Luận án nghiên cứu với mục tiêu để đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả và phát huy nguồn nhân lực, nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế - xã hội, để phát huy vai trò của sức lao động và thị trường sức lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp đang là nóng bỏng và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, trong bối cảnh của xu hướng toàn cầu hóa. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN LUÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác; các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận án đều
trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
TRẦN THANH DŨNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỨC LAO ĐỘNG VÀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG 8
1.1 Đặc điểm và vai trò của sức lao động 8
1.1.1 Đặc điểm chung của sức lao động 8
1.1.2 Vai trò của sức lao động 9
1.2 Tính chất hàng hóa của sức lao động 14
1.2.1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 14
1.2.2 Thực chất của việc mua - bán sức lao động 16
1 2 3 Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa sức lao động 18
1.3 Vị trí, đặc điểm và vai trò của thị trường sức lao động nói chung 19
1.3.1 Vị trí của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường 19
1.3.2 Đặc điểm chung của thị trường sức lao động 21
1.3.3 Vai trò của thị trường sức lao động 23
1.4 Một số vấn đề liên quan đến thị trường sức lao động 26
1.4.1 Sự xuất hiện và phát triển của thị trường sức lao động trong lịch sử các nền kinh tế 26
1.4.2 Trạng thái cung - cầu sức lao động 27
1.4.3 Quan hệ lao động 33
1.4.4 Vấn đề bóc lột sức lao động 40
1.4.5 Xu hướng di chuyển lao động 41
1.4.6 Giáo dục đào tạo và thị trường đào tạo 44
1.4.7 Việc làm và vấn đề thất nghiệp 47
1.4.8 Xu hướng hợp nhất và phân hóa trên thị trường sức lao động 54
Trang 51.4.9 Vai trò Nhà nước đối với thị trường sức lao động 56
Kết luận chương 1: 59
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 60
2 1 Quá trình hình thành thị trường sức lao động ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 60
2.1.1 Thị trường sức lao động trước Cách mạng tháng Tám 60
2.1.2 Thị trường sức lao động thời kỳ 1954 -1975 61
2.1.3 Thị trường sức lao động trong bước chuyển sang kinh tế thị trường 64
2.2 Thực trạng của thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay 72
2.2.1 Thực trạng về nguồn cung sức lao động 72
2.2.2 Nhu cầu sức lao động ngày càng tăng và không ổn định 85
2.2.3 Nạn thất nghiệp do tình trạng cung vượt cầu 89
2.3 Thực trạng về quản lý nhà nước đối với thị trường sức lao động ở Việt Nam 96
2.3.1 Về quản lý lao động 96
2 3 2 Giải quyết tranh chấp lao động 99
2.3.3 Quản lý các Trung tâm dịch vụ việc làm 104
2.3.4 Quản lý tiền lương và bảo hiểm xã hội 105
2.4 Tình hình thất nghiệp và các giải pháp về thị trường sức lao động trên thế giới 112
2.4.1 Tình hình thất nghiệp trên thế giới 113
2.4.2 Một số giải pháp áp dụng ở thị trường sức lao động của các nước 115
Kết luận chương 2: 123
Trang 6CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM 124
3.1 Thị trường sức lao động trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 124
3.1.1 Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội ở Việt Nam 124
3.1.2 Các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt nam đến năm 2020 126
3.2 Những giải pháp cho các bộ phận của thị trường sức lao động ở nước ta 132
3.2.1 Giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở nông thôn 133
3.2.2 Giải pháp phát triển thị trường sức lao động thành thị 139
3.2.3 Giải pháp cho thị trường sức lao động liên thông với nước ngoài 142
3.3 Những giải pháp chung để thúc đẩy sự phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay 147
3.3.1 Các giải pháp thúc đẩy tăng cầu sức lao động, tạo việc làm 148
3.3.2 Các giải pháp cải thiện nguồn cung sức lao động 155
3.3.3 Các giải pháp tạo điều kiện phát triển thị trường sức lao động 166
Kết luận chương 3: 176
KẾT LUẬN 177
TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề sức lao động và thị trường sức lao động trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta hiện nay đang là mối quan tâm rộng rãi của các nhà nghiên cứu học thuật, giảng dạy và cơ quan quản lý lao động Cho đến nay, mặc dù vấn đề này đã được đề cập khá nhiều, nhưng vẫn còn những nội dung chưa được nói đến một cách đầy đủ Nghiên cứu đề tài này sẽ
có ý nghĩa trên nhiều phương diện về kinh tế, xã hội và về lý luận
- Về phương diện kinh tế
Làm rõ vai trò của sức lao động và thị trường sức lao động sẽ góp phần vào việc nhận thức và phát huy nguồn vốn nhân lực tiềm tàng của đất nước, mở ra triển vọng gia tăng việc làm và thu nhập, cải thiện sức mua, thúc đẩy đầu tư phát triển sản xuất, tăng tổng sản phẩm xã hội và đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giải quyết nạn thất nghiệp là một vấn đề đã được nghiên cứu, được khái quát về lý luận và kiểm nghiệm trong thực tế Vận dụng các học thuyết lành tế hiện đại, như học thuyết nhấn mạnh chính sách "tăng cầu " hay học thuyết đề nghị chính sách "tiền lương linh hoạt", Chính phủ các nước trên thế giới đã thực hiện các chính sách khác nhau để giải quyết nạn thất nghiệp, sứ dụng hợp lý nguồn nhân lực xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, bài toán vẫn chưa thực sự được giải quyết một cách toàn diện và triệt để
Sự cấp bách của việc nghiên cứu đề tài còn xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế là cần phải khắc phục sự mất cân đối cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng sức lao động xã hội, khắc phục sự bất hợp lý của tiền lương Ở nước ta hiện nay,
Trang 8tình trạng lao động nông nghiệp dư thừa và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu lao động xã hội
sẽ dẫn đến xu hướng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ nông thôn ra thành thị, trong khi đó trong công nghiệp do kỹ thuật mới được áp dụng cũng sẽ đưa đến tình trạng dư thừa lao động Đó là thực tế của thị trường sức lao động nước ta, đòi hỏi phải có những giải pháp trước mắt cũng như lâu dài
- Về phương diện xã hội - chính trị
Việc làm và thu nhập không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội - chính trị, bởi vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của người dân, liên quan trực tiếp đến tình trạng nghèo đói và tệ nạn trong xã hội Đối với một quốc gia đang phát triển, khi mà mức thu nhập bình quân còn chưa cao thì việc đầu tiên để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là làm thế nào để người lao động có việc làm và thu nhập
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng CSVN lần thứ VIII đã xác định: Bảo đảm công ăn việc làm cho người dân là mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên trong xã hội
Khi vai trò tích cực của thị trường sức lao động được khẳng định, cùng với vai trò quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước được phát huy thì mục tiêu đó nhất định sẽ được thực hiện Ngoài ra, giải quyết tình trạng tranh chấp chủ thợ và đình công đang diễn ra hiện nay cũng là những vấn đề chính trị - xã hội cần được quan tâm nghiên cứu
- Về phương diện lý luận
Điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi đã buộc tư duy của các nhà làm công tác nghiên cứu lý luận phải đối diện với một vấn đề quan trọng: sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế có tạo điều kiện kinh tế - xã hội cho hàng hóa sức
Trang 9lao động và thị trường sức lao động hay không? Các nhà nghiên cứu thường dè dặt với khái niệm "hàng hóa sức lao động "
Việc phát triển lý luận "hàng hoá sức lao động" của Các Mác là rất cần thiết, trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đặt ra là cần phát hiện tính quy luật chi phối quan
hệ giữa người và người trong việc mua bán và sử dụng sức lao động đang diễn ra trên thực
tế Ngoài ra, thị trường sức lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình chưa từ có trong lịch sử, cần được làm rõ về mặt lý luận
