1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Một số thể nghiệm trong giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam ở chương trình Ngữ văn 9 bậc trung học cơ sở

49 86 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 908,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Một số thể nghiệm trong giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam ở chương trình Ngữ văn 9 bậc trung học cơ sở bao gồm những nội dung về dạy đọc - hiểu văn bản trong chương trình THCS; dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 9 theo hướng đọc - hiểu.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Kha Lệ Thanh

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn

Mã số : 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Hồng Hà suốt thời gian qua

đã vô cùng nhiệt tình, chu đáo chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn quý Thầy, Cô trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm hướng dẫn, giảng dạy chúng tôi trong thời gian qua

Xin cảm ơn Khoa Văn, Phòng Khoa học Công nghệ – Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; các Thầy, Cô và học sinh trường THCS Lam Sơn; các bạn bè, đồng nghiệp… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tác giả luận văn

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dạy học, đặc biệt dạy Văn, vừa là bộ môn khoa học cung cấp tri thức vừa là bộ môn nghệ thuật Do đó, người thầy cần có tri thức thật vững vàng đồng thời phải có sự vận dụng linh hoạt về phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ, đối tượng học sinh (HS) thì mới thực hiện tốt được nhiệm vụ dạy học của mình

Một thực tế được thấy rõ hiện nay là: phần đông học sinh ngán ngại học môn Ngữ văn, ít đầu tư cho môn này, dẫn đến hiệu quả học tập không cao, không đều giữa các môn học Học sinh ngày càng lạnh nhạt với môn Ngữ văn, trong giờ văn nhiều khi học sinh tỏ ra thờ ơ lãnh đạm với số phận nhân vật, với tiếng nói tâm tình của nhà văn

Một thực trạng nữa là học sinh không học bài, không soạn bài, không đọc văn bản, lên lớp học thụ động, chép và trả bài một cách máy móc… đây là điều rất đáng lưu tâm, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Những thực trạng này dẫn đến kết quả là học sinh không hứng thú khi tiếp nhận tác phẩm văn

chương; không có kỹ năng vận dụng kiến thức để viết một bài luận cho đúng, hay; thiếu

tư duy sáng tạo, thiếu tinh thần thái độ học tập đúng đắn

Về phía giáo viên (GV), một số chưa thu hút được học sinh, hoặc có tâm lý dạy cho đủ nghĩa vụ, không cần quan tâm đến tâm lý, tình cảm của học sinh

Những tiết thao giảng cho đồng nghiệp dự giờ đôi khi chỉ mang tính biểu diễn, còn thực

tế ở lớp là công đoạn đọc - chép - học thuộc lòng - trả bài mẫu Cách học này dần dần giết chết khả năng cảm thụ, sáng tạo của học sinh; kiến thức của người thầy cũng dần dần

bị mòn đi

Trong thực tế có một số giáo viên không nắm vững phương pháp phân tích một tác phẩm được chọn giảng trong chương trình theo đặc trưng thể loại của nó nên khai thác tác phẩm một cách chung chung, sơ lược, công thức

Đổi mới phương pháp dạy học Văn là một đòi hỏi cấp bách, một vấn đề có tính chất thời

sự khoa học hiện nay Với chương trình đổi mới giáo dục, môn Ngữ văn trong nhà trường

đã có được những bước tiến đáng kể, chất văn chương, chất nhân văn của chương trình văn học đã được nâng lên khá rõ song vấn đề phương pháp dạy học Văn vẫn còn là một bài toán khó đang cần sự giúp sức của nhiều người

Luật giáo dục của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 05 tháng 05 năm 2005, trong điều 5 đã nêu rõ yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên." [43, tr.7,8]

Có thể thấy hiện nay một bộ phận GV Văn chưa tìm ra phương pháp dạy học (PPDH) thích hợp mặc dù trong thời gian qua chủ trương của Bộ Giáo dục là "đổi mới phương pháp, cải tạo phương pháp; dạy học phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS" [Trích Nghị quyết Trung ương lần IV "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo"] Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn là sự vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, các thao tác giảng dạy khác nhau nhằm phát huy tối đa tinh thần chủ động tích cực sáng tạo của HS, giúp các em tư tìm tòi, khám phá ra chân lý thay vì cách học thụ động một chiều trước đây

