Luận án Vấn đề phát triển vốn từ ngữ cho học sinh phổ thông trung học cơ sở trình bày về các nội dung: những vấn đề chung xung quanh việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh, vấn đề phát triển vốn từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở, một vài ý kiến về chương trình từ ngữ trong sách giáo khoa bậc trung học cơ sở. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUY ỄN V ĂN DUNG
V ẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH
PH Ổ THÔNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIÊNG VIỆT
MÃ SỐ : 5.07.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PHÓ TIẾN SĨ ĐẶNG NGỌC LỆ
Thành ph ố Hồ Chí Minh 9/1997
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Nhờ sự tận tình giúp đỡ của thầy Đặng Ngọc Lệ, chúng tôi đã hoàn thành luận văn khoa
học này
Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy Xin chân thành cảm ơn những thầy
cô đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn Cảm ơn phòng Quản lý khoa học Trường Đại học Sư phạm thành Phố Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư Phạm Tây Ninh đã khuyến khích và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thức hiện
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DẪN LUẬN 5
1 Lý do chọn đề tài: 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 7
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 11
4 Đóng góp của luận văn: 11
5 Phương pháp nghiên cứu và ngồn tài liệu: 12
6 Kết cấu của luận văn: 13
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH 16
1.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh: 16
1.2 Cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh: 17
1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ học: 17
1.2.2 Cơ sở phi ngôn ngữ: 18
1.3 Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ so với học sinh học ngoại ngữ: 19
1.4 Những điểm khác biệt trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở so với Tiểu học và Trung học phổ thông: 20
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH BẬC PHỔ THÔNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 23
2.1 Thực trạng việc giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn từ cho học sinh theo chương trình, sách giáo khoa Văn - Tiếng Việt bậc trung học cơ sở: 23
2.1.1 Về tình hình dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông từ sau cách mạng tháng Tám 1945: 23
2.1.2 Thực trang về việc dạy-học Từ ngữ và phát triển Từ ngữ cho học sinh phổ thông: 24
2.2 Những nguyên tắc cơ bản xung quanh việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh: 31
2.2.1 Nguyên tắc hệ thống : 31
2.2.2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp: 32
2.3 Nội dung và phương pháp phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở: 33
2.3.1 Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cở sở: 34
2.3.2 Về việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở: 46 CHƯƠNG 3: VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
Trang 4BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 55
3.1 Vài nhận xét về chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ: 55
3.1.1 Điểm qua nội dung chương trình nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ Cải cách giáo dục: 55
3.1.2 Vài nhận xét về chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ chỉnh lý : 56
3.2 Một số đề xuất về việc bổ sung chỉnh lý : 58
3.2.1 Một số đề xuất chung: 58
3.2.2 Về việc dạy-học Từ ngữ Hán-Việt ở bậc phổ thông THCS : 59
KẾT LUẬN 69
PHỤ LỤC 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5kỹ năng dùng tiếng Việt là chìa khóa của nhận thức, học vấn và phát triển trí tuệ Thiếu quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt, học sinh sẽ không hoàn thành tốt nhiệm vụ của bất
kỳ môn học nào
Tiếng Việt có vai trò quan trọng như vậy đối với học sinh, nhưng thực tế việc dạy-học
tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt đang khiến cho những ai quan tâm đến
vấn đề này băn khoăn, lo ngại So với những thập kỷ trước đây, việc dạy-học tiếng Việt hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn còn n hiều điều cần phải trao đổi, bàn bạc để cải
tiến nhằm mang lại hiệu quả cao hơn Còn việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt nói chung, Từ
ngữ nói riêng đối với học sinh đang ở mức báo động Hiện trạng nắm và sử dụng Từ ngữ của
học sinh thật đáng buồn Lỗi về dùng từ là phổ biến : dùng từ Hán-Việt sai, dùng từ lặp, thừa
phổ biến, dùng cả những từ thô tục, phi văn hóa trong giao tiếp học đường Đó là chưa kể đến
việc dùng từ có sẵn, sáo rỗng, chẳng chứa đựng một nội dung đáng kể nào Tất cả những điều
đó phản ánh sự nghèo nàn trong tâm hồn, suy nghĩ xơ cứng trong giao tiếp, tự đánh mất cá tính sáng tạo trong diễn đạt
Thực trạng đáng lo ngại này đã được Đảng, Nhà Nước quan tâm Từ năm học
1981-1982, Bộ Giáo Dục đã tiến hành cải cách giáo dục ở bậc tiểu học trong đó có việc xác định lại
vị trí và vai trò của môn tiếng Việt trong nhà trường Công việc này tiếp tục diễn ra liên tục trong nhiều năm, cho đến năm học 1992-1993 môn tiếng Việt đã có mội vị trí thỏa đáng ở tất
Trang 6chương trình và sách giáo khoa, việc nghiên cứu để đổi mới và hoàn thiện về phương pháp
dạy-học tiếng Việt cho học sinh bản ngữ cũng được chú trọng hơn Phương pháp dạy-học
tiếng Việt được triển khai thực hiện ở các trường Sư phạm đào tạo và bồi dưỡng giáo viên
Hệ thống phương pháp và hệ thống dạy học các bộ phận tiếng Việt, các kiểu bài theo sách giáo khoa đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học Các phương pháp và biện pháp đã
hướng theo tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa VII, lần thứ tư "Đổi
v ấn đề." (56 - tr 11)
Việc xác định lại vai trò, vị trí của môn tiếng Việt trong nhà trường phổ thông thể hiện
một bước tiến mới trong nhận thức của chúng ta Không ai có thể phủ nhận thành quả của cải cách giáo dục trong những năm qua Tuy vậy, cho đến nay, cả nước vẫn chưa có một cơ quan nào, một công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vấn
đề này Chỉ biết rằng sau gần 10 năm dạy-học theo chương trình, nội dung, sách giáo khoa
mới, tháng 12.1996, Hội thảo khoa học "Đổi mới phương pháp dạy-học Văn - tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở" do Vụ Giáo viên và Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
I tổ chức tại Hà Nội nêu ra một nhận định chung " Kết quả dạy học tiếng Việt vẫn còn nhiều hạn chế vì điều quan trọng nhất của kết quả này là xây dựng động cơ phát triển ngôn
ngữ, giáo dục nhu cầu và hoạt động ngôn ngữ, nhu cầu diễn đạt tư tưởng bằng lời lẽ sáng sủa, gây hứng thú học tập cho học sinh vẫn chưa được là bao." (63 - tr 10)
Như vậy, vấn đề đặt ra là phải xem lại, rà soát lại chương trình, nội dung sách giáo khoa và cả hệ thống phương pháp, biện pháp dạy -học bộ môn Thực tế vẫn có những cái gì
đó chưa ổn, chưa phù hợp Người giáo viên trực tiếp giảng dạy vẫn thiếu những điều kiện, phương tiện cần thiết khiến cho việc thực thi công việc dạy-học lúng túng, kém hiệu quả
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở." Phạm vi của đề tài chỉ là một vấn đề nhỏ, hẹp trong toàn bộ nội dung, phương pháp dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông
Mục đích cần đạt được của đề tài là trên cở lý luận về phương pháp dạy-học tiếng mẹ
đẻ cho học sinh bản ngữ, căn cứ vào chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ của bậc Trung học cơ sở, khảo sát việc dạy-học Từ ngữ nhằm phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Trung học cơ sở để rút ra những nhận xét, đánh giá, bước đầu đề xuất những phương pháp,
biện pháp, giúp giáo viên phổ thông làm tốt việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh qua
dạy-học Văn-Tiếng Việt, tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học và giao tiếp trong cuộc
Trang 7sống có hiệu quả
2 L ịch sử vấn đề nghiên cứu:
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, tiếng Việt, ngôn ngữ quốc gia của đối nước Việt Nam đã có một vị trí xứng đáng trong mọi mặt của đời sống xã hội Nó nhanh chóng trở thành ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường ở tất cả các cấp học Chương trình dạy
tiếng Việt cho học sinh cấp I, II với tư cách vừa là môn học, vừa là công cụ được thực hiện và thu được những thành tựu nhất định Song nhận thức được vai trò của môn Tiếng Việt là một môn học độc lập là cả một quá trình lâu dài và phức tạp