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Karl Marx đã có công lao to lớn đối với kinh tế chính trị học, khi Người đi sâu nghiên cứu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và xây dựng nên lý luận hàng hoá sức lao động Đó chính là sự nghiên cứu bước đầu đối với thị trường sức lao động nói chung
Theo học thuyết của J.M Keynes, cơ chế thị trường không thể bảo đảm sử dụng tối ưu các yếu tố sản xuất, mà Nhà nước phải can thiệp nhằm làm gia tăng tổng cầu, hạn chế thất nghiệp, khắc phục suy thoái kinh tế, lập lại thế quân bình
Trong kinh tế học hiện đại, cả trường phái chính lẫn trường phái tự do mới đều đề cập đến vấn đề thất nghiệp, đều thấy mối quan hệ giữa chống lạm phát với giảm thất nghiệp nhưng với góc độ phân tích khác nhau Trong "Kinh tế học" của David Begg và các cộng sự,
có một số nội dung liên quan cũng được trình bày thành các chương: phân tích thị trường lao động, vốn nhân lực, vấn đề thất nghiệp Tuy nhiên, những vấn đề trên đây còn có thể phát triển hơn nữa
Một số các giáo sư đại học ở Mỹ đã biên soạn một tác phẩm mang tên "Kinh tế học lao động và những quan hệ lao động" được tái bản lần thứ chín vào
Trang 10năm 1986 trong đó đề cập nhiều vấn đề về quan hệ lao động, thị trường sức lao động ở Mỹ, nhưng tính khái quát về mặt lý luận thì chưa cao
Ở Việt Nam, thị trường sức lao động và vấn đề giải quyết thất nghiệp cũng là đề tài của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, đã phân tích bước đầu về thực trạng và giải pháp phát triển loại thị trường này
Trong những công trình nghiên cứu đó, tác phẩm "Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp", của Nguyễn Quang Hiển xuất bản năm 1995 là công phu Tác giả đã đề cập tới các yếu tố cung, cầu, tiền lương và đã phân tích cũng như đưa ra các giải pháp phát triển từng bộ phận của thị trường sức lao động ở nước ta vào cuối những năm 90
Ngoài ra, nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu thị trường sức lao động, qua các bài viếi írên các tạp chí: "Thị trường sức lao động - những mâu thuẫn và giải pháp" của Nguyễn Văn Dần, đăng trên Tạp chí Lao động & Xã hội tháng 4/1996; "Thị trường lao động Việt nam, thực trạng và định hướng phát triển" của Nguyễn Bá Ngọc, đăng trên Tạp chí Lao động &
Xã hội tháng 3/97; "Phân tích và dự báo thị trường lao động Việt Nam" của Kim Ngọc Trầm,
đăng trên Thông tin thị trường lao động số 10/1997; "Về sự tương thích của đào tạo nghề và thị trường lao động" của Nguyễn Lê Minh, đăng trên Tạp chí lao động & Xã hội, tháng 8/98;
"Thị trường sức lao động - thực trạng và giải pháp" của Hà Quý Tình, đăng trên Tạp chí Lao động & Xã hội tháng 10/1998
Thêm nữa là các bài viết đề cập những nội dung có liên quan đến thị trường sức lao động như là phân tích cung - cầu về sức lao động, vấn đề thất nghiệp, đào tạo nghề, giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn, Tất cả đều là những tài liệu tham khảo có ích cho bản luận án này và nhiều ý tưởng được trình bày ở đây là kết quả của sự tổng hợp các bài viết ấy
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án Là sức lao động và thị trường sức lao động ở Việt nam Luận án sẽ tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn của sức lao động và thị trường sức lao động để làm rõ hơn về mối quan hệ lao động dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường, nhằm mục tiêu sử dụng hữu hiệu nquồn nhân lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đề tài luôn được đặt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Các vấn đề nghiên cứu sẽ được xem xét, đối chiếu với thực trạng của nền kinh tế, của một số địa phương và với những giải pháp được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới
Để đảm bảo tính khoa học, luận án không thể không đề cập đến những tư tưởng kinh
tế phi mác-xít, nhưng có liên quan đến chuyên ngành kinh tế chính trị học và nền tảng rõ ràng vẫn là những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Mục đích nghiên cứu
Kế thừa có chọn lọc những kết quả của các nhà nghiên cứu, thông qua việc trình bày chúng một cách có hệ thống, dựa trên cơ sở lý luận kinh tế học chính trị Mác - Lênin và thực tiễn của nền kinh tế nước ta hiện nay, tác giả hy vọng rằng một số kết quả nghiên cứu của bản luận án này sẽ góp phần làm rõ vấn đề lý luận về sức lao động và thị trường sức lao động, một bộ phận không thể thiếu trong kinh tế học chính trị Mác - Lênin
Không chỉ dừng lại ở mục đích hoàn thiện lý luận, luận án còn đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả và phát huy nguồn nhân lực, nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế - xã hội, để phát huy vai trò của sức lao động và thị trường sức lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp đang là nóng
Trang 12bỏng và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, trong bối cảnh của xu hướng toàn cầu hóa
5 Những đóng góp của luận án
Luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đặc điểm, vai trò của sức lao động và thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường nói chung, nhằm mục đích nhận thức về nguồn vốn nhân lực của một quốc gia
- Luận án góp phần làm sáng tỏ thị trường sức lao động có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, góp phần làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Luận án sẽ phân tích làm rõ một số vấn đề có liên quan đến thị trường sức lao động Trong đó, đặc biệt là lý luận về quan hệ lao động trong tương quan với các mặt của quan hệ sản xuất, sự tác động qua lại giữa quan hệ lao động với lực lượng lao động và với lực lượng sản xuất nói chung
- Luận án sẽ đưa ra những giải pháp thúc đẩy các bộ phận của thị trường sức lao động và những giải pháp nhằm tăng cầu sức lao động, cải thiện nguồn cung nhân lực và tạo điều kiện phát triển thị trường sức lao động ở nước ta, nhằm thực hiện mục tiêu phát huy nguồn nhân lực dồi dào, tiềm tàng của đất nước
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
sử Thị trường sức lao động sẽ được xem xét một cách toàn diện, trong các mối liên hệ và tác động lẫn nhau với các loại thị trường khác trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa tư duy biện
Trang 13Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được vận dụng để nghiên cứu thị trường sức lao động với giả định tạm thời không xét đến sự tác động của các thị trường khác Các giả định cũng thường xuyên được giải tỏa khi xem xét ở góc độ, khía cạnh khác
Phương pháp phân tích - tổng hợp cũng được vận dụng: Thị trường sức lao động sẽ được phân tích thành các bộ phận với các đặc điểm riêng biệt và dược đánh giá một cách tổng hợp để có thể hiểu chúng rõ ràng, đầy đủ hơn
Phương pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết mâu thuẫn; so sánh đối chiếu với một số kiến thức trong kinh tế học; so sánh đối chiếu giữa thị trường sức lao động với các loại thị trường khác; so sánh đối chiếu với thị trường sức lao động của các nước để tìm điểm tương đồng và khác biệt, đề tìm ra cái mới
Ngoài ra, luận án còn vận đụng phương pháp phân tích số liệu, phương pháp hệ thống hóa
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án sẽ được trình bày thành ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sức lao động và thị trường sức lao động
Chương 2: Quá trình hình thành và thực trạng thị trường sức lao động ở nước ta Chương 3: Những giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở Việt nam
Các số liệu sử dụng trong luận án được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau như Niên giám thống kê - Tổng cục Thống kế, số liệu của Bộ và các Sở Lao động -Thương binh - Xã hội, số liệu điều tra và qua các tài liệu tham khảo
Trang 14CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỨC LAO ĐỘNG VÀ THỊ
TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
1.1 Đặc điểm và vai trò của sức lao động