Dạy đọc - hiểu là một hoạt động giảng dạy mới xuất hiện trong chương trình SGK 2002 Hiện nay, các nhà nghiên cứu và các nhà sư phạm cũng đã và đang tìm hiểu về bản chất

và vận dụng việc dạy đọc - hiểu trong chương trình Ngữ văn Đây là phương pháp hướng

Trang 4

dẫn học sinh đọc văn bản - bám sát câu chữ văn bản để chỉ ra nội dung tư tưởng, tự khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn bản, giúp HS hình thành phương pháp đọc - hiểu các tác phẩm cùng loại Với phương pháp dạy như vậy thì dạy đọc - hiểu văn bản sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh

Trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở (THCS) tích hợp, việc giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam đạt hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tri thức cơ bản về kiểu văn bản tự sự, giúp HS hiểu khái quát về loại văn bản này, có khả năng cảm thụ tác phẩm và có phương pháp tự học, hình thành kỹ năng nói (kể chuyện người thật việc thật, kể chuyện sáng tạo, rèn luyện yếu tố miêu tả nội tâm, tóm tắt văn bản tự sự) và kĩ năng tạo lập văn bản tốt (nghị luận trong văn bản tự sự, độc thoại, nội tâm…) bởi vì truyện thường phản ánh hiện thực đa dạng, phong phú, có nhiều sự việc tình tiết, tính cách nhân vật đa dạng, nội dung đề tài gần gũi với cuộc sống mang tính hiện thực Trong chương trình học kì I lớp 9, kiểu bài tự sự chiếm 2/3 bài viết và HS lớp

9 về tâm sinh lý đã đủ khả năng cảm nhận các truyện giảng dạy trong chương trình

Từ những lí do trên, việc tìm hiểu và nghiên cứu dạy học các truyện ngắn hiện đại Việt Nam (HĐVN) theo hướng đọc - hiểu là việc làm thiết thực góp phần thực thi việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định dung lượng kiến thức cần thiết và phương pháp giảng dạy cụ thể cho thể loại truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 9 nhằm tìm ra hướng

đi thích hợp nhất, cách thức hiệu quả nhất phù hợp với đặc trưng loại thể và thực trạng dạy, học để đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văn trong chương trình THCS

Với đề tài này, chúng tôi đi vào nghiên cứu những lý thuyết về phương pháp dạy đọc - hiểu và vận dụng vào giảng dạy truyện ngắn HĐVN trong chương trình Ngữ văn 9 (4 truyện theo phân phối chương trình)

¢ Bài 13: Làng (trích) - tác giả Kim Lân - trang 162 (tập I)

¢ Bài 14: Lặng lẽ SaPa (trích) - tác giả Nguyễn Thành Long - trang 180 (tập I)

¢ Bài 15: Chiếc lược ngà (trích) - tác giả Nguyễn Quang Sáng - trang 195 (tập I)

¢ Bài 28: Những ngôi sao xa xôi (trích) - tác giả Lê Minh Khuê - trang 113 (tập II)

3 Lịch sử vấn đề

Môn Văn - Tiếng Việt đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông từ rất sớm Song, sự hình thành phương pháp dạy học văn với tư cách là một môn khoa học gắn liền với sự trưởng thành của khoa sư phạm và nhà trường mới rõ nhất là từ sau những năm 60 của thế kỉ XX

Phải đến cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, những công trình chuyên ngành mới được nâng cao lên một bước về chất lượng Nhiều chuyên luận lần lượt ra đời như Rèn luyện tư duy

