, trong đó
202 ca bệnh và 202 ca chứng. Tuổi trung bình
của nhóm động kinh: 50,92 ± 42,8 (tháng). Tuổi
trung bình của nhóm không động kinh: 56,529 ±
53,53 (tháng). Sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi này
không có ý nghĩa thống kê, p= 0,8, theo phép
kiểm Mann‐ Whitney U. Kết luận trung bình
tuổi của 2 nhóm tương đương nhau. Thỏa điều
kiện của nghiện cứu bệnh‐ chứng.
Biểu đồ so sánh sự phân bố tuổi.
Đặc điểm riêng của nhóm bệnh
Dạng cơn
Cơn cục bộ đơn giản 31,2% Cơn cục bộ phức tạp 15,3% Cơn cục bộ toàn thể hóa 10,9% Cơn vắng ý thức 3%
Cơn co cứng co giật 8,9%
Cơn mất trương lực 3%
Cơn không phân loại được 8,4%
Biểu đồ sự phân bố dạng cơn Tuổi khởi phát:
29,06 ± 34,572 (tháng), đa số khởi phát trước
3 tuổi riêng nhóm khởi phát trước 1 tuổi chiếm
tỷ lệ khá cao.
Biểu đồ sự phân bố tuổi khởi phát Tháng
Tần suất
Trang 4So sánh sự phân bố tỷ lệ phần trăm từng yếu tố nguy cơ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Xác định tỷ số nguy cơ OR
Bảng 1: Kết quả phân tích đơn biến:
Tiền căn gia đình
Không 82,7 96,5 1 χ 2 Q.hệ huyết thống 1 5,4 0,5 12,844 1,641‐ 100,526 0,002 Q.hệ huyết thống 2 5,9 1,0 7,006 1,546‐ 31,750 0,004 Q.hệ huyết thống 3 5,9 2,0 3,503 1,109‐ 11,066 0,024 Tiền căn sảy‐phá thai Không 68,3 80,2 1 χ
2
Có 31,7 19,8 1,878 1,191‐ 2,962 0,006
TC mẹ THA thai kì Không 93,1 97,5 1 χ
2
Có 6,9 2,5 2,934 1,037‐ 8,305 0,034
TC sốt trong thai kì Không 84,7 91,1 1 χ
2
Có 15,3 8,9 1,853 3,435 0,048 Bất thường lượng ối Không 7,6 6,0 1 χ
2
Có 12,4 4,0 3,445 1,514‐ 7,836 0,02 Bất thường tuổi thai Không 83,7 90,6 1 χ
2 Sinh non 14,9 8,4 1,911 1,017‐ 3,590 0,042 Thai quá ngày 1,5 1,0 1,624 0,268‐ 9,840 F(NS) Sinh ngạt Không 76,7 97,5 1 χ
2
Có 23,3 2,5 11,947 4,640‐ 30,759 <0,001 Vàng da sơ sinh Không 76,2 93,6 1 χ
2
Có 23,8 6,4 4,531 2,369‐ 8,669 0,001 Nhiễm trùng nặng, nằm hồi sức,
dưỡng nhi, thở máy
Không 78,2 96,0 1 χ 2
Có 21,8 4,0 6,753 3,089‐ 14,762 <0,001 Sốt co giật
Không 71,8 93,6 1 χ 2 Đơn giản 12,9 5,9 2,824 1,378‐ 5,787 0,03 Phức tạp 15,3 0,5 40,407 5,452‐299,480 <0,001 Viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương Không 93,6 98,5 1 χ 2
Có 6,4 1,5 4,563 1,280‐ 16,264 0,011 Xuất huyết não Không 97 100 ‐ F
Xác định những yếu tố nguy cơ thực sự ảnh
hưởng và đặc thù cho động kinh ở trẻ em
trong lô nghiên cứu.