Ở bậc tiểu học (cấp I) từ trước cho đến năm 1981, sách giáo khoa dạy cả Văn lẫn Tiếng Nhưng thực tế Tiếng vẫn bị coi nhẹ
Ở bậc Trung học cơ sở (cấp III) mãi đến năm 1986, Văn và Tiếng Việt mới tách ra thành hai môn riêng Tiếng lúc này với tư cách là một môn học đặc biệt Tiếng bao gồm Từ
ngữ và Ngữ pháp Lần đầu tiên Từ ngữ được chú ý đúng mức ở cấp học này
Ở bậc Trung học phổ thông phải đến năm 1990, Tiếng Việt mới có chương trình và sách giáo khoa riêng
Nếu tính về thời gian, phải sau hơn 40 năm môn Tiếng Việt mới có đựơc vai trò như
hiện nay ở trường phổ thông Cùng với sự khẳng định ấy bộ môn phương pháp dạy-học tiếng
Việt cho học sinh người bản ngữ bắt đầu trở thành một bộ môn khoa học trong các trường sư
lại ở mức độ sáng kiến, kinh nghiệm của một số giáo viên phổ thông dạy lâu năm, có tâm huyết
Năm 1983, cuốn Giảng dạy Từ ngữ ở trường phổ thông của nhóm tác giả: Phan Thiều, Nguyễn Quốc Tuy, Nguyễn Thanh Tùng ra đời Có thể coi đây là tài liệu đầu tiên, tương đối
có hệ thống về lỵ thuyết phương pháp giảng dạy Từ ngữ Nội dung tập trung giải quyết:
Trang 8- Nội dung và phương pháp giảng dạy Từ ngữ trong nhà trường
- Giảng dạy Từ ngữ trong giảng văn
- Sơ lược về giảng dạy Từ ngữ trong Tập làm văn
Mặc dầu với tư cách là một tài liệu tham khảo, nhưng cuốn sách đã nêu ra những cơ sở
lý luận, những lý giải khoa học, những kinh nghiệm quý trong việc trau dồi, phát triển vốn Từ
ngữ cho học sinh Trong nhiều năm, cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho đông đảo các đối tượng quan tâm đến vấn đề
Do thời điểm ra đời, cuốn sách cũng chỉ nêu ra nội dung chủ yếu của việc cung cấp, phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh thực hiện trong môn giảng văn và môn Tập làm văn mà
những môn học này đang hàm chứa nhiều nhược điểm cần phải cải cách Mặt khác, sách viết cho nhiều đối tượng khác nhau
Việc quan tâm đến Từ ngữ thật sự rầm rộ từ khi tiến hành cải cách giáo dục cấp II Để triển khai kế hoạch thay sách, các địa phương tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về thay sách giáo khoa Từ ngữ Nhiều địa phương đã tiến hành điều tra và thực nghiệm trên phạm vi rộng
về vốn Từ ngữ của học sinh phổ thông Hơn hai chục báo cáo khoa học năm 1986, mười lăm báo cáo khoa học của năm 1987 đã dành cho môn Từ ngữ Nội dung các báo cáo khoa học
tập trung:
- Khẳng định sự cần thiết phải cải cách giáo dục và việc đưa Từ ngữ vào bậc Trung học
cơ sở là hợp lý
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa Từ ngữ
- Tiến hành thực nghiệm để xác định tính khả thi, hiệu quả của các nội dung, các kiểu bài trong sách giáo khoa »
Nhìn chung các báo cáo khoa học đi vào diễn giải ý đồ, mục đích của các tác giả xây
dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa, tiến hành thực nghiệm dạy-học một số kiểu bài để xác định quy trình, thao tác cụ thể, nêu ra những nhận xét bước đầu về tính khả thi của
cải cách giáo dục Do thời gian hạn chế, phương pháp nghiên cứu chưa được chuẩn bị kỹ cho nên kết quả chưa có sức thuyết phục cao Nhiều tác giả chưa lường hết được những hạn chế, kém hiệu quả của một số nội dung, kiểu bài trong sách giáo khoa
Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước thu được nhiều thành tựu, việc nghiên cứu khoa học nói chung, khoa học ngôn ngữ và Việt ngữ nói riêng đã khởi sắc và có nhiều tiến
bộ
Trang 9Tháng 12.1992, Hội ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học
"Giáo dục ngôn ngữ và phát triển", hơn 80 báo cáo khoa học đã tập trung vào các vấn đề : Đối tượng của giáo dục ngôn ngữ
Mục tiêu của giáo dục ngôn ngữ
Nội dung và phạm vi của giáo dục ngôn ngữ
Tìm kiếm và đề xuất những giải pháp thỏa đáng để thực hiện có hiệu quả giáo dục ngôn
ngữ và phát triển
Hội thảo khẳng định "Nhà trường luôn luôn có vị trí cực kỳ quan trọng và quyết định đới với sự nghiệp giáo dục ngôn ngữ: (3) Có nhiều báo cáo đã dành sự quan tâm cho việc
dạy học Từ ngữ trong trường phổ thông nhưng vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc
phổ thông Trung học cơ sở vẫn chưa được chú ý
Năm 1996, ở hai trung tâm khoa học lớn : Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học phối hợp với một số tổ chức khác đã mở hai hội thảo khoa học
- "Ngôn ngữ học mùa xuân" ở Hà Nội tháng 3.1996, có 64 báo cáo Theo Giáo sư Tiến
sĩ Nguyễn Quang Hồng: "Vấn đề giảng dạy tiếng Việt và chữ Việt trong nhà trường là đề tài dược nhiều tác giả chú ý đến" (27 - tr 6)
- "Ngôn ngữ trẻ mùa thu" ở Thành phố Hồ Chí Minh-tháng 11.1996 có gần 40 báo cáo, trong đó có một số báo cáo có liên quan đến dạy-học tiếng Việt trong nhà trường
Số lượng báo cáo của hai cuộc hội thảo nhiều, nội dung phong phú nhưng báo cáo về
Từ ngữ trong nhà trường khiêm tốn, các báo cáo có liên quan đến đề tài hầu như không có Tháng 12.1996, Vụ Giáo viên Bộ Giáo Dục-Đào tạo kết hợp với khoa Ngữ văn trường Đại học Sư Phạm I Hà Nội tổ chức hội thảo Khoa học "Đổi mới phương pháp dạy-học Văn-
Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở." Hơn 70 báo cáo và tham luận tập trung vào các vấn đề:
Đánh giá thực trạng về việc dạy-học Văn-Tiếng Việt sau mười năm cải cách giáo dục
Nội dung chương trình, sách giáo khoa Văn-Tiếng Việt bậc phổ thông Trung học cơ sở
Trang 10Cảnh đề cập đến việc dạy-học Từ ngữ Hán-Việt theo chương trình và sách giáo khoa bậc phổ thông Trung học cơ sở Có một số nội dung liên quan chúng tôi sẽ sử dụng ở phần nội dung
của luận văn này
Cùng với các hội thảo khoa học được tổ chức ở các thời điểm khác nhau việc nghiên
cứu và biên soạn các giáo trình về phương pháp dạy-học tiếng Việt ở các trường Sư phạm
cũng được quan tâm hơn Trong mấy năm gần đây, với phương thức liên kết, các trường Cao đẳng Sư phạm xuất bản giáo trình Phương pháp dạy và học môn tiếng Việt của các tác giả Nguyễn Hải Đạm, Hoàng Mai Thao, Lê Xuân Soan Giáo trình đã vận dụng những thành tựu
về phương pháp dạy-học tiếng mẹ đẻ của nhiều nước trên thế giới vào đặc điểm loại hình
tiếng Việt và thực tế của nhà trường Việt Nam Ở chương phương pháp-học Từ ngữ tiếng
Việt, giáo trình đã tập trung phân tích làm sáng tỏ:
Ý nghĩa nhiệm vụ chương trình và sách giáo khoa môn Từ ngữ
Phương pháp dạy- học tri thức lý thuyết về từ ngữ
Phương pháp dạy- học từ Hán-Việt
Phương pháp day- học mở rộng vồn Từ ngữ theo chủ đề
Phương pháp giải nghĩa Từ ngữ
Cuối năm 1996, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản Giáo trình phương pháp day- học
tiếng Việt của tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán- cán bộ giảng dạy trường ĐHSP I Hà Nội Giáo trình đã vận dụng được những thành tựu mới về phương pháp dạy- học
tiếng mẹ đẻ cho học sinh bản ngữ Có thể xem giáo trình này thể hiện tập trung đầy đủ về lý thuyết dạy- học tiếng Việt hiện nay Tuy nội dung là dạy học- học tiếng Việt ở bậc phổ thông trung học, nhưng có những luận điểm, những nội dung liên quan, chúng tôi sẽ sử dụng trong
luận văn này Trải qua một quá trình lâu dài, Phương pháp dạy- học tiếng Việt nói chung và
Từ ngữ nói riêng đã có được một bước tiến đáng kể Bám theo chương trình nội dung sách giáo khoa phổ thông, vận dụng những thành tựu mới nhất Ngôn ngữ học và Việt ngữ học, các nhà khoa học và sư phạm đã giải quyết được những vấn đề cơ bản về phương pháp dạy- học
Từ ngữ ở trường phổ thông như:
Vị trí, mục đích và nội dung chương trình Từ ngữ
Những cơ sở của việc dạy- học Từ ngữ
Các nguyên tắc dạy- học Từ ngữ
Phương pháp và biện pháp dạy học tring các kiểu bài trong sách giáo khoa
Trang 11Tóm lại, suốt mấy chục năm qua, kể từ khi môn tiếng Việt được dạy học ở nhà trường, các nhà khoa học và sư phạm đã luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng lý thuyết về phương pháp dạy- học tiếng Việt cho học sinh bản ngữ Cho đến nay, các giáo trình về phương pháp
dạy- học tiếng Việt của các trường sư phạm đã giải quyết được những vấn đề chung nhất, cơ
bản nhất của phương pháp dạy tiếng Việt và các bộ phận của tiếng Việt Nhiều báo cáo khoa
học của các hội thảo khoa học về tiếng Việt đã nêu ra và giải quyết một số vấn đề cụ thể Tuy nhiên, như phần I chúng tôi đã nêu, phải chăng còn có cái gì đó, điều gì đó chưa đầy đủ, chưa phù hợp Đề tài của chúng tôi đi vào một vấn đề cụ thể là phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
phổ thông bậc Trung học cơ sở nhằm tìm ra một giải pháp góp phần lý giải thực trạng yếu kém trong việc sử dụng tiếng Việt của học sinh hiện nay
