1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm

115 92 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 807,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mời các bạn tham khảo luận văn Thạc sĩ Văn học: Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm sau đây để nắm bắt được những nội dung về truyện thơ Nôm, văn hóa và văn hóa ứng xử trong truyện thơ Nôm, văn hóa ứng xử người việt trong truyện thơ Nôm.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRIỆU THÙY DƯƠNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT TRONG

TRUYỆN THƠ NÔM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

Trang 2

MễÛ ẹAÀU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi mà các quốc gia đều đặt sự quan tâm hàng đầu cho việc phát triển kinh tế và khoa học kĩ thuật thì việc thiếu hiểu biết về văn hóa đang trở thành một một nguy cơ nghiêm trọng Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại đang được coi là một

trong những vấn đề ưu tiên quốc tế Văn hóa “ngày hôm qua chỉ là một thứ trang trí, thì hôm nay là

nền tảng và linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người Trước kia, người ta coi văn hóa là thứ yếu, ngày nay, người ta bắt đầu nhận ra nó là cốt lõi của vấn đề Vì vậy, ngày nay cần có một cách tiếp cận mới với phát triển, cách tiếp cận ấy cuối cùng sẽ thừa nhận vai trò quyết định của văn hóa” [65,

tr.35] Nhu cầu về sự hoàn thiện cuộc sống cho hôm nay và cho ngày mai buộc con người phải nhìn nhận lại vai trò của các thành tố của tổng thể xã hội, từ đó, dẫn đến việc cần đánh giá lại vai trò của văn hóa như một thành tố quan trọng và trực tiếp đối với sự phát triển Một khi toàn bộ sự phát triển của xã hội và cá nhân mỗi con người được đặt trong quỹ đạo của định hướng văn hóa thì bản thân văn hóa sẽ đóng vai trò như hệ điều tiết thường trực và tự giác của cuộc sống và sự phát triển Nhất

là đối với nước ta, một nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa, có nhu cầu bức bách trong việc tiếp thu thành tựu văn hóa thế giới đồng thời với việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam đang ở trong giai đoạn xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đang trên đà hội nhập với văn hóa thế giới cho nên nhu cầu nhìn lại mình để là chính mình và để

“làm bạn với toàn thế giới” là rất quan trọng Muốn vậy, yếu tố quan trọng trước tiên không thể không nhắc tới chính là con người Việt Nam

Với tư cách là chủ thể, đồng thời là “vật mang” văn hóa, con người hoạt động, tác động đến môi trường xung quanh dựa trên những chuẩn thức văn hóa được thừa hưởng từ truyền thống và giáo dục Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa và thông tin hóa như hiện nay, tầm quan trọng của yếu tố văn hóa không ngừng tăng lên Đặc biệt, khi kinh tế ngày càng phát triển và các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý Những năm gần đây, văn kiện của Đảng và nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Thực tiễn lịch sử nhân loại đã chứng tỏ rằng sự phát triển văn hóa của các dân tộc trên thế giới là rất đa dạng và phong phú Sự đa dạng về văn hóa là một hiện tượng phổ biến bởi nếu mục đích tối thượng của con người là no đủ, hạnh phúc cho mọi người thì những quan niệm, những phương pháp đạt tới, những biểu hiện của mỗi dân tộc là khác nhau Do vậy, tôn trọng sự phong phú, đa dạng của các nền văn hóa trong thời đại ngày nay là biểu hiện lí tưởng cao cả của chủ nghĩa nhân văn cho con người và vì con người Tôn trọng tính đa dạng trong sự phát triển và bảo tồn văn hóa nhân loại chính là cơ sở để mỗi dân tộc tìm về bản sắc văn hóa của chính mình, ở đó có một hệ thống các giá trị tinh hoa của dân tộc được vun đắp nên bởi lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, là quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa để bổ sung, hoàn

Trang 3

thiện những giá trị mới, gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời làm cho làm cho những giá trị bền vững

được tồn tại sống động với thực tiễn xã hội

Văn hóa của bất kì dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển đều tồn tại hai cơ chế: cơ chế thứ nhất có liên quan tới sự phát triển nội sinh của chính nền văn hóa dân tộc đó (văn hóa bản

địa), đó là sự chọn lọc, duy trì, phát triển và lưu truyền những giá trị văn hóa đích thực qua các thời kì khác nhau của lịch sử, chúng được xem là tinh hoa của nền văn hóa dân tộc Cơ chế thứ hai liên quan tới quá trình giao lưu giữa văn hóa bản địa với văn hóa khu vực và thế giới (giao lưu văn hóa)

Đó là sự hội nhập, dung hòa có tính cưỡng bức hoặc tự nguyện những giá trị văn hóa của các dân tộc khác vào giá trị văn hóa của dân tộc mình Đó có thể là quá trình bổ sung, làm phong phú thêm vốn văn hóa bản địa nhưng cũng có thể là quá trình làm tàn lụi một nền văn hóa này trước sự thâm nhập, thôn tính của một nền văn hóa khác Do đó, muốn duy trì và phát triển nền văn hóa của mình, mỗi dân tộc, bên cạnh sự hội nhập văn hóa phải có được ý thức giữ gìn, phát huy những truyền thống tốt

đẹp chứa đựng bản sắc văn hóa của dân tộc mình Đó là những giá trị văn hóa quý báu, là tinh hoa văn hóa của một dân tộc được lựa chọn, bảo tồn, duy trì và phát triển qua các thời kì lịch sử, giúp chúng ta phân định rõ cái riêng, cái độc đáo của một nền văn hóa

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở

ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua thời kì khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển mạnh

mẽ và ngày càng vững chắc Đất nước ta bước vào một thời kì mới: mở cửa giao lưu và dùng con

đường công nghiệp hóa - hiện địa hóa để đưa đất nước vươn đến mục tiêu dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển đất nước theo

đường lối “văn hóa soi đường cho kiến quốc” (Hồ Chí Minh), Đảng ta nhanh chóng nhận ra rằng cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật, công nghệ… với việc bảo tồn, phát huy nội lực văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Điều này đã được minh chứng bằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã dành hẳn Hội nghị Trung ương khóa VIII để bàn về văn hóa trong tình hình mới Nội dung chiến lược trong Nghị quyết của Hội nghị là “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” [9, tr.7]

Bên cạnh đó, Đảng ta đã xác định chiến lược văn hóa là chiến lược xây dựng con người Việt

Nam, xây dựng nhân cách Việt Nam Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã nhận định: “Nói đến văn

hóa là phải nói đến con người, mà nói đến con người trước hết phải nói đến tình cảm, tư tưởng, tâm

lí, tư duy, chính trị… Đó là cốt lõi của văn hóa Lịch sử văn hóa là lịch sử con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người” [84, tr.188] Cùng lẽ đó,

hiện nay, người ta còn quan tâm đến một biểu hiện hết sức đáng quan tâm của văn hóa, cái thể hiện trực tiếp thái độ của con người, đó là ứng xử, ứng xử có văn hóa và ở mức độ tinh tuyển: văn hóa ứng

xử của con người Đã là con người mang tính nhân loại phổ biến thì ai cũng phải quan tâm đến mối quan hệ, thái độ ứng xử với những vấn đề lớn như: giữa người với người, với gia đình, xã hội, với tự

Trang 4

nhiên… Dĩ nhiên, ứng xử văn hóa ở mỗi cộng đồng tộc người có những yếu tố đồng nhất và khác biệt Người Việt ứng xử khác với người Mường, Mông, Tày, Thái… trong tín ngưỡng, tình cảm, quan hệ gia đình, hôn nhân, đời sống vật chất… Điều này đã được chứng minh rất rõ trong thực tiễn văn hóa ứng xử phong phú và sinh động của mỗi dân tộc Vậy nên, ứng xử văn hóa là một vấn đề có nội hàm rộng và phức tạp, do đó, việc tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt cũng gặp khó khăn bởi sự mở rộng và phức tạp của vấn đề, từ khái niệm đến thực tiễn

Với mong muốn khẳng định hành trang không thể thiếu được của người Việt trên con đường văn hóa hiện tại chính là truyền thống ứng xử xã hội, truyền thống văn hóa ứng xử đã được kết tinh

từ đời sống văn hóa cổ truyền từ rất lâu đời nên chúng tôi quyết tâm đi tìm những nét văn hóa ứng xử của người Việt trong văn học trung đại, đặc biệt là trong các truyện thơ Nôm, là một cách để khẳng

định văn hóa ứng xử đồng thời cũng là một vấn đề có tính chất cốt lõi, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thế hệ người Việt sau này

2 Lịch sử vấn đề

Cách đây hơn sáu mươi năm, Đào Duy Anh đã đặt viên gạch đầu tiên cho lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Việt Nam khi cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của ông được Quan Hải Tùng Thư ấn hành (năm 1938) Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa các vùng miền, văn hóa các dân tộc của các tác giả nổi tiếng như : Trần Quốc Vượng, Toan AÙnh, Phan Ngọc, Trần

Ngọc Thêm… Có thể kể đến Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam AÙ (GS

Đinh Gia Khánh), Khái niệm và quan niệm về văn hóa (TS Đỗ Văn Khang), Văn hóa Việt Nam và

cách tiếp cận mới (GS Phan Ngọc), Mấy vấn đề văn hóa và phát triển Việt Nam hiện nay (GS Vũ

Khiêu và GS Phạm Xuân Nam), Văn hóa và phát triển (GS Trường Lưu), Xây dựng nền văn hóa

mới ở nước ta hiện nay (GS.TS Nguyễn Duy Quý và GS.PTS Đỗ Huy)…

Chúng tôi nhận thấy có khá nhiều các công trình nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt

như:

- Văn hóa giao tiếp của Phạm Vũ Dũng (1996)

- Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam do PGS.TS Lê Như Hoa chủ biên (2002)

- Nghệ thuật ứng xử của người Việt của tác giả Phan Minh Thảo (2003)

- Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt của TS La Văn Quán (2007)

Tất cả các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu các đặc trưng giao tiếp ứng xử trong môi trường gia đình, xã hội và ứng xử với tự nhiên của người Việt, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu và thực sự đầy đủ về văn hóa ứng xử của người Việt qua văn học

Gần với đề tài luận văn quan tâm có công trình: “Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt

châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao - tục ngữ” của Trần Thúy Anh, giảng viên Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân Văn Hà Nội ở công trình này, tác giả Trần Thúy Anh nghiên cứu truyền thống ứng xử

Trang 5

xã hội của người Việt trong cái nôi văn hóa châu thổ Bắc bộ được cô đọng và đúc kết qua ca dao và tục ngữ Tác giả đã lấy ca dao và tục ngữ làm điểm tựa để từ đó, hình dung một cách sinh động và sâu sắc bộ mặt lịch sử, chiều sâu văn hóa và các sắc thái riêng biệt, kể cả những tiếp biến văn hóa của thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ

Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến luận văn thạc sĩ Ngữ văn “Truyền thống văn hóa

người Việt trong Truyện Kiều” của tác giả Đặng Văn Kim - Trường Đại học Sư Phạm Tp HCM

Trong luận văn này, tác giả đã có sự so sánh, đối chiếu khá tỉ mỉ giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) Qua đó, tác giả đã cố gắng chỉ ra những nét có tính truyền thống của văn hóa Việt Nam, hệ thống lại những nét văn hóa có tính truyền thống của người Việt

Riêng về lĩnh vực nghiên cứu truyện thơ Nôm của người Việt, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều công trình như:

- Truyện Nôm bình dân của người Việt, lịch sử hình thành và bản chất thể loại, luận án phó

tiến sĩ khoa học Ngữ văn của tác giả Kiều Thu Hoạch

- Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của tác giả Đặng Thanh Lê

- Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm, luận án phó tiến sĩ của tác giả Đinh Thị Khang

- Ngôn ngữ nhân vật trong truyện thơ Nôm bác học, luận án tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Lê Thị

Hồng Minh

- Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân, luận án phó tiến sĩ khoa học

Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Chiến

Hoặc các bài viết đăng trên tạp chí Văn học, Văn hóa dân gian như: Nhân vật phụ nữ qua một

số truyện Nôm của Đặng Thanh Lê, Thi pháp truyện Nôm của Kiều Thu Hoạch, Thể tài tử giai nhân" trong truyện thơ Nôm Việt Nam của Trần Quang Huy, ảnh hưởng Phật giáo trong truyện Nôm Quan âm Thị Kính của Đinh Thị Khang, Truyện Kiều và văn hóa nghĩa tình Việt Nam của Lê

Đình Kỵ

Trong các tác phẩm này, các tác giả chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh thể loại, ngôn ngữ và nhân vật của loại hình truyện thơ Nôm người Việt, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề truyền thống văn hóa nói chung, hoặc văn hóa ứng xử của người Việt nói riêng

Trên đây, chúng tôi đã lược ghi lại một số công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa ứng xử của người Việt và thể loại truyện Nôm Vì những nguyên nhân khách quan và năng lực chủ quan, chúng tôi rất lấy làm tiếc là chưa thể tiếp cận và thống kê đầy đủ các công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử của người Việt qua văn học đã được công bố Vì vậy, trong khuôn khổ tài liệu nghiên cứu có được, chúng tôi rất trân trọng các quan điểm, những ý kiến mà các nhà khoa học đã đề xuất Những ý kiến quý giá ấy sẽ giúp chúng tôi có những định hướng đúng đắn về mặt phương pháp luận

Trang 6

và phương pháp nghiên cứu, cũng như về mặt tư liệu tham khảo để có thể hoàn thành nhiệm vụ đã

đặt ra của luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt qua một số truyện thơ Nôm tiêu biểu thế kỉ XVIII - XIX nhằm tìm ra được ảnh hưởng của thế ứng xử với tư cách là quan niệm sống, lối sống, nếp sống, lối hành động của một cộng đồng người trong đời sống thực tế đến văn học

4 Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

Luận văn dùng ca dao, tục ngữ làm điểm tựa để so sánh với một số truyện thơ Nôm tiêu biểu

thế kỉ XVIII - XIX như truyện Lý Công, Thoại Khanh Châu Tuấn, truyện Phan Trần, Phạm Công

Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương, Phương Hoa, Truyện Hoa Tiên, Song Tinh, Sơ kính tân trang, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên… Từ đó, luận văn

cố gắng chỉ ra và hệ thống những nét ứng xử tiêu biểu của người Việt đã thể hiện trong các tác phẩm truyện thơ cũng như đã trở thành chuẩn mực ứng xử trong đời sống

Từ mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cố gắng tìm hiểu thể loại truyện thơ Nôm của người Việt từ một góc nhìn mới: góc nhìn từ truyền thống văn hóa Việt Tuy nhiên, trước giới hạn mênh mông của truyền thống văn hóa Việt, chúng tôi chỉ xin đi vào văn hóa ứng xử, là những nếp cư xử trong cuộc sống hàng ngày của ông cha ta đã đi vào truyện thơ Nôm

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi có ý thức tiếp thu cách làm văn hóa so sánh để

có thể chỉ ra được đâu là nét văn hóa thuần Việt và đâu là những những ảnh hưởng của văn hóa ngoại sinh đến văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử người Việt Chúng tôi hi vọng rằng luận văn sẽ cung cấp phần nào một cách nhìn mới về truyện thơ Nôm người Việt từ góc độ văn hóa ứng xử, cũng như những lí giải khá thú vị về văn hóa ứng xử người Việt qua thể loại này