Bảng 2: Bảng phân tích hồi qui Logistic Regression
đa biến
Tiền căn sảy thai Không 1
Có 1,604 0,925- 2,779 0,092 Tiền căn gia đình Không 1
Có 8,565 3,493- 20,998 <0,001 Tăng huyết áp
thai kỳ
Không 1
Có 1,859 0,539- 6,412 0,326 Sốt trong thai kỳ Không 1
Có 1,699 0,799- 3,487 0,173 Vấn đề về lượng
nước ối
Không 1
Có 2,761 1,052- 7,242 0,039
Bất thường tuổi thai
Có 1,100 0,505- 2,394 0,811 Ngạt sơ sinh Không 1
Có 8,665 3,021- 24,850 <0,001 Vàng da sơ sinh Không 1
Có 3,670 1,691- 7,965 0,001 Nhiễm trùng
nặng, nằm hồi sức dưỡng nhi, hoặc thở máy
Có 1,857 0,717- 4,811 0,202
Co giật do sốt Không 1
Có 6,425 3,176- 12,999 <0,001 Viêm não, màng
não
Có 6,527 1,665- 25,577 0,007
Sau khi phân tích đơn biến để xác định ra các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa, chúng tôi tiến hành phân tích hồi qui Logistic Regression đa
Trang 5của từng yếu tố trong những yếu tố trên.
Từ bảng kết quả trên, như vậy chỉ còn lại 6
yếu tố nguy cơ thực sự có ý nghĩa sau khi loại
các yếu tố nhiễu, các yếu tố này được sắp xếp
theo độ mạnh giảm dần gồm: Sanh ngạt
OR=8,665 >Tiền căn gia đình OR=8,565 >Viêm
não màng não OR=6,527 >Co giật do sốt
OR=6,425 >Vàng da sơ sinh OR=3,670 >Bất
thường lượng nước ối OR=2,761.
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi khi khảo sát
đơn biến, nhận thấy có 12 yếu tố nguy cơ liên
quan đến động kinh trẻ em gồm: tiền căn gia
đình; tiền căn sảy thai‐ phá thai trước đó; tiền
căn mẹ bị THA thai kì; tiền căn mẹ bị sốt trong
thai kì; bất thường lượng nước ối như thiểu ối
hoặc đa ối; bất thường tuổi thai như sinh non
hoặc thai quá ngày; sinh ngạt; vàng da sơ sinh có
điều trị chiếu đèn hoặc thay máu; nhiễm trùng
nặng nằm hồi sức hoặc dưỡng nhi có chỉ định
máy thở; co giật do sốt đơn giản hoặc phức tạp;
viêm não màng não và xuất huyết não. Sau khi
đem 12 yếu tố trên phân tích hồi qui Logistic
Regression đa biến để khử yếu tố nhiễu và xác
định độ mạnh, độ quan trọng của từng yếu tố
trên, chúng tôi nhận thấy chỉ còn lại 6 yếu tố
thực sự có ý nghĩa.
Trong đó, yếu tố sinh ngạt là yếu tố có độ
mạnh, độ quan trọng cao nhất với OR=8,665;
p<0,001. Kế đến là tiền căn gia đình với
OR=8,565; viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương
với OR=6,527; co giật do sốt với OR=6,425; vàng
da sơ sinh với OR=3,670 và bất thường nước ối
với OR=2,761.
Về điểm này, thì còn tùy vào điều kiện y tế
đặc thù cho từng quốc gia, từng khu vực mà yếu
tố nguy cơ nào trở nên nặng ký nhất. Ví dụ khi
so sánh với các phân tích Logistic Regession từ
những nghiên cứu khác:
Theo tác giả Attumalil (2011) khi nghiên cứu
trên dân số trẻ em động kinh tại Kerela thì yếu
tố quan trọng nhất là sang chấn sản khoa kế đến
là chậm phát triển tâm thần vận động sau cùng
là chấn thương đầu(2). Tác giả Ngugi (2013) nghiên cứu trên dân số trẻ em động kinh tại vùng bên dưới Sahara Châu Phi thì kết luận: ở những trẻ <18 tuổi, yếu
tố nguy cơ liên quan nhiều nhất đến sự gia tăng tần suất động kinh đó là khó khăn trong việc bú, khóc hay khó thở với OR= 10,23; 95% CI: 5,85‐ 17,88; p<0,0001 kế đến là sự bất thường trong gia đoạn mang thai OR=2,15; 95% CI: 1,53‐3,02; p<0,0001 và sau cùng là chấn thương đầu với OR= 1,97; 95% CI: 1,28‐ 3,03; p= 0,002(12).