Sức lao động là năng lực lao động của một con người cụ thể, là tổng hợp toàn bộ những khả năng thể lực, trí lực và tâm lực (ý chí, quyết tâm) mà người đó có thể sử dụng để tạo ra một ích lợi nào đó Sức lao động xã hội bao gồm hai phần: một phần được sử dụng và một phần còn tiềm năng Lao động chính là việc sử dụng sức lao động của con người nhằm tạo ra những vật phẩm có ích
1.1.1 Đặc điểm chung của sức lao động
Sức lao động tồn tại trong cơ thể con người nên gắn liền không thể tách rời với những con người cụ thể, nó được lưu chuyển do sự vận động của nhân lực trong xã hội
Sức lao động tùy thuộc vào tuổi tác, giới tính, đặc điểm dân tộc, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe của từng người lao động Một người nào đó muốn lao động nhưng thể lực yếu, trí lực kém thì không có được sức lao động hữu dụng
Sức lao động sẽ được phát huy nếu việc sử dụng nó phù hợp với giới hạn tâm sinh lý của từng cá nhân Một người muốn lao động cả ngày không nghỉ nhưng sức lao động không cho phép Do vậy, người lao động cần được nghỉ ngơi sau một thời gian lao động nhất định,
được đáp ứng những nhu cầu thiết yếu để tái sản xuất khả năng lao động mới
Trang 15Chất lượng sức lao động thể hiện ở năng suất lao động, ở trình độ tay nghề, kinh nghiệm; tùy thuộc phần lớn vào quá trình giáo dục và đào tạo của người lao động, vào việc chăm sóc sức khỏe và cả ý thức thái độ (tích cực, sáng tạo) của người lao động
Sức lao động không thể dự trữ, để dành mà đòi hỏi phải được sử dụng thường xuyên
Nếu sức lao động không được sử dụng hoặc chưa được sử dụng thì cũng phải tốn kém chi phí nhất định để duy trì nó, để nuôi sống người lao động
1.1.2 Vai trò của sức lao động
Có thể thấy vai trò của sức lao động nói chung và vai trò của sức lao động với tư cách
Sức lao động là yếu tố sản xuất không thể thay thế Ngày nay, cho dù máy móc hiện đại có thể thay thế lao động giản đơn hay một số lao động phức tạp, nhưng nó không thể thay thế hoàn toàn sức lao động con người mà nó chỉ có thể làm giảm nhẹ lao động cho con người
mà thôi
Sức lao động không phải là yếu tố sản xuất thụ động mà là một yếu tố sản xuất tích cực, xuất phát từ bản chất của con người Nó có khả năng chủ đạo đối với các yếu tố khác và suy cho cùng chính sức lao động con người đã tạo ra mọi thứ của cải, kể cả khoa học và công nghệ Trong các thành phần của công nghệ gồm có kỹ thuật, nhân sự, thông tín, tổ chức thì
Trang 16Sức lao động còn là yếu tố sản xuất thích nghi, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường Người lao động luôn có ý thức nâng cao chất lượng sức lao động, hoàn thiện khả năng lao động của mình, phát huy khả năng sáng tạo để đạt năng suất lao động cao, chứ không chịu ngủ im như hầm mỏ chờ người khai mác Hơn nữa, trình độ lành nghề của người lao động phải tương xứng với trình độ khoa học công nghệ
Một mặt, sức lao động phải được kết hợp một cách có hiệu quả với các yếu tố đầu vào khác, phải được sử dụng hầu hết để nền kinh tế đạt được mức sản lượng đầu ra tối đa; mặt khác, con người với sức lao động ấy lại là mục tiêu của phát triển kinh tế, được thừa hưởng những lợi ích do sản xuất phát triển
Đối với các nhà sản xuất, sức lao động là biến số cơ bản của hàm sản xuất Các doanh nghiệp luôn phải lựa chọn sức lao động, tính toán năng suất lao động biên để xác định số lao động thuê mướn, nhằm mục đích giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận
1.1.2.2 Sức lao động là nguồn vốn quan trọng của xã hội, của doanh nghiệp và của
cá nhân người lao động
Với cái nhìn kinh tế thì con người với sức lao động của mình là nguồn vốn nhân lực quan trọng, quí giá không chỉ đối với xã hội mà còn đối với các doanh nghiệp và đối với chủ
sở hữu nó là bản thân người lao động Cơ sở kinh tế của quan điểm này là sức lao động có khả năng sinh lợi, có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó
Vốn nhân lực có thể còn tiềm tàng và sẽ phát huy khi nguồn lợi của nó là sức lao động được sử dụng hầu hết Trong trường hợp sau, số việc làm càng nhiều, thu nhập và khả năng thanh toán - sức mua xã hội càng cao, thì nguồn lao động mới thực sự trở thành vốn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế Nếu sức lao động nói riêng, nhân lực nói chung không được
Trang 17sử dụng thì không một lượng giá trị hay giá trị sử dụng nào được tạo ra từ đó, mà còn phải tốn kém chi phí để nuôi sống người lao động, để "duy trì, bảo quản và dự trữ" sức lao động, tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế, thu nhập và khả năng thanh toán trong nền kinh tế tất yếu sẽ suy giảm và những khoản chi phí để nuôi sống người lao động đến lúc trưởng thành cũng không được thu hồi Do đó, để tránh sự lãng phí kép, cần sử dụng khả năng sinh lợi của sức
lao động, ưu tiên hơn so với các với vật chất - tài nguyên hay vốn tiền tệ (Theo một bản nghiên cứu của ngân hàng thế giới, trong tổng số của cải của một quốc gia có 16% là cái vật chất, 20% là vốn tự nhiên và 64% là vốn con người) Phát triển con người, phát huy vốn nhân
lực là điều kiện để khai thác và phát huy vốn vật chất - tài nguyên, để gia tăng sản lượng tiềm năng của quốc gia, là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Ngược lại, người ta cũng thừa nhận rằng kinh tế có tăng trưởng thì mới đảm bảo sự
phát triển con người, nếu như việc phân phối kết quả tăng trưởng kinh tế được thực hiện một
cách hợp lý và công bằng Tạo ra việc làm chính là chiếc cầu nối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Chỉ có thông qua việc tiếp cận những việc làm sinh lợi, được trả lương
xứng đáng, có được thu nhập đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, sức lao động được tái tạo thì
con người mới thật sự trở thành tác nhân cho tăng trưởng kinh tế Đầu tư vào con người, đầu
tư cho vốn nhân lực sẽ làm cho quá trình ấy được diễn ra một cách thuận lợi
Sức lao động vừa là vốn lưu động vừa là vốn cố định của doanh nghiệp Nó là vốn lưu động bởi vì giá trị của nó chuyển hoá ngay vào sản phẩm Nó là vốn cố định bởi vì khả năng sáng tạo vô tận của con người Tuyển chọn được một đội ngũ lao động tốt, doanh nghiệp mặc
nhiên có được một lượng vốn cố định quan trọng Mặt khác, qua việc tạo ra việc làm và thu
nhập cho xã hội, quan tâm đến
Trang 18việc đào tạo công nhân, doanh nghiệp cũng góp phần phát triển nguồn vốn nhân lực của xã hội một cách gián tiếp
Là vốn của người lao động, họ và gia đình họ phải quyết định bỏ ra chi phí bao nhiêu
để đầu tư cho việc làm một cách có hiệu quả nhất, cân nhắc giữa chi phí đào tạo với thu nhập
dự định Đồng thời, người lao động sẽ có ý thức tự hoàn thiện vốn sức lực của mình để có được việc làm và có thu nhập cao hơn
1.1.2.3 Sức lao động là một lợi thế kinh tế của các quốc gia có lực lượng lao động đông đảo
Lợi thế kinh tế của một quốc gia được thể hiện ra là những nguồn lực, những khả năng, những ưu thế riêng có, nhờ vào đó mà nền kinh tế của quốc gia ấy được phát triển một cách thuận lợi
Các quốc gia đang phát triển, với lực lượng lao động đông đảo, có thể xem sức lao động là một lợi thế kinh tế, bởi vì giá cả sức lao động thấp do cung sức lao động nhiều hơn cầu sức lao động Với một mức năng suất lao động nhất định, tiền lương thấp sẽ làm giảm tương đối giá thành sản phẩm, tạo ra khả năng cạnh tranh thuận lợi cho các sản phẩm trong
nước, tạo lợi thế trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Một số nước phát triển phương Tây đã phải lo lắng là các nước đang phát triển có lợi thế cạnh tranh do tiền công lao động thấp, làm cho giá thành sản phẩm giảm thấp Họ đã đòi hỏi một cách phi lý rằng các nước đang phát triển phải tăng tiền lương ngang bằng với nước họ Các nước đang phát triển cho rằng họ trả tiền công phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, phù hợp với mặt bằng giá cả tại nước mình
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc e ngại thuế cao, lãi suất cao, họ
Trang 19lành nghề có thể nắm vững công nghệ và có thể sử dụng những máy móc thiết bị hiện đại
Tuy nhiên, lợi thế kinh tế không bất biến theo không gian và thời gian, do đó, phải xem xét lợi thế so sánh trên nhiều phương diện Các công ty xuyên quốc gia lớn nhất trên thế giới đều lấy châu Á làm mục tiêu trước tiên cho đầu tư lâu dài, do tiềm năng phát triển to lớn của thị trường mới này, chứ không phải chỉ vì nhân công rẻ Hơn nữa, cuộc cách mạng khoa