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
Thực hiện luận văn này, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ :
-Xác định ý nghĩa và cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ c ho học sinh nói chung và bậc Trung học cơ sở nói riêng
-Khảo sát, tìm hiểu thực trạng việc dạy-học Từ ngữ đối với việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở ở Tây Ninh
-Nêu lên một số nguyên tắc và phương pháp, biện pháp cần t hiết cần luận thủ và vận
dụng để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở
-Cuối cùng nêu lên một vài nhận xét về chương trình, nội dung, sách giáo khoa Từ ngữ Trung học cơ sở đối với việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, trên cơ sở đó đề xuất một
số ý kiến liên quan đến vấn đề này
4 Đóng góp của luận văn:
Do năng lực hạn chế và nguồn tài liệu gặp khó khăn cho nên đóng góp của luận văn
cũng hết sức khiêm tốn Chúng tôi nhận thấy có thể đạt được một số điều
-Xác định lại những cơ sở lý luận cần thiết và phù hợp cần phải nắm vững khi thực hiện
vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở
-Nêu được phần nào thực trạng về vốn Từ ngữ và kỹ năng sử dụng Từ ngữ của học sinh
bậc Trung học cơ sở ở địa phương
- Đề xuất một số phương pháp, biện pháp như cung cấp vốn Từ ngữ, (đặc biệt chú trọng
vốn Từ ngữ Hán-Việt) rèn luyện kỹ năng dùng Từ ngữ phù hợp với đặc điểm, tâm lý lứa tuổi
Trang 12và phong cách ngôn ngữ trong học tập và trong cuộc sống đối với học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
Muốn xây dựng và xác lập các phương pháp dạy-học tiếng Việt nói chung và các bộ
phận cụ thể của tiếng Việt nói riêng phải,dựa vào đặc trưng ngôn ngữ và loại hình tiếng Việt Đồng thời phải dựa vào quy luật tâm lý ngôn ngữ học, tâm lý lứa tuổi và trình độ học sinh, có nghĩa là phải căn cứ vào khoa học cơ bản và khoa học sư phạm Trong nhiều trường hợp, khoa học sư phạm cần được ưu tiên hơn Cụ thể, chúng tôi sử dụng các phương pháp và biện pháp sau:
chung và việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Trung học cơ sở nói riêng, chúng tôi tiến hành dự các giờ dạy, quan sát việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh để có
những nhận định và kiểm tra kết quả mà sinh viên điều tra về lỗi dùng từ của học sinh qua bài làm Tập làm văn
sinh và những ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy về nội d ung, chương trình, sách giáo khoa Từ ngữ bậc Trung học cơ sở và những công việc giáo viên thực hiện đế phát triển vốn
lừ cho học sinh, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên và yêu cầu họ trả
lới một số câu hỏi có sẵn Những kết quả của phương pháp này sẽ được chọn lọc trình bày ở
một số mục phần nội dung
-Tiếng Việt bậc Trung học cơ sở, chúng tôi thống kê các lớp từ, số lượng những Từ ngữ có thể được cung cấp cho học sinh trong từng bài cũng như trong toàn bộ chương trình Đồng thời
cũng thống kê các kiểu bài tập được dùng để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
- Từ kết quả của phương pháp quan sát, điều tra trực tiếp đối với giáo viên và học sinh
Dựa trên nguồn tư liệu có được từ các phương pháp trên chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá để rút ra những nhận xét, kết luận hoặc đề xuất những ý kiến cần thiết Đồng thời
cũng có nhiều chỗ, chúng lôi miêu tả các sự kiện, hiện tượng Từ ngữ được đưa vào để làm sáng tỏ những nhận xét đánh giá những đề xuất, những vấn đề liên quan đến đề lài
Nguồn tư liệu mà chúng lôi dựa vào và đưa ra trong luận văn tập trung chủ yếu:
Trang 13bậc trung học cơ sở
- Từ các giáo trình về phương pháp giảng dạy tiếng Việt nói chung và Từ ngữ nói riêng
- Một số bài viết đăng trên các báo, các tạp chí chuyên ngành
- Sách giáo khoa, sách giáo viên và sách tham khảo về môn Tiếng Việt -Văn học dùng cho giáo viên và học sinh bậc phổ thông Trung học cơ sở, phổ thông trung học
6 K ết cấu của luận văn:
Luận văn này, chúng tôi triển khai theo một kết cấu như sau :
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG XUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH
1.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển Từ ngữ cho học sinh
1.2 Những vấn đề có liên quan đến việc cung cấp vồn từ
1.3 Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ so với
học sinh học ngoại ngữ
1.4 Những điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ của học sinh bậc Trung học
cơ sở so với bậc tiểu học và trung học
Trang 142.3 Nội dung và các phương pháp ,biện pháp có thể dùng để phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc Trung học cơ sở
2.3.1 Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở
2.3.1.1 Lựa chọn và phân bố vốn Từ ngữ cần cung cấp
2.3.1.1.1 Lựa chọn và phân bố
2.3.1.1.2 Phương pháp lựa chọn
Theo chủ đề, chủ điểm
Theo các gốc từ
Theo các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm
Theo trường nghĩa
2.3.1.2 Giúp học sinh nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp
2.3.1.2.1 Vì sao phải nắm ý nghĩa và giá trị của Từ ngữ
2.3.1.2.2 Các phương pháp có thể vận dụng để giải nghĩa Từ ngữ cho học sinh Trung
học cơ sở
Phương pháp lô gích học
Phương pháp ngôn ngữ học
Phương pháp xã hội học
2.3.2 Về rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh bậc Trung học cơ sở
2.3.2.1 Rèn luyện cho học sinh vận dụng Từ ngữ để tiếp nhận văn bản
2.3.2.2 Rèn luyện cho học sinh dùng từ đúng tiến tới dùng từ hay
2.3.2.2.1 Dùng từ đúng trước hết là dùng từ đúng âm
2.3.2.2.2 Dùng từ đúng nghĩa
2.3.2.2.3 Dùng từ đúng phong cách ngôn ngữ
Vận dụng lớp từ vựng cơ bản trong giao tiếp đa phong cách
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ hành chính
Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ chính luận
Trang 15Dùng Từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
CHƯƠNG 3:
MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
3.1 Vài nhận xét về chương trình, nội dung , sách giáo khoa Từ ngữ
3.1.1 Điểm qua về chương trình, nội dung , Sách giáo khoa Từ ngữ Cải cách giáo dục 3.1.2 Vài nhận xét về chương trình, nội dung , Sách giáo khoa Từ ngữ chỉnh lý 3.2 Một số đề xuất, bổ sung, chỉnh lý
3.2.1 Một số đề xuất chung
3.2.1.1 Về phân lượng thời gian
3.2.1.2 Về cơ cấu nội dung chương trình
3.2.1.3 Về phần lượng chương trình
3.2.1.4 Về phát huy tính sáng tạo
3.2.1.5 Về mối quan hệ giữa Văn và Tiếng
3.2.2 Về dạy-học Từ ngữ Hán-Việt ở bậc phổ thông Trung học cơ sở
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUANH VIỆC PHÁT TRIỂN
1.1 Ý ngh ĩa và tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh:
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "Trong ngôn ngữ thì từ là cái quan trọng
nhất, rồi đến câu, sau đến văn Cho nên dạy từ là rất cần thiết, phải hiểu tất cả ý nghĩa của từ,
ý nghĩa sâu xa, ý nghĩa phong phú, phải hiểu tất cả mọi cách dùng từ Bất kỳ người làm văn nào cuối cùng cũng thấy hiểu từ, dùng từ đúng chỗ là điều quan trọng và cũng là điều khó khăn bậc nhất."(1 - tr 30,31) Ý kiến này một mặt đã xác định vai trò vị trí của từ trong hệ
thống ngôn ngữ, mặt khác nêu tầm quan trọng và khó khăn của việc cung cấp vốn từ và rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ cho học sinh
Từ là đơn vị cơ bản, là yếu tố trực tiếp tham gia cấu tạo các dơn vị của lời nói Một ngôn ngữ thực sự tồn tại khi có một hệ thống từ vựng cơ bản Hệ thống này lại phản ảnh
trạng thái của ngôn ngữ đó Nó luôn luôn vận động, phát triển và có khối lượng rất lớn Từ
vựng phong phú bao nhiêu thì ngôn ngữ dồi dào bấy nhiêu
Để giúp học sinh làm chủ và sử dụng ngôn ngữ giao tiếp mộc cách có hiệu quả, việc phát triển vốn Từ ngữ cho các em là hết sức cần thiết Việc phát triển vốn Từ ngữ góp phần
mở rộng và nâng cao trình độ tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, tri thức khoa học và kinh nghiệm xã
hội đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của diễn đạt, giao tiếp trong học tập và cuộc sống Quá trình phát triển vốn Từ ngữ không đơn thuần, một chiều, thụ động mà là quá trình hai chiều Phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, một mặt giúp các em nắm được vốn Từ ngữ văn hoa và cách sử dụng vốn từ này, mặt khác rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ, tức là "phát triển lời nói liên kết" nhằm hoàn thiện các kỹ năng ngôn ngữ trong giao tiếp
Từ ngữ không chỉ là một sự kiện ngôn ngữ mà còn là những bản tổng kết cô đọng, xúc tích, phong phú những hiểu biết, những kinh nghiệm về thực tế thiên nhiên xã hội, con người,