Nghiên cứu trên trẻ động kinh vùng Tanzania của Burton (2012), kết quả này cho thấy rằng những yếu tố chu sinh làm tăng nguy
cơ động kinh lên gấp 14,9 lần (OR=14,9; 95% CI: 1,4‐151,3), còn yếu tố tiền căn gia đình có co giật không kèm sốt làm tăng nguy cơ động kinh lên gấp 5,7 lần (OR= 5,7; 95% CI: 1,0‐27,5)(4).
Còn tác giả Cansu (2007) nghiên cứu trên dân số động kinh trẻ em Thổ Nhĩ Kì, yếu tố bất thường hệ thần kinh là quan trọng nhất >chấn thương đầu >co giật do sốt >tiền căn động kinh
>yếu tố trước sinh, chu sinh hoặc vàng da sơ sinh >nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương(5). Nghiên cứu của tác giả Bhalla (2012) thực hiện tại Campuchia, một người bạn láng giềng của chúng ta, thì cho rằng: yếu tố tiền căn gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là những sự
cố trong thai kì và sinh khó hoặc chuyển dạ kéo dài(3).
Điều này cho thấy rằng, đối với những quốc gia những khu vực còn khó khăn về y tế, thì những yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em cũng rất đặc thù đa số đều liên quan đến thai kì; giai đoạn chu sinh như sang chấn sản khoa, hay sinh ngạt và nhìn chung các yếu tố này đều có thể dự phòng được nếu đầu tư phát triển mạng lưới chăm sóc y tế. Còn riêng đối với các nước đã phát triển thì những yếu tố nguy cơ cũng rất đăc thù như tiền căn gia đình (yếu tố gen) hay bất thường hệ thần kinh vì tại các quốc gia này chăm sóc trước sinh, chu sinh và sau
Trang 6tố nguy cơ quan trọng đặc thù cho động kinh trẻ
em nữa.
Yếu tố quan trọng thứ 2 trong nghiên cứu
của chúng tôi là tiền căn gia đình. Thực vậy,
những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng có
nhiều gen khác nhau có thể gây động kinh.
Riêng trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy
2 cặp sinh đôi cùng bị động kinh toàn thể, hay
trong gia đình có 2 con thì cả 2 cùng bị, hoặc
những đứa trẻ là anh chị em họ của nhau…Điều
này cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò khá
quan trọng đặc biệt là trong nhóm động kinh
không có tổn thương thực thể ở não. Tương tụ
như kết quả của chúng tôi, tác giả L.T.K.Vân
(2011) cũng đưa ra kết luận yếu tố gia đình được
chú ý nhiều hơn trong nhóm hội chứng động
kinh vô căn (23,4% trong nhóm cục bộ và 27,1%
trong nhóm toàn thể); tỷ lệ này thấp hơn nhiều
trong nhóm hội chứng ĐK triệu chứng và căn
nguyên ẩn(9). Đây là yếu tố nguy cơ thuộc về gen
đặc trưng cho từng chủng tộc, đặc điểm di
truyền còn mơ hồ nên y học hiện tại chưa thể
can thiệp hay tư vấn di truyền nhằm giảm tỷ lệ
động kinh xuống được.
Yếu tố quan trọng thứ 3 là viêm não, màng
não. Theo kết quả của chúng tôi những đứa trẻ
có tiền căn viêm não màng não thì nguy cơ bị
động kinh về sau sẽ gấp 6,53 lần trẻ không bị.
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới như nước ta, tỷ
lệ bệnh lý viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương
còn khá cao: 13,1% trong nghiên cứu của Lê Thị
Khánh Vân(9). So sánh với các nghiên cứu đã đề
cập ở trên, thì một số quốc gia không xem nhiễm
trùng hệ thần kinh trung ương là yếu tố quan
trọng(2,3,4,12); còn theo Cansu (2007) thì tại Thổ Nhĩ
Kì yếu tố này là yếu và kém quan trọng nhất(5).
Điều này cho thấy tùy từng quốc gia khu vực,
từng vùng địa dư khí hậu mà mức độ ảnh
hưởng của yếu tố viêm nhiễm hệ thần kinh
trung ương lên ĐKTE cũng khác nhau.