học công nghệ đã làm cho sản xuất ở các nước phát triển trở nên ít hao tốn nguyên liệu và nhân công nên phần nào làm giảm đi ý nghĩa của lợi thế về tài nguyên và nhân lực rẻ ở các
nước đang phát triển và trong cơ cấu giá thành sản phẩm công nghiệp hiện nay, thành phần
có nguồn gốc chất xám trong giá trị hàng hóa thường tăng lên 80 - 85% mà trước đây chỉ có
khoảng 20 - 25% Từ đó, để giảm giá thành, tối đa hóa lợi nhuận, xu hướng chung của các
doanh nghiệp trên thế giới không phải là sử dụng sức lao động rẻ với chất lượng thấp mà là sẵn sàng thuê người có năng lực, có trình độ lành nghề phù hợp với công việc dù phải trả lương cao
Việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động sẽ góp phần tạo ra nguồn thu nhập quan trọng và khả năng thanh toán cho các nước đang phát triển, nhưng lại làm cho lợi thế sức lao động giá
rẻ sớm bị mất đi, vì giá cả sức lao động sẽ được bình quân hóa trên phạm vi thế giới
Như vậy, đây là một lợi thế bất đắc dĩ, tạm thời của các quốc gia đang phát triển có lực lượng lao động đông đảo, chỉ có thể phát huy nó trong giai đoạn trước mắt mà thôi Bởi vì tiền lương thấp có tác dụng thu hút đầu tư nước ngoài nhưng người lao động lại bị thiệt, mức sống của người lao động không cao, thu nhập thấp thì sức mua sẽ không được cải thiện, sản xuất cũng không phát triển được Về lâu dài, để sức lao động thực sự là một lợi thế kinh tế ở các nước đang phát triển, thì người lao động phải được đào tạo tốt, trình độ lành nghề phải được nâng
Trang 20lên để đáp ứng yêu cầu của thị trường sức lao động không chỉ trong nước mà còn ngoài nước
1.2 Tính chất hàng hóa của sức lao động
1.2.1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Theo Karl Marx, sức lao động trở thành hàng hóa khi người lao động được tự do về thân thể và không có tư liệu sản xuất Marx nói: "Người công nhân làm thuê ngày nay bị ràng buộc vào giới chủ không bằng xiềng xích mà bằng những sợi dây vô hình" Như vậy, trong xã
hội tư bản, người công nhân có quyền tự do bán sức lao động, nhưng đó là sự lựa chọn duy
nhất của những nô lệ kiểu mới
Điều kiện thứ nhất - "người lao động phải được tự do về thân thể" phản ánh một điều kiện của sản xuất và trao đổi hàng hóa là sự tồn tại của chế độ tư hữu hay sự đa dạng của hình thức sở hữu Thật vậy, người có sức lao động phải được tự do về thân thể mới đảm bảo quyền quyết định đối với sức lao động của mình, trên cơ sở tự nguyện "thuận mua vừa bán": bán hay không bán, bán cho ai, giá cả bao nhiêu, điều kiện ra sao
Điều kiện thứ hai - "người lao động không có tư liệu sản xuất" phản ánh điều kiện còn
lại của sản xuất và trao đổi hàng hóa là sự phân công lao động xã hội Thật vậy, do không có
tư liệu sản xuất, khả năng sinh sống, tiềm năng duy nhất của người lao động chỉ còn lại là sức lao động
Từ đây, theo tác giả luận án, có thể nói rằng không thể nào loại bỏ tính chất hàng hóa của sức lao động trong những nền sản xuất có phân công lao động xã hội, bởi vì không thể
xóa bỏ quyền tư hữu sức lao động của chính bản thân người lao động
Điều kiện thứ hai có thể phát biểu mở rộng hơn là: người có sức lao động mong muốn
Trang 21có vốn liếng tài sản, nhưng do sự hấp dẫn của tiền công hay do nguyện vọng, sở thích muốn làm việc theo một nghề nghiệp nào đó
Như vậy, chỉ có trên cơ sở sản xuất hàng hóa, thì lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất mới trở thành lao động làm thuê Hai điều kiện trên đã phản ánh hai điều kiện của sản xuất và trao đổi hàng hóa, nhưng đó chỉ là xét về cung sức lao động Mặc dù biết rằng cung kích thích cầu, chúng ta hãy xét đến những điều kiện liên quan đến nhu cầu sử dụng sức lao động Sức lao động chỉ thực sự là hàng hóa nếu người lao động và người sử dụng lao động gặp nhau và đi đến thống nhất mua bán Khả năng tạo ra ích lợi hay chất lượng của sức lao động cũng là cơ sở để nó có thể trở thành hàng hóa
Trước hết là phải có những cá nhân hay chủ thể am hiểu chuyên môn ngành nghề, có khả năng vốn liếng, mua sắm được tư liệu sản xuất, có nhu cầu sử dụng sức lao động để tiến hành sản xuất; thêm nữa là sản xuất kinh doanh phải có triển vọng sáng sủa, nhu cầu tiêu dùng và sức mua xã hội gia tăng Ngoài ra là điều kiện về chủ trương, chính sách của Nhà nước Nếu nhà nước ngăn cấm hay không cho phép mua bán sức lao động, không tạo điều kiện hình thành thị trường sức lao động thì sẽ khó diễn ra quan hệ trao đổi sức lao động
Sức lao động trở thành hàng hóa thì hiệu quả sử dụng của nó sẽ được nâng cao, cái chung và cái riêng sẽ được hài hòa Cái chung được thể hiện ở chỗ sức lao động của người lao động là một bộ phận của sức lao động xã hội, phải tham gia vào sự phân công lao động xã hội, tùy theo khả năng và trình độ tay nghề của mình Cái riêng thì thể hiện ra là người lao động có quyền quyết định đối với sức lao động của bản thân mình: bán hay không bán, bán cho ai, giá cả như thế nào, điều kiện ra sao
Trang 221.2.2 Thực chất của việc mua - bán sức lao động
Quan hệ trao đổi hàng hoá là quan hệ giữa người với người trong việc chuyển đổi những vật phẩm hay dịch vụ cho nhau Nói chung, trên một thị trường nào đó, có thể phân biệt hai dạng hoạt động: một là hoạt động mua bán giữa người mua hàng hóa với người sản xuất, hai là hoạt động dịch vụ - thương nghiệp, là hoạt động mua bán giữa người mua được hàng hóa với người mua lại hàng hóa đó Ngoài quan hệ hàng đổi hàng, khi kinh tế thị trường phát triển thì có các dạng trao đổi hàng hóa chủ yếu như sau:
+ Một là, quan hệ mua - bán hàng hóa - quan hệ trao đổi hàng hóa có một thành phần tiền tệ và phải thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu cho nhau, bên mua có tiền và bên bán có hàng
+ Hai là, quan hệ thuê và cho thuê - quan hệ trao đổi quyền sử dụng vật phẩm với tiền
tệ, là quan hệ giữa bên cho thuê là chủ sở hữu vật phẩm với bên thuê có tiền muốn sử dụng
vật phẩm đó Khi việc trao đổi được tiến hành, bên cho thuê vẫn giữ nguyên quyền sở hữu đối với vật phẩm đó
Karl Marx đã phân biệt lao động và sức lao động Loại hàng hóa người công nhân bán không phải là lao động mà là sức lao động
Lao động là hoạt động có ý thức của con người làm biến đổi đối tượng tự nhiên, để
tạo ra sảo phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân con người và của
xã hội Lao động là một khái niệm trừu tượng, là sự sử dụng sức lao động theo nghĩa chung chung, không đề cập đến thời gian hay điều kiện cụ thể Còn sức lao động thì cụ thể rõ ràng
với công việc lao động là gì, điều kiện làm việc ra sao, thời gian lao động trong ngày là bao
nhiêu, thời gian làm việc là bao lâu Không thể nói mua bán lao động, mà chỉ có thể nói thuê
Trang 23Mua bán sức lao dạng chính là mua bán quyền sử dụng sức lao động trong một khoảng thời gian nào đó với giá cả và những điều kiện nhất định Hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt, có tính nhân văn, không giống bất cứ một loại hàng hóa thông thường nào Tuy nhiên, mua bán sức lao động có điểm tương đồng với mua bán quyền sử dụng vốn, quyền sử dụng nhà đất là tính chất có thời hạn, có điều kiện và không chuyển giao quyền sở
hữu Nhưng do quyền sử dụng vốn thuần nhất nên việc mua bán không kén chọn chất lượng,
quyền sử dụng tách rời quyền sở hữu và đòi hỏi một sự đảm bảo nào đó bằng một khoản thế chấp tương ứng Mua bán sức lao động không đòi hỏi thế chấp, dễ xảy ra trục trặc thay đổi giữa chừng, không thể sang nhượng hay mua đi bán lại; người bán sức lao động không thoát
ly với sức lao động mà vẫn giữ quyền sở hữu nó, bởi vì người ấy chỉ bán quyền sử dụng sức lao động (Xem bảng 1) Việc chuyển nhượng cầu thủ bóng đá (đôi khi là một tỷ phú) hiện nay không phải như là mua bán nô lệ khi xưa: câu lạc bộ nhận về phải trả tiền để bù lại những thiệt hại của câu lạc bộ chuyển giao
Bảng 1: So sánh các hình thức mua bán hàng hóa
quyền sở hữu
Yêu cầu thế chấp