về đời sống tâm hồn và trí tuệ của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử Vì vậy việc phát triển
vốn Từ ngữ sẽ giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc, tâm hồn, tính cách của con người Việt Nam Chính vì vậy vai trò của vốn từ ngữ đối với học sinh cực kỳ quan trọng Học sinh có được vốn từ phong phú sẽ :
- Giúp cho việc tiếp thu tri thức các môn học thuận lợi Những tri thức này là cơ sở mở mang nhận thức, vốn hiểu biết về các môn khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn có hiệu quả
- Biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tri thức một cách chính xác, uyển chuyển và tinh tế Nếu
có một vốn Từ ngữ phong phú học sinh sẽ không diễn đạt những câu kiểu :
Trang 17a Kẻ thù có nhã tâm xâm lược đất nước ta
b Anh Nguyễn Văn Trỗi, người thợ điện tầm thường
1.2 Cơ sở lý luận của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh:
đã lập nên chiến công oanh liệt
- Cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nói chung và đặc biệt là ngôn
ngữ nghệ thuật Có một vốn từ phong phú học sinh có hể hiểu được cái hay, cái đẹp của Từ
ngữ, của các tác phẩm văn học được học trong chương trình
Ngoài ra việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh sẽ có điều kiện để rèn luyện các thao tác và hình thành năng lực, phẩm chất tư duy Và có thể khẳng định rằng việc phát triển vốn
Từ ngữ cho học sinh có hiệu quả là việc làm tốt nhất, đắc lực nhất trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh không phải là việc làm tùy tiện, theo cảm
hứng chủ quan của những người biên soạn chương trình và sách giáo khoa mà phải dựa vào
những căn cứ khoa học Những căn cứ quan trọng cho vấn đề này là :
ngữ trong toàn bộ cơ cấu hoạt động của hệ thống bởi vì mỗi đơn vị khi tham gia vào cơ cấu
và hoạt động sẽ có một vai trò vị trí nhất định và có mối quan hệ ràng buộc với các đơn vị khác Giá trị của nó một mặt do tự thân, mặt khác lại do những đơn vị khác chi phối và quy định
Là một tín hiệu cho nên từ, ngữ có hai mặt : Mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt Mặt
biểu đạt chính là các đặc điểm hình thức của từ : đặc điểm ngữ âm, đặc điển ngữ pháp, đặc điểm cấu tạo Mặt dược biểu đạt của từ (tức là nội dung ngữ nghĩa) là một hệ thống có sự kết
hợp chặt chẽ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Khi sử dụng Từ ngữ để giao tiếp, con người bày tỏ, biểu thị thái độ, tình cảm đối với hiện thực và đối tượng giao tiếp Vì thế, việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cần chú ý đúng mức tính biểu cảm của từ
Nghĩa của từ cũng là một yếu tố trong hệ thống từ vựng Giữa các từ và nghĩa của
Trang 18chúng có mối quan hệ với nhau Xét về mặt ngữ nghĩa có các mối quan hệ : đồng nghĩa, trái nghĩa, trường nghĩa Với các mối quan hệ này, Từ ngữ thường lập thành những hệ thống nhất định khiến cho ngôn ngữ trở nên phong phú, đa dạng Đây là một khía cạnh cần được quan tâm để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Ngoài ra, trong quá trình sử dụng Từ ngữ có sự
biến đổi ý nghĩa và phải tuân theo những khuôn mẫu riêng theo từng loại văn bản thuộc một phong cách chức năng cụ thể Phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cũng không thể bỏ qua điều này
1.2.2 Cơ sở phi ngôn ngữ:
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh là một vấn đề có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau Bên cạnh cơ sở ngôn ngữ học như vừa nêu trên, cần phải dựa vào một số căn cứ khác như : đối tượng học sinh, các môn học có liên quan và môi trường xã hội Có thể gọi là
cơ sở phi ngôn ngữ
Đối với từng cá nhân, Từ ngữ được tiếp nhận, tích lũy và sử dụng phải theo những quy
luật tâm lý, tư duy nhất định cho nên việc phát triển vốn Từ ngữ cũng cần phải dựa vào các quy luật này Đối tượng của đề tài này là học sinh phổ thông Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn ở phần sau
Ngôn ngữ và văn học cố sự quan hệ mật thiết với nhau Trong nhà trường phổ thông,
mối quan hệ này càng được thể hiện rõ ràng hơn Giữa nội dung, chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt và văn học ở các cấp học có sự liên hệ chặt chẽ và sự hỗ trợ đắc lực cho nhau " Ở một số mặt nhất định lại không thể tách rời nhau, thậm chí trùng nhau Trong quá trình dạy học, hai môn này phát triển song song với nhau, môn này là chỗ dựa của môn kia để cùng tác động lên người học." (2 - tr1, 2 ) Vì vậy, việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cũng phải tính đến khả năng hổ trợ của môn Văn học
Sự hình thành và phát triển Từ ngữ chỉ xảy ra trong hoạt động lao động, nhận thức, cải
tạo thế giới khách quan của con người Muốn tiếp nhận, tích lũy và sử dụng Từ ngữ, học sinh
phải thông qua hoạt động giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội Hoạt động giao tiếp là
hoạt động đặc trưng của con người, có quan hệ trực tiếp nhất đến việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực Từ ngữ nói riêng
Vốn Từ ngữ của mỗi cá nhân càng ngày càng được tích lũy, nó sẽ trở nên phong phú,
đa dạng và tích cực vốn từ này cũng được tập hợp thành một hệ thống dựa trên những quan
hệ nhất định Khi sử dụng, nhờ liên tưởng mà con người huy động được những Từ ngữ cần thiết Những Từ ngữ này thường có những đặc điểm chung nào đó Như vậy, từ vựng trong
Trang 19đầu óc của mỗi cá nhân là một biểu hiện cụ thể hệ thống từ vựng của ngôn ngữ Tuy theo lứa
tuổi, trình độ, hệ thống của mỗi cá nhân có sự khác nhau về chất và lượng
Tất cả những điều vừa trình bày trên đây là cơ sở của việc lựa chọn, sắp xếp, tổ chức và
kiểm soát việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Sẽ có những cơ sở được chú trọng nhiều hơn trong quá trình vận dụng Ngoài ra trong quá trình thực hiện việc phát triển vốn Từ ngữ còn phải tính đến tâm lý tiếp nhận của học sinh, các quy luật dạy học và mục tiêu cấp học, xem xét nó trong toàn bộ cơ cấu và hoạt động của hệ thống Và là một tín hiệu cho nên từ có hai mặt : mặt biểu đạt, mặt được biểu đạt khi thực hiện việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cần chú ý đúng mức cả hai mặt này
1.3 Nh ững điểm khác biệt của việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ
so v ới học sinh học ngoại ngữ:
Tiếng Việt đối với học sinh Việt Nam là tiếng mẹ đẻ cho nên ngay từ thuở lên ba, các
em đã sử dụng làm công cụ tư duy và giao tiếp Trước khi đến trường, các em đã có một vốn
liếng nhất định về Từ ngữ và các kiểu câu để giao tiếp Khác với tất cả các môn học, khác với
học sinh học ngoại ngữ, dạy tiếng Việt nói chung và việc phát triển vốn Từ ngữ nói riêng cho
học sinh cần phải xuất phát từ tiềm năng Khi bước vào bậc Trung học cơ sở, học sinh đã có
một vốn liếng Từ ngữ khá phong phú Đó là kết quả của quá trình tiếp thu tự phát (tiếp thu được trong môi trường sống hàng ngày qua gia đình, bạn bè ) và tự giác (tiếp thu ở các lớp
cấp I, các phương tiện truyền tin đại chúng ) Cần phải chú ý đến đặc điểm này để tránh lãng phí thời gian và gây nhàm chán của tình trạng "biết rồi, khổ lắm, nói mãi" Tuy nhiên
cũng cần xác định rằng do đặc điểm lâm lý lứa tuổi và khả năng tư duy, vốn liếng của các em
từ 12 tuổi trở xuống ở dạng pha tạp : Từ ngữ khẩu ngữ, địa phương; Từ ngữ rời rạc, chưa thành hệ thống và vốn liếng này cũng chưa bảo đảm chắc chắn : lẫn lộn về âm, hiểu nghĩa chưa đầy đủ, chưa biết huy động để tư duy và giao tiếp chính xác, tinh tế Thực tế về lỗi dùng
từ của các em góp phần khẳng định nhận định này
Mục tiêu của dạy học tiếng mẹ đẻ ở trường phổ thông là trên cơ sở cung cấp những
kiến thức về tiếng Việt tiến hành trau dồi và phát triển năng lực ngôn ngữ giúp học sinh biết
sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ để học tập và giao liếp trong cuộc sống Thông qua dó, hình thành khả năng thẩm mỹ ngôn ngữ, tạo diều kiện phát triển và nâng cao năng lực trí tuệ, góp
phần trau dồi và phát triển nhân cách cho học sinh
Muốn thực hiện được mục tiêu trên, việc xác định các đơn vị kiến thúc phải bảo đảm tính khoa học và tính sư phạm Trong một chừng mực nào đó phải ưu tiên cho tính sư phạm
Trang 20Các đơn vị dạy học cần phải được quy định và bảo đảm tính hệ thống Quy trình dạy học làm
thế nào kết hợp được giữa dạy ngôn ngữ và lời nói
Vốn Từ ngữ của học sinh được tiếp thu từ nhiều nguồn, vừa có tính tự phát, vừa có tính