Yếu tố đứng thứ tư trong bảng xếp hạng
chính là co giật do sốt. Ở bệnh nhi của chúng
tôi có tiền căn co giật do sốt thì nguy cơ trở thành động kinh sẽ gấp 6,43 lần trẻ không bị. Tuy nhiên, nguy cơ này không chia đều cho cả
2 nhóm, mà nhóm co giật do sốt phức tạp (có thời gian co giật kéo dài hơn 15 phút, co giật vận động cục bộ hoặc sau cơn có liệt Todd, trên 1 cơn trong 24 giờ, tình trạng thần kinh không bình thường; cha mẹ anh chị em có co giật không kèm sốt) có nguy cơ cao rất nhiều
so với nhóm co giật do sốt đơn giản (thời gian
co giật <15 phút, co giật toàn thể không có dấu thần kinh cục bộ, không có cơn thứ 2 trong 24 giờ, khi khỏi không để lại di chứng gì). Yếu tố này gần như nhận được rất nhiều sự đồng thuận từ các nghiên cứu khác nhau Cansu (2007) kết luận rằng co giật do sốt đơn giản tăng nguy cơ động kinh gấp 4,04 lần (OR= 4,04; 95% CI: 2,22‐ 7,46; p=0,0001), co giật do sốt phức tạp tăng nguy cơ động kinh lên gấp 21.97 lần (OR= 21.97; 95% CI: 9,24‐ 55,80; p=0,0001)(5). Tương tự vậy, nghiên cứu của Mung’ala (2008) tại Kenya cũng cho rằng co giật do sốt tăng nguy cơ động kinh trẻ em lên gấp 3,01 lần (OR=3,01; 95% CI: 1,50‐6,01)(11). Yếu tố quan trọng thứ 5 là vàng da sơ sinh. Như chúng ta đã biết sự lắng đọng quá mức nồng độ Bilirubin trên não trẻ sơ sinh sẽ làm tổn thương tế bào não có khả năng gây động kinh về sau. Với kết quả OR=3.67, nghiên cứu của chúng tôi tương tự Cansu (2007) cũng cho kết quả là vàng da sơ sinh làm tăng nguy cơ động kinh lên gấp 3,12 lần (OR=3,12; 95% CI: 1,45‐ 6,90; p=0,002)(5). Nghiên cứu của chúng tôi khác với Asadi‐ Pooya (2005) vì kết quả này cho rằng vàng da sơ sinh không làm tăng nguy cơ ĐKTE(1). Kết quả khác nhau có thể do cách chọn mẫu khác nhau. Như đã biết vàng da sơ sinh có
2 mức độ nặng và nhẹ, chúng tôi chọn đưa vào những ca vàng da mà có chỉ định điều trị như chiếu đèn hay thay máu. Còn các nghiên cứu trên không đề cập ở mức độ vàng da nào. Hay thêm một lý do nữa là chất lượng điều trị vàng
da. Nếu một trường hợp vàng da sơ sinh nhưng được chẩn đoán sớm ở giai đoạn chưa quá nặng,
Trang 7nồng độ Bilirubin trong máu chưa quá cao và
kéo dài, tế bào não chưa bị tổn thương thì nguy
cơ động kinh về sau sẽ rất khác biệt so với việc
chẩn đoán trễ, điều trị chưa tích cực. Chúng ta
cần chú ý phát triển khoa sơ sinh mạnh hơn nữa
để phòng ngừa yếu tố này.
Và sau cùng là yếu tố bất thường lượng
nước ối. Yếu tố này được khai thác gián tiếp
thông qua bà mẹ, chúng tôi không thể có được
những dữ liệu chính xác như kết quả siêu âm
thai, chỉ số ối…Nhưng qua kết quả nghiên cứu
cũng thể hiện một điều, đây là một yếu tố cũng
rất đáng được quan tâm.