Có thể bán hay sang nhượng lại
Trang 241 2 3 Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa sức lao động
+ Giá trị sử dụng của sức lao động là tính có ích, là công dụng của nó Nếu sức lao động là hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó còn là khả năng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đây chính là cái mà người mua sức lao động quan tâm đến Giá trị sử dụng sức lao động không chỉ đáp ứng lợi ích của doanh nghiêp mà còn đáp ứng lợi ích xã hội
vì đó là điều kiện để phát triển kinh tế -xã hội
+ Giá trị sức lao động là đại lượng thể hiện sự đánh giá của xã hội về chi phí để có được sức lao động và về giá trị sử dụng của nó Giá trị sức lao động là cơ sở của giá cả sức lao động hay tiền lương Theo Karl Marx, giá trị sức lao động (xét về lượng) là giá trị những
tư liệu sinh hoạt cần thiết cho bản thân và gia đình của người lao động
Cơ cấu giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm:
- Chi phí lao động sống đảm bảo tái tạo sức lao động cho người lao động
- Chi phí tái tạo sức lao động cho xã hội: những chi phí tái đào tạo, chi phí bảo hiểm
xã hội, những chi phí để nuôi sống các thành viên trong gia đình người lao động
- Chi phí quá khứ là những chi phí để nuôi sống người lao động đến lúc trưởng thành, những chi phí học tập, huấn luyện, đào tạo trước đây Người sử dụng lao động có thể lập luận rằng xã hội và người mua sức lao động của bố mẹ của người lao động đã trang trải rồi Tuy nhiên, các doanh nghiệp có thể không ngần ngại bù đắp hay ứng trước một phần của chi phí đào tạo cho người lao động, nếu như nhờ đó mà chất lượng sức lao động đáp ứng được yêu cầu sử dụng
Giá trị sức lao động là cái kết tinh của lao động xã hội tất yếu, không chỉ để tạo ra mà trước hết là để tái tạo ra sức lao động cho người lao động và cho xã hội Khi xác định giá trị
Trang 25động cho người lao động, sau đó là đảm bảo tái tạo sức lao động cho xã hội và sau cùng nếu
có thể được thì xét đến việc bù đắp những chỉ phí quá khứ đã đầu tư để có được sức lao động
Theo xu hướng phổ biến trong xã hội, hai thành phần sau thường bị lãng quên, hay chỉ tính tượng trưng, không đầy đủ trong giá trị (cũng như giá cả) sức lao động Người sử dụng lao động thì có lợi, còn người lao động bị thiệt thòi nhưng đành phải chấp nhận Trong thực tế, giá trị sức lao động đã không đảm bảo sự tái sản xuất sức lao động xã hội đúng nghĩa, chưa đảm bảo đủ sống hay có tích lũy Ngoài ra, việc xác định giá trị sức lao động phải tính tới yếu
tố lịch sử, xã hội, tinh thần Nói đến yếu tố lịch sử chính là nói tới quá trình hình thành sức lao động, đến chi phí đã đầu tư cho giáo dục đào tạo và nuôi sống người lao động để có được sức lao động Nói đến yếu tố xã hội là nói tới nhu cầu tiêu dùng của gia đình người lao động, nói tới sự tương quan về giá trị sức lao động giữa các ngành nghề Các yếu tố hợp thành giá trị của hàng hóa sức lao động còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia như mức sống trong xã hội, khí hậu, tập quán, đặc điểm văn hóa dân tộc
1.3 Vị trí, đặc điểm và vai trò của thị trường sức lao động nói chung
1.3.1 Vị trí của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường
Thị trường sức lao động là tổng hợp tất cả các điều kiện khách quan và chủ quan nhờ
đó mà diễn ra quan hệ mua bán sức lao động giữa người lao động với các chủ thể sử dụng sức lao động; đưa đến việc xác định giá cả, số lượng, chủng loại của hàng hóa sức lao động
Các điều kiện khách quan là những cơ sở vật chất cần thiết, sự chuyển dịch liên thông giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước, sự gia tăng
Trang 26nguồn cung sức lao động về số lượng và chất lượng, sự phát triển nhu cầu sử dụng sức lao động, sự tồn tại và phát huy vai trò của các trung tâm dịch vụ việc làm
Các điều kiện chủ quan là sự nhận mức và hành vi của các chủ thể kinh tế, thể hiện ra trước hết là quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật và sự quản lý của nhà nước đối với thị trường sức lao động; sau nữa là những ứng xử của người lao động và của người sử dụng lao động nhằm tối đa hóa lợi ích của mình
Thị trường sức lao động có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại Thị trường sức lao động là thị trường yếu tố sản xuất, là một bộ phận tất yếu không thể thiếu trong hệ thống các thị trường Hệ thống đồng bộ các trụ trường đóng vai trò cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
Thị trường sức lao động không chỉ hình thành và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các thị trường đầu vào khác như thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường tiền tệ
mà còn quan hệ mật thiết cả với thị trường hàng tiêu dùng Chúng là điều kiện cho nhau, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế Thật vậy, người ta trao đổi hàng tiêu dùng thực ra là trao đổi lao động cho nhau; người lao động cũng là người tiêu dùng, nhu cầu và sức mua của họ
tùy thuộc vào mức thu nhập có được từ sức lao động của họ
Thị trường sức lao động có mối quan hệ mật thiết với thị trường vốn, bởi vì vốn và sức lao động là hai yếu tố cơ bản của sản xuất Khi cung sức lao động tăng, giá cả sức lao động giảm thì cầu về vốn tăng, sẽ kích thích gia tăng nguồn vốn đầu tư Ngược lại, khi cung
về vốn tăng, lãi suất giảm, nhu cầu đầu tư tăng thì nhu cầu sức lao động sẽ gia tăng
Trang 271.3.2 Đặc điểm chung của thị trường sức lao động
a) Cũng như thị trường sản phẩm thông thường, thị trường sức lao động có nhiều dạng theo vùng địa lý, theo những loại nhu cầu và nguồn cung sức lao động khác nhau Như vậy, tính đa dạng của thị dường sức lao động được cho thấy ở sự phân đoạn về cung và cầu của
nó Về cầu, có thể phân chia các lĩnh vực sử dụng sức lao động trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ về cung, cố thể phân biệt lao động phức tạp, lao động giản đơn
Trên thị trường sức lao động thành thị chính thức, cung sức lao động phức tạp, lao động kỹ thuật, có trình độ, đáp ứng nhu cầu sức lao động của các công ty, doanh nghiệp lớn ỏ thành thị Trên thị trường sức lao động thành thị không chính thức, cung sức lao động giản
đơn, đáp ứng nhu cầu sức lao động của các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở kinh tế gia đình ở
thành thị Trên thị trường sức lao động nông thôn, cung sức lao động nhàn rỗi theo mùa vụ, đáp ứng nhu cầu sức lao động của các hộ gia đình, các cơ sở tiểu thủ công, các hợp tác xã Ở thị trường sức lao động liên thông với nước ngoài, cung sức lao động từ giản đơn đến tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu sức lao động đa dạng của các quốc gia thiếu nhân lực trên thế giới
Những bộ phận thị trường ấy có quan hệ gán bó, được nối lại với nhau bởi sự lựa chọn việc làm của người lao động và bởi sự lựa chọn sức lao động của doanh nghiệp Những
sự lựa chọn ấy dẫn đến kết quả là sức lao động sẽ được chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác, từ nơi này sang nơi khác
b) Thị trường sức lao động không có mua đi bán lại đúng nghĩa, dù có thể có những cai thầu sức lao động, mà chỉ chủ yếu là dịch vụ môi giới tuyển dụng và giới thiệu việc làm, bởi vì sau khi bán sức lao động người lao động vẫn còn quyền sở hữu nó, sức lao động không thể tách rời người lao động Khác với hàng hóa
Trang 28thông thường, sức lao động không được trưng bày tại những địa điểm bán lẻ, người bán không dễ tiếp cận với người mua
c) Đối với thị trường sức lao động, sự khác biệt so với thị trường hàng hóa thông thường là hàng hóa không được tiêu chuẩn hóa, nên khi lựa chọn, khó mà có thể đánh giá chính xác, đầy đủ về năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng của nó Bởi vì không kể những yếu tố như tuổi tác, giới tính, sức khỏe, quá trình đào tạo, kinh nghiệm làm việc thì còn những yếu tố không thể đánh giá chính xác ngay như sự khéo léo, thông minh, nghị lực,
sự tích cực năng động trong công việc mà phải thông qua sử dụng sức lao động trong công việc
d) Trong thị trường sức lao động, phương thức thông tin có nhiều hạn chế Thông tin