Do dung lượng có hạn của luận văn và hạn chế về mặt sưu tập tài liệu nghiên cứu nên có thể chúng tôi chưa khái quát một cách trọn vẹn và hệ thống được đầy đủ văn hóa ứng xử của người Việt Xin phép sẽ được trở lại trong một công trình nghiên cứu khác vào một thời điểm thích hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Do nghiên cứu về văn hóa ứng xử, nghĩa là tìm hiểu về những giá trị tướng đối ổn định của cộng đồng người Việt qua không gian và thời gian, nên chắc chắn luận văn phải sử dụng phương pháp lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa và văn học, chủ yếu là các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu tạo thành ba chương:

Trang 7

được sự dung hòa của tín ngưỡng bản địa với tam giáo, chứng tỏ người Việt đã biến đổi một cách khéo léo những học thuyết triết học - tôn giáo của nước ngoài thành những quan niệm gần gũi với

đời sống xã hội Việt Nam, và dùng nó như những quan niệm sống thiết thực, gần gũi, dễ hiểu và dễ ứng dụng

- Chương 3: Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm

ở chương này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu và giới thiệu khái quát các nét văn hóa ứng xử của người Việt tìm thấy được qua các truyện thơ Nôm theo các mối quan hệ chính của con người: quan

hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với gia đình

Trang 8

CHệễNG 1

TRUYEÄN THễ NOÂM

1.1 Sự ra đời và phát triển

Truyện Nôm là một thể loại khá độc đáo của văn học dân tộc Rất tiếc là cho đến nay chúng

ta chưa khẳng định được nó ra đời từ lúc nào và hình thái đầu tiên của nó như thế nào Trong kho tàng truyện Nôm còn lại hiện nay, có loại viết bằng thể thơ lục bát, có loại viết bằng thể thơ Đường luật Theo Giáo sư Nguyễn Lộc [61], truyện Nôm Đường luật ra đời trước thế kỉ XVIII, từ thế kỉ XVIII trở đi không thấy có nữa Còn truyện Nôm lục bát thì chưa rõ ra đời lúc nào, chỉ biết nó phát triển mạnh nhất trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Rất có thể truyện Nôm Đường luật ra đời trước truyện Nôm lục bát, nhưng dù điều đó có đúng đi chăng nữa thì vẫn không có nghĩa truyện Nôm Đường luật là hình thái đầu tiên của thể loại truyện Nôm Chúng ta đều biết rằng trong nền văn học dân gian của ta, cả hai thể loại trữ tình và tự sự đều phát triển rất sớm, và trên nền tảng ấy, một hình thức tự sự có vần như thể loại vè cũng có thể ra đời từ lâu trong nền văn học dân tộc Phải chăng tiền thân của thể loại truyện Nôm là ở trong văn học dân gian?

Truyện Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền văn học Việt Nam

Đây là loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng lớn, vì vậy cũng có ý kiến gọi truyện thơ Nôm là trung thiên tiểu thuyết (tiểu thuyết vừa) Bộ phận văn học này

có một số lượng khá lớn và có vị trí rất quan trọng trong trong đời sống tinh thần của người bình dân xưa

Giá trị của truyện thơ Nôm đã được khẳng định qua thời gian tồn tại của nó và lòng yêu thích của quần chúng lao động ở nhiều thế hệ Tuy nhiên, hiện tại, khi nghiên cứu bộ phận văn học này, chúng ta sẽ gặp một số vấn đề khó giải quyết như: nguồn gốc, sự phát triển, thời điểm sáng tác của các tác phẩm truyện thơ Nôm Tất nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm và bước đầu cũng đã có được những ý kiến về các vấn đề trên, tuy tất cả mới dừng lại ở mức độ những giả thiết

Theo Giáo sư Đặng Thanh Lê [59, tr.50] “Sự ra đời của truyện Nôm bắt nguồn từ một yêu

cầu phản ánh xã hội với những nội dung thời đại cũng như với những điều kiện thực tiễn của bản thân thời đại ấy” Vào thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam đã bộc lộ nhiều mặt mâu thuẫn với

xu thế của thời đại và sự tiến triển của lịch sử dân tộc Chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu của triều Lê ngày càng tỏ ra bất lực trước hai mâu thuẫn cơ bản, sâu sắc: mâu thuẫn giữa các phe phái phong kiến cầm quyền trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân bị trị, chủ yếu là nông dân, với triều đình Hệ quả tất yếu là vào đầu thế kỉ XVI, do sự bùng nổ của những mâu thuẫn đó, triều Lê đã sụp đổ Nhà Mạc lên thay, lúc đầu tuy có những cố gắng nhất định, song rốt cuộc, những mâu thuẫn cố hữu của chế độ quân chủ chuyên chế theo mô hình Nho giáo lỗi thời lại tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chia cắt đất nước và nội chiến phong kiến (Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn) kéo dài hàng trăm năm, phá vỡ sự thống nhất đất nước, làm cho cuộc sống nhân dân ngày

Trang 9

càng khổ cực, lầm than Những cuộc nổi dậy của nông dân đã xuất hiện đây đó từ thế kỉ XVI, đến khoảng thế kỉ XVIII trở đi, những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến ngày càng trở nên gay gắt và bùng nổ thành những cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra triền miên ở khắp nơi Đến thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến đã bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và toàn diện Những biến động xã hội như thế chẳng những đã làm rung chuyển đến tận gốc nền tảng tư tưởng, nền tảng

đạo đức của chế độ phong kiến mà còn là cơ sở cho sự nảy sinh và phát triển tư tưởng nhân văn của thời đại, đồng thời cũng là cội nguồn tư tưởng nhân văn trong các truyện thơ Nôm

Nếu như ở thế kỉ XV, cùng với sự phát triển của chế độ quân chủ chuyên chế, giai cấp phong kiến thống trị có xu hướng hạn chế nghệ thuật dân gian, gò ép nền văn hóa của nhân dân vào những khuôn vàng thước ngọc của nền văn hóa chính thống thì sang thế kỉ XVI - XVII, do sự suy yếu và rạn vỡ của chế độ tập quyền chuyên chế, và nhất là do sức quật khởi mãnh liệt của nhân dân, nền văn hóa - văn học dân gian lại có cơ sở phát triển mạnh mẽ Nghệ thuật thủ công mĩ nghệ dân gian rất phát triển, nhất là các loại tranh khắc gỗ, tranh dân gian của làng Đông Hồ, Hàng Trống… Đặc biệt,

các tranh như Đánh ghen, Hứng dừa đều có ghi thêm những câu lục bát rất thú vị, rất gần gũi với

những câu thơ nôm na, mộc mạc trong các truyện Nôm:

Khen ai khéo dựng nên dừa

Đấy trèo, đây hứng cho vừa một đôi

Tính chất suy tàn của chế độ phong kiến không chỉ bộc lộ ở mâu thuẫn giai cấp mà nó còn

đẩy mạnh sự phân hóa trong nội bộ giai cấp thống trị, đặc biệt là sự phân hóa trong tư tưởng tình cảm Thực tế này làm nảy sinh một hiện tượng: hầu như những cây bút tên tuổi trên văn đàn lúc này lại là những người không giữ những địa vị trọng trách ở triều đình Phần lớn họ là những người giữ những chức vụ quan trường bậc thấp như Đặng Trần Côn, Cao Bá Quát… Nhiều người ở ẩn và còn một số đông những nho sĩ bình dân - những người không chịu sự đào tạo chính quy, hoàn chỉnh của nền giáo dục phong kiến, không theo đuổi con đường khoa cử, danh vọng Những nho sĩ này có cảnh sống thanh bần, gần gũi với đời sống của quần chúng nhân dân và họ đã tiếp thu tư tưởng tình cảm, truyền thống nhân đạo của nhân dân Những con người trí thức có nhãn quan sáng suốt và tinh thần tiến bộ đã đem tình cảm và tài năng của mình gắn bó với tiếng nói của nhân dân và yêu cầu của thời

đại với một sự đồng tình, đồng cảm sâu sắc Và như vậy, truyện Nôm ra đời như một thể loại văn học có đặc điểm và quy mô đáp ứng được yêu cầu của xã hội Hay nói như Giáo sư Đặng Thanh Lê

[59, tr.57] “truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kì phong kiến suy tàn, mang ý nghĩa phản ánh

một thời kì bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến”

Hình thức đầu tiên của các truyện thơ Nôm có lẽ là những bài hát tự sự của các nghệ nhân hát rong (Hiện tượng hát rong xuất hiện ở nước ta từ thế kỉ nào thì chưa có tư liệu lịch sử nào xác định, chỉ biết rằng khi có các đô thị thì đã xuất hiện nhiều người sống bằng nghề này, nhất là sau thế kỉ XV) Những bài hát tự sự này phần lớn được các nghệ nhân sáng tác hoặc dựa trên cơ sở của truyện

Trang 10

cổ dân gian, hoặc rút ra từ một truyện thơ Nôm đã có trước đó Càng về sau, những bài hát này càng

được thêm thắt về mặt nội dung cũng như nghệ thuật và đến một lúc nào đó, bài hát được ghi lại thành sách, chính thức trở thành một truyện Nôm Có thể kể đến một số truyện thơ Nôm hình thành theo kiểu này là: Trương Chi, Tấm Cám… Nguồn gốc ra đời thứ hai của các truyện thơ Nôm là các nhà chùa cửa Phật Để tuyên truyền đạo Phật cho các tín đồ phần đông không biết chữ, một số nhà sư có học đã nghĩ ra cách diễn Nôm một số sự tích trong kinh Phật Hình thức này ngày càng phát

triển, là nguồn gốc ra đời của nhiều truyện thơ Nôm như: Quan âm tống tử bản hạnh (dạng cổ của Quan âm Thị Kính sau này), Nam Hải Quan âm bản hạnh (dạng cổ của truyện Bà Chúa Ba)…

Truyện Nôm ra đời và và tồn tại đầu tiên dưới hình thức truyện thơ Nôm truyền khẩu Sau một thời gian dài, khi phong trào truyện thơ Nôm truyền khẩu phát triển mạnh mẽ thì các nho sĩ bình dân và bác học đã mạnh dạn sử dụng loại hình văn học này để sáng tác hoặc ghi chép lại những truyện thơ Nôm đã có từ trước Từ đó xuất hiện truyện Nôm viết Cũng như mọi hình thái sáng tác khác, truyện Nôm không xuất hiện kế tiếp nhau một cách dứt khoát mà mỗi tác phẩm đều tồn tại song song với những truyện Nôm trước hoặc sau nó

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xác định được truyện Nôm viết xuất hiện vào thời gian nào

và sự phát triển của nó trong lịch sử văn học do hầu hết các truyện Nôm còn lại đều không có tên tác giả và thời điểm sáng tác Theo sử sách cũ còn ghi chép thì việc sử dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học đã khởi phát từ thời Trần, và khoảng cuối thế kỉ XIII - XIV đã xuất hiện một số tác gia làm thơ Nôm như Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Hồ Quý Ly… Mặc dù các tác gia sáng tác văn thơ Nôm thời Trần chưa nhiều nhưng việc người Việt dùng chữ Việt để sáng tác văn học cũng là một sự kiện có ý nghĩa chính trị sâu sắc, đồng thời đặt nền tảng cho sự phát triển văn học Nôm các thế kỉ sau

Thế kỉ XV là thời kì phát triển rực rỡ của văn học dân tộc trong đó có văn học Nôm Chữ Nôm được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực chính trị - xã hội với các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông nhưng còn đơn điệu về thể loại Giai đoạn thế kỉ XVI - XVII, văn học chữ Nôm mới phát huy thế mạnh của mình trong nhiều thể loại khác nhau Ngoài thơ còn có phú, diễn ca lịch sử, vãn, văn xuôi Nôm với các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan Sự nở rộ của các thể vãn, ca khúc, diễn ca là rất đáng chú ý, làm tiền đề cho sự phát triển thể loại truyện thơ Nôm sau này vì ở các thể loại này, các tác giả đều đã sử dụng thuần thục lối thơ lục bát và lục bát biến thể, một lối thơ rất quen thuộc của thể loại truyện thơ Nôm

Phạm Đình Toái, một đồng tác giả của Đại Nam quốc sử diễn ca, có lẽ là người đầu tiên đã bàn một cách cặn kẽ về thể thơ lục bát Thời Trần đã có tác phẩm văn học Nôm nào sử dụng thể thơ lục bát chưa? Chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể để khẳng định hay bác bỏ Nhưng tác phẩm văn học Nôm lục bát ở thời Lê, thế kỉ XVI – XVII vẫn còn một số lượng đáng kể Qua những câu lục

bát trong Bát giáp thưởng đào văn (Lê Đức Mao) hay những câu hát cửa đình được ghi chép trong

Trang 11

Nam phong giải trào (Trần Danh án), chúng ta có thể khẳng định thể Nôm lục bát đã không còn xa

lạ cuối thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVII Từ nửa cuối thế kỉ XVI, Phùng Khắc Khoan có Lâm tuyền vãn dài trên 200 câu lục bát Tiếp theo đó, Đào Duy Từ có Tư Dung vãn, Ngọa Long cương vãn, mỗi bài cũng gần vài trăn câu lục bát Rồi Nguyễn Hữu Hào có Song Tinh bất dạ, Nguyễn Tông Khuê có Sứ

trình tân truyện đều là những tác phẩm lục bát dài Riêng Thiên Nam ngữ lục dài đến trên tám ngàn

câu lục bát Trong số những tác phẩm lục bát này, tác phẩm của Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ chủ yếu miêu tả cảnh thiên nhiên, và thác ngụ tâm sự, yếu tố tự sự chưa rõ nét Tác phẩm của Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Tông Khuê yếu tố tự sự rõ nét hơn nhưng vẫn chưa có tính cách truyện

thơ Đáng chú ý hơn cả là tập Thiên Nam ngữ lục, là một tác phẩm diễn ca lịch sử, trong đó sự tích

của nhiều nhân vật truyền thuyết và nhân vật lịch sử được ghi lại một cách cụ thể, chi tiết, có tính

cách như những truyện thơ rõ rệt Vì vậy, mặc dù theo GS Kiều Thu Hoạch [50, tr.33]: “Chưa có tư

liệu chắc chắn để xác định sự xuất hiện của truyện thơ Nôm sớm hơn thế kỉ XVII Thế kỉ này xuất hiện không nhiều truyện thơ Nôm, đặc biệt truyện có tính chất tôn giáo - lịch sử nhiều hơn truyện Nôm xã hội Ví dụ truyện Quan  m tống tử bản hạnh (dạng cổ của Quan âm Thị Kính), Nam Hải Quan âm bản hạnh (dạng cổ của truyện Bà Chúa Ba)”… thì tất cả những điều trên khiến chúng ta

có thể tin rằng cho dù đến nay chưa xác định được một truyện Nôm lục bát nào ra đời trước thế kỉ XVIII, nhưng chắc chắn, trước thế kỉ XVIII, truyện Nôm lục bát đã xuất hiện và đã có những thành tựu nhất định mà truyện Nôm lục bát giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX với đỉnh

cao chói lọi là Truyện Kiều (Nguyễn Du) chỉ là sự phát triển tiếp tục, là sự nâng cao đến mức hoàn

1.2 Vấn đề phân loại

Truyện thơ Nôm có một số lượng khá lớn tác phẩm nhưng chất lượng nội dung, nghệ thuật lại không đồng đều Từ lâu, giới nghiên cứu văn học đã quan tâm đến sự phân loại truyện Nôm vì sự

tồn tại trên thực tế hai loại truyện: loại như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Cúc Hoa, Lý Công,