Ngoài ra các yếu tố khác như tiền căn sảy
thai phá thai, THA thai kì, tiền căn sốt trong thai
kì, bất thường tuổi thai, tiền căn nằm hồi sức
dưỡng nhi và xuất huyết não khi phân tích đơn
biến riêng từng yếu tố thì OR và P có ý nghĩa
nhưng sau khi phân tích đa biến để khử nhiễu
thì những yếu tố này trở nên không còn ý nghĩa.
Điều này cho thấy rằng nhiều yếu tố nguy cơ
cùng tác động qua lại chồng chéo lên nhau ảnh
hưởng lên ĐKTE nên sau khi khử nhiễu chúng
ta thấy chúng trở nên kém quan trọng hơn
những yếu tố kể trên. Nhưng chúng ta cũng
không thể loại trừ chúng hoàn toàn vì trên thực
tế khảo sát riêng từng thành phần, thì tỷ lệ phân
bố của chúng giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
là rất khác biệt và có ý nghĩa thống kê.
KẾT LUẬN
Yếu tố nguy cơ quan trọng là sinh ngạt, kế
đến là tiền căn gia đình, viêm nhiễm hệ thần
kinh trung ương, co giật do sốt, vàng da sơ sinh
và bất thường lượng nước ối. Những yếu tố
nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em còn rất
đặc thù, rất riêng cho điều kiện y tế khó khăn
của Việt Nam và nếu được quan tâm đúng mức
đa số yếu tố còn có thể phòng ngừa được để góp phần giảm tỷ lệ động kinh ở trẻ em xuống thấp hơn nữa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Asadi‐Pooya AA, Hojabri K (2005). ʺRisk factors for childhood
epilepsy: a case‐control studyʺ. Epilepsy Behav, 6 (2), pp. 203‐6.
2 Attumalil TV, Sundaram A, Varghese VO, Vijayakumar K,
Kunju PA (2011). ʺRisk factors of childhood epilepsy in Keralaʺ. Ann Indian Acad Neurol, 14 (4), pp. 283‐6.
3 Bhalla D, Chea K, Hun C, Vannareth M, Huc P, et al (2012). ʺPopulation‐Based Study of Epilepsy in Cambodia Associated Factors, Measures of Impact, Stigma, Quality of
Life, Knowledge‐Attitude‐Practice, and Treatment Gapʺ. PLoS One, 7 (10).
4 Burton KJ, Rogathe J, Whittaker R, Mankad K, Hunter E, et
al (2012). ʺEpilepsy in Tanzanian children: Association with
perinatal events and other risk factorsʺ. Epilepsia, 53(4),
pp.752‐60.
5 Cansu A, Serdaroglu A, Yuksel D, Dogan V, Ozkan S, et al (2007). ʺPrevalence of some risk factors in children with
epilepsy compared to their controlsʺ. Seizure, 16 (4), pp.338‐
44.
6 Engel Jorome Jr, Pedley Tymothy A (2008). ʺIntroduction: What is epilepsyʺ, In: Epilepsy a comprehensive Textbook,
Lippincott William & Wilkins, pp. pp 54‐66.
7 Guerrini R (2006). ʺEpilepsy in childrenʺ. Lancet, 367 (9509),
pp. 499‐524.
8 Hesdorffer Dale C (2008). ʺRisk factorʺ, In: Epilepsy a comprehension Textbook, Lippincott William & Wilkins, 2.
pp.156‐170.
9 Lê Thị Khánh Vân (2011). ʺPhân loại và điều trị động kinh
trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP Hồ Chí Minhʺ, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
10 Lê Văn Tuấn, Lê Minh (2002). ʺChẩn đoán phân biệt động
kinhʺ. Tạp chí Y học TP.HCM, tr.39‐43.
11 Mungʹala‐Odera V, White S, Meehan R, Otieno GO, Njuguna
P, et al (2008). ʺPrevalence, incidence and risk factors of
epilepsy in older children in rural Kenyaʺ. Seizure, 17(5), pp.
396‐404.
12 Ngugi AK, Bottomley C, Kleinschmidt I, Wagner RG, Kakooza‐Mwesige A, et al (2013). ʺPrevalence of active convulsive epilepsy in sub‐Saharan Africa and associated
risk factors: cross‐sectional and case‐control studiesʺ. Lancet Neurol, 12 (3), pp. 253‐63.
Ngày nhận bài báo: 01/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014