thị trường sức lao động là các số liệu đánh giá, lưu trữ về cung và cầu việc làm, về những
thay đổi của cơ cấu việc làm, với yêu cầu về trình độ tay nghề và xu hướng tuyển dụng ở các khu vực kinh tế, các ngành, các vùng khác nhau Thông tin thị trường sức lao động chậm hơn rất nhiều so với các loại thị trường khác và thường không chính xác, thiếu tính tổng hợp
và bị thổi phồng Do vậy, người lao động thường không dễ gì tìm được việc làm phù hợp với nguyện vọng và khả năng nghề nghiệp; sự can thiệp điều chỉnh của Nhà nước đối với thị trường sức lao động luôn không kịp thời Các doanh nghiệp thường tiếp nhận khá nhiều số ứng viên do thông tin tuyển dụng bị nhân lên một cách tự phát, khiến cho nhu cầu giả đối với sức lao động trở nên phổ biến
Trên thị trường sức lao động, các Trung tâm dịch vụ việc làm không chỉ là cầu nối giữa cung và cầu sức lao động, giữa người lao động với người sử dụng lao động, mà còn là công cụ để tổ chức thị trường, góp phần ngăn chặn tình trạng cò lao động hay các tụ điểm của thị trường sức lao động tự phát
e) Thị trường sức lao động có tính chất không hoàn hảo vì sức mạnh vô hình của người sử dụng sức lao động và cả của người lao động, khả năng chi phối
Trang 29lượng cung sút lao động của công đoàn (ở một số quốc gia) và việc ẩn định tiền lương tối thiểu của Nhà nước Trên thị trường sức lao động, sức ép thường xuyên của thất nghiệp có thể làm lợi cho các doanh nghiệp, nhưng lại gây bất lợi cho xã hội và cho người lao động Người lao động luôn rơi vào vị trí yếu thế, rất khó kiếm được việc làm nếu chất lượng sức lao động của mình không cao, thường thua thiệt khi mặc cả với người sử dụng sức lao động Khả
năng kén chọn công việc, đặt điều kiện trong hợp đồng lao động hay rời khỏi việc làm của
người lao động tùy thuộc vào tình hình thất nghiệp; khả năng chuyên môn, trình độ tay nghề; vào các khoản thu nhập như phúc lợi xã hội, trợ cấp thất nghiệp, tiền lời tiết kiệm Trong khi
đó, các doanh nghiệp có thể lựa chọn người lao động có chất lượng trong số ứng viên dư thừa một cách dễ dàng và luôn có tiếng nói ưu thế khi nêu lên mức tiền lương với những điều kiện tương ứng cùng với những điều kiện không trả lương Các doanh nghiệp có thể chèn ép người lao động, thường yêu cầu cao về trình độ người lao động, chọn những người lao động đa năng vượt quá yêu cầu, gây lãng phí cho xã hội
g) Thị trường sức lao động thường phân tán, ít biến động, kém linh hoạt hơn các thị trường khác, do yếu tố địa lý cách trở, do sự quản lý nhân khẩu không thống nhất, do quan hệ
mua bán sức lao động tương đối phức tạp, do hợp đồng lao động được thực hiện có thời hạn
và do những khó khăn trong tìm kiếm hay chuyển đổi việc làm Tuy nhiên, sự ổn định tương đối của thị trường sức lao động là nên được duy trì vì mục tiêu ổn định nền kinh tế và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội
1.3.3 Vai trò của thị trường sức lao động
a) Thị trường sức lao động là điều kiện thực hiện xã hội hóa, lưu động hóa sức lao động, bởi vì sức lao động là một yếu tố đầu vào sẽ được tìm kiếm dễ dàng trên thị trường Thị trường sức lao động thúc đẩy sự phân công lao động xã hội
Trang 30cũng như phân công lao động nội bộ Nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên củng
cố tổ chức nhân sự, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, tăng năng suất lao động
Thị trường sức lao động góp phần phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội, làm gia tăng thu nhập, nâng cao mức sống, gia tăng sản lượng quốc gia, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội Thị trường sức lao động đảm bảo cho quá trình tái sản xuất cá biệt lẫn tái sản xuất xã hội được diễn ra một cách nhịp nhàng Hơn nữa, để phát triển nền kinh tế, vấn đề không phải chỉ là tái tạo nguồn nhân lực mà còn là làm sao sử dụng nó hầu hết
b) Thị trường sức lao động là nơi đánh giá sức lao động về giá trị sử dụng và về những chi phí để tạo ra nó, từ đó mà xác định giá cả, số lượng và chủng loại sức lao động cần thiết
Thông qua tác dụng của quy luật cung - cầu trên thị trường sức lao động, trong điều kiện luân chuyển sức lao động dễ dàng, cung và cầu sức lao động sẽ trở nên cân đối, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm giảm nguy cơ khủng hoảng thừa cũng như thiếu nguồn nhân lực trong nền kinh tế Thị trường sức lao động tác động đến nguồn cung sức lao động, góp phần đáp ứng nhu cầu sức lao động ở nhiều ngành sản xuất kinh doanh khác nhau một cách đầy đủ, kịp thời Quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh trên thị trường sức lao động sẽ trở thành công cụ giúp phân loại, sắp xếp hàng triệu người lao động có những kỹ năng và chuyên môn ngành nghề đa dạng, để bố trí phù hợp với vô số những công việc khác nhau trong nền kinh tế
c) Thị trường sức lao động là nơi khai thông các mối quan hệ mua bán sức lao động, gián tiếp ảnh hưởng đến quan hệ lao động trước và sau thị trường, là nơi cung cấp thông tin giúp cho đôi bên điều chỉnh hành vi của mình để đạt được lợi ích lớn nhất Thị trường sức lao động phản ánh mối quan hệ xã hội giữa người
Trang 31lao động không có tư liệu sản xuất hay vốn liếng mong muốn việc làm, để có thu nhập đảm bảo cuộc sống của mình và người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, có vốn đầu tư có nhu cầu sử dụng sức lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh
Là chủ thể có nhu cầu sử dụng sức lao động, các doanh nghiệp có thể áp dụng một mức tiền lương cao để thu hút lao động có kinh nghiệm, có trình độ tay nghề tương ứng với
công việc và có thể ngưng hợp đồng đối với những lao động không phù hợp Người lao động
có thể lựa chọn việc làm và nơi làm việc thích hợp với nguyện vọng, trình độ, khả năng chuyên môn của mình và có được thu nhập xứng đáng
Thị trường sức lao động tác động đến nhận thức của người lao động, đòi hỏi họ phải luôn có ý thức nâng cao trình độ tay nghề chuyên môn, trình độ hiểu biết để được tuyển dụng; phải phát huy sở trường, năng lực sáng tạo, đảm bảo kỷ luật lao động để có năng suất lao động cao, để thích nghi với công nghệ mới và tạo được lợi thế với người sử dụng lao động; phải tích lũy kinh nghiệm để có thể nắm lấy cơ hội chuyển đổi việc làm và có được thu nhập cao hơn Như vậy, lực lượng lao động sẽ phát triển, sẽ được nâng lên về chất dưới tác động của thị trường sức lao động
Bên cạnh những vai trò tích cực như trên, thị trường sức lao động còn có một số vai trò tiêu cực, có những mặt trái của nó như làm phát sinh mâu thuẫn xã hội, sức ép thất nghiệp
có thể tạo điều kiện cho việc bóc lột người lao động Tính tự phát trên thị trường sức lao động tạo ra sự bất bình đẳng về cơ hội việc làm, thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Ngoài ra, tác dụng của quy luật giá trị trên thị trường sức lao động có thể khiến cho lực lượng lao động di chuyển một cách không cần thiết do thông tín nhiễu loạn Người lao động có thể chạy theo những nghề có sức hút, gây mất cân đối cung - cầu sức lao động, gây lãng phí cho nền kinh
tế
Trang 321.4 Một số vấn đề liên quan đến thị trường sức lao động
1.4.1 Sự xuất hiện và phát triển của thị trường sức lao động trong lịch sử các nền kinh tế
Nói chung, thị trường sức lao động được hình thành bắt đầu từ khi chấm dứt chế độ
nô lệ và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường Nó xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIV - thời kỳ phát sinh của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa "Giai cấp tư sản đang ra đời cần đến quyền lực nhà nước và đã thực sự dùng nó để "điều hòa" tiền công, nghĩa
là bắt buộc tiền công phải ở trong những giới hạn thích hợp cho việc bòn rút giá trị thặng dư,
để kéo dài ngày lao động và duy trì bản thân người công nhân ở một mức độ lệ thuộc bình thường vào tư bản" (1)
Quy chế công nhân năm 1349 ở Anh cũng như Đạo dụ năm 1350 ở Pháp: "Qui định
một biểu tiền công cho thành thị và nông thôn, cho công khoán và công ngày Cấm không