Phương Hoa … một loại khác như Hoa Tiên, Sơ kính tân trang, Truyện Kiều, Phan Trần, Nhị độ

mai, Lục Vân Tiên… Trong đó có những tác phẩm không có tác giả, đòi hỏi một sự phân tích và nghiên cứu như hai hiện tượng khác biệt của cùng một thể loại

Trang 12

Theo Nguyễn Thị Chiến [19, tr.11] trước những năm 1960 đã xuất hiện quan điểm chia truyện Nôm thành hai loại: truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh Cách phân chia này

được thể hiện trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm nghiên cứu văn học Lê Quý Đôn Và sau đó, quan niệm này lại được giáo sư Bùi Văn Nguyên viết trong Truyện Nôm

khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam Theo tác giả, văn học khuyết danh

chính là có tên tác giả nhưng vì lý do nào đó mà thiếu tên đi Cách phân chia này thuần túy về mặt hình thức, chưa chú ý đến đặc điểm về nội dung và thể loại truyện Nôm Từ những năm sáu mươi, các nhà nghiên cứu văn học cổ - trung đại đã tìm đến cách phân loại mới Đó là cách chia truyện Nôm thành hai loại: truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân Giáo sư Nguyễn Lộc [61] cho rằng: truyện Nôm bình dân là sáng tác của nhà Nho không thành đạt, sống gần gũi với nhân dân và quần chúng lao động Hình thức nghệ thuật đơn giản, nội dung thể hiện đạo đức trung - hiếu - tiết - nghĩa và cuộc đấu tranh bảo vệ tình yêu, hạnh phúc gia đình Hầu hết những tác phẩm loại này là khuyết danh Còn những truyện Nôm có nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật cao, nội dung chính là giải phóng tình cảm, tình yêu tự do vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiến được gọi là truyện Nôm bác học Tác giả của loại truyện Nôm này là những nhà Nho có học vấn cao Cách phân loại này dựa trên những tiêu chí tương đối khoa học, vì thế, quan điểm này xuất hiện hầu như thay thế cho quan

điểm truyện Nôm hữu danh - khuyết danh Giáo sư Trần Đình Hượu [19, tr.12] nhận xét: “Phải nói

rằng cho đến Nguyễn Đình Chiểu, một số lượng đáng kể truyện Nôm mà ngày nay nhiều nhà nghiên cứu chia ra hai loại bác học và bình dân đã làm cho thể loại đó gần như ổn định, có nề nếp và ít nhiều đã hình thành một thứ khuôn khổ khuynh hướng”

So với quan điểm hữu danh - khuyết danh, quan điểm bình dân - bác học là một bước tiến trong việc phân loại và đi sâu vào thi pháp truyện Nôm Cái mới của quan điểm này là đã nhìn nhận truyện Nôm qua thực tiễn văn học mà một số tiêu chí thi pháp học Sự khác nhau của hai loại truyện không phải là ở chỗ có hay không có tên tác giả mà là sự khác nhau của một đặc điểm thi pháp học như trình độ tác giả, thao tác nghệ thuật, chủ đề tác phẩm và đặc biệt là loại hình nhân vật Sự phân chia hợp lý hai loại truyện Nôm bình dân - bác học là tiền đề để đi sâu vào hai loại truyện Nôm, phát hiện ra những đặc trưng riêng của từng loại Truyện Nôm bác học chủ yếu viết để đọc, truyện Nôm bình dân viết để kể

Để tiện cho việc nghiên cứu, hiện nay người ta tiến hành phân loại các truyện thơ Nôm theo

ba cách sau

* Phân loại dựa vào nguồn gốc đề tài: có 2 loại

- Có những truyện thơ Nôm lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian như: Trương Chi, Tấm Cám,

Thạch Sanh

- Có những truyện thơ Nôm có nguồn gốc đề tài từ văn học Trung Quốc như: Truyện Hoa

Tiên, Nhị Độ Mai, truyện Phan Trần

Trang 13

- Lại có những truyện lấy đề tài từ những sáng tác chữ Hán, hoặc những sự tích ở Việt Nam

như: Bích Câu kì ngộ, truyện Tống Trân Cúc Hoa…

* Phân loại dựa vào tác giả: có 2 loại

- Truyện Nôm hữu danh: là những truyện còn tên tác giả như truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự), truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào), Truyện Kiều (Nguyễn Du)… Tuy nhiên loại này còn lại

không nhiều và hầu hết truyện Nôm hữu danh đều là truyện Nôm bác học

- Truyện Nôm khuyết danh: là những truyện không còn tên tác giả như Tống Trân Cúc Hoa,

Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương, Thoại Khanh Châu Tuấn… Hầu hết các truyện Nôm khuyết danh đều là truyện Nôm bình dân

* Phân loại dựa vào nội dung và hình thức: có 2 loại

- Truyện Nôm bình dân: Do các nho sĩ bình dân sáng tác nên có nội dung mang đậm tính

dân dã của người lao động và nghệ thuật mộc mạc, giản dị Ví dụ: Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Công

Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương, Thoại Khanh Châu Tuấn

- Truyện Nôm bác học: Do các nhà nho thuộc tầng lớp trên sáng tác nên có nội dung phức tạp, tình tiết, tâm lí nhân vật và nghệ thuật điêu luyện hơn so với truyện Nôm bình dân Ví dụ:

Truyện Song Tinh, Phan Trần, Nhị độ mai, Truyện Kiều

Cách phân loại này cũng cùng quan điểm khi phân chia truyện Nôm theo tiêu chí nội dung và hình thức thành hai loại truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân Tuy vậy, ba cách phân loại trên chỉ có tính chất tương đối và hiện nay, chúng ta vẫn thường sử dụng cách phân loại theo hình thức nghệ thuật và nội dung tác phẩm, vốn là cách phân loại có giá trị khoa học hơn cả

Hiện nay còn một số lượng khá lớn truyện Nôm không xác định được thời điểm sáng tác và tên tác giả Người ta gọi bộ phận văn học này là truyện Nôm khuyết danh Có lẽ hiện tượng này xảy

Thứ ba, trước khi có chữ viết ra đời, truyện thơ Nôm chủ yếu được truyền miệng Quá trình lưu truyền tác phẩm trong một thời gian dài, từ người này sang người khác, từ vùng này sang vùng khác dần dần đã “bỏ rơi” tên tác giả và trở thành khuyết danh Và có thể thấy rằng hầu hết truyện

Trang 14

thơ Nôm khuyết danh đều là truyện thơ Nôm bình dân Từ đây, lại xuất hiện câu hỏi tiêu chí phân biệt truyện thơ Nôm bác học và truyện thơ Nôm bình dân là gì?

Nếu xem truyện thơ Nôm bác học là loại truyện thơ có tính chất uyên bác, được gọt giũa, trau chuốt hơn và có tên tác giả thì truyện thơ Nôm bình dân có cốt truyện phần lớn lấy từ truyện cổ tích, truyện dân gian Việt Nam, không có tên tác giả, ngôn ngữ mộc mạc ?! Vậy thì chúng ta có thể nói gì

về trường hợp truyện Phan Trần, truyện Nhị Độ Mai hay Sơ kính tân trang mà văn phong vừa có

tính chất bác học, vừa đậm đà yếu tố dân gian?! Từ đó có thể thấy rằng sự phân biệt yếu tố bác học hay bình dân trong truyện thơ Nôm chỉ có tính chất tương đối

Theo Giáo sư Lê Trí Viễn [50, tr.6], truyện Nôm khuyết danh có thể có hai loại: một loại gần

với văn học dân gian như Tống Trân Cúc Hoa, một loại gần với văn học bác học như Nhị Độ Mai và giáo sư cho rằng “gần với văn học dân gian hay cũng là văn học dân gian, điều đó hãy còn là vấn đề

phải nghiên cứu nhưng Tống Trân Cúc Hoa vẫn có nhiều đặc điểm của văn học dân gian, về nội dung cũng như về hình thức”

Còn Giáo sư Đinh Gia Khánh [50, tr.6-7] cho rằng “truyện Nôm chỉ là một hiện tượng chứng

tỏ ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết bằng chữ Nôm của trí thức phong kiến Đó là ảnh hưởng của truyện cổ tích Nhưng ở đây lại còn phải thấy ảnh hưởng rất lớn của thơ ca dân gian Thể thơ trong truyện Nôm bắt nguồn từ thể thơ dân gian Ngôn ngữ văn học trong truyện Nôm cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ thơ dân gian Cho nên sự nở rộ của truyện Nôm trong khoảng từ thế kỉ XVI trở đi, đặc biệt là từ thế kỉ XIII cũng lại phản ánh tình hình thơ ca dân gian trong các thế kỉ ấy”

Như vậy, có thể thấy rằng truyện Nôm bác học phần lớn có tên tác giả, hầu hết những truyện loại này đều được viết dựa vào cốt truyện của văn học Trung Quốc Nội dung của nó có nhiều mặt phong phú và nghệ thuật được trau chuốt nhiều, trình độ khá điêu luyện… Còn truyện Nôm bình dân hầu hết là những truyện khuyết danh, thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ dân gian của

ta Nói cách khác, đó là những truyện dân gian được các nho sĩ bình dân nhận thức lại trên bối cảnh thực tế của tình hình lịch sử xã hội nước ta Tất nhiên, sự phân loại truyện Nôm bác học hay bình dân cũng chỉ dựa trên những cơ sở có ý nghĩa tương đối mà thôi

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai thuật ngữ truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân cũng trên các cơ sở phân loại đã trình bày và chúng tôi còn dựa vào một tiêu chí khá quan trọng nữa là truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương thức của văn học thành văn, là những tác phẩm chủ yếu để xem, để đọc, khác với truyện Nôm bình dân được sáng tác để kể là chính

1.3 Nội dung

Lễ giáo phong kiến không phải chỉ chi phối tầng lớp trên của xã hội mà chi phối toàn bộ xã hội Nhu cầu tự do yêu đương không phải là nhu cầu riêng của những trí thức tiến bộ của tầng lớp trên, như Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Huy Tự … đã đề cập đến trong các tác phẩm văn học chữ

Trang 15

Nôm của họ, mà đó cũng là nhu cầu chung của các tầng lớp tiến bộ trong xã hội Vì vậy, một trong những nội dung chính của truyện thơ Nôm giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX là tình yêu nam nữ, những mối tình tự do vượt ra ngoài khuôn khổ khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến

Trong các truyện Nôm bình dân, các tác giả đã xây dựng những mối tình chung thủy, sắt son

của những con người ở những hoàn cảnh trái ngược nhau Nàng công chúa trong truyện Lý Công

chọn người yêu là một người ăn xin ngoài cổng thành Phương Hoa, con gái quan Thượng thư bộ Hộ yêu chàng Cảnh Yên - tuy là con quan nhưng thực tế cũng phải ăn xin nuôi mẹ Nàng Cúc Hoa, con gái phú hộ, yêu Phạm Công, một chàng trai nghèo khổ, phải ăn xin để đi học Ngọc Hoa, con gái một “tướng công quan đại phú gia” đem lòng yêu thương Phạm Tải, một hàn sĩ nhỡ thời phải ăn xin

để đi học… Nói chung, hầu hết các mối tình đều nảy sinh từ một bên là các cô công chúa, hoặc tiểu thư con nhà quyền quý giàu sang, với một bên là các chàng trai tuy có tài, nhưng đều đang trong hoàn cảnh khó khăn, phải ăn xin để đi học Điều này rõ ràng chứa đựng một dụng ý của tác giả Các tác giả của truyện thơ Nôm bình dân xây dựng những mối tình như vậy là một cách để phủ định quan niệm hôn nhân phong kiến “môn đăng hộ đối”, bắt buộc trai gái lấy nhau trước hết phải tương xứng về đẳng cấp và gia sản Các nho sĩ bình dân đã xây dựng những mối tình rất đẹp và đặc biệt rất thủy chung son sắt, như một tiếng nói riêng của tình yêu tự do, không theo khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Ngọc Hoa (truyện Phạm Tải Ngọc Hoa) xúc động trước cuộc đời khổ cực của Phạm Tải

và nảy sinh ngay tình yêu với chàng:

Ngọc Hoa nghe chửa dứt lời

Tự nhiên chuyển động bời bời lòng hoa

Nàng bèn cho chàng gạo, tiền và khuyên chàng gắng học hành, lại còn hứa hẹn:

Nữa mai gặp hội phong vân

Đôi ta sẽ được Tấn Tần cùng nhau

Đặc biệt là cha của Ngọc Hoa, dù là một đại phú gia, nhưng ông không những không phản

đối, mà còn đồng tình với sự chọn lựa của con gái:

Mẹ cha chẳng ép con đâu Phải duyên đẹp ý mặc dây xích thằng

Cúc Hoa (Phạm Công Cúc Hoa) thấy chàng trai nghèo Phạm Công dắt mẹ đi ăn xin thì thương ngay, về nhà còn ốm tương tư, cuối cùng phải thú thật với bố mẹ Khi cha Cúc Hoa muốn thử thách Phạm Công bằng cách thách cưới “xuyến vàng ba cặp”, thì Cúc Hoa không chần chừ lấy ngay vòng vàng của cha mẹ đưa cho chàng Và cũng như trường hợp Ngọc Hoa, Cúc Hoa cũng được sự

đồng tình của cha mẹ

Có những trường hợp tình yêu không thuận lợi, gặp nhiều trắc trở, khó khăn nhưng tình yêu

vẫn cứ sôi nổi, táo bạo Công chúa trong truyện Lý Công không hề sợ hãi người cha tàn bạo, nghiệt

ngã của mình khi không ngần ngại đưa Lý Công về ở trong cung, tối mới cho ra ngoài Nàng yêu Lý

Trang 16

Công say đắm, ngay cả khi vua cha giận dữ phá cung của nàng và thả trôi sông Lý Công, nàng không ngại ngần trốn đi để tìm cách gặp lại người yêu… Có thể nói, các đôi nam nữ say đắm trong tình yêu mà không mảy may băn khoăn về luân lý, về đạo đức, dư luận và thành kiến của xã hội phong kiến khi đến với tình yêu Cơ sở để họ yêu nhau là sự xúc động sâu sắc trước cảnh ngộ không may, và quan trọng hơn là phẩm chất, tài đức của con người Một điểm đáng chú ý là trong xã hội phong kiến, các bậc cha mẹ thường là một lực lượng ngăn trở tình yêu tự do, thì ở trong truyện Nôm bình dân, đã xuất hiện những người cha, người mẹ đứng về phía con cái, suy nghĩ cùng với con hay

để cho con tự suy nghĩ và quyết định lấy việc quan trọng nhất của đời mình

Theo giáo sư Nguyễn Lộc [61] thực tế trong truyện Nôm bình dân của người Việt trong giai

đoạn thế kỉ XVIII - XIX, ngoài vấn đề tình yêu tự do, thì vấn đề bảo vệ tình vợ chồng, hay rộng hơn

là bảo vệ gia đình trong thời kì tan rã của chế độ phong kiến, là một vấn đề quan trọng nhất Cuộc

đấu tranh trong truyện Nôm bình dân là cuộc đấu tranh của thiện thắng ác, của ngay thắng gian, của chính nghĩa thắng phi nghĩa, và hơn cả là cuộc đấu tranh để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng, bảo vệ gia

đình chống lại những nguy cơ làm nó tan vỡ Trong truyện Phạm TảI Ngọc Hoa, khi Ngọc Hoa

quyết định lấy Phạm Tải, Biện Điền rất tức giận Hắn thuê kẻ cướp giết cha Ngọc Hoa và Phạm Tải