tự giác Nhiệm vụ của nhà trường giúp các em chuyển hóa cái tự phát thành tự giác tức là từ
vốn từ có tính kinh nghiệm chuyển hóa thành có ý thức về kinh nghiệm khiến cho việc tiếp
nhận Từ ngữ có chọn lọc, chính xác có lợi cho việc sử dụng giao tiếp trong nhà trường
Thực hiện việc trên, trong quá trình giảng dạy, ngữ liệu sử dụng trong bài phải là những văn bản mẫu mực chọn lọc trong các tác phẩm văn học tiêu biểu hoặc là những văn bản,
những đơn vị do chính học sinh tạo nên
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bản ngữ có nhiều lợi thế hơn so với học sinh
học ngoại ngữ Nếu như học ngoại ngữ, học sinh bắt đầu từ con số không và tiến hành tuần tự
với số lượng vừa phải thì học sinh bản ngữ được dựa trên vốn liếng có sẵn nhất định Vì vậy,
tốc độ phát triển sẽ nhanh hơn, bỏ qua những cái không cần thiết
Tuy nhiên, giáo viên phải thường xuyên chú ý sử dụng những biện pháp chính xác hoá, chuẩn mực hóa và tích cực hóa vốn từ để hiệu quả sử dụng Từ ngữ của các em cao hơn, bền
vững hơn
1.4 Nh ững điểm khác biệt trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc Trung h ọc cơ sở so với Tiểu học và Trung học phổ thông:
Việc trau dồi vốn Từ ngữ đối với từng cá nhân là liên lục, lâu dài Đối với học sinh,
việc phát triển vốn Từ ngữ cần được thực hiện ở tất cả các cấp học và tận dụng lợi thế của môi trường tiếng và trực cảm ngôn ngữ
Tuy vậy, tuy theo đặc điểm tâm lý lứa tuổi và khả năng tư duy, ở mỗi cấp, mỗi lớp có
sự khác nhau nhất định
Vốn Từ ngữ của học sinh bậc Tiểu học và Trung học cơ sở (theo ý kiến các nhà nghiên
cứu) có các đặc điểm cơ bản :
- Là một vốn tư có tính pha tạp do việc tiếp thu vừa có tính tự phát vừa có tính tự giác
- Có số lượng tương đối hạn chế Hiện nay, người ta chưa điều tra được chính xác là bao nhiêu nhưng vốn từ của các em ở lứa tuổi có những biểu hiện hạn chế:
Phạm vi vốn từ chưa phong phú Từ địa phương, từ khẩu ngữ, từ cụ thể là chủ yếu
Sắc thái và ý nghĩa của từ còn đơn điệu, chưa đầy đủ Các em mới hiểu được nét nghĩa
Trang 21thông thường nhất và sắc thái mang tính trung hoà chứ chưa thể hiểu dược ý nghĩa sâu xa và
- Do tiếp nhận chưa thật sự chủ động và có ý thức cho nên vốn Từ ngữ của các em thiên
về bị động, chưa trở thành vốn từ tích cực trong học tập, giao tiếp
Tuy vậy, việc phát triển Từ ngữ đối với bậc Tiểu học và Trung học cơ sở vẫn có sự khác nhau.Về cơ bản, vốn Từ ngữ được chú ý trong nhà trường đứng về mặt văn hóa-xã hội chia thành : lớp từ cơ bản và lớp từ văn hóa Trọng tâm của việc phát triển vố n Từ ngữ cho
học sinh Tiểu học tập trung vào lớp từ cơ bản và một phần Từ ngữ văn hóa Cụ thể :
- Những Từ ngữ chỉ các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày xung quanh các
em
- Những Từ ngữ chỉ hoạt động, tính chất, màu sắc liên quan đến hoạt động, trạng thái, tình cảm của các em
- Những lớp từ cơ bản như từ láy, từ ghép, từ tượng thanh, tượng hình
Đối với học sinh bậc Trung học cơ sở, việc phát triển vốn Từ ngữ phải dựa trên cơ sở
vốn đã có của Tiểu học Cho nên, vốn từ được chú ý là một phần vốn Từ ngữ cơ bản như từ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa và lớn hơn là Từ ngữ văn hóa như từ vay mượn, từ Hán-Việt, Từ ngữ nghệ thuật để phục vụ cho các phong cách ngôn ngữ chức năng như khoa học, chính luận, nghệ thuật
Kể từ cải cách giáo dục, nhiệm vụ đặt ra cho việc dạy-học Từ ngữ ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở là phong phú hóa vốn từ, chính xác hóa vốn từ, tích cực hóa vốn từ và chuẩn
mực hóa vốn từ Tất nhiên mức độ của các nhiệm vụ ở mỗi cấp học có sự khác nhau
Việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh không dừng lại ở bậc Trung học cơ sở mà
phải tiếp tục thực hiện ở bậc Trung học phổ thông để giúp các em có một số vốn tiếng phong phú đáp ứng yêu cầu giao tiếp ở mức cao hơn Học xong bậc Trung học cơ sở, vốn Từ ngữ
của học sinh đã khá hơn : bao gồm lớp từ cơ bản và một phần Từ ngữ văn hóa Như vậy ở các
lớp Trung học phổ thông, việc phát triển vốn Từ ngữ lập trung chủ yếu là Từ ngữ văn hóa và cách sử dụng chúng trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau
Trang 22Nói tóm lại, Từ ngữ có một vị trí cực kỳ quan trọng Nó là cơ sở để khẳng định một ngôn ngữ tồn lại và giúp cho chúng ta thấy được ngôn ngữ đó phong phú hay nghèo nàn Đối
với từng cá nhân, vốn Từ ngữ rất cần thiết Thực tế chứng minh rằng vốn từ càng dồi dào thì
kỹ năng lựa chọn, sử dụng từ chính xác và hay Trong nhà trường, Từ ngữ là một môn học nhưng cũng là công cụ để tư duy và giao tiếp nếu hạn chế sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập các môn học khác Việc phát triển Từ ngữ cho học sinh vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa
thực tiễn Nó giúp cho học sinh vốn liếng để tiếp nhận và biểu đạt một cách chính xác và linh
hoạt tư tưởng, tình cảm, tri thức của mình Tuy nhiên việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
bản ngữ phải khai thác và phát huy được tiềm năng vốn có của học sinh và tận dụng kỹ năng
của trực cảm ngôn ngữ và môi trường tiếng, cần phải biết hạn chế mặt tiêu cực và uốn nắn
những sai sót để giúp các em làm chủ vốn liếng của mình phục vụ có hiệu quả cho học tập và
cuộc sống Cũng xuất phát từ cơ sở khoa học và sư phạm, việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh bậc trung học cơ sở tập trung vào một phần "lớn hơn là lớp từ vựng văn hóa Có thể nói
rằng bậc học này là chiếc cầu nối giữa bậc tiểu học và Trung học phổ thông
Trang 23CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ NGỮ CHO HỌC SINH
2.1 Th ực trạng việc giảng dạy Từ ngữ và phát triển vốn từ cho học sinh theo chương trình, sách giáo khoa Văn - Tiếng Việt bậc trung học cơ sở:
2.1.1 Về tình hình dạy-học tiếng Việt ở trường phổ thông từ sau cách mạng tháng Tám 1945:
Từ sau cách mạng tháng Tám cùng với vị trí của dân tộc Việt Nam, tiếng Việt đã có
một vị trí xứng đáng Theo thời gian, nó dần dần trở thành một môn học quan trọng trong nhà trường Lịch sử dạy-học tiếng Việt có thể phân chia thành các thời kỳ chủ yếu (theo cách phân loại của nhiều nhà khoa học) như sau :
- Từ năm 1945 đến năm 1954 : tiếng Việt được đưa vào dạy-học ở các lớp cấp 1 và 2 (từ lớp 1 đến lớp 7), điều đáng chú ý của thời kỳ này
+ Chưa có chương trình và sách giáo khoa riêng, việc dạy -học chủ yếu thông qua môn Văn
+ Một số trí thức về ngôn ngữ tiếng Việt được nhìn nhận theo quan điểm của phương Tây (chủ yếu là Pháp) Phương pháp chưa được hình thành cụ thể
- Từ năm 1954 đến năm 1981 : tiếng Việt vẫn tiếp tục được dạy-học ở cấp 1, 2 Đặc trưng của thời kỳ này là
+ Tiếng Việt đã được chú ý hơn nhưng vẫn chưa tách thành môn học độc lập Một số
giờ dạy tiếng Việt vẫn nằm trong bộ môn Ngữ văn
+ Kiến thức môn học được trình bày theo hai cách nhìn khác nhau : Cách nhìn nhận của phương Tây như tác giả Nguyễn Lân và cách nhìn của Liên Xô (cũ) như Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn
- Từ năm 1981 đến nay : Tiếng Việt được chú ý đúng mức và trở thành một môn học riêng có chương trình, nội dung, sách giáo khoa riêng Một số thành tựu về Ngôn ngữ học và
Việt ngữ học đã dược đưa vào Môn Tiếng Việt bao gồm Từ ngữ và Ngữ pháp Phương pháp
dạy-học tiếng Việt đã trở thành môn khoa học trong các trường sư phạm đào tạo giáo viên
Trang 242.1.2 Thực trang về việc dạy-học Từ ngữ và phát triển Từ ngữ cho học sinh phổ thông:
Việc dạy-học tiếng Việt nói chung và Từ ngữ nói riêng càng ngày càng được chú trọng
và thu được những thành tựu nhất định nhưng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém khiến cho hiệu quả không được như mong muốn Đánh giá về việc dạy-học Từ ngữ ở bậc phổ thông trung học cơ sở trước cải cách giáo dục, nhóm tác giả được phân công biên soạn chương trình và, sách giáo khoa cải cách giáo dục nhận định : "Từ nước đến nay, việc dạy -
học Từ ngữ ở trường phổ thông cơ sở coi như bị "thả nổi" Nhà trường không cần biết đến
vốn từ tiếng mẹ đẻ của học sinh để liên cơ sở đó quy định số từ cần bồi dưỡng cho các em ở
từng cấp, từng lớp Việc học từ một cách tự phát qua môi trường tiếng và có ý thức qua các môn văn hóa ở trường được tiến hành một cách tùy tiện Tình trạ ng này kéo dài trong nhiều năm ảnh" hưởng đến chất lượng học tiếng mẹ đẻ về mặt từ vựng Vốn từ ở học sinh nghèo nàn, chậm phát triển, tỷ lệ từ tiên cực, từ mang tính chất khẩu ngữ, phi văn chương khá cao,
học sinh mắc lỗi dùng từ khá trầm trọng" (1-tr 30, 31)