HS qua giờ giảng dạy văn học (1969) của Phan Trọng Luận; Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể (1970) Trần Thanh Đạm chủ biên; Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường (1977) của Phan Trọng Luận;… Những công trình nghiên cứu đó bước đầu đã nghiên cứu về phương pháp theo hướng chú ý đến sự tiếp nhận của HS và từng bước đi vào con đường cải tiến, hoàn thiện và đổi mới về phương pháp nhất là vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể đã được các nhà sư phạm trong và ngoài nước bàn đến qua các tài liệu như sau:

Trang 5

" Văn học và văn hóa từ một góc nhìn của Phùng Quý Nhâm, Nxb Văn học, trong

đó có bài Đặc trưng nghệ thuật của truyện ngắn giúp giáo viên nắm được đặc trưng của truyện ngắn và cơ sở lý luận để thiết kế bài giảng thể loại truyện

" Đọc văn học văn của Trần Đình Sử, Nxb Giáo dục Hà Nội: học Văn trước hết phải đọc hiểu văn, mà đọc hiểu văn không phải đơn giản như kiểu đọc chữ… Có đọc hiểu văn rồi thì mới biết thế nào là văn hay, thế nào là thị hiếu văn lành mạnh và viết thế nào

là hay Giảng văn chỉ là giảng cách hiểu của người đọc văn, cơ sở của nó là sự đọc hiểu Với Nghị quyết Trung ương II (khóa VIII) về giáo dục và khoa học công nghệ, vấn đề nội dung và phương pháp giáo dục đã được đặc biệt lưu ý Vấn đề đổi mới phương pháp được đặt ra một cách chính thức trong văn kiện của Đại hội Đảng cũng như những văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đổi mới phương pháp đã trở thành vấn đề thời sự khoa học Những bài viết đăng trên các báo, tạp chí về mối quan hệ giữa tác phẩm với HS, hướng đổi mới dạy học văn chương trong trường phổ thông… đã đúc kết lại trong tài liệu bồi dưỡng chính thức cho các GV toàn quốc trong các chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên

Thiết kế bài giảng Ngữ Văn của TS Nguyễn Văn Đường hướng dẫn các bước của tiến trình dạy học: tìm hiểu tác giả, tác phẩm cụ thể, với những thông tin về tác giả, tác phẩm phong phú Hệ thống câu hỏi bài tập và những định hướng, kết luận thể hiện tính tích hợp

và tích cực Những bài đọc tham khảo phong phú đa dạng Tuy nhiên, thời lượng giảng dạy của tiết lên lớp không đủ để truyền đạt kiến thức quá chi tiết

Các sách hướng dẫn giảng dạy môn Văn cho giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong chương trình: tài liệu này hướng dẫn tất cả các bài sẽ giảng trong chương trình, có tính chất định hướng chung, thống nhất cho giáo viên về các vấn đề như mục đích yêu cầu của bài khi giảng; tìm hiểu về tác phẩm, đoạn trích; nội dung và nghệ thuật cần đảm bảo… Tuy nhiên, sách này không hướng dẫn cụ thể, chi tiết từng bước, từng công việc mà giáo viên phải làm trong quá trình giảng dạy một bài cụ thể nào đó về phương pháp cũng như

về nội dung sao cho phù hợp với thực tế học sinh Đồng thời sách cũng chưa chú trọng đến các truyện hiện đại Việt Nam được dạy theo loại thể gắn với phương pháp dạy đọc - hiểu

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của 4 chu kì (1992 - 1996); (1997 - 2000); (2001 - 2003); (2005 - 2007): có định hướng về phương pháp giảng dạy tích cực cho học sinh nhưng chưa đi vào phương pháp dạy truyện một cách cụ thể

Gần đây nhất trong tiến trình đổi mới chương trình, đổi mới sách giáo khoa (SGK), người

ta chú trọng và từng bước áp dụng một phương pháp dạy học mới - dạy học đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường Phương pháp dạy học đó đã được áp dụng trong chương trình giảng dạy ở THCS và thu được một số kết quả như mong muốn Qua đó, phương pháp dạy học đọc - hiểu tác phẩm văn chương từng bước khẳng định được ưu điểm của mình và dần thay thế cho phương pháp dạy học truyền thống trước đó