được trả công cao hơn mức qui định, trái lệnh thì bị phạt tù, nhưng người lãnh tiền công cao lại bị phạt nặng hơn người trả công" (2) "Người chủ bội ước chỉ bị truy tố về dân sự, còn người thợ bội ước lại bị truy tố về hình sự" (3)
Từ thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVII, thị trường sức lao động đã có những bước phát triển, diễn ra đồng thời với những cuộc đấu tranh cho ngày lao động bình thường, chống lại những đạo luật cưỡng bước kéo dài ngày lao động, tương ứng với hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản là hợp tác giản đơn và công trường thủ công Sự bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối là chủ yếu và là nguyên nhân của thất nghiệp
Đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ XVIII, thị
Trang 33Đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại, việc điều chỉnh thị trường sức lao động là khâu quyết định đến sự ổn định kinh tế, xã hội và chính trị nên có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản Đây là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các lực lượng xã hội, đã làm thay đổi một cách căn bản cơ chế vận hành của thị trường sức lao động
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường sức lao động đã trở thành thị trường có điều tiết tại phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, tác động đến cả phía cung và cầu sức lao động, mà chủ thể điều tiết là các công đoàn, các doanh nghiệp và Nhà nước
Kể từ giữa những năm 70, mô hình phát triển tiết kiệm các nguồn lực là rõ rệt, cơ cấu kinh tế thay đổi, bên cạnh xu hướng sát nhập cũng có xu hướng chia nhỏ các doanh nghiệp
Cơ chế điều tiết thị trường sức lao động được điều chỉnh, làm cho nó trở nên linh hoạt hơn và
cá thể hóa đối với người lao động Như vậy, khả năng tự điều chỉnh của các nền kinh tế phát triển đã được nâng cao (4)
Mô hình mới xuất hiện những năm gần đây, chưa từng có trong lịch sử là mô hình thị trường sức lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang được thể hiện ở Việt Nam, mà luận án sẽ phân tích ở chương 2
Như vậy, sự hình thành và phát triển của thị trường sức lao động dựa trên cơ sở là sự phân công lao động xã hội và sự đa dạng của các hỉnh thức sở hữu, trong đó có cả hình thức
sở hữu sức lao động
1.4.2 Trạng thái cung - cầu sức lao động
1.4.2.1 Các yếu tố của cung sức lao động
Số lượng nguồn cung sức lao động tùy thuộc vào nhiều yếu tố, hàm cung sức lao động
có nhiều biến số Trước hết là quy mô và tốc độ tăng dân số của 13 năm - 20 năm về trước
Tỷ lệ sinh đẻ cao trước mắt chưa làm tăng cung sức lao động, nhưng lại gây bất lợi cho nền kinh tế, bởi vì phải giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, làm giảm đầu tư cho phát triển Cung sức lao động còn phụ thuộc
Trang 34vào số lao động mất việc, vào sự di chuyển lao động giữa các vùng kinh tế, giữa các quốc gia, dưới tác động của các quy luật kinh tế và các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước như việc qui định thời gian lao động, ấn định tiền lương tối thiểu và việc đảm bảo các lợi ích khác của người lao động
Khi nói đến nguồn cung sức lao động, nên phân biệt cung thực tế và cung tiềm năng
Cung thực tế về sức lao động là lượng cung được thường xuyên sử dụng bao gồm những
người đang đi làm thuê và những người đang tích cực đi tìm việc làm Cung tiềm năng về sức lao động là lượng lao động có thể bổ sung vào nguồn cung sức lao động, phụ thuộc vào số lượng người đến tuổi lao động, vào sự lưu chuyển sức lao động giữa các vùng, các khu vực,
các ngành, các thành phần kinh tế vì điều kiện môi trường lao động tốt hơn hay do mức tiền
lương hấp dẫn hơn Cung sức lao động có thể được xét theo một phạm vi nào đó, ví dụ cung
sức lao động của một quốc gia hay giữa các quốc gia, của một vùng kinh tế, của một địa
phương với lao động tại chỗ và lao động nhập cư; cung sức lao động có thể được xét theo cơ
cấu tuổi tác, giới tính và theo chuyên môn ngành nghề, tính chất công việc như lao động giản đơn, lao động phức tạp
Nguồn cung sức lao động được phân loại căn cứ vào chất lượng và cơ cấu của nó, gắn
với nghề nghiệp chuyên môn của người lao động, tùy thuộc vào quá trình đào tạo của người
lao động Chất lượng nguồn cung sức lao động được thể hiện ở khả năng thể lực, trí lực và
trình độ chuyên môn tay nghề và cả đức tính của người lao động Khả năng thể lực, sức khỏe của người lao động là yêu cầu đầu tiên của sức lao động, quyết định chất lượng sức lao động chứ không chỉ là ở trình độ, kỹ năng của người lao động Việc đảm bảo sức khỏe cho người lao động là vấn đề tái sản xuất sức lao động, tùy thuộc vào mức thu nhập của người lao động
Trang 35tùy thuộc vào việc đảm bảo môi trường lao động và tùy thuộc vào việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động
Những cán bộ nghỉ hưu nhưng còn sức khỏe, những trẻ em lao động sớm hay một bộ phận nhân viên sau khi hoàn thành công việc của mình, nếu sử dụng thời gian nhàn rỗi để đi làm thêm các công việc để nhận thù lao thì cũng làm tăng lượng cung sức lao động Di cư, nhập cư làm tăng dân số cơ học cục bộ, từ đó làm tăng nguồn cung sức lao động ở một địa
phương nào đó
1.4.2.2 Các yếu tố của cầu sức lao động
Nhu cầu sức lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường sức lao động Cũng như cung, cầu về sức lao động gồm có cầu thực tế và cầu tiềm năng Cầu thực tế về sức lao động được thể hiện ỡ số việc làm đang có người và số việc làm chưa có người tại một thời
điểm nào đó Cầu tiềm năng về sức lao động thể hiện ở số việc làm sẽ có nhờ gia tăng sử
dụng các nguồn lực, vốn liếng và đất đai còn tiềm tàng, kể cả các nguồn lực từ nước ngoài Ở tầm vĩ mô, nên xem xét sự thay đổi cầu tổng thể của quốc gia, của từng khu vực, của từng ngành nghề, từng thành phần kinh tế, cầu ngoài nước về sức lao động và cầu sức lao động do thu hút được các nguồn lực từ nước ngoài
Nhu cầu sức lao động luôn tùy thuộc vào mức tiền lương trong một thời điểm nhất
định Với mức tiền lương nào đó sẽ cố một mức cầu tương ứng về sức lao động Theo luật
cầu, cầu sức lao động sẽ tăng khi tiền lương giảm và ngược lại cầu sức lao độog sẽ giám khi tiền lương tăng Cồn khi chính bản thân cầu sức lao động tăng ở khu vực hay vùng kỉnh tế nào đố thì mức tiền lương phải tăng lên để có thể thu hút được lao động
Ngoài tiền lương, còn có các biến số khác của hàm cầu sức lao động là giá cả và số lượng máy móc công nghệ, đất đai - tài nguyên; lãi suất và số lượng vốn
Trang 36đầu tư được đưa vào sử dụng Do sức lao động là một yếu tố sản xuất phụ thuộc vào các yếu
tố sản xuất khác, nên cầu sức lao động là cầu thứ phát
Ngoài ra, nhu cầu sức lao động cũng bị tác động bởi chất lượng sức lao động, hệ thống luật pháp, chính sách, khả năng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tình hình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, thời tiết, mùa vụ Nhu cầu sức lao động có chuyên môn kỹ thuật ngày càng tăng hơn so với lao động giản đơn, phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhu cầu sức lao động tăng cao ở ngành nghề nào có triển vọng phát triển, như ngành dịch vụ đang và
sẽ có tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Nhu cầu sức lao động nông nghiệp sẽ giảm trong tướng lai, nhu cầu sức lao động công nghiệp tăng là vấn đề có tính quy luật
1.4.2.3 Quan hệ cung - cầu và giá cả trên thị trường sức lao động
Trên thị trường, cung và cầu sức lao động được hình thành, biến đổi và tác động qua lại với nhau một cách khách quan theo quy luật cung - cầu, đưa đến việc xác định hay làm thay đổi mức giá cả sức lao động của từng ngành và của toàn xã hội Giá cả sức lao động chính là tiền công (wage) nói chung, hay là tiền lương (salary) nói riêng, dựa trên cơ sở giá trị sức lao động và được hình thành trên thị trường theo tương quan cung - cầu sức lao động
Trạng thái cân bằng sẽ xác định mức tiền lương cân bằng, nhưng đây chỉ là khái niệm tương đối, có tính chất lý thuyết, Nếu sức hút của cầu dưới mức cung, trạng thái dư thừa xảy