Nhận định trên là có cơ sở, bởi trong chương trình môn tiếng Việt trước cải cách giáo
dục, trong , sách giáo khoa, phần Từ ngữ chỉ bao gồm các nội dung :
Nói giảm, nói nhấn, mói vòng, chơi chữ
Phép tăng cấp, đối lập, điệp ngữ, câu hỏi tu từ
Bài tập về tu từ
Trong cả cấp học chỉ vỏn vẹn có 9/168 tiết, chiếm lý lệ hơn 5%
"Để khắc phục tình trạng "tiêu cực" trên, trong nhà trường giáo viên, đặc biệt là giáo viên văn học đã tiến hành dạy Từ ngữ qua các môn học về giảng văn lập làm văn và các môn
học khác Tuy vậy, nhìn chung những hoạt động khoa học sư phạm trong và ngoài trường chưa có phần đóng góp thích đáng trong việc giáo dục tiếng mẹ đẻ về mặt Từ ngữ" (1 - tr 31, 32)
Từ năm học 1986-1987, nội dung chương trình môn tiếng Việt bậc trung học cơ sở đã
Trang 25được Bộ Giáo dục Đào tạo xác định rõ : nhằm mục tiêu cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống về tiếng Việt làm cơ sở cho việc trau dồi và phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh, thể hiện trong việc sử dụng thành thạo tiếng mẹ
đẻ trong việc giao tiếp hàng ngày Hình thành dần năng khiếu thẩm mỹ, phương pháp-tư duy,
kỹ năng nghe, đọc, nói, viết tiếng Việt văn hoá
Và cũng từ đây, môn Từ ngữ được chú ý đúng mức và có vị trí xứng đáng
Từ ngữ được bố trí dạy-học ở lớp 6, 7 với 66 tiết nhằm mục tiêu : cung cấp những tri
thức khoa học về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ trong hệ thống từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt để nâng cao dần năng lực dùng từ của học sinh từ tự phát lên tự giác Cung cấp vốn Từ
ngữ theo một bản từ có tính toán đến tần số sử dụng cao, luyện tập kỹ năng sử dụng Từ ngữ
Để thực hiện được mục tiêu trên, nội dung , sách giáo khoa cải cách giáo dục xây dựng theo 4 mảng
-Những tri thức về các đơn vị Từ ngữ tiếng Việt hiện đại: từ đơn, phức
- Những tri thức về nghĩa của từ : nghĩa đen, nghĩa bóng, từ đồng âm, từ đồng nghĩa
- Những tri thức về các biện pháp tu từ về Từ ngữ : so sánh, ẩn dụ, nhân hóa
- Mở rộng và trau dồi cách dùng từ : ôn tập từ Hán-Việt, mở rộng vốn từ theo chủ đề
Việc đưa môn Từ ngữ vào lớp 6, 7 đánh dấu một bước chuyển biến mới trong nhận
thức của chúng ta về ý nghĩa của mảng kiến thức từ vựng-ngữ nghĩa Chương trình được đông đảo cán bộ, giáo viên và học sinh đồng tình, ủng hộ Thế nhưng hiệu quả của việc dạy-
học Từ ngữ nói chung và việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh nói riêng như thế nào, cho đến nay vẫn chưa có cơ quan có thẩm quyền và các công trình điều tra nghiên cứu nghiêm túc đánh giá chính xác Chỉ biết rằng sau gần 10 năm cải cách, cả sách giáo khoa và sách giáo viên Từ ngữ đều phải chỉnh lý Nguyên tắc chỉnh lý được đặt ra là :
- Chỉnh lý trên dưới 50% tổng thể, không phải viết lại toàn bộ
- Điều chỉnh trong phạm vi một số tiết học dành cho cấp 2, không tăng số tiết
-Định hướng vào sự phân định bậc học mới theo dự kiến
Trang 26- Điều chỉnh cách phân bố các nội dung giữa các lớp
- Sửa lại và uốn nắn những chỗ cần thiết
- Bớt những chỗ ít cần thiết
- Bổ sung thêm những vấn đề cần thiết
- Tăng cường học các yếu tố Hán-Việt (10 - tr 7, 8, 9,10, 11, 12)
So sánh đối chiếu , sách giáo khoa chỉnh lý với, sách giáo khoa cải cách, chúng tôi nhận
thấy :
- Những mảng về tri thức lý thuyết Từ ngữ không có sự thay đổi đáng kể
- Điều mà các tác giả quan tâm nhất là mở rộng và trau dồi cách dùng Từ ngữ đặc biệt
là Từ ngữ Hán-Việt Ở phần này, , sách giáo khoa có sự thay đổi kiểu bài, nội dung và số tiết
của từng kiểu bài
Kiểu bài: - Ôn tập từ Hán -Việt: 6
tiết
- Mở rộng vốn từ theo chủ đề
Kiểu bài : - Mở rộng vốn yếu tố
+ Nông nghiệp2 tiết
+ Công nghiệp2 tiết
Tổng số tiết của 2 kiểu bài :22 tiết
+ Học lập2 tiết + Đạo đức2 tiết + Lao dộng2 tiết + Biển2 tiết + Rừng2 tiết + Nông thôn2 tiết + Thành thị2 tiết
Tổng số tiết của 2 kiểu bài:22 tiết
- Công cuộc cải cách và chỉnh lý chương trình, nội dung Sách giáo khoa Từ ngữ bậc Trung học cơ sở thể hiện sự quan tâm của nhà nước, của các nhà khoa học và sư phạm đối
với việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh Nhưng trong thực tế, kết quả thu được như thế nào, có những ưu điểm, hạn chế gì, chúng tôii sẽ trình bày những điều quan sát, khảo sát thu
nhận được ở Tây Ninh
Trang 27Chúng tôi tiến hành hai công việc khảo sát thực tế Một loại đặt ra những câu hỏi và yêu cầu đối với giáo viên, những người trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông Một loại công
việc đặt ra đối với sinh viên năm thứ ba trong đợt thực lập nhằm có thêm tư liệu tham khảo
* Đối với giáo viên: tiến hành phát phiếu phỏng vấn và điều tra Nội dung gồm
- Phần tự khai của giáo viên
- Phần trả lời câu hỏi cụ thể
- Phần phát biểu ý kiến của cá nhân
Số phiếu phát ra: 120 cho giáo viên dạy lớp 6, 7 thuộc các địa bàn Thị Xã, Thị Trấn, nông thôn, vùng sâu, vùng biên giới (nội dung cụ thể và cách mức trả lời xin xem phần phụ
lục)
Trang 2828
Nội dung nhận định Đúng Không Không
trả lời Điểm
1 Về mục tiêu dạy-học Từ ngữ ở trung học cơ sở
- Cung cấp kiến thức cơ bản về Từ ngữ tiếng Việt,
trau dồi, phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
- Tiếp tục thực hiện bốn nhiệm vụ đã nêu ở bậc tiểu
học: phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ,
tích cực hoá vốn từ và chuẩn mực hoá vốn từ
- Nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ là quan trọng nhất
2 Về chương trình, nội dung :
- Từ ngữ ở cấp 2 có sự tiếp nối và nâng cao chương
trình Tiểu học
- Phần cung cấp những tri thức lý thuyết vừa đủ
- Phần phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh có ý
nghĩa thiết thực
- Kiểu bài ôn tập từ Hán-Việt ở lớp 6 cải cách giáo
dục kém hiệu quả
- Kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề hấp dẫn,
hiệu" quả nhưng khó dạy
- Kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hàn-Việt lớp 6 chỉnh
lý hiệu quả hơn
- Các kiểu bài tập của kiểu bài lý thuyết là đa dạng
- Các kiểu bài tập ở phần luyện tập của kiểu bài Mở
rộng vốn yếu tố Hán-Việt sơ lược, kém hiệu quả
- Các kiểu bài tập của kiểu bài Mở rộng vốn từ theo
Trang 29pháp và biện pháp
- Giữa phương pháp và nội dung dạy-học có mối
quan hệ nhưng do anh (chị) chưa nắm được nội dung
- Khi dạy, anh (chị) chỉ trung thành với kiến thức
trong, sách giáo khoa mà chưa có sự sáng tạo
- Anh (chị) ít tham khảo tài liệu chuyên môn 78 40 2 8,1
- Để giải ngh ĩa Từ ng ữ cho học sin h, an h (ch ị)
thường dùng các Phương pháp Logic, ngôn ngữ học, xã
hội học
- Học sinh đã nắm được tri thức lý thuyết về Từ
- Vốn Từ ngữ của học sinh nghèo nàn Việc vận
dụng để học tập, giao tiếp còn kém hiệu quả
- Kết quả học tập Từ ngữ của học sinh chưa đạt
được như mong muốn
* Đối với sinh viên :
Chúng tôi hướng dẫn điều tra lỗi dùng từ của học sinh qua bài tập làm văn (Nội dung, yêu cầu, cách thức cụ thể, xin xem ở phần phụ lục) Vì là điều tra gián tiếp qua sinh viên nên
kết quả sau đây chủ yếu là tham khảo
Trang 30Từ thực tế khảo sát trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :
- Đa số giáo viên đều nhất trí về mục liêu và nhiệm vụ của việc dạy-học Từ ngữ ở bậc
phổ thông trung học cơ sở Họ khẳng định ở bậc trung học cơ sở bốn nhiệm vụ đều có tầm quan trọng như nhau
- Về chương trình và nội dung, nhiều giáo viên vẫn còn băn khăn về nội dung và các
kiểu bài liên quan đến việc trau dồi và phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
- Các kiểu bài tập chưa đa dạng và chưa có tác dụng thiết thực
- Giáo viên vẫn còn chưa nắm vững và lúng túng trong việc vận dụng các Phương pháp
và biện pháp Cho nên trong thực tế chưa có tính sáng tạo nhiều
- Vốn Từ ngữ của học sinh còn nghèo nàn, lỗi về Từ ngữ trong giao tiếp là phổ biến và đáng lo ngại trong tình hình hiện nay
Ngoài những nhận xét này, chúng tôi xin nêu ý kiến của một cán bộ chỉ đạo chuyên môn ở Sở GD-ĐT Thanh Hóa liên quan đến vấn đề này "Thật lạ, trong đời sống hàng ngày
của trẻ em, các em tỏ ra hoạt bát, linh lợi trong ứng xử, giao tiếp với các đối tượng được tiếp xúc, vốn tiếng mẹ đẻ được sử dụng khá hiệu quả Vậy mà vì sao khi ngồi vào chiếc ghế trên
lớp học, , sách giáo khoa, vở bài tập tiếng Việt đầy đủ trước mặt, với những câu hỏi, những bài giảng đầy nhiệt tâm của giáo viên, các em lại nói năng lắp bắp, lí nhí, phát ngôn không thành câu Cái gì đã ám ảnh sự bộc lộ các hành động ngôn ngữ trong lớp học Chương trình
tiếng Việt ư? , sách giáo khoa ư? Phương pháp dạy học cũ kỹ, thói quen quyền uy áp đặt ư?