để bắt ép Ngọc Hoa lấy hắn Việc không thành, Biện Điền bèn tạc tượng Ngọc Hoa dâng cho Trang vương Trang vương cho quân lính đến bắt Ngọc Hoa về làm vợ Ngọc Hoa dứt khoát cự tuyệt Nàng nói thẳng vào mặt Trang vương:

Dù vua xử ức má hồng Thời tôi tự vẫn khỏi lòng bội phu

Rồi nàng tự rạch mặt mình cho xấu đi Trang vương dùng thuốc độc giết chết Phạm Tải để ép Ngọc Hoa lấy hắn nhưng nàng vẫn cương quyết cự tuyệt Sau ba năm để tang chồng, Ngọc Hoa tự tử

để giữ vẹn lòng chung thủy Xuống âm phủ, Ngọc Hoa cùng chồng kiện Trang vương khiến hắn bị

ném vào vạc dầu Công chúa trong truyện Lý Công cũng đấu tranh quyết liệt không kém để bảo vệ

tình yêu của mình Khi Lý Công bị thả trôi sông, nàng bỏ nhà trốn đi tìm chồng Gặp nhau ở đất Hung Nô, nàng bán hàng nuôi chồng ăn học Khi bị vua Hung Nô ép làm vợ, nàng đã cự tuyệt đến nỗi bị chặt tay chân, xẻo tai mũi và vứt ra ngoài chợ… Khi bị Tương Tử ép lấy, Thoại Khanh (truyện Thoại Khanh Châu Tuấn) đã kiên quyết từ chối nên phải bỏ xứ đi lang thang ăn xin nuôi mẹ Khi Dâm thần ép nàng làm chuyện mây mưa không được đã móc mắt nàng Thoại Khanh chịu đựng tất cả để giữ trọn vẹn lòng chung thủy với chồng Nàng Phương Hoa (truyện Phương Hoa) đã nêu tấm gương sáng về lòng chung thủy Trước cảnh bố chồng bị giết, gia sản bị cướp sạch, người chồng chưa cưới của nàng là Cảnh Yên phải dắt mẹ già và cháu đi ăn xin lánh nạn, Phương Hoa không những không đoạn tuyệt với Cảnh Yên mà còn tìm mọi cách giúp đỡ chàng và gia đình chàng Sau

đó, nàng còn đội tên Cảnh Yên đi thi đỗ Trạng nguyên và giải oan cho chồng và gia đình chồng

Trang 17

Bên cạnh những tấm gương chung thủy của những người vợ, truyện Nôm bình dân cũng xây dựng hình ảnh những người chồng hết mực thủy chung Phạm Công ba lần thi đỗ Trạng nguyên, ba lần bị vua ép gả công chúa và ca ba lần chàng đều từ chối, quyết giữ lòng chung thủy với Cúc Hoa

Đến khi Cúc Hoa chết, chàng còn xuống tận âm phủ tìm vợ Phạm Tải dứt khoát từ chối mọi tước quyền, kể cả đề nghị “ba trăm mĩ nữ cung tần chia đôi” của Trang vương để giữ trọn vẹn lòng chung thủy với Ngọc Hoa Châu Tuấn, Tống Trân cũng có những nét tương tự

Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ rất được đề cao trong truyện Nôm bình dân Dù nàng công

chúa trong truyện Lý Công, nàng công chúa trong truyện Hoàng Trừu hay nàng Phương Hoa, Cúc

Hoa, Ngọc Hoa… đều là người chủ động trong tình yêu và quyết tâm bảo vệ tình yêu của mình đến cùng Đối với nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm bình dân, dù gặp phải hoàn cảnh éo le, gian khổ

đến đâu, họ vẫn giữ vững ý chí và tinh thần đấu tranh không khoan nhượng Họ hầu như không có tư tưởng định mệnh, buông xuôi Khi yếu sức, hoặc khi bế tắc, họ đã có thần linh giúp đỡ Đấu tranh trên dương thế chưa xong thì khi chết xuống âm phủ, họ lại tiếp tục đấu tranh mãi không thôi, cho

đến khi nào thắng lợi Sự liên hệ giữa chủ đề đấu tranh để bảo vệ tình vợ chồng, bảo vệ gia đình với việc đề cao vai trò chủ động của người phụ nữ đều không phải do tính ngẫu nhiên Trong các tác phẩm này, người phụ nữ đều được giới thiệu là con quan, con vua hoặc con những gia đình giàu có, vốn là những môi trường không thể cho phép người phụ nữ vượt qua lễ giáo phong kiến “khuê môn bất xuất”, nhưng họ lại vượt ra khỏi phạm vi gia đình và lễ giáo, có khi hoạt động của họ diễn ra ở một phạm vi xã hội rộng lớn hơn như Phương Hoa giả trai đi thi đậu trạng nguyên để minh oan cho chồng và tố cáo tội ác của tên Tào trung úy… Theo giáo sư Nguyễn Lộc [46] tất cả nhằm phản ánh vai trò tích cực chủ động của người phụ nữ bình dân xưa trong gia đình, và kể cả trong xã hội nông thôn xưa Nhất là khi chiến tranh liên miên, đàn ông bị cuốn vào các cuộc chinh chiến, thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình, đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình lại càng nổi bật

Ngoài việc đề cao tình nghĩa vợ chồng và phản ánh cuộc đấu tranh để bảo vệ tình vợ chồng,

truyện Nôm bình dân còn đề cao lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ Trong truyện Thoại

Khanh Châu Tuấn, tác giả hết lời ca ngợi tấm lòng hiếu thảo của Thoại Khanh đối với mẹ chồng

Khi Châu Tuấn bị đày đi xa, Thoại Khanh ở nhà hết lòng yêu thương và chăm sóc mẹ chồng Nàng làm thuê vất vả để nuôi mẹ nhưng không một lời oán trách Khi phải lưu lạc ăn xin nơi đất khách, nàng hết lòng lo lắng cho mẹ chồng: đêm lạnh, nàng lấy mái tóc dài của mình ủ ấm cho mẹ, nàng ăn trái cây và cắt thịt của mình cho mẹ ăn, móc mắt mình cho Dâm thần để cứu tính mạng mẹ Cúc Hoa

trong truyện Tống Trân Cúc Hoa cũng là người con dâu hiếu thảo như thế Khi bị cha ruột là lão

trưởng giả hành hạ, ép lấy người khác khi chồng đang đi sứ, nàng toan tự tử nhưng nghĩ đến mẹ chồng không ai chăm sóc, nàng lại cắn răng chịu đựng… Các nhân vật nam cũng là những tấm gương sáng về lòng hiếu thảo Phạm Công nhà nghèo, cha mất sớm, chàng kiếm củi làm chay cho

Trang 18

cha rồi dắt mẹ đi ăn xin Ngọc Hoàng cho hai tiên nữ xuống kết duyên với chàng, Phạm Công từ chối để chăm sóc mẹ…

Khác với truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học trong giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX không chủ yếu phản ánh khía cạnh đạo đức mà đã vươn lên tiến dần đến cách nhận thức và phản ánh hiện thực cuộc sống Giai đoạn này là giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam bước vào cuộc khủng hoảng, suy vong trầm trọng ý thức hệ phong kiến chính thống là Nho giáo bị lung lay dữ dội Những luân lý tam cương, ngũ thường của Nho giáo bị phá sản nghiêm trọng khiến tầng lớp nhà Nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng Họ mất niềm tin vào chính quyền và phần lớn lui

về ở ẩn Trong khi đó, một khuynh hướng tư tưởng bảo vệ, khẳng định quyền sống và giá trị phẩm chất con người đã phát triển thành một khuynh hướng mạnh mẽ Điều đó khiến cho nội dung chính của truyện Nôm bác học giai đoạn này có chủ đề chính là số phận con người và tình yêu đôi lứa trong chế độ phong kiến suy tàn

Trong trào lưu đòi giải phóng tình cảm của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX, vấn đề tình yêu tự do vượt ra ngoài khuôn khổ khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến là một trong những vấn đề hết sức bức thiết Đây là một đề tài hết sức hấp dẫn của truyện Nôm bác học và rõ ràng là đề tài chịu ảnh hưởng khá sâu sắc từ các truyện Nôm bình dân Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Huy Tự, hay

những tác giả của truyện Phan Trần, truyện Tây sương… đều đề cập đến chủ đề này Các tác phẩm

đều xây dựng những mối tình của những giai nhân tài tử sống trong những gia đình sang trọng giàu

có Thúy Kiều với Kim Trọng, Phạm Kim và Quỳnh Thư, Dương Dao Tiên với Lương Phương Chân, Phan Tất Chánh và Trần Kiều Liên… đều môn đăng hộ đối theo đúng quan điểm Nho giáo phong kiến Thế nhưng câu chuyện tình yêu của họ lại được xây dựng hết sức tự do, phóng khoáng, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến Thái độ của các tác giả đối với tình yêu tự do trong truyện thơ Nôm bác học

là khẳng định Họ say sưa miêu tả và theo dõi một cách đầy hứng thú quá trình đi đến tình yêu của các nhân vật Từ buổi đầu hẹn hò của Thúy Kiều - Kim Trọng đến đêm trăng thề nguyền giữa hai người, mười hai bài thơ tình rạo rực, đắm say của Trương Quỳnh Thư - Phạm Kim nói về nỗi nhớ người yêu trong mười hai giờ của một ngày… đến mối tình trong khung cảnh thiên nhiên đầy ánh trăng huyền ảo và mơ mộng của Dao Tiên - Lương Sinh Tất nhiên, không phải tác giả nào cũng dám

công khai ca ngợi những mối tình vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến ấy Trong truyện Hoa Tiên, cuối cùng nhà thơ đã lồng tình yêu tự do vào khuôn khổ của lễ giáo Trong truyện Phan Trần, chuyện

Phan Sinh và Kiều Liên yêu nhau thực chất là một câu chuyện tình hết sức lãng mạn nhưng tác giả vẫn phải gắn vào đó chi tiết hai người trước đó đã được cha mẹ hứa hôn theo đúng quan điểm “phụ mẫu chi mệnh” của lễ giáo phong kiến Bởi chế độ hôn nhân phong kiến không phải lấy tình yêu làm cơ sở, mà dựa trên cơ sở tiền tài và địa vị xã hội, biểu hiện bằng quan niệm “môn đăng hộ đối” Một cuộc hôn nhân lý tưởng theo quan niệm phong kiến là một cuộc hôn nhân giữa những người mà địa

vị xã hội ngang nhau, đồng thời có gia sản ngang nhau Nó được tiến hành theo quá trình có “phụ

Trang 19

mẫu chi mệnh”, rồi “môi giới chi ngôn”, nói nôm na là theo quá trình cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy Thế nên sau khi say sưa miêu tả các cuộc hẹn hò lén lút, các đêm thề nguyền chưa được phép của cha mẹ, các tác giả truyện Nôm bác học vẫn phải quay về khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Điều này trái ngược hoàn toàn với truyện Nôm bình dân khi các nho sĩ bình dân phủ nhận quan niệm hôn nhân môn đăng hộ đối bằng cách xây dựng những mối tình rất đẹp giữa những người ở những địa vị hết sức chênh lệch nhau

Cần phải nhìn nhận một điều quan trọng là mặc dù các nhân vật trong truyện Nôm bác học

đều thuộc tầng lớp quý tộc phong kiến và đều môn đăng hộ đối với nhau, nhưng các tác giả không

hề nhấn mạnh mặt này Điều họ muốn nhấn mạnh là cơ sở tình cảm trong quan hệ yêu đương của các nhân vật Đó là cơ sở đầu tiên và quan trọng để các nhân vật đi đến hôn nhân sau này Về nội dung này thì truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân đã gặp nhau: tình cảm giữa các nhân vật

là điều quan trọng nhất để họ quyết định kết hôn

Hình tượng trung tâm của truyện thơ Nôm bác học giai đoạn này vẫn là hình tượng người phụ nữ với số phận riêng cùng những phẩm chất tốt đẹp của họ Tuy nhiên, người phụ nữ trong truyện Nôm bác học không có được sự chủ động cao như nhân vật nữ trong truyện Nôm bình dân Tình yêu không phải là kém mãnh liệt, nhưng Dao Tiên, Kiều Liên cũng chưa bao giờ thật sự táo bạo mà thường phân vân, do dự, không dám nhận lời người yêu dù lòng đã đắm say Ngay cả Quỳnh Thư của Phạm Thái, dù có táo bạo hơn nhưng khi gặp khó khăn thì chỉ nghĩ đến cái chết, chờ đầu thai sang kiếp khác để gặp lại người yêu, chứ không hề đấu tranh hay chống đối gì cả Nàng Kiều của Nguyễn Du thì rõ ràng là một nhân vật rất có ý thức về mình và về cuộc sống, lúc nào cũng cố gắng

để chủ động trong một cuộc đời oan nghiệt, nhưng rồi cũng thất bại và không tránh khỏi những lúc

bi quan tiêu cực, chỉ nghĩ đến cái chết… Tất cả họ không có được cái tinh thần đấu tranh quyết liệt,

đấu tranh đến cùng để bảo vệ tình yêu, bảo vệ hạnh phúc của mình như các nhân vật nữ trong truyện Nôm bình dân đã làm và đã thành công

Với chủ đề đề cao con người và cuộc sống hiện thực, truyện Nôm bác học đã tố cáo bộ mặt thối nát của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến từ quan lại và tầng lớp quý tộc đến bọn nhà

giàu phú hộ Truyện Kiều có hình ảnh quan lại sai nha đến cướp phá của cải của gia đình Thúy Kiều,

trắng trợn đòi phải có tiền vàng hối lộ mới thả Vương ông và Vương Quan; có hình ảnh quan Tổng

đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến “lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”; có một bọn người giàu sang nhưng vì đồng tiền mà nhấn chìm cuộc đời một người con gái ngây thơ, trong trắng xuống tận đáy bùn

nhơ Truyện Lục Vân Tiên cho thấy một vị quan Thái sư quyền thế trong triều nhưng lúc nào cũng

chỉ chăm chăm muốn trả thù riêng cho con, đồng thời phơi bày hình ảnh của những bậc thư sinh theo đọc sách thánh hiền như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, nhưng lòng dạ nhỏ nhen, hiểm ác, hết lần này

đến lần khác hãm hại Vân Tiên… Truyện Nhị độ mai xây dựng hình ảnh bè đảng gian thần Lư Kỷ -

Hoàng Tung hãm hại trung thần Mai Bá Cao và gia đình… Nếu hình ảnh vua quan và bọn nhà giàu

Trang 20

trong truyện Nôm bình dân chủ yếu xây dựng trên phạm trù đạo đức phong kiến: trung, hiếu, tiết,nghĩa thì truyện Nôm bác học đã lồng vào đó vấn đề thuộc phạm vi xã hội Hình ảnh nhà vua

trong truyện Nôm bình dân, nhà vua được nói đến nhiều: ông vua nhân từ trong truyện Hoàng Trừu,

ông vua công minh trong truyện Phương Hoa, ông vua biết quý trọng tài đức của con người, sẵn sàng nhường ngôi cho người xứng đáng mà không cần xem xét đến dòng họ như trong truyện Thạch

Sanh hay Phạm Công Cúc Hoa… Quan niệm nhà vua phải nhân từ, công minh, biết trọng người tài

đức… là ước mơ của người bình dân xưa Còn nếu trái với quan niệm ấy, một tên vua xấu, vua ác,

thì truyện Nôm bình dân dứt khoát có cách trừng trị, như tên vua Trang vương trong truyện Phạm