ra, thì tiền lương sẽ có xu hướng giảm Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu sức lao động tăng lên, trạng thái thiếu hụt sức lao động xảy ra thì tiền lương sẽ có xu hướng tăng Tiền lương không chỉ chịu ảnh hưởng bởi trạng thái cung - cầu của loại sức lao động tương ứng
mà còn của loại sức lao động khác, bởi vì việc giảm nhu cầu ở khu vực này có thể làm tăng sức ép về cung ở khu vực khác và các loại sức lao động có thể thay thế lẫn nhau, do sự lựa
Trang 37ngắn hạn, khi mức cầu giảm hay mức cung tăng, bởi vì hợp đồng lao động đã ấn định tiền lương trong một khoảng thời gian nhất định
So với các thị trường khác, tuy tính chất cạnh tranh của thị trường sức lao động được thể hiện yếu ớt hơn, nhưng cũng làm ảnh hưởng đến giá cả sức lao động Người lao động có ý
thức nâng cao chất lượng sức lao động của mình để có được tiền lương cao và có thể chấp
nhận một mức tiền lương thấp để có được việc làm (mua việc làm) Doanh nghiệp có thể chấp nhận một mức lương cao để thu hút, giữ lại và sử dụng được lao động chất xám, lao động lành nghề
Sự thay đổi tiền lương cũng ảnh hưởng đến tương quan cung - cầu sức lao động theo luật cung và luật cầu Khi tiền lương tăng thì cung sức lao động tăng và cầu sức lao động giảm, nghĩa là số người muốn tham gia lực lượng lao động, muốn đi làm nhiều hơn số người xin được việc làm Tình hình này là rõ rệt, dừ biết rằng khi thu nhập tăng, người lao động có thể cho phép mình nghỉ ngơi nhiều hơn Còn khi tiền lương giảm thấp, số người muốn đi làm
sẽ sụt giảm, nhân công sẽ thiếu, nghĩa là cung nhỏ hơn cầu
Tiền lương còn chịu ảnh hưởng của giá cả các yếu tố sản xuất khác Khi giá cả máy móc giảm, thì tùy theo đó là loại thay thế hay là điều kiện sử dụng sức lao động, sẽ khiến nhu cầu sức lao động và tiền lương giảm hay tăng Ngoài ra, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến tiền lương như năng suất lao động, trình độ tay nghề, sự tác động của Nhà nước Tiền lương tối thiểu chính là giá sàn của sức lao động do Nhà nước qui định nhằm đảm bảo mức sống
bình thường của những người lao động làm các công việc giản đơn, ngăn ngừa tình trạng bóc
lột dưới sức ép thất nghiệp Đây là công cụ mà người lao động sử dụng để đấu tranh với người sử dụng lao động
Đối với các nước phát triển, mức lương tối thiểu thường không ảnh hưởng nhiều đến
Trang 38lương trung bình trong xã hội Đối với các nước đang phát triển có thu nhập quốc dân thấp, thất nghiệp gay gắt, Chính phủ thường quy định một mức lương tối thiểu thấp hơn mức lương trung bình trong xã hội, để không làm giảm nhu cầu sức lao động Khi thu nhập quốc dân bình quân đầu ngươi tăng, mức sống xã hội tăng, việc quy định mức lương tối thiểu tăng lên
là đúng đắn, nhưng không nên đến mức gây ra hậu quả là làm kềm chế tác dụng của thị trường sức lao động, làm giảm số lượng việc làm, khiến cho tình hình thất nghiệp tăng hơn
Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều hình thức tiền lương khác nhau Lương thời gian
tỷ lệ thuận với thời gian làm việc của người lao động, thường áp dụng cho các công việc khó tính được sản phẩm cụ thể, căn cứ vào độ dài ngày lao động, cường độ lao động và cả trình
độ lành nghề của họ Lương sản phẩm tỷ lệ thuận với số lượng và chất lượng sản phẩm làm
ra, được xác định căn cứ vào lương thời gian và định mức lao động tương ứng Lương khoán thì được xác định trước, tương ứng với khối lượng và chất lượng công việc phải hoàn thành Định mức khoán, do chủ doanh nghiệp quyết định, có thể là cao một cách không hợp lý, làm cho ngươi lao động bị thua thiệt và bị bóc lột
Tiền lương theo thời gian, theo sản phẩm và lương khoán là những hình thức của tiền lương danh nghĩa, thể hiện ra là số tiền mà người lao động nhận được Tiền lương thực tế thể hiện ra là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người lao động mua được bằng tổng thu nhập từ lao động, tức là bằng tiền lương danh nghĩa, tiền thưởng và tiền phúc lợi Tiền lương thực tế
tỷ lệ thuận với tiền lương danh nghĩa, với giá trị tiền tệ và tỷ lệ nghịch với giá cả tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động Giá cả tư liệu tiêu dùng tăng sẽ làm cho tiền lương tăng theo nhưng rất chậm và ít hơn làm cho người lao động bị thiệt, phải hy sinh cho sự ổn định của nền kinh tế! Ngược lại, giá cả tư liệu tiêu dùng giảm nhưng có thể tiền lương chưa giảm
Trang 39tiền lương đồng biến với nhau nhưng sự tăng hay giảm của tiền lương chậm hơn và ít hơn làm cho người lao động bị thiệt hay được lợi
Lợi ích của người lao động có thể không được đảm bảo, bởi vì tiền lương - giá cá của sút lao động được thực hiện sau, còn giá trị sử dụng của sức lao động lại được thực hiện
trước Nhưng không phải lợi ích của người lao động chỉ biểu hiện ở tiền lương mà còn là sự
đảm bảo có việc làm thường xuyên, sự cải thiện điều kiện làm việc, môi trường xã hội, có được cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, được học hỏi để nâng cao tay nghề để có tiền lương tăng tương ứng Mặt khác, tiền lương lại có thể giúp bù lại những điều kiện khó khăn hay sự không hấp dẫn của công việc
Tiền lương có thể được xem như đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích tính tích cực, phát huy tài năng sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động, tạo nên động lực cho phát triển kinh tế
1.4.3 Quan hệ lao động
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh từ quá trình lao động, là tất cả những mối quan hệ giữa người lao động với các chủ thể khác dẫn đến việc sử dụng sức lao động Quan hệ lao động là một nội dung hay là một bộ phận hợp thành của quan hệ sản xuất Tính chất của quan hệ lao động tùy thuộc vào quan hệ sở hữu đang được áp dụng
Quan hệ lao động vừa phổ biến, vừa đặc thù, chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan
và yếu tế chủ quan Yếu tố khách quan là tính chất và trình độ của lực lượng lao động cũng như của lực lượng sản xuất Lực lượng lao động có chất lượng sẽ là điều kiện quan trọng để thiết lập và củng cố quan hệ lao động, tạo điều kiện để mở rộng thị trường sức lao động Yếu
tố chủ quan là sự nhận thức và hành vỉ của các chủ thể trong quan hệ lao động, chẳng hạn người lao động phải
Trang 40luôn tích cực hoàn thiện khả năng lao động của mình mới có thể thiết lập và củng cố được mối quan hệ lao động
Nếu căn cứ vào các loại hình doanh nghiệp thì có quan hệ lao động trong doanh nghiệp nhà nước và quan hệ lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nếu dựa trên trình tự diễn tiến thì có quan hệ lao động trước thị trường, trên thị trường và sau thị trường sức lao động
Quan hệ lao động trước thị trường là quan hệ giữa người lao động với các chủ thể khác dẫn đến việc đào tạo, tư vấn học nghề, hướng nghiệp, môi giới việc làm Quan hệ lao động trên thị trường là quan hệ tuyển dụng, quan hệ mua bán sức lao động giữa một bên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất hay người đại diện của chủ sở hữu cần sử dụng sức lao động vì mục tiêu lợi nhuận và một bên là người lao động vì mục tiêu thu nhập Quan hệ lao động sau thị trường là quan hệ tổ chức quản lý quá trình lao động (người lao động là đối tượng của sự quản lý), phân phối kết quả sản xuất; quan hệ giữa tổ chức công đoàn với người sử dụng lao động, quan hệ đoàn kết hay thi đua giữa những người lao động với nhau
Quan hệ sau thị trường ảnh hưởng đến quan hệ trước và trên thị trường Ở những doanh nghiệp thường xảy ra tranh chấp lao động, việc tuyển dụng mới có thể gặp khó khăn; người lao động chưa có việc làm sẽ lựa chọn doanh nghiệp khác, ngành nghề khác Khi sự phối hợp công việc đã trở nên nhịp nhàng, người lao động tích lũy được kinh nghiệm, nâng cao được tay nghề, doanh nghiệp sẽ không muốn tuyển dụng mới, trừ khi phải mở rộng sản xuất
Cơ sở của quan hệ lao đông, của việc mua bán sức lao động là hợp đồng lao động cá
nhân, được qui định bởi Luật lao động
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về việc làm có trả công với những điều khoản nhất định (không qui định hợp đồng lao động với một nhóm) Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động bao