Có cả " (29 - tr 130)
Trang 31Cũng từ thực tế này, chúng tôi đưa ra một số nhận định như sau :
- Cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc chương trình, nội dung , sách giáo khoa
hiện nay Đặc biệt là phần nội dung trau dồi và phát triển vấn đề Từ ngữ cho học sinh
- Các phương pháp và biện pháp, quy trình để dạy học các kiểu bài liên quan đến Từ
ngữ Hán-Việt chưa hợp lý cho nên chưa mang lại hiệu quả thiết thực, bền vững
- Phải chăng đang có một khoảng cách khá xa giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ trong nhà trường của học sinh Làm thế nào để có thể rút ngắn khoảng cách này, giúp cho
việc học tập, giao tiếp trong nhà trường hiệu quả hơn
2.2 Nh ững nguyên tắc cơ bản xung quanh việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh:
Dạy-học Từ ngữ nói chung và phát triển vốn Từ ngữ nói riêng cho học sinh phải tuân
thủ theo các nguyên tắc dạy-học tiếng Việt và một số nguyên tắc có tính đặc thù của Từ ngữ Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên, khi thực hiện việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cơ sở chúng tôi nhấn mạnh mấy nguyên tắc cơ
cũng phải bảo đảm tính hệ thống Tính hệ thống ở đây cần phải được thực hiện :
- Việc cung cấp Từ ngữ theo từng nhóm, từng chủ đề để các em dễ tiếp thu và dễ huy động khi sử dụng
- Việc cung cấp Từ ngữ phải bảo đảm tính toàn diện, tức là làm thế nào giúp học sinh
nắm được hình thức ngữ âm của từ, hiểu được nghĩa của từ và biết cách sử dụng Từ ngữ chính xác
Trang 32a Long lanh : có ánh sáng ph ản chiếu trên vật trong suốt, tạo vẻ sinh động
Long lanh đáy nước in trời
Hoặc : Đôi mắt long lanh
b Lung linh : Từ gợi tả vẻ lay động, rung rinh của cái có thể phản chiếu ánh sáng
Tính hệ thống còn được biểu hiện vốn từ cần được cung cấp ở các lớp bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng như của các lớp 6, 7, 8, 9 của bậc trung học cơ
sở phải tạo thành một hệ thống Có như thế, việc giảng dạy mới không trùng lặp, tránh được lãng phí thời gian và sự nhàm chán không đáng có
Ngoài ra, tính hệ thống còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa cung cấp và rèn luyện
kỹ năng sử dụng Từ ngữ ở môn Văn và các môn học khác trong chương trình của từng lớp,
từng cấp
2.2.2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp:
Ngôn ngữ nói chung, Từ ngữ nói riêng là một hệ thống hoạt động hành chức, tách ra
khỏi hoạt động hành chức thì nó không còn sức sống Muốn hình thành các kỹ năng, kỹ xảo ngôn ngữ, học sinh phải tham gia trực tiếp vào hoạt đ ộng giao tiếp Việc tiếp nhận và sản sinh lời nói đúng và hay vừa là mục đích vừa là phương tiện của việc dạy học Từ ngữ
- Nguyên tắc này đòi hỏi học sinh khi tiếp nhận cũng như sử dụng Từ ngữ phải đạt từ trong hai mối quan hệ : liên tưởng và ngữ đoạn và vận dụng linh hoạt các thao lác lựa chọn,
kết hợp Bởi một từ cụ thể có thể có nhiều nghĩa khác nhau nhưng nếu tiếp nhận nó, dùng nó trong văn cảnh cụ thể thì sẽ mang nghĩa cụ thể Bù vào đó, từ lại xuất hiện các sắc thái, phong cách, ý nghĩa ngữ pháp, sắc thái tình cảm
Bác đã đi rồi sao, Bác đi
Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời
(Bác ơi - Tố Hữu)
đi có nhiều nghĩa khác nhau
Trang 33- Người tự di chuyển đến nơi khác không kể bằng cách gì
- Di chuyển đến nơi khác, chỗ khác làm một công việc, nhiệm vụ nào đó
Như vậy, đi trong hai câu thơ của Tố Hữu được dùng với nghĩa "Rời bỏ cuộc đời" Dùng từ đi trong bài thơ Bác ơi, Nhà thơ Tố Hữu đã giảm được nỗi đau thương mất mát khi Bác Hồ từ trần Cả nhà thơ và mọi người Việt Nam cứ nghĩ rằng Bác chỉ đi xa đâu đó một
thời gian rồi Bác lại trở về với đồng bào, đồng chí
- Nguyên tắc này cũng đặt ra vấn đề việc tiếp nhận và sử dụng vốn Từ ngữ phải đặt từ trong những phong cách ngôn ngữ khác nhau bởi Từ ngữ cũng mang sắc thái phong cách Có
Từ ngữ đa phong cách, có Từ ngữ-đơn phong cách Nếu vận dụng không đúng sẽ ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả giao tiếp
Nguyên tắc này sẽ chi phối vào việc lựa chọn và sắp xếp vốn từ ngữ cần được cung cấp trong , sách giáo khoa Điều mà các tác giả , sách giáo khoa cần quan tâm đúng mức
Ngoài hai nguyên tắc trên, trong việc phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh cũng cần chú
ý đến nguyên tắc kết hợp ngữ và văn, nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lý và trình độ của
học sinh
Căn cứ vào lý thuyết dạy phát triển lời nói của các nhà ngôn ngữ học đưa ra, vấn đề phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh nói chung, học sinh bậc Trung học cơ sở nói riêng lập trung vào hai nội dung chính
Cung cấp vốn Từ ngữ theo chương trình và , sách giáo khoa bậc học Trung học cơ sở
Trang 34Rèn luyện kỹ năng sử dụng Từ ngữ trong học tập và giao tiếp trong đời sống hàng ngày
Mỗi nội dung, tùy theo đặc điểm, tính chất sẽ có những phương pháp, biện pháp thích ứng Sau đây chúng tôi sẽ trình bày các phương pháp, biện pháp để thực hiện từng nội dung 2.3.1 Về việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh bậc trung học cở sở:
Ở phần trình bày về thực trạng dạy-học Từ ngữ nói chung, phát triển vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc phổ thông trung học cơ sở nói riêng, chúng tôi đã có nhận định : Vốn Từ ngữ
của các em rất nghèo nàn cho nên hạn chế rất lớn đến việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm, tri
thức khoa học trong học tập cũng như trong cuộc sống Các loại lỗi về cách dùng từ đang trở thành phổ biến và đã đến mức báo động Vì vậy, việc cung cấp vốn Từ ngữ vẫn là nhiệm vụ
cấp thiết được đặt ra
Muốn cung cấp vốn Từ ngữ có hiệu quả, phải giải quyết những vấn đề cụ thể như:
Lựa chọn và phân bố Từ ngữ cần cung cấp cho cả cấp học và cho từng lớp Giúp cho
học sinh nắm được nghĩa của từ và giá trị của Từ ngữ trong giao tiếp
2.3.1.1.1 Lựa chọn và phân bố : vốn từ của một ngôn ngữ là hết sức lớn và phong phú Không ai có thể hy vọng chiếm lĩnh toàn bộ kho tàng này Việc cung cấp Từ ngữ cho học sinh được đặt ra là trong kho tàng phong phú, đa dạng đó, sẽ lựa chọn những Từ ngữ nào Câu trả lời thật không đơn giản Cho đến nay chưa ai đưa ra được căn cứ thỏa đáng và có sức thuyết phục cao
Khi dạy -học Ngoại ngữ, người ta áp dụng rộng rãi phương pháp cung cấp vốn từ tối thiểu dựa trên tần số sử dụng Vốn từ đó bao gồm những Từ ngữ có tần số được sử dụng nhiều trong các loại văn bản thường gặp Phương pháp này được giới chuyên môn dễ dàng
chấp nhận vì có cơ sở khoa học Học sinh học ngoại ngữ thường bắt dầu từ con số không
Mọi từ được học đều là từ mới Nắm được nó sẽ vận dụng có hiệu quả trong mức độ theo yêu
cầu của việc dạy-học ngoại ngữ
Việc cung cấp vốn từ tiếng mẹ đẻ cho học sinh người bản ngữ không thể áp dụng theo phương pháp trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc trước khi bước chân đến trường các em đã có vốn liếng trên dưới 3.000 Từ ngữ, đã có khả năng diễn đạt những vấn đề cơ bản, thông thường trong đời sống Việc cung cấp cần phải lựa chọn, nhưng lựa chọn như thế nào,
dựa vào cơ sở nào là điều hết sức khó khăn
Trang 35Lựa chọn Từ ngữ để cung cấp cho học sinh người bản ngữ phải căn cứ vào mức độ cần thiết của học tập và giao tiếp Căn cứ để xác định mức độ cần thiết là những vấn đề, những
chủ đề chính yếu, phổ biến mà các em thường gặp vì khả năng tiếp thu của các em Theo cách làm hiện nay, người ta dựa vào sách giáo khoa văn học, Tiếng Việt và các môn khác của từng