Sách giáo khoa mới năm 2002 - 2006: được xây dựng trên quan điểm tích hợp 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Theo tinh thần này, cả 3 phân môn có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, ủng hộ lẫn nhau trong mỗi bài học và xuyên suốt với các bài học khác trong chương trình Phương châm của việc tích hợp là nhằm hướng cho học sinh, bên cạnh hệ thống tri thức riêng của từng phân môn, phải nắm được những tri thức có quan hệ với nhau giữa các phân môn, giúp học sinh biết vận dụng những tri thức của Tiếng Việt, Làm văn vào việc thẩm nhận cái hay, cái đẹp của văn bản, đồng thời biết vận dụng các kĩ năng, tri thức về Tiếng Việt, Văn học vào tạo lập văn bản,

Trang 6

phục vụ cho hoạt động giao tiếp trong đời sống hàng ngày Sự tích hợp này đòi hỏi tất cả các phân môn phải có sự thay đổi về phương pháp nhất là phương pháp dạy truyện ngắn HĐVN

Ngoài ra, các bài viết và công trình nghiên cứu về truyện hiện đại Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng Nhìn chung, mỗi công trình, mỗi bài viết đều thể hiện những tìm tòi, khám phá của người viết, thể hiện những đóng góp quý báu giúp cho việc giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả cao Tuy nhiên, phần lớn các bài viết, công trình nghiên cứu này thường chỉ đi vào những vấn đề chung của việc nghiên cứu và giảng dạy truyện hiện đại hoặc đi vào trình bày chi tiết phương pháp giảng dạy một tác phẩm cụ thể mà chưa có

sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa các hướng tiếp cận và chưa thật sự phù hợp với tình hình dạy học hiện nay

Trong chương trình Ngữ văn 9 hiện hành, các văn bản Làng (Kim Lân), Lặng lẽ SaPa (Nguyễn Thành Long) là những tác phẩm đã có trong chương trình lớp 9 SGK chỉnh lý (1995), còn văn bản Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) thì nằm trong chương trình lớp 7 SGK chỉnh lý Các văn bản này đã được các nhà nghiên cứu và các nhà sư phạm phân tích theo hướng giảng văn Các văn bản này theo hướng dạy đọc - hiểu cho đến nay chưa có nhiều tài liệu Riêng tác phẩm Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê) là tác phẩm hoàn toàn mới được đưa vào chương trình nên việc tìm hiểu con đường dạy theo hướng đọc - hiểu là vô cùng cần thiết Ngoài ra, tài liệu tham khảo chủ yếu dành cho chương trình phổ thông trung học, còn THCS rất ít Vì vậy, luận văn này vừa học tập, vừa kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, cố gắng kết hợp các hướng tiếp cận truyện hiện đại Việt Nam để tìm ra cách khai thác theo hướng đọc - hiểu thích hợp nhất cho học sinh

4 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần khẳng định phương pháp dạy đọc - hiểu của bộ môn Ngữ văn có một

số ưu điểm trong đó nhấn mạnh đến khâu "đọc" (ở lớp, ở nhà) và "hiểu", phần nào giúp

HS cảm thụ tác phẩm truyện ngắn hiện đại Việt Nam Luận văn đưa ra một số thiết kế cụ thể cho các tác phẩm được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 9, giúp GV tham khảo

và vận dụng trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp quan sát điều tra, so sánh, thống kê

5.2 Phương pháp mô tả

5.3 Phương pháp tổng hợp phân tích đánh giá

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, cấu trúc luận văn gồm 3 chương và một số nội dung sau:

Chương 1: Dạy đọc - hiểu văn bản trong chương trình THCS Chương này nhằm làm rõ một cách khoa học về phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản, là phương pháp phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS - phương pháp dạy học tích hợp

Chương 2: Dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 9 theo hướng đọc - hiểu Chương này đi vào trọng tâm nghiên cứu một cách khái quát về thể loại truyện ngắn Luận văn nêu một cách khái quát các hoạt động dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam theo hướng đọc - hiểu trong chương trình Ngữ văn 9 THCS

Chương 3: Thực nghiệm Mô tả lại tiến trình thực hiện (dự giờ, quay phim) và dựa vào kết quả thực nghiệm để bước đầu nhận xét khả năng ứng dụng của phương pháp dạy học đọc - hiểu và tính khả thi của đề tài luận văn

Trang 7

Kết luận: Bước đầu khẳng định khả năng ứng dụng của phương pháp dạy học đọc - hiểu với dạy học tác phẩm văn chương trong trường phổ thông và một số đề xuất

Tài liệu tham khảo

Phụ lục: đính kèm phim, giáo án điện tử

Chương 1: DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH THCS

1.1 Bản chất của dạy đọc - hiểu

Đọc - hiểu chính là đọc và nắm bắt thông tin Hay nói cách khác là quá trình nhận thức để

có khả năng thông hiểu những gì được đọc, trong đó hoạt động "đọc" là cơ bản, có tầm quan trọng hết sức to lớn và cần giải quyết thấu đáo Còn "hiểu" là kết quả có được từ hoạt động đọc, là cái đích duy nhất của bất cứ hoạt động đọc nào Trong hệ thống đọc - hiểu ấy, nhân tố không thể thiếu được là văn bản và người đọc Văn bản sẽ quy định cách thức đọc, phương thức đọc Tùy theo phong cách văn bản mà có những cách đọc khác nhau Mỗi văn bản được tạo nên bởi hệ thống ngôn ngữ hoàn chỉnh về mặt nội dung và hình thức Dạy đọc - hiểu là dạy cho học sinh cách thức đọc ra nội dung gắn với hình thức trong những mối quan hệ bao quát trọn vẹn của văn bản

Tác phẩm văn chương được xây dựng từ ngôn từ nghệ thuật Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương là dạy cho học sinh cách thức tiếp nhận tác phẩm văn chương trên cơ sở đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật là chủ yếu Muốn hiểu được tác phẩm văn chương phải đi từ ngôn từ nghệ thuật và vận dụng những kiến thức về loại thể, hồi tưởng, vốn sống, sự trải nghiệm

để tìm hiểu và nắm bắt thông tin trong tác phẩm Đó là chìa khóa giải mã tác phẩm văn học

Cách dạy đọc - hiểu không phải cung cấp cho học sinh kiến thức về tác phẩm mà là dạy cho học sinh cách thức, phương pháp để đi tìm kiến thức Đọc văn trong học văn là đọc

có lý giải, phân tích có phương pháp, cách thức Đọc ở đây không chỉ là phát biểu cảm tưởng, cảm tính thiếu cơ sở khoa học Cách đọc này cần có sự hướng dẫn, giảng giải hình thành phương pháp của giáo viên cho học sinh "Dạy văn là dạy cho học sinh phương pháp đọc, kĩ năng đọc, năng lực đọc để học sinh có thể đọc-hiểu bất cứ một văn bản nào cùng loại" [5, tr.115-116] Có phương pháp ấy thì học sinh có thể tự tìm hiểu những tác phẩm cùng loại Như vậy thì dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương chính là dạy cho học sinh cách thức, con đường tìm ra giá trị của tác phẩm văn học

1.1.1 Đọc - hiểu và hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường

Tiếp nhận văn học là khái niệm rộng hơn đọc - hiểu Đọc - hiểu là một hình thức của tiếp nhận Có nhiều con đường và cách thức tiếp nhận văn bản Khi đọc một câu chuyện, một bài thơ, người đọc không những hiểu mà phải còn có xúc cảm, tưởng tượng và thực sự gần gũi, "nhập thân" với những gì đã đọc Đọc có suy ngẫm, tưởng tượng (hay liên tưởng) và rung cảm thật sự chính là người đọc tìm được giá trị của tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là một loại văn bản đặc biệt, là một đối tượng nhận thức đặc thù vì nó

là sản phẩm tinh thần đặc biệt Muốn chiếm lĩnh, tiếp nhận không thể vận dụng những năng lực hoạt động nhận thức chung mà cần đến những năng lực nhận thức đặc thù qua hình tượng thẩm mỹ Tác phẩm văn học là một sáng tạo tinh thần của cá nhân người nghệ

sĩ Nó không phải là một vật thể thẩm mỹ cụ thể mà là một tồn tại phi vật thể thông báo qua hình tượng thẩm mỹ được vật chất hoá bằng hệ thống tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Tác phẩm văn học nào cũng nhằm mục đích thông báo tình cảm thẩm mỹ Nhà văn gửi đến cho người đọc nhiều xúc động mãnh liệt nhất về cuộc sống, con người dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ Nội dung đó được thể hiện qua hình tượng thẩm mỹ được hệ

Trang 8

thống hoá qua hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Đó là một đặc trưng riêng trong sáng tác văn học và trong tiếp nhận văn học Tiếp nhận chính là tìm hiểu những tình cảm thẩm mỹ bằng hình tượng thẩm mỹ qua hệ thống ngôn ngữ Đây là một qui trình khép kín của tác phẩm văn học từ sáng tác đến bạn đọc và ngược lại

Từ quy trình tác động của tác phẩm văn học đối với bạn đọc, chúng ta nhận thấy quy trình tiếp nhận văn bản tác phẩm cũng là một quá trình Đó chính là quá trình tiếp thu, lĩnh hội những giá trị mà tác phẩm văn học mang đến cho người đọc Nó đòi hỏi người đọc phải có những năng lực cụ thể Đó là năng lực đọc văn và tri giác ngôn ngữ "Tiếp nhận văn học là một quá trình, vì nó chỉ thực sự diễn ra theo một hoạt động duy nhất là đọc văn"[17, tr.35]

Đọc một tác phẩm văn học trước hết phải đọc văn bản ngôn từ của nó, phải đọc hiểu được từng từ, từng câu, từng chữ, từng dấu hiệu trong tác phẩm Đọc - hiểu văn bản chính

là tiếp cận hình tượng văn học thể hiện tư tưởng tình cảm thẩm mỹ của tác giả được xây dựng qua hệ thống ngôn từ

Dạy đọc - hiểu văn chương là quá trình biến văn bản thành tác phẩm của mỗi học sinh bởi "mỗi quyển sách có số phận riêng của mình trong đầu bạn đọc" (L.Tôntôi) Nhà văn chỉ sáng tác nên tác phẩm của riêng mình và nếu chưa được tiếp nhận thì các sáng tác ấy chỉ là những "con chữ" bất biến của riêng nhà văn Tác phẩm chỉ hình thành khi bắt đầu

có người đọc Nó tương tác với người đọc, nó đánh thức "con chữ", tác phẩm trở thành khả biến, đa thanh đối với người tiếp nhận N.I Kuđriasép khẳng định: "thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại" Văn bản không phải là sự tập hợp ngẫu nhiên của từ, câu rời rạc mà nó là một chỉnh thể ngôn ngữ Đọc - hiểu văn bản chính là đọc- hiểu từ chỉnh thể ngôn ngữ cấu thành nên văn bản đó

Xuất phát từ những đặc trưng trên thì việc dạy cho học sinh tiếp nhận văn bản chính là dạy cho học sinh đọc- hiểu từ những hệ thống ngôn ngữ để cảm nhận được hệ thống giá trị của tác phẩm

Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học phải bắt đầu từ bước đọc hiểu ngôn từ của tác phẩm Nếu không có quá trình này thì tác phẩm chỉ là một văn bản câm lặng, không có linh hồn Đọc hiểu văn bản hay là quá trình tri giác ngôn ngữ làm cho tác phẩm sống động có hồn Trong đọc văn bản học sinh có nhiều cách thức đọc: đọc nhanh, đọc chậm, đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc cho tự người đọc tiếp nhận và đọc cho người khác tiếp nhận Đó chính là khâu đọc hiểu trên dòng của bề mặt ngôn ngữ

Đọc hiểu văn bản không chỉ dừng lại ở việc đọc trên dòng mà phải đọc hiểu giữa dòng và đọc hiểu ý nghĩa tiềm ẩn đằng sau hệ thống ngôn từ đó Đọc phải tìm ra những ẩn ý bên trong mà người viết muốn gởi gắm đến cho người đọc Ở đối tượng học sinh cũng vậy Đọc hiểu tác phẩm văn chương là đọc hiểu nội dung ý nghĩa của văn bản tác phẩm văn học Tuy nhiên nội dung văn bản văn học là khách quan bất biến nhưng ý nghĩa của nó dưới sự cảm thụ của những người tiếp nhận khác nhau là khả biến đa thanh Vì thế đọc - hiểu văn bản không thể chỉ dựa vào một yếu tố nào đó riêng biệt mà phải là một quá trình tổng hợp, tích hợp "Đọc là tìm ra ý nghĩa trong một thông điệp được tổ chức bằng hệ thống kí hiệu"[4, tr.118] Phải đọc - hiểu từ các yếu tố trong văn bản đi đến vận dụng những yếu tố ngoài văn bản để soi sáng cho kết quả phân tích văn bản như tiểu sử, thời đại, hoàn cảnh sáng tác, phong cách… Đây chính là quá trình tổng hợp trong tiếp nhận văn học Tuy nhiên với đặc điểm tâm sinh lý, trình độ, khả năng cảm thụ và tiếp nhận của học sinh sẽ chưa sâu, chưa đầy đủ nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên

Trang 9

Giáo viên với tư cách là một người tiếp nhận có trình độ, có năng lực cảm thụ văn học sẽ đóng vai trò người hướng dẫn cho học sinh tìm tòi, từng bước khám phá, phân tích, đọc hiểu văn bản, đọc hiểu nội dung bên trong mà người viết muốn gởi gắm Quá trình đọc như vậy phải thực hiện từ khâu chuẩn bị kĩ càng của giáo viên lẫn học sinh Học sinh sẽ đọc tác phẩm văn học và tự soạn, trả lời những câu hỏi hướng dẫn đọc - hiểu của giáo viên trong sách Ngữ văn Để làm được điều này, nhiệm vụ đầu tiên của học sinh là đọc văn bản, đây chính là bước cảm nhận ban đầu Khâu này rất quan trọng Nếu học sinh đọc đúng sẽ giúp cho quá trình tìm hiểu văn bản đúng hướng, đúng nội dung Sau khi tiến hành đọc trên bề mặt ngôn ngữ, học sinh sẽ từ từ đi vào đọc hiểu bề sâu ngôn ngữ qua sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh vận dụng tất cả những yếu tố

có liên quan đến văn bản để phân tích lý giải khám phá tác phẩm Có như vậy thì sự tiếp nhận của học sinh sẽ toàn diện và sâu sắc hơn "Học sinh được giáo viên hướng dẫn sẽ hình thành kiến thức mới trên cơ sở sách giáo khoa và vốn hiểu biết trực tiếp và gián tiếp của bản thân mình" [20, tr 238]

1.1.2 Dạy học theo hướng đọc - hiểu là phương pháp dạy học tích hợp

Việc dạy học theo chương trình và SGK Ngữ văn THCS được thực hiện theo phương hướng tích hợp Tích hợp như một phương hướng và nguyên tắc dạy học đổi mới được quán triệt xuyên suốt từ mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cấu trúc chương trình đến các phương pháp, biện pháp hình thức dạy học và các phân môn

1.1.2.1 Tích hợp về kiến thức

Chương trình Ngữ văn THCS chia việc giảng dạy môn Ngữ văn thành hai vòng Vòng I: lớp 6 - 7 và vòng II: lớp 8 - 9 Ở mỗi vòng sáu kiểu văn bản đều được dạy Tuy nhiên, ở vòng II, mặc dù vẫn là những kiểu văn bản ấy nhưng được học với yêu cầu khó hơn, phức tạp và tinh tế hơn Theo nguyên tắc kế thừa chương trình này tận dụng các văn bản, các nội dung đã được viết trong SGK chỉnh lý năm 1995, nhưng phải tổ chức lại cho thích hợp với tinh thần của chương trình mới Chương trình mới buộc phải rút bỏ một số văn bản và một số nội dung không thích hợp, vừa phải thêm những văn bản, những vấn đề mới Chương trình được cấu tạo theo đơn vị bài học tương ứng với việc tổ chức giảng dạy trên lớp Mỗi bài học nhưng vậy sẽ gồm một văn bản văn học hay nhật dụng GV sẽ khai thác những điều cần dạy về văn học ở bài học đó, tiếp theo sẽ dạy từ ngữ, ngữ pháp

và làm văn tương ứng với những yếu tố ngôn ngữ được sử dụng để viết ra bài văn đó

Sự tích hợp đó gọi là tích hợp dọc Bên cạnh đó, trong tiến trình lịch sử, một tác phẩm ra đời không thể nào nằm ngoài chu trình phát triển của lịch sử hay một tác phẩm ra đời bao giờ cũng mang đặc điểm chung của thời kì văn học bên cạnh những đặc điểm riêng của

nó Những đặc điểm chung chính là tiền đề giúp cho chúng ta dễ dàng đi vào phân tích và tìm hiểu những đặc điểm riêng của tác phẩm Các yếu tố về tác giả, các tác giả cùng thời đại.…cũng góp phần giúp chúng ta trong đọc hiểu tác phẩm Đồng thời do đặc trưng sáng tác chúng ta cũng không loại trừ việc phân tích ngôn từ nghệ thuật và phong cách sáng tác Nó có quan hệ chặt chẽ với phân môn Làm văn và Tiếng việt Việc phân tích đánh giá chính là sự vận dụng các thao tác trong Tiếng Việt và Làm văn để làm bài Điều đó cũng được thể hiện rất rõ trong chương trình học của học sinh Sách Ngữ văn cải cách có đầy đủ cả ba phân môn Giảng văn, Tiếng Việt, Làm Văn mà trước kia nó được tách rời ra làm ba phân môn riêng biệt Là giáo viên đứng lớp, chúng ta phải nắm vững những vấn

đề này và hướng dẫn cho học sinh một cách cụ thể Điều này thể hiện rất rõ tính tích hợp của môn Ngữ văn và phương pháp dạy mới

1.1.2.2 Đa dạng về phương pháp

Trang 10

Có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp Mỗi phương pháp giảng dạy có những

ưu cũng như những nhược điểm của nó Chúng ta không hoàn toàn bác bỏ giá trị của phương pháp nào cả Cái quan trọng là chúng ta biết loại bỏ những hạn chế, kế thừa, vận dụng và phát huy những ưu điểm của mọi phương pháp để tiết dạy đạt được hiệu quả cao Phương pháp dạy học phát vấn: hay còn gọi là phương pháp đàm thoại Đây là phương pháp người giáo viên xây dựng câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy qua đó học sinh tiếp nhận tri thức Bằng con đường đàm thoại gợi mở, giáo viên tạo cho lớp học một không khí cởi mở, học sinh tự do bộc lộ những nhận thức trực tiếp của mình Những tín hiệu phản hồi được báo lại cho giáo viên kịp thời trong khi lên lớp Giờ dạy học văn có được không khí tâm tình, trao đổi thân mật

về những vấn đề thông qua tác phẩm Mối liên hệ giữa nhà văn, giáo viên và học sinh được hình thành ngay trên lớp học

Phương pháp dạy học đàm thoại có thể kích thích tư duy của học sinh, học sinh chịu tìm tòi, suy nghĩ mọi câu trả lời đúng sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn Ngoài ra phương pháp dạy học này còn giúp học sinh có khả năng trình bày một vấn đề trước tập thể học