Tải Ngọc Hoa đã bị ném vào vạc dầu Đây cũng là điều mà truyện Nôm bác học dường như không

hề đặt ra, bởi lẽ tư tưởng trung quan trong truyện Nôm bình dân là khái niệm cơ bản của đạo đức học phong kiến nhưng đã được các nho sĩ bình dân thổi vào nó làn gió mới có tính chất nhân dân; còn truyện Nôm bác học, mà tác giả là những người chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng trung quân thuần túy phong kiến, sẽ không thể đặt ra Ngược lại, họ đã sáng tác những tác phẩm theo cách nhận thức

và phản ánh của chủ nghĩa hiện thực Có thể họ né tránh việc xây dựng hình ảnh đấng quân vương trong tác phẩm của mình, nhưng những vấn đề thuộc phạm trù hiện thực xã hội được phản ánh khá

rõ nét trong truyện Nôm bác học: quan lại sai nha vòi tiền, bọn mua thịt bán người, cảnh sống khốn khổ của nhân dân…

1.4 Hình thức

Phần lớn các truyện Nôm bình dân đều mượn kết cấu, cốt truyện của truyện cổ dân gian và bảo lưu khuôn dạng của truyện cổ Vì thế, câu chuyện diễn biến theo trật tự thời gian, việc gì xảy ra trước được kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau Câu chuyện thường bắt đầu bằng việc giới thiệu khá tỉ

mỉ lai lịch của nhân vật chính từ lúc mới ra đời, sau đó kể luôn vào nội dung chính Người kể luôn luôn đứng ở ngôi thứ ba và bao giờ cũng ghi nhớ câu chuyện mình đang kể là thuộc về thời quá khứ Phần lớn những truyện Nôm bình dân tiêu biểu đều có một kết cấu cơ bản giống nhau Thông thường là một anh nho sĩ nghèo, phải đi ăn xin, lấy được người vợ con nhà giàu nhưng đảm đang chịu khó nuôi cho ăn học Về sau, hoặc người chồng học thành tài, đỗ đạt, bị vua ép gả công chúa; hoặc người vợ có nhan sắc bị vua quan hay bọn cường hào ép phải bỏ chồng… nhưng cả hai đều cự tuyệt, kiên quyết chung thủy với người bạn trăm năm của mình Họ phải trải qua những thử thách quyết liệt, thậm chí phải đối mặt với cái chết, nhưng cuối cùng họ thắng lợi, vợ chồng được đoàn tụ hạnh phúc

Theo giáo sư Nguyễn Lộc [61, tr.299] cốt truyện của truyện Nôm bình dân có hai đặc điểm

đáng chú ý Thứ nhất, những tình tiết, những sự kiện trong truyện không có ý nghĩa khách quan chân thực của nó mà chỉ có tác dụng soi sáng hay tô đậm cho tính cách nhân vật Chính vì thế mà trong nhiều truyện Nôm bình dân, chi tiết nhiều khi được cường điệu đến mức hoang đường Ví dụ như

trong truyện Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Tải đã chết rồi mà đêm đêm Ngọc Hoa vẫn mở nắp quan

Trang 21

tài vào nằm với chồng hay nàng công chúa trong truyện Lý Công bị chặt chân tay, xẻo tai mũi mà

vẫn sống… Nhiều chi tiết được sử dụng lặp đi lặp lại như những mô típ trong truyện cổ tích như chi

tiết Phạm Công đỗ trạng và bị vua ép gả công chúa lặp lại ba lần trong truyện Phạm Công Cúc Hoa

Thứ hai, kết thúc của truyện Nôm bình dân bao giờ cũng có hậu giống như truyện cổ tích, phù hợp với đặc điểm nghệ thuật của nó Trong khi đó, truyện Nôm bác học có cốt truyện phong phú và đa dạng hơn Câu chuyện cũng giới thiệu và xoay quanh nhân vật chính theo trình tự thời gian nhưng cốt truyện thường không giống nhau Chủ đề của truyện Nôm bác học thường vẫn là tình yêu đôi lứa nhưng mỗi câu chuyện tình được xây dựng theo nhân sinh quan riêng của mỗi tác giả

Các chi tiết trong truyện Nôm bác học thường sống động, gần gũi với hiện thực cuộc sống mà không có tính chất kì ảo như truyện Nôm bình dân ở đây, cần phải nói thêm rằng việc sử dụng các yếu tố thần kì là một biện pháp không thể thiếu, một đặc trưng thi pháp của truyện Nôm bình dân Truyện Nôm bác học cũng có kết thúc có hậu tuy rằng nhiều trường hợp lô-gích của cuộc sống và của tính cách nhân vật không cho phép kết thúc có hậu Bởi vì nhìn chung, các nhân vật chính diện trong truyện Nôm bác học thường ở thế yếu, thế thua trong cuộc đấu tranh với các thế lực khác, và ý chí chống đối, phản kháng của họ thường có mức độ hạn chế; do đó, việc họ bỗng dưng vượt qua tất cả những trở ngại để đạt được lý tưởng ở cuối tác phẩm sẽ bộc lộ tính chất giả tạo của nó, đi ngược lại với cách đặt vấn đề hiện thực của truyện Nôm bác học Tóm lại, cấu trúc của truyện Nôm, cả bình dân lẫn bác học, đều có chung mô hình: gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ với kết thúc bao giờ cũng có hậu Có thể nói cấu trúc theo lối kết thúc có hậu của truyện Nôm là quy luật có tính tất yếu và là đặc trưng mang tính loại biệt của thể loại truyện Nôm [50, tr.53] Cần nói một chút về kết thúc có hậu

nhưng mang tính bi kịch của Truyện Kiều Kết thúc có hậu của Truyện Kiều vẫn bị cho là chưa thỏa

đáng, chưa hợp logic so với các truyện Nôm khác vì Nguyễn Du đã không có được “đôi cánh lãng

mạn của nàng tiên huyền diệu Truyện Kiều không có được cái kết cấu bình dị nhưng đầy ý nghĩa lạc quan chiến đấu của một số truyện chịu ảnh hưởng văn học dân gian như Phạm Tải Ngọc Hoa, Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa”… [59, tr.151] Trường hợp kết thúc có hậu nhưng chưa thành

công của Truyện Kiều có lẽ là do Nguyễn Du chưa hoàn toàn tuân thủ các quy trình sáng tạo của thể

loại truyện Nôm và do đó tác giả đã không ý thức sử dụng các yếu tố thần kì như một biện pháp nghệ thuật để hướng các nhân vật chính tất yếu phải đi theo mô hình cấu trúc kết thúc có hậu của thể loại truyện này [50, tr.60]

Trong truyện Nôm bình dân, với quan điểm sáng tác để kể là chính, nhân vật thường được thể hiện thông qua hành động, chứ không phải thông qua việc miêu tả ngoại hình và phân tích nội tâm phúc tạp như trong truyện Nôm bác học Khi nói đến nhan sắc của Cúc Hoa, Thoại Khanh, Xuân Nương, công chúa…truyện Nôm bình dân cũng chỉ có một hai dòng thơ chung chung, đại loại là rất

đẹp mà thôi Khác hẳn truyện Nôm bác học, thường miêu tả khá kĩ ngoại hình của nhân vật với các hình ảnh ước lệ tượng trưng

Trang 22

Ngoại hình của nhân vật trong truyện Nôm bình dân đôi khi không được miêu tả, còn nội tâm của nhân vật nếu có được chú ý thì cũng chỉ thông qua hành động mà biểu hiện ra ngoài Ví dụ trong

truyện Tống Trân Cúc Hoa, nhà thơ không phân tích tâm trạng của người vợ giết chồng, mà chỉ tả

lại tiếng khóc giả dối của mụ, nhưng qua đó, người đọc có thể thấy được phần nào tâm trạng của mụ:

Gái ấy quỳ xuống khóc chồng Khóc ra trăm tiếng như lòng thương ai Tiếng khóc như bông hoa nhài Chỉ thấy chiều dài, chẳng thấy chiều thương…

Trong khi đó, truyện Nôm bác học rất chú ý phân tích nội tâm nhân vật qua những đoạn đối thoại hoặc độc thoại nội tâm Ví dụ đoạn sau đây trong Truyện Kiều:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Khi sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân…

Trong truyện Nôm bác học, tính cách nhân vật được miêu tả khá rõ nét với đầy đủ cung bậc của cuộc sống hiện thực Các tác giả đã chú ý đến bản chất xã hội của nhân vật ở một số nhân vật phản diện, nhà thơ bắt đầu thoát lý quan niệm lý tưởng hóa trong khi phản ánh Có Mai Bá Cao thẳng thắn, thì cũng có Lư Kỉ gian xảo, có Kiều Nguyệt Nga tiết liệt trung trinh, thì cũng có Võ Thể Loan tham sang phụ khó, có Vân Tiên trung nghĩa thì cũng có Trịnh Hâm, Bùi Kiệm ích kỉ, nhỏ

nhen, trong Truyện Kiều có nhiều nhân vật, nhiều cảnh ngộ, nhiều tình huống được phản ánh khá

phúc tạp… Còn nhân vật trong truyện Nôm bình dân có tính chất đơn giản, một chiều và bất biến Nhà thơ bình dân thường xây dựng tính cách nhân vật phù hợp với quan niệm sẵn có của mình về

đạo đức Nhân vật trong truyện Nôm bác học được xây dựng theo các tình huống của cuộc sống hiện thực với tính cách đa dạng còn nhân vật của truyện thơ Nôm bình dân dù được đặt trong nhiều tình huống khác nhau nhưng không nhằm làm nổi bật sự đa dạng hay phát triển của tính cách mà chủ yếu

để nhấn mạnh đặc trưng khuôn mẫu đã xác định sẵn của nhân vật

Như vậy, về mặt cấu trúc thể loại, truyện Nôm nói chung có sự tương đồng Song về mặt ngôn ngữ, giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học lại không phải hoàn toàn như vậy Truyện Nôm bác học hầu hết đều là sản phẩm của các nhà thơ có trình độ học vấn cao do đó ngôn ngữ tác phẩm bao giờ cũng được gọt giũa, trau chuốt công phu Văn chương theo phong cách điển nhã nên thường sử dụng nhiều điển cố và thành ngữ Hán Ngôn ngữ ước lệ tượng trưng thể hiện trong mọi phương diện nghệ thuật của truyện Nôm bác học, từ miêu tả thiên nhiên, con người, giới thiệu nhân vật cho đến kể các sự kiện Ví dụ như đoạn giới thiệu Kim Trọng hết sức tao nhã trong Truyện Kiều:

Trang 23

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh Nền phú hậu, bậc tài danh Văn chương nết đất, thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tuyệt vời Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa

Ngay cả những người hầu cũng ăn nói hết sức văn vẻ, như Yến đồng của Phạm Kim khi giới thiệu với chủ về Trương Quỳnh Thư (truyện Sơ kính tân trang):

Xuân hoa bậc ấy đang vừa Tuổi vừa đôi bảy phong tư lạ lùng Thước tầm phỏng dạng bằng ông Lam pha mày liễu, mỡ đông da ngà Chiều cá nhảy, vẻ nhạn sa Mắt long lanh nguyệt, tóc rà rà mây Má hồng môi thắm hây hây Khổ mê thược dược, thức say hải đường…

Ngay khi nói đến những chuyện tế nhị, cũng phải sử dụng ngôn ngữ ước lệ để tránh sự dung tục Đây là nói về việc Kiều phải chịu dựng sự giày vò ô nhục nơi lầu xanh :

Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về Một cơn mưa gió nặng nề Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương…

Trong truyện Nôm bác học, điển cố được dùng hết sức tự nhiên Nói đến duyên tình, các tác

giả hay dùng: tơ hồng, xích thằng, trăng già, nguyệt lão xe tơ, phượng loan, sắt cầm… để chỉ sự xa cách: Ngưu lang - Chức nữ, cầu Ngân Hán… Tuy nhiên, ngôn ngữ của truyện Nôm bác học cũng sử

dụng các từ ngữ đời thường, bởi truyện Nôm vốn là một thể loại sinh thành và phát triển từ côi

nguồn văn hóa dân gian [50, tr.133] giáo sư Lê Trí Viễn đã nhận xét về truyện Song Tinh “là truyện

bác học mà khí vị lại rất dân gian [113, tr.8] Thật hợp lí khi ta xét những đoạn đối thoại giữa Giang

ông và Song Tinh:

Chẳng hay điền sản gia tư

Mẹ con ngày tháng đói no thế nào?

- Lần hồi muối bạc cơm thô

Đông chầy áo mỏng, bếp trưa khói tàn

Hay Ngư bà chất phác, hồn nhiên khi kể chuyện đi kiện của mình trong truyện Nhị độ mai:

Bà rằng kiện cáo gì tôi

Trang 24

Này này anh nó vào ngồi với quan

Từ rày phường bạn đừng nhờn

Đủ trăm văn lý, dư muôn thế phần…

Ngôn ngữ sinh hoạt đời thường góp phần làm cho nhân vật của truyện Nôm bác học gần gũi với cuộc sống, giàu chất sống và phản ánh hiện thực một cách sinh động Bên cạnh đó, truyện Nôm bác học còn sử dụng khá nhiều thành ngữ, ca dao, tục ngữ trong lời nhân vật :

- Khế sung cũng thể một lòng

- Vào tai ra miệng khá hay luật lề (truyện Song Tinh)

- Để ai tan nghé rẽ đàn vì ai

- Ong trong tay áo có người (truyện Nhị độ mai)

- Tre còn măng mất lẽ nào cho cân (truyện Lục Vân Tiên)

Thể Loan khi đưa tiễn Vân Tiên lên kinh ứng thí cũng mượn ca dao nhắn nhủ chàng:

Xin đừng tham đó bỏ đăng Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn

Còn truyện Nôm bình dân lại do tầng lớp trí thức bình dân sáng tác: những ông đồ quê, những hàn sĩ lỡ dở đường công danh… Do đó, truyện Nôm bình dân thường sử dụng ngôn ngữ giàu chất sống, mộc mạc, nôm na, có nhiều khẩu ngữ, tục ngữ, thành ngữ Có thể xét trường hợp tiêu biểu sau

đây trong truyện Trinh Thử, đoạn chuột cái trách chồng phụ tình, phụ công mình:

Chẳng ưa cà chín bầu già Tuổi đà dư lạp, lịch đà quá niên

Có trăng nên nỗi phụ đèn Chẳng ngon thể sốt, thể liền biến hơi Cười ra nước mắt hổ ngươi Khen ai khéo đặt nên lời ví xưa Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên vắng ngắt như chùa bà Đanh Thế tình chuộng lạ, tham thanh Thân tiên, thân cú ra hình xấu chơi Cầu Nôm đồng thủng lạ đời Kẻo còn nhọc xác mệt người xông pha Cán đuôi tha trứng gần xa Cái thân tất tả như bà đánh ong Dã tràng xe cát luống công

Tò vò nuôi nhện khá mong cậy nhờ…

Trang 25

Một loạt những thành ngữ, tục ngữ dày đặc đã làm nổi bật cái ghen hờn của người phụ nữ bình dân Đó là thứ ngôn ngữ của đời sống hàng ngày, ít lối nói cách điệu hóa, ít điển cố và ít từ Hán Việt Trong truyện Nôm bình dân, ngôn ngữ thường chưa được trau chuốt, chưa gia công nghệ thuật nhiều Từ ngữ có chỗ sử dụng không chính xác, không súc tích, ít có hình ảnh, như lời Tiến Lực dặn

em trong truyện Phạm Công Cúc Hoa:

Em ơi chớ có xuống ao

Mà đỉa nó cắn rúc vào biết không

Câu thơ lục bát trong loại truyện này cũng chưa điêu luyện Ta thử xem xét việc miêu tả tiếng

đàn du dương, thanh tao nhiều cung bậc của Truyện Kiều:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời Tiếng êm như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

với tiếng đàn hết sức giản dị nhưng thực tế trong truyện Thạch Sanh:

Đàn kêu bay phải hàng tao

Đàn kêu như bảo thấp cao sự thường

Đàn kêu như bảo vân vi Hàng tao tao lại cho về cựu bang

Nhìn chung việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ và ca dao là khá nhiều trong truyện Nôm Thành ngữ, tục ngữ, ca dao giúp cho tiếng nói của nhân vật thông minh, sắc sảo hơn, hữu tình hơn Khác biệt lớn nhất giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học có lẽ chính ở chỗ: ngôn ngữ của truyện Nôm bình dân là tiếng nói giản dị mộc mạc của đời sống hàng ngày còn ngôn ngữ của truyện Nôm bác học là một sự kết hợp nhuần nhuyễn, tài tình khéo léo và đầy sáng tạo giữa văn chương bác học, ngôn ngữ đời thường và văn học dân gian

Truyện Nôm là một thể loại độc đáo của văn học dân tộc Có thể nói sự xuất hiện của nó là một bước trưởng thành lớn của phương thức tự sự và thể loại tiểu thuyết bằng thơ của văn học cổ Việt Nam Với một số lượng truyện lớn, có nội dung tư tưởng khá tiến bộ và hình thức nghệ thuật thấm đẫm tính dân tộc, truyện Nôm đã biểu hiện một cách độc đáo và sâu sắc truyền thống nhân đạo

và tâm tình mộc mạc của con người Việt Nam, tiếng nói tình cảm cất lên sau những lũy tre xanh và vang vọng mãi đến bây giờ

Trang 26

CHệễNG 2

VAấN HOÙA VAỉ VAấN HOÙA ệÙNG XệÛ

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người ở

phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có

từ văn và hóa: “Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ” Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng, thời Tây Hán (Năm 77 - 6 trước công nguyên), với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người “văn trị giáo hóa” Văn hóa được dùng ở đây đối lập với vũ lực [93], [106] ở phương Tây, khoảng thế kỉ thứ III trước công nguyên đã xuất hiện khái niệm văn hóa

Khái niệm này bắt nguồn từ chữ Latinh colere, có nghĩa là gieo cấy, vun trồng Từ cơ sở đó, nhà

hùng biện nổi tiếng của La Mã là Siserô Markơt Tuliut (106 - 43 TCN) đã định nghĩa: "Triết học là

sự gieo trồng tinh thần" Từ đó, châu âu dùng thuật ngữ Culture với hai nghĩa:

- Thứ nhất là trồng trọt, canh tác : culture insentive (thâm canh), culture exsentive (quảng

canh)

- Thứ hai là văn hóa : culture orientale (văn hóa phương Đông), culture occidentale (văn

hóa phương Tây)

Để chỉ văn hóa, người Anh, người Pháp có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có

từ kultura…Những từ này đều bắt nguồn từ gốc Latinh là chữ cultus animi có nghĩa là trồng trọt tinh

thần (Vậy cultus có nghĩa là văn hóa với hai khía cạnh: một là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên; hai là giáo dục, đào tạo một cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, có những phẩm chất tốt đẹp) [91,18]

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản và thay đổi theo thời

gian Theo GS Trần Quốc Vượng [106], khoảng thế kỉ thứ XVII - XVIII, thuật ngữ văn hóa được sử dụng theo nghĩa canh tác tinh thần Đến thế kỉ XIX, thuật ngữ văn hóa được dùng như một danh từ chính Các học giả phương Tây lúc này cho rằng văn hóa có thể phân chia ra từ trình độ thấp nhất

đến trình độ cao nhất, với nghĩa: là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo

đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội (E.B Taylor) Vào thế kỉ XX, thuật ngữ văn hóa lại thay đổi theo F.Boas,

ý nghĩa văn hóa được quy định theo khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ những gì

cao siêu như trí lực Vì thế, sự khác nhau về mặt văn hóa của từng dân tộc cũng không theo tiêu chuẩn trí lực, không xét ở mức độ thấp, cao mà ở góc độ khác biệt

Trang 27

Thật khó tìm được một thuật ngữ có nhiều nghĩa và được dùng rộng rãi như văn hóa Văn hóa

có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối

sống, hoặc theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn…Trong khi đó, theo

nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng,

phong tục, lối sống, lao động… Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu theo nghĩa rộng này, trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau Ngay từ giữa thế kỉ XX, năm 1952, hai nhà nghiên cứu văn hóa người Mĩ là A Kroeber và C Kluckhohn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa Cho đến nay, số lượng các định nghĩa về văn hóa đã vượt qua con số 300 Đúng như F Mayor

đã nói “Ai nấy đều biết rất khó định nghĩa văn hóa, có lẽ vì văn hóa định nghĩa chúng ta nhiều hơn

là chúng ta định nghĩa văn hóa” [65, tr.35]

Nhìn chung, có thể phân chia các định nghĩa về văn hóa thành những loại chính sau

[84],[93],[105]:

2.1.1.1 Các định nghĩa về văn hóa trên thế giới

Trên thế giới xuất hiện rất nhiều các hướng định nghĩa về văn hóa khác nhau, trong đó, bốn hướng chính có nhiều định nghĩa về văn hóa nhất là : Hướng định nghĩa xã hội học văn hóa, hướng

định nghĩa tâm lí học văn hóa, hướng chịu ảnh hưởng của lý thuyết thông tin và thuyết giá trị và hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng

* Hướng xã hội học văn hóa

- “Văn hóa là cách ứng xử mà các thành viên xã hội đã học được” (F Merinơ)

- “Văn hóa là toàn thể những kiến thức và tư tưởng cho phép các cá nhân trong một xã hội ý

thức được tình trạng của họ và cung cấp cho họ những phương tiện để cải tạo tình trạng”

(F.P.Imhôph)

- “Văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội và thông qua các cá

nhân với tư cách là thành viên xã hội ấy” (Kơlinebergơ)

- “Văn hóa là tất cả những gì do con người sản xuất ra: công cụ, biểu tượng, thiết chế, hành

động, các quan niệm, tín ngưỡng Đó là những sản phẩm nhân tạo và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” (Phônxôm)

- “Văn hóa là hình thể chung những ứng xử đã học được và của những kết quả của chúng mà

các yếu tố được thừa nhận và được lưu truyền bởi các thành viên của một xã hội nhất định” (R

Linton) v.v…

* Hướng tâm lí học văn hóa

Hướng này nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình hình thành thói

quen, lối ứng xử của con người Ví dụ định nghĩa của W Sumner và A Keller “Tổng thể những sự

thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh…

Trang 28

Những sự thích nghi này được đảm bảo bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc, và truyền đạt bằng kế thừa”

- “Văn hóa là toàn bộ những thể chế được xem xét vừa trên phương diện chức năng tính, vừa

trên phương diện chuẩn mực tính của chúng; bằng chúng, các thể chế ấy đối với các cá nhân sở thuộc tổng thể nọ biểu hiện khuôn khổ cưỡng bức nhào nặn nhân cách họ,…, cho phép một cá nhân trong một xã hội nhất định đạt tới sự phát triển nào đó về cảm năng, về ý thức phê phán và các năng lực nhận thức, các khả năng sáng tạo Nói một cách ngắn gọn là đạt tới một sự nảy nở nào đó của nhân cách con người” (J.Ladior)

* Hướng chịu ảnh hưởng của lý thuyết thông tin và thuyết giá trị

- “Văn hóa là toàn bộ thông tin, không kể di truyền sinh vật, là mọi biện pháp nhằm tổ chức

và bảo vệ thông tin” (Iu Lốtxman)

- “Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của nhóm người, các thiết chế phong tục và phản

ứng trong cách ứng xử của họ” (Thomas)

- “Cột trụ của văn hóa là giá trị” (A.Debơ)

- “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kĩ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”

(Malinorosky)

* Hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng

Đó là các định nghĩa chú trọng tới tổ chức cấu trúc của văn hóa Ví dụ R Linton đã định nghĩa văn hóa ở hai khía cạnh:

a/ Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã

hội b/ Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà người ta học được và các kết quả ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ thừa kế”

- “Văn hóa là dòng thác tư tưởng, xuyên từ cá nhân này sang cá nhân khác thông qua các

hành động biểu trưng” (Phôtôđo)

- “Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, vật thể, hành động tư tưởng, cảm xúc Cơ chế này

được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng, hoặc phụ thuộc vào các biểu trưng đó” (K.White)

- “Văn hóa bao gồm các sáng tạo hoặc các đặc điểm văn hóa tích hợp lại trong một hệ thống

nhiều cấp độ liên kết khác nhau giữa các bộ phận, những đặc điểm vật chất hoặc phi vật chất được

tổ chức xung quanh sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Chúng tạo ra các thiết chế xã hội hợp thành hạt nhân của văn hóa Các thiết chế văn hóa quan hệ qua lại với nhau dưới hình thức một mô hình đơn nhất cho mỗi xã hội” (Ơ-rô-béc và Min-cốp)

Ngoài ra còn có các khuynh hướng định nghĩa văn hóa như:

Trang 29

* Các định nghĩa miêu tả

Đây là các định nghĩa mà trọng tâm được đặt vào việc liệt kê tất cả những gì mà mà khái

niệm văn hóa bao hàm Tiêu biểu theo kiểu này là định nghĩa văn hóa của E.B.Taylor: “Văn hóa là

toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”

* Các định nghĩa lịch sử

Là các định nghĩa nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống Các định nghĩa kiểu này dựa trên việc giả định về tính ổn định và bất biến của văn hóa, bỏ qua tính tích cực của con

người trong phát triển và cải biến văn hóa Ví dụ định nghĩa của L White “Văn hóa là một phạm trù

khoa học biểu thị một lĩnh vực hoạt động đặc biệt chỉ có ở riêng xã hội loài người, với những quy luật hành chức và phát triển riêng của mình”

* Các định nghĩa chuẩn mực

Các định nghĩa này hướng vào quan niệm về lí tưởng và giá trị Ví dụ:

Định nghĩa của J Szczepánski , một nhà xã hội học người Ba Lan: “Văn hóa là tổng thể các

sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động nhằm đạt tới các phương tiện thỏa mãn các nhu cầu và nó là thành quả của toàn xã hội, nó gắn liền với với các điều kiện trong đó con người sáng tạo ra những phương tiện thỏa mãn các nhu cầu và sản sinh ra từ những điều kiện ấy”…

* Các định nghĩa nguồn gốc

Đây là các định nghĩa văn hóa được xác định từ góc độ nguồn gốc của nó Ví dụ, định nghĩa

của P Sorokin “Với nghĩa rộng nhất của từ, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải

biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động

đến lối ứng xử của nhau”

Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, các hướng định nghĩa khái niệm văn hóa mà chúng tôi lược ghi lại trên đây chưa bao quát được toàn bộ bản chất của văn hóa và chưa rút ra được cái cốt lõi nhất của văn hóa Các định nghĩa theo hướng xã hội học đã tách cái xã hội ra khỏi cái tự nhiên, coi văn hóa là những gì do con người tạo ra, đặt sự phát triển của văn hóa trong môi trường xã hội và coi nó

là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội văn minh… nhưng lại chưa nêu ra được bản chất, nguồn gốc sâu xa của văn hóa, đặc biệt là quy luật sáng tạo ra văn hóa Tương tự, hướng tâm lí học cũng

định nghĩa chưa đầy đủ về văn hóa vì theo cái nhìn tâm lí, văn hóa trở thành một hiện tượng rất khó nắm bắt vì tâm lí là hiện tượng khách quan nhưng bản chất lại là chủ quan trong khi đó, bản chất của văn hóa là khách quan vì nó chứa đựng cả tâm lí cộng đồng, dân tộc, cá nhân… Hướng định nghĩa văn hóa theo lý thuyết thông tin và thuyết giá trị cũng thiếu sót bởi lý thuyết thông tin chỉ là một sản phẩm của sự phát triển văn hóa, còn thuyết giá trị chỉ là một loại thước đo Giá trị là cái đại diện cho văn hóa chứ không phải văn hóa Cùng như thế, hướng đồng nhất văn hóa với cấu trúc và biểu trưng

Trang 30

cũng mắc sai lầm vì biểu trưng ở đây là cấp độ tượng trưng, đại diện cho văn hóa chứ chưa phải là toàn bộ văn hóa…

Trước tình hình trên, chúng tôi cảm thấy khá thỏa mãn với định nghĩa chính thức về văn hóa

của Liên hợp quốc (UNESCO): “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động

mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như

đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”

[105, tr.12]

2.1.1.2 Các định nghĩa về văn hóa ở Việt Nam

Việt Nam cũng hình thành rất nhiều định nghĩa về văn hóa

- Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài

người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [106, tr.21]

- Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong

phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… Cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng

và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu của cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu

để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [106, tr.21]

- Định nghĩa của cố GS Trần Quốc Vượng: “Văn hóa … là cái tự nhiên được biến đổi bởi con

người, bao hàm cả kĩ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [106, tr.35-36]

- Định nghĩa của P.GS Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [84, tr.10]

- Định nghĩa của PGS Phan Ngọc: “Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới

biểu tượng và thế giới thức tại Quan hệ ấy là biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” [106, tr.22]

- Định nghĩa của PGS Đỗ Thị Minh Thúy: “Văn hóa là một khái niệm để chỉ những thành

tựu và những tiềm năng của con người trong phát triển, được biểu hiện thành những bản sắc riêng,

Trang 31

do kết quả vận động của các nhân tố nội sinh của một dân tộc, một cá nhân và cả nhân loại trong chiếm lĩnh khách thể và chủ thể theo quy luật cái đẹp” [93, tr.31]

- Định nghĩa của Giáo sư Thanh Lê “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật

chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho các cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [59,

tr.11]

Việc hệ thống hóa sơ bộ các loại định nghĩa về văn hóa nói trên đã cho thấy tính chất để ngỏ của khái niệm văn hóa Sở dĩ có tình trạng này là vì văn hóa là hiện tượng bao trùm lên tất thảy các mặt của đời sống con người, khiến bất kì định nghĩa nào đưa ra cũng khó có thể bao quát hết được nội dung của nó Mỗi loại định nghĩa chỉ có thể thâu tóm một phương diện nào đó của văn hóa Vì vậy, chỉ có thể sử dụng các định nghĩa về văn hóa theo cách bổ sung lẫn nhau để có thể tái hiện văn hóa như là một chỉnh thể với các đặc trưng cố hữu của nó:

* Văn hóa là cái phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người

* Văn hóa không thể kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải qua quá trình học tập, giao tiếp

* Văn hóa là cách ứng xử đã được mẫu thức hóa

Theo PGS Trần Ngọc Thêm [83], có thể thống kê bốn đặc trưng và chức năng cần và đủ của khái niệm văn hóa như sau:

* Tính hệ thống

Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp Nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các sự kiện, hiện tượng thuộc một nền văn hóa, phát hiện những đặc trưng, các quy luật hình thành và phát triển của nó Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội

* Tính giá trị

Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, trở thành có giá trị” Tính giá trị của văn hóa chính

là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Nhờ đặc trưng tính giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng được với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

* Tính nhân sinh

Cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đốn gỗ…) hoặc tinh thần (như việc đặt tên cho các cảnh quan thiên nhiên…) Nhờ có tính nhân sinh mà văn hóa trở thành sợi dây nối liền con

Trang 32

người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con người lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

* Tính lịch sử

Đặc trưng này tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa - những giá trị tương đối ổn định, được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết bằng những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật, dư luận… Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục

và giáo dục chính là một chức năng rất quan trọng của văn hóa Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống) mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, đảm bảo được tính kế tục của lịch sử Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định:

“Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền

thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” (Báo Nhân Dân, ngày 21/4/2001)

Văn hóa có tác dụng rộng lớn như vậy bởi văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, làm cho môi trường xã hội ngày càng lành mạnh, làm cho con người ngày càng vươn lên, tác động ngày càng có hiệu quả vào môi trường thiên nhiên, nó mang dấu ấn của tư duy, khát vọng và hoạt động của con người vươn tới ngày càng có nhiều ánh sáng, tự do và hạnh phúc Như vậy, văn hóa bao la như sự sống và nó chính là chìa khóa của sự phát triển Văn hóa là nhân sinh quan và thế giới quan của con người, là cách nhìn bao trùm và cách ứng xử qua những hành động thiết thực của con người về quan

hệ giữa người với người trong xã hội và về quan hệ giữa con người với thiên nhiên

2.1.2 Khái niệm ứng xử và văn hóa ứng xử

Từ lâu, vấn đề ứng xử trong các mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với gia đình và chính bản thân mình đã được nhiều người quan tâm nghiên

cứu Thuật ngữ ứng xử [2, tr.16] trong tiếng Anh: Behaviour, tiếng Mỹ: Behavior, tiếng Pháp:

Comportement, conduite, và trong tiếng Nga:

Trang 33

Theo định nghĩa của Từ điển bách khoa, ứng xử là: “Hệ thống các quan hệ tương tác, các

phản ứng được thực hiện bởi các vật thể sống để thích nghi với môi trường” [2, tr.17]

Theo học giả - nhà báo Nguyễn Hữu Ngọc [2, tr.17] các khái niệm behaviour của tiếng Anh

và comportement, conduite trong tiếng Pháp thường dùng thay cho nhau và có thể coi như nhau Trong tiếng Việt, khái niệm ứng xử và hành vi cũng được quen dùng như vậy

Từ góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng ứng xử có nghĩa là “toàn thể những phản ứng

thích nghi có thể quan sát khách quan mà một cơ chế có một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những kích thích… Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy được diễn ra theo cách tương đối ổn

định” [28, tr.23]

Dưới góc độ xã hội học văn hóa, khái niệm ứng xử được dùng để chỉ “cách hành động và nói

như thế nào đó của một vai trò này đối diện với vai trò khác Và đó là những hành động, hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò với nhau, còn ứng

xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” [20, tr.123-125]

Từ góc độ tâm lí học, “ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể…, ứng xử

chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động, nhưng chủ động trong thái độ, phản ứng trước những thái độ, hành vi, cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó” [15,

tr.11-12]

Từ góc độ ngôn ngữ học, “ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử Mà ứng xử lại bao gồm

nhiều nghĩa khác nhau như ứng phó, ứng đáp, ứng biến và xử sự, xử lí, xử thế…” [15, tr.11-12] Như vậy, ứng xử được hiểu là cách xử thế nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong các mối quan hệ giao tiếp

Trong thực tiễn tâm lí cũng như trong thực tiễn xã hội, ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể ứng xử chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động vì nó

được coi là sự phản ứng của con người Nhưng ứng xử lại chủ động trong thái độ, phản ứng trước những thái độ, hành vi, cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó Tuy nhiên, trong giao tiếp tự nhiên cũng như giao tiếp xã hội, quan hệ ứng xử của con người phức tạp, đa dạng và phong phú, cần được định hướng hoặc định tiêu chuẩn, phương thức, cách thức nhằm đạt đến mục tiêu chung Vì thế, ứng xử của con người, dù là với đối tượng nào cũng không diễn ra theo cách ngẫu nhiên, tùy tiện, mà trước mỗi loại tình huống, con người đều ứng xử theo một cách nào đấy ứng xử theo cách này hay cách nọ là chấp nhận một nếp ứng xử, là ứng xử theo những quy tắc Sự thi hành những nguyên tắc về ứng xử được gọi là nếp ứng xử Rõ ràng, có một con đường đi để ứng xử trở thành nếp ứng xử, tức là bắt đầu thể hiện nội hàm ứng xử có văn hóa Bởi vì, như De Cuellar -nguyên

Tổng giám đốc Unesco đã nói: “Văn hóa là cách sống, cách ứng xử cùng nhau” [92] Như vậy, ứng

xử cũng là văn hóa Thực tế, trong khi thực hành, những nguyên tắc ứng xử của con người (cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội) được lặp đi lặp lại, được đánh giá để chọn lọc, được khái

Trang 34

quát hóa, hợp thức hóa, chuẩn mực hóa và xã hội hóa, dần trở thành khuôn mẫu ứng xử ở chiều rộng

và chiều sâu, mang đặc điểm, tính cách của khuôn mẫu văn hóa, tiền đề của văn hóa ứng xử Tác giả

Trần Thúy Anh (trong “Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca

dao - tục ngữ”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội) cũng gần gũi với quan điểm trên khi cho rằng:”Văn hóa ứng xử là toàn bộ những tín điều, truyền thống… hướng dẫn hành xử mà các cá nhân trong một xã hội được xã hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học tập” [2, tr.19]

Như vậy, từ những góc nhìn khoa học, đặc biệt là từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi gần gũi

với quan niệm này: “Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử,

chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lí… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã

được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia… được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo” [28, tr.27]

Tuy nhiên, dù mang đậm tính chất khuôn mẫu theo hai chiều quan hệ: vừa cá thể hóa, vừa xã hội hóa, văn hóa ứng xử thường được thể hiện dưới dạng cụ thể của những vai trò xã hội trong việc thể hiện những vị thế xã hội, những nhiệm vụ xã hội khác nhau Vì lẽ đó, rõ ràng là không có ứng xử chung chung, chỉ có những ứng xủ thể hiện những ngôi người, tức những vai trò xã hội Nghĩa là ứng

xử, trong ý nghĩa nhân sinh và xã hội, phải là mối quan hệ hai chiều giữa vai trò chủ thể và vai trò khách thể, giữa chủ thể và đối tượng Về bản chất, không có một ứng xử chung chung, ứng xử không

có vai trò Con người không phải ứng xử để ứng xử mà ứng xử là cụ thể hóa vai trò xã hội nhất định nào đó

2.1.3 Khái niệm văn hóa giao tiếp

Không phải đến bây giờ, khi xã hội loài người đã đạt đến một trình độ văn hóa, văn minh nhất

định, vấn đề giao tiếp, ứng xử mới được chú ý tới như là cốt lõi của đời sống con người Các hình thái giao tiếp đã được bắt đầu từ rất sớm và dần dần được tổ chức nâng cao ở xã hội loài người Ngay từ thời tiền sử, giao tiếp cá thể và giao tiếp xã hội đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu để duy trì và phát triển văn hóa, văn minh Giao tiếp có thể được hiểu như là một quá trình có sự tăng

trưởng về lượng và chất qua các thời đoạn khác nhau Chúng ta có thể định nghĩa “giao tiếp là một

quá trình trao đổi và tiếp xúc với nhau giữa con người với bản thân, với xã hội, với thiên nhiên, với gia đình… trực tiếp và gián tiếp, thông qua các công cụ như tiếng nói, ngôn ngữ, hành vi, tâm lí… nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức, những hiểu biết trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống loài người, của cộng đồng, nhóm xã hội và cá nhân con người” [102, tr.12]

Thuật ngữ giao tiếp có nghĩa là tiếp xúc với nhau, qua lại với nhau, kết hợp với nhau, kế thừa

lẫn nhau… [22, tr.167]

Trang 35

Ngoài khái niệm văn hóa ứng xử, người ta cũng rất hay dùng thuật ngữ văn hóa giao tiếp Trong quá trình viết luận văn này, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm được một số định nghĩa về văn hóa giao tiếp:

- Văn hóa giao tiếp: “là những chuẩn mực giao tiếp ổn định, bền vững và hoàn thiện có giá trị

tinh thần được tiếp xúc, trao đổi với nhau thông qua cử chỉ, lời nói, văn tự… trong mối quan hệ cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội và nhân loại”.[22, tr.167]

- “Văn hóa giao tiếp chính là những định chuẩn giao tiếp được tinh tuyển, được tạo thành nền

nếp, được hoàn thiện và nâng cao cả về cách thức, nếp ứng xử ngôn ngữ lời nói và cử chỉ hành vi, cả

về phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội” [102, tr.20]

- “Văn hóa giao tiếp là một khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao tiếp mang tính đặc thù

cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng người thuộc các nhóm nghề nghiệp hoặc xã hội khác nhau” [32]

Như vậy, xét một cách tổng thể, văn hóa giao tiếp cũng được người Việt Nam dùng với nghĩa tương tự văn hóa ứng xử, bởi đó cùng là những định chuẩn, những hệ ứng xử được lặp đi lặp lại thành nếp, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tất nhiên trong quá trình tiếp thu, gạn lọc, bổ sung, phát triển Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi xin phép chỉ sử dụng thuật ngữ văn hóa ứng xử để đảm bảo tính thống nhất của nội dung

2.2.Văn hóa ứng xử của người Việt

2.2.1 Văn hóa bản địa

Nhận xét về văn hóa Việt Nam, giáo sư Phan Ngọc đã nói: “Văn hóa Việt Nam là một văn

hóa khiêm tốn, mộc mạc, không có cái gì cực đoan Nhưng không vì thế mà văn hóa Việt Nam thiếu cá tính… Nó tránh cầu kì Nó đi vào cái nên thơ bình dị nhưng tha thiết với cuộc sống con người … Trong học, trong thư pháp, trong họa, thơ văn, người Việt không tìm đến cái kinh người, cái phi thường mà tìm đến cái bình dị, tìm cái gần gũi” [70, tr.126]

Là chủ thể của nền văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam được đặc biệt chú ý Đã có rất nhiều nhận xét, theo tình cảm, hoặc lý trí, từ các quan điểm truyền thống, hiện đại, từ các góc độ nhận thức dân tộc, thế giới… về con người Việt Nam từ xưa tới nay… Từ góc độ là chủ thể của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam một mặt là con người cá nhân, mặt khác tải trong mình tính dân tộc truyền thống Giáo sư Đào Duy Anh đã chú ý đến các đặc điểm phẩm chất tinh thần của người

Việt Nam: “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh,… sức kí ức thì phát đạt

lắm mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, … phần nhiều người có tính ham học, … thích văn chương, ít người mộng tưởng mà phán đoán thường có vẻ thiết thực lắm Sức làm việc khó nhọc… thì ít dân tộc bì kịp, … giỏi chịu đau đớn cực khổ và hay nhẫn nhục, …chuộng hòa bình song ngộ sự thì cũng biết hi sinh vì đại nghĩa, …bắt chước và dung hòa thì rất tài” [1, tr.24-25]

Trang 36

Trong tác phẩm Việt Nam giữa hai huyền thoại , Claude Falazzoli cũng đề cập đến: “ý thức

phẩm giá không chịu để mất trong bất cứ thử thách nào, … nết cần cù có thể lấp biển, …một sự lịch thiệp tế nhị… khiến cho không khí ở đây không thô lỗ nặng nề như ở một số nước dân chủ và nhân dân khác, …một sự tinh tế cố tình chẻ sợi tóc làm tư, tính dè dặt kéo dài sự cân nhắc, đoán xét, quyết định, tính thực dụng…khả năng thích ứng một cách khéo léo và sáng suốt với mọi tình huống,

…đặc biệt lãng mạn và đa cảm” [98, tr.294]

Giáo sư Trần Văn Giàu trong công trình “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam” đã đưa ra 7

giá trị tinh thần truyền thống: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, và vì

nghĩa” Theo ông, giá trị hàng đầu chính là lòng yêu nước, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư

tưởng dân tộc [98, tr.293] Trong một hội thảo khoa học năm 1983, giáo sư Trương Chính nói đến 5

giá trị: “tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, cần cù và thông minh, trọng đạo lí tình người, và lạc

quan yêu đời” [98, tr.293]

Giáo sư Hà Văn Tấn khi viết về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam cũng khẳng định sự

tồn tại của tính cách dân tộc và tâm lí dân tộc: “giá trị tinh thần, tính cách dân tộc Việt Nam mà

điển hình là là tinh thần yêu nước kiên cường gắn bó với quê hương xứ sở, … ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã, tinh thần cố kết cộng đồng, cần cù chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, tình nghĩa, ứng xử linh hoạt mềm dẻo, dễ thích nghi hội nhập” [106, tr.16]

Có thể liệt kê rất nhiều những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam mà các nhà nghiên cứu

đã đưa ra trên con đường tiếp cận bản sắc văn hóa dân tộc, mà giáo sư Trần Ngọc Thêm [84] đã gọi

đó là “những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử là cái tinh hoa bền vững của nó”

ông cũng nêu ra những đặc trưng gốc định vị văn hóa Việt Nam là : “tính cộng đồng và tự trị, lối

sống trọng tình nghĩa, lối tư duy tổng hợp biện chứng, tính linh hoạt, dung hợp trong tiếp nhận, khuynh hướng ưa hài hòa, tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên”

Giáo sư Trần Ngọc Thêm [84, tr.293] cũng cho rằng những điểm thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về đặc trưng văn hóa Việt Nam chính là cơ sở để Nghị quyết 5 Ban chấp hành Trung

ương khóa VIII đưa ra những đặc trưng bản sắc dân tộc như sau:

- Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc

- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc

- Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý

- Đức tính cần cù sáng tạo trong lao động

- Sự tinh tế trong cư xử, tính giản dị trong lối sống

- Hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo…

Và trong Báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng Đại hội toàn quốc lần thứ IX

(tháng 4/2001) khi đề cập đến vấn đề văn hóa đã nêu rõ: “Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc

Trang 37

xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội…” (Báo Nhân Dân, ngày 21/4/2001)

Như vậy, chúng tôi tạm thời định vị văn hóa Việt Nam theo những giá trị đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc Việt như sau:

1 Coi trọng con người, có truyền thống trọng tình nghĩa, nhân ái

2 Có ý thức giữ phẩm giá nhân cách, trọng danh dự, trọng lẽ phải

3 Lối sống khoan dung, khoan thứ, trọng quan hệ, lạc quan

hề thua kém chúng ta như lòng yêu nước, sự cần cù sáng tạo trong lao động hay tính dân tộc độc đáo

… ở đây, chúng tôi muốn hướng đến những giá trị đặc trưng đậm đà bản sắc Việt Nam Trong quá trình thử tìm tòi định vị văn hóa Việt Nam, chúng tôi cũng nhận ra rằng 5 giá trị mà chúng tôi trình bày ở trên để tiếp cận tìm hiểu chỉ có tính chất tương đối vì trong đời sống lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, các giá trị trên thường thâm nhập vào nhau ít khi phân định rõ ràng, cụ thể

Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Chúng tôi xem những

định vị về văn hóa Việt Nam đã nêu trên đây là những cơ sở rất quan trọng để chúng tôi tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt trong truyện thơ Nôm ở phần sau Lẽ tất nhiên, do những điều kiện môi trường tự nhiên khắc nghiệt, thất thường, điều kiện xã hội lắm chiến tranh cùng với những hạn chế của một nền sản xuất nông nghiệp tiểu nông truyền thống, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm… nên căn tính nông dân với những mặt tiêu cực của nó cũng được các nhà nghiên cứu văn hóa chỉ ra rõ ràng, nhưng trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi xin được phép không đề cập đến

Như đã trình bày ở phần trên, mỗi ứng xử là một biểu hiện sự trình bày, ứng phó của chủ thể trước một tình huống, một đối tượng sao cho bộc lộ được vai trò xã hội mang tính khách thể, nói khác đi, ứng xử là những lề lối hành động hoặc những lề lối suy nghĩ và cảm thụ thích đáng của mỗi

hạng vai trò xã hội trước một tình huống Những hệ ứng xử ấy được lặp đi lặp lại thành nếp, được kết

cấu với nhau trong hệ thống lớn hơn mang tính văn hóa ứng xử, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tất nhiên là trong quá trình tiếp thu, gạn lọc, bổ sung, phát triển Vì vậy, văn hóa ứng xử mang tính truyền thống, như một dòng chảy liên tục, không đứt đoạn Người Việt, cũng như các tộc người khác, có truyền thống ứng xử mang sắc thái riêng và đặc trưng riêng

Trang 38

Điều cốt lõi khi tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt là phải tìm ra được đôi nét về sắc thái văn hóa cũng như cốt cách của người Việt Sắc thái văn hóa ấy được biểu lộ trong quá trình phát triển dài lâu của người Việt từ truyền thống đến hiện đại Từ xưa tới nay, sắc thái văn hóa của người Việt là bộ phận chính, là điều kiện để nhìn nhận và hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam, tất nhiên

là trong mối dung hợp với sắc thái đa dạng, phong phú của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Vì thế, khi tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt, thì ở một mức độ nhất định, cũng có nghĩa là đề cập đến văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam

Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm [84], bản sắc và tính cách văn hóa Việt Nam được thể hiện

qua ba lớp văn hóa rõ rệt: “Nó hình thành trên nền của văn hóa Nam AÙ và Đông Nam AÙ (lớp văn

hóa bản địa) Trải qua nhiều thế kỉ, nó đã phát triển trong sự giao lưu mật thiết với văn hóa khu vực, trước hết là văn hóa Trung Hoa (lớp thứ hai) Từ vài thế kỉ trở lại dây, nó đang chuyển mình dữ dội nhờ đi vào giao lưu ngày càng chặt chẽ với văn hóa phương Tây (lớp thứ ba)” Trong bối cảnh văn

hóa ấy, dân tộc Việt và người Việt hình thành phép văn hóa ứng xử, hội nhập của thế ứng xử xuất phát từ ba lớp văn hóa, song cơ bản trên nần tảng lớp văn hóa bản địa Cũng theo giáo sư Trần Ngọc

Thêm [84] “lớp bản địa với cái nền Nam AÙ và Đông Nam AÙ đã để lại cho văn hóa Việt Nam những

đặc điểm nền tảng, tạo nên sự tương đồng với văn hóa các dân tộc Đông Nam AÙ và sự khác biệt với văn hóa Hán” Sự tương đồng và khác biệt về văn hóa bản địa, cũng như các lớp văn hóa khác giữa

văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa, tạo ra những tương đồng, dị biệt trong văn hóa ứng xử và các phương diện văn hóa khác, của người Việt với các tộc người trong và ngoài quốc gia, đồng thời ấn

định đặc trưng văn hóa ứng xử của người Việt

Một đặc điểm đáng chú ý là do xuất phát từ nông nghiệp trồng lúa nước theo thời vụ, với đủ các thao tác phức tạp nên người Việt mang tính cộng đồng cao đi đôi với tính tự quản trong công việc, sinh hoạt và tổ chức xã hội Đặc điểm này đặc biệt nổi bật trong xã hội truyền thống và còn để lại dấu ấn mạnh mẽ trong xã hội hiện đại, tạo nên thế ứng xử lưỡng hợp: vừa coi trọng tính tập thể, tính cộng đồng xã hội lại vừa đề cao tính tự quản theo các nhóm xã hội (như xã, phường, hội…) hoặc dòng họ, gia đình, thậm chí gia đình nhỏ Nói khác đi, người Việt coi trọng ứng xử cộng đồng với những chuẩn mực chung, song lại soi xét những chuẩn mực chung, những phép tắc ứng xử cộng

đồng thông qua lăng kính nhóm xã hội, thậm chí cá thể, mà một trong những nhóm xã hội tiêu biểu nhất của người Việt Nam là gia tộc, gia đình

Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác đã khiến con người phải chú trọng tới các mối quan hệ giữa chúng, do đó người Việt có lối sống quân bình, hướng tới sự hài hòa Cách ứng xử quân bình, chừng mực hài hòa bị quy chiếu bởi phương thức lao động đã đành, nó còn bắt nguồn và bị quy đinh bởi hàng loạt các yếu tố khác như : quan điểm xã hội, đời sống tâm linh, tâm lí xã hội và cá nhân, triết lí duy tình, phong cách ứng xử… Nói tóm lại, chừng mực, hài hòa, không hạn chế sự thâu nhận và lọc bỏ, linh hoạt… là đặc trưng, sắc thái của văn hóa ứng xử người Việt

Trang 39

Nhưng theo giáo sư Trần Quốc Vượng [106] trong khi nhấn mạnh sự hài hòa, chừng mực ấy, không thể không chú ý tới một đặc tính xuyên suốt: sự hài hòa, chừng mực trong sự uyển chuyển mang dấu

ấn một nền văn hóa Mẹ, hay nguyên lí Mẹ của nền văn hóa Việt Nam và cũng là cả của văn hóa ứng

xử không chỉ riêng của người Việt Vì thế, sự hài hòa, quân bình này không phải là tuyệt đối Do bản chất nông nghiệp nên đây là sự hài hòa thiên về âm tính: trong tổ chức gia đình truyền thống thì phụ nữ giữ vai trò cao hơn nam giới Trong tổ chức xã hội thì xu thế ưa ổn định nổi trội hơn xu thế ưa phát triển Trong giao tiếp và quan hệ xã hội thì coi trọng tình cảm hơn lí trí, tinh thần hơn vật chất,

ưa sự tế nhị kín đáo hơn rành mạch thô bạo Trong ứng xử với môi trường xã hội thì mềm dẻo, hiếu hòa… [84, tr.89]

Người Việt ngoài việc đề cao tính cộng đồng chặt chẽ lại có phép ứng xử linh hoạt, năng

động mang tính thích ứng cao Nhưng sự linh hoạt, năng động, thích ứng này cũng mang tính chừng mực, hài hòa, ít nghiêng về cực đoan mà phần nhiều là ứng xử sao cho không phá vỡ tính cộng đồng

xã hội ổn định Giáo sư Trần Ngọc Thêm [84] đã nhận xét rất chính xác: “Văn hóa Việt Nam chứa

đựng sự kết hợp kì diệu của cái ổn định và cái linh hoạt Con người ứng xử linh hoạt với nhau trên cơ sở sự tồn tại của cộng đồng ổn định”… Đó là phép ứng xử văn hóa năng động trong khuôn khổ,

linh hoạt trong từng trường hợp nhưng không phá vỡ tổng thể, tôn vinh cá thể, nhóm, đặc biệt là gia

đình, gia tộc, làng; nhưng lại tôn trọng những chuẩn mực cộng đồng, nhất là khi những chuẩn mực

đó đã trở thành luật lệ

Trên đây là một số nét đặc sắc, độc đáo của văn hóa Việt Nam, dân tộc Việt Nam Trong hệ nhân cách tạo tiền đề và chi phối không nhỏ đến văn hóa ứng xử của người Việt, chúng ta không thể không nhắc đến một số đức tính đặc biệt quan trọng: lòng yêu nước, tính cần cù, tính kiên định nhưng không bảo thủ, tính sáng tạo và nhạy bén, giàu tình cảm, trọng nhân nghĩa, trọng danh dự, sự bao dung và hòa đồng với thiên nhiên…Tất cả những đức tính ấy tạo thành cốt cách văn hóa dân tộc, cốt cách con người Việt Nam

Bản sắc văn hóa, bản tính và cốt cách dân tộc đã chi phối và tạo nên văn hóa ứng xử của người Việt Văn hóa ứng xử ấy, tóm lại, có thể nhấn mạnh ở những nét chính sau:

- Văn hóa ứng xử của người Việt là sự tổng hợp trong ứng xử trên cơ sở sự chi phối của nhiều nền, nhiều lớp văn hóa, trong đó văn hóa bản địa là quan trọng

- Trong mối quan hệ gia đình và xã hội, người Việt có lối ứng xử rất trọng tình nghĩa, thấu tình đạt lý, luôn hướng đến điều thiện và thực hành điều nhân Họ có thái độ căm ghét rõ rệt đối với cái xấu, cái ác nhưng cũng sẵn lòng khoan dung, khoan thứ cho những kẻ đã làm điều ác, điều xấu với mình

- Trong mối quan hệ với tự nhiên, người Việt ưa thích sự hòa hợp giữa tự nhiên và con người, dùng thiên nhiên như một bức phông nền để bày tỏ tình cảm Đặc biệt, người Việt ứng xử với môi

Trang 40

trường tự nhiên như một người bạn thân thiết, thấu hiểu, chia sẻ những tâm trang vui buồn của mình trong cuộc sống

Những đặc trưng chủ yếu này trong văn hóa ứng xử của người Việt được thể hiện một cách rõ nét trong tất cả các bình diện của cuộc sống, bộc lộ rõ ràng tâm lí, tình cảm, suy nghĩ, cách thức thích ứng trong các mối quan hệ với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, giữa người với người Trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc, kể cả khi ứng phó lẫn thích ứng với các đối tượng trong

tự nhiên, xã hội, gia đình… người Việt bao giờ cũng bộc lộ những nét độc đáo và riêng biệt trong văn hóa ứng xử của mình

Trên cơ sở những định vị về văn hóa Việt Nam và những phác thảo sơ nét về diện mạo văn hóa ứng xử của người Việt, chúng tôi hi vọng sẽ áp dụng những điều đã trình bày ở trên vào việc nghiên cứu và chỉ ra được những nét văn hóa ứng xử người Việt thể hiện qua các truyện thơ Nôm, là mục đích quan trọng mà luận văn hướng đến

2.2.2 AÛnh hưởng của văn hóa ngoại sinh

Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý, chính trị quan trọng, là nơi giao lưu của nhiều tộc người, nhiều luồng văn minh, nhiều luồng tôn giáo Dọc theo chiều dài lịch sử, vì luôn luôn phải chống chọi với kẻ thù xâm lược, luôn phải tự bảo vệ mình, nên người Việt Nam có tinh thần dân tộc, tính cộng đồng cao, có nhiều khả năng tiếp biến văn hóa ngoại sinh Với vị trí ngã tư đường của các nền văn minh, người Việt Nam đã tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa nhân loại Tiếp thu văn hóa ấn Độ theo cách của mình, ta có nền văn hóa Chăm độc đáo và một nền Phật giáo Việt Nam Tiếp thu văn hóa Trung Hoa, chúng ta có Nho giáo và Đạo giáo Văn hóa phương Tây đem lại Kitô giáo cùng những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mới mẻ… Sự ra đời và phát triển của văn hóa Việt Nam là kết quả của quá trình giao lưu ở cấp độ khu vực, châu lục và toàn cầu Văn hóa Việt Nam là kiểu văn hóa hỗn dung điển hình do nằm tại vùng giao thoa giữa các trung tâm văn hóa lớn [105, tr.41] Trên cơ sở đó, việc Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận các tôn giáo ngoại sinh cũng là điều dễ hiểu

Tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, tôn giáo không ngừng tác động lên hai mặt của

đời sống con người: cộng đồng và cá thể ở cả hai bình diện đó, tôn giáo đều phát huy chức năng bù

đắp của mình Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, chức năng bù đắp đó chẳng những không hề suy giảm mà còn chuyển hóa thành những hình thức và khuynh hướng mới…Các nhà nghiên cứu nhất trí rằng: tôn giáo luôn là phần bù cho mọi hiện thực để hiện thực đó trở nên hài hòa và hoàn thiện hơn trong con mắt chủ thể Bằng việc đem lại niềm tin, sự an ủi hay cứu rỗi, và bằng việc đặt

ra ý nghĩa của đời người trong một thế giới mà tại đó con người luôn đánh mất phương hướng, đánh mất bản thân - tôn giáo đang mang lại sự cân bằng cho các cá thể và cộng đồng về mặt tinh thần Và

ở một chừng mực nhất định, tôn giáo cũng giảm thiểu những tha hóa vật chất qua các hoạt động nhằm cổ vũ sự phân phối lại sản phẩm xã hội một cách từ thiện, công bằng và nhân ái hơn…

Ngày đăng: 19/01/2020, 00:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1998, tái bản), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
2. Trần Thúy Anh (2004), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao - tục ngữ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao - tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
3. Đinh Viễn Trí, Đông Phương Tri, Ngọc Anh dịch (2003), Văn hóa giao tiếp ứng xử (biết co biết duỗi), NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp ứng xử (biết co biết duỗi)
Tác giả: Đinh Viễn Trí, Đông Phương Tri, Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
4. Toan AÙnh (1998), Con người Việt Nam, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Việt Nam
Tác giả: Toan AÙnh
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1998
5. Toan AÙnh (1991), Con người Việt Nam: phong tục cổ truyền, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Việt Nam: phong tục cổ truyền
Tác giả: Toan AÙnh
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1991
6. Toan AÙnh (2000), Tìm hiểu phong tục cổ truyền Việt Nam qua nếp cũ gia đình, NXB Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục cổ truyền Việt Nam qua nếp cũ gia đình
Tác giả: Toan AÙnh
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2000
7. Toan AÙnh (2002), Văn hóa Việt Nam - Những nét đại cương, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam - Những nét đại cương
Tác giả: Toan AÙnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
8. Toan AÙnh (1997), Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam
Tác giả: Toan AÙnh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1997
9. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (1998), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết TW khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nghị quyết TW khóa VIII
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
10. Nguyễn Trần Bạt (2005), Văn hóa và con người, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2005
11. Hoa Bằng (1970), Quan âm tân truyện (tức Quan âm Thị Kính) xuất hiện từ bao giờ và tác giả là ai, Tạp chí văn hóa số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan âm tân truyện (tức Quan âm Thị Kính) xuất hiện từ bao giờ và tác giả "là ai
Tác giả: Hoa Bằng
Năm: 1970
12. Vũ Văn Bằng (2004), Con người và môi trường sống (theo quan niệm cổ truyền và hiện đại), NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và môi trường sống (theo quan niệm cổ truyền và hiện đại)
Tác giả: Vũ Văn Bằng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
13. Vũ Văn Bằng (2000), Văn hóa, phát triển và con người Việt Nam, NXB TP.HCM 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, phát triển và con người Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Bằng
Nhà XB: NXB TP.HCM 2000
Năm: 2000
14. Nguyễn Trọng Báu sưu tầm và biên soạn (2005), Truyện kể và phong tục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể và phong tục
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
15. Lê Thị Bừng (1998), Tâm lí học ứng xử, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
16. Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu (1960), Sơ kính tân trang, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kính tân trang
Tác giả: Lại Ngọc Cang
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1960
19. Nguyễn Thị Chiến (1993), Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân, Luận án PTS.KH Ngữ văn, Trường ĐHTH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Nhà XB: Trường ĐHTH
Năm: 1993
20. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
21. Nguyễn Viết Chức chủ biên (2002), Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
22. Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Trẻ, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w