lớp học, cấp học Ở cấp tiểu học, Từ ngữ được cung cấp chủ yếu là lớp từ vựng cơ bản và
một phần lớp Từ ngữ văn hóa Còn ở bậc trung học cơ sở, tiếp tục cung cấp phần còn lại của
từ vựng cơ bản và trọng tâm là Từ ngữ văn hóa bởi nội dung các môn học đã được mở rộng,
việc giao tiếp được thực hiện theo nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau Tuy vậy, việc xác định số lượng cho mỗi lớp ở bậc trung học cơ sở là bao nhiêu vẫn là một điều bỏ ngỏ
năm 2000 dự kiến quy định số lượng và mức độ cho từng lớp như sau :
Lớp 3 : nắm khoảng 1000 đến 1200 từ, chú ý từ láy, từ ghép, từ Hán-Việt
đen, nghĩa bóng của từ Mở rộng vốn từ bằng cách biến đổi đồng nghĩa, trái nghĩa
Lớp 5 : nắm khoảng 1600 đến 1700 từ Chú ý từ láy, từ địa phương, từ vay mượn, từ
2.3.1.1.2 Phương pháp lựa chọn :
Theo lý thuyết tâm lý ngôn ngữ học và kinh nghiệm của nhiều quốc gia, việc lựa chọn
Từ ngữ để cung cấp cho học sinh có thể tiến hành
Theo chủ đề, chủ điểm
Vốn từ của một ngôn ngữ nói chung, Từ ngữ tích lũy được trong đầu óc con người nói riêng không phải là một mớ hỗn tạp mà được sắp xếp thành những hệ thống liên tưởng nhất định Hệ thống liên tưởng này có thể là một tập hợp Từ ngữ có những điểm chung về mặt nội dung, tức là cùng một chủ đề Vì vậy việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh có thể tiến hành theo chủ đề, chủ điểm Cung cấp theo phương pháp này sẽ giúp học sinh dễ nhớ, dễ tích lũy
và khi cần thiết việc huy động sẽ thuận lợi hơn Mặt khác cung cấp theo chủ đề, chủ điểm sẽ
có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện tư duy logic cho học sinh
Thực tế chương trình và , sách giáo khoa bậc Tiểu học và Trung học cơ sở đã vận dụng phương pháp này Kiểu bài Mở rộng vốn yếu tố Hán -Việt ở , sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6
Trang 36chỉnh lý và kiểu bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề ở , sách giáo khoa Từ ngữ lớp 7 là những
Lớp 6 : nắm khoảng 1900 đến 2200 từ
Lớp 9 : nắm khoảng 2900 đến 3300 từ
Như vậy trong cả cấp học của bậc trung học cơ sở sẽ cung cấp được cho các em
Theo các gốc từ thuần Việt hoặc Hán-Việt
Gốc thuần Việt
Trong tiếng Việt, số lượng từ đơn không nhiều lắm (khoảng 7000 từ) nhưng đây là lớp
từ quan trọng có những đặc điểm về mặt lịch sử, ngữ nghĩa, cách sử dụng mà các lớp từ khác không cố Hầu hết các từ đơn có thể làm yếu tố gốc để phát triển thành từ phức
Từ đơn tham gia cấu tạo từ phức theo nhiều phương thức khác nhau Phương thức ghép :
Ví dụ : Ghép một tiếng ở hàng trên và một tiếng ở hàng dưới để tạo nên những từ phức
có hai tiếng :
+ Nước, quần, to, thăm, sạch, cây
+ Hỏi, lớn, nhà, áo, trơn, cỏ
Trang 37Do đặc điểm của lịch sử, trong vốn từ vựng của tiếng Việt Từ ngữ Hán Việt có một
khối lượng lớn và có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giao tiếp Do nhiều nguyên nhân, sự hiểu biết về Từ ngữ Hán Việt của học sinh hết sức hạn chế Vì vậy, chương trình Từ
ngữ dành riêng một mảng lớn để trau dồi và phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh, trong đó đặc
biệt chú trọng Từ ngữ Hán-Việt Cả sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6 cải cách giáo dục và chỉnh
lý đều có những kiểu bài dùng các yếu tố gốc Hán -Việt để phát triển vốn Từ ngữ cho học sinh
Trang 38chương 3
Theo các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm
Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác đều có hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng
âm Đây cũng là một cơ sở tốt cho việc cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh
Hiện tượng đồng nghĩa
Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa tương tự nhau Có từ đồng nghĩa hoàn toàn và từ đồng nghĩa không hoàn toàn Có thể cung cấp Từ ngữ cho học sinh dựa vào hiện tượng này
Thực hiện bài tập này, học sinh sẽ phát triển được thêm các từ :
Sách giáo khoa Từ ngữ lớp 6 trung học cơ sở đã chú ý đến hiện tượng này, tiếc rằng hệ
thống bài tập còn chưa phong phú, đa dạng
Hiên tượng trái nghĩa
Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau được xác định trên một cơ sở chung nào đó như: thời gian, không gian, hành động, đặc điểm tính chất Có thể cung cấp Từ ngữ cho học sinh trên cơ sở hiện tượng này Có vốn Từ ngữ trái nghĩa, học sinh sẽ giao tiếp sinh động và có hiệu quả hơn
a) Sắp xếp các từ sau đây thành những cặp từ trái nghĩa và nói rõ cơ sở chung của sự trái nghĩa đó
a Tốt, ngoan, lễ phép, chăm chỉ, sạch sẽ, vui vẻ
b Lười biếng, hổn láo, bấn thỉu, hư, cáu kỉnh, xấu
Hoặc
b) Tìm các từ trái nghĩa trong đoạn thơ sau và nói rõ tác dụng của việc sử dụng các cặp
Trang 39từ trái nghĩa đó :
biện pháp giúp học sinh có thêm vốn từ để thấy được sự phong phú, thú vị của Từ ngữ tiếng
Việt trong hình thức chơi chữ giàu bản sắc dân tộc
Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau (âm thanh, chữ viết) nhưng nghĩa khác nhau Có thể có những bài tập hấp dẫn và có tác dụng nhất định đối với hiện tượng này
Trong thực tế hiện nay, hiện tượng đồng âm của các yếu tố Hán Việt trong các Từ ngữ Hán-Việt là hiện tượng hết sức nan giải đối với học sinh Vì vậy cần phải có sự quan tâm đúng mức
Theo trường nghĩa
Khối lượng Từ ngữ của một ngôn ngữ là lớn và phức lạp Khi lựa chọn một số Từ ngữ nào đó, chúng ta khó thấy được mối liên hệ ngữ nghĩa trực tiếp Nhưng khi đặt các Từ ngữ đó vào một hệ thống nhỏ hơn, chúng ta có thể thấy được mối liên hệ Mỗi hệ thống ngữ nghĩa
nhỏ là những tập hợp đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Các
Trang 40trường nghĩa có thể giúp ta phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ
vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong cùng một trường
F De Saussare đã chỉ ra hai dạng quan hệ chung nhất của ngôn ngữ : quan hệ ngang (hình tuyến, tuyến tính, ngữ đoạn) và quan hệ dọc (trực tuyến, hệ hình) Theo hai dạng quan
hệ đó, ta có những trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc Việc cung cấp vốn Từ ngữ cho
học sinh bậc Trung học cơ sở cũng cần dựa vào trường nghĩa
Dựa vào trường nghĩa biểu vật
Một trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để
có những căn cứ đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường nghĩa biểu vật thích hợp, chúng
ta chọn danh từ gốc Danh từ này phải có tính khái quát cao cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật
- Bộ phận của mắt : lông mày, lông mi, mí, mi, lòng trắng, lòng đen, con ngươi, khóe
- Đặc điểm của mắt:
+ Về ngoại hình : Bồ câu, ốc nhồi, lá răm, lợn luộc, chổi xể, lưỡi mác, dao cau, lươn,
+ Về năng lực : đờ đẫn, sắc sảo, lờ đò, tinh anh, tốt, kém, mù, lòa
+ Về cảm giác : chói, quáng, hoa, cộm
+ Về bệnh lý : quáng gà, mắt hột, thông manh, cận thị, viễn thị
+ Về hoạt động : nhìn, trông, liếc, nguýt, nghé, dòm, đung đưa, trợn, quắc
Khi vận dụng trường nghĩa biểu vật để cung cấp vốn Từ ngữ cho học sinh cần hiểu :
Số lượng Từ ng ữ và tổ chức các trường khác n hau , có trường lớn, có trường n hỏ (miền), có miền phong phú cũng có miền trống (không có Từ ngữ)
Việc phân lập trường cũng không phải là phân loại từ cho nên có hiện tượng một từ có
thể ở miền này vừa ở miền kia tạo nên sự "giao thoa" với nhau
Quan hệ giữa các Từ ngữ với trường không giống nhau có từ quan hệ hết sức chặt chẽ nhưng cũng có từ lỏng lẻo Tính chất quan hệ này tạo nên lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những Từ ngữ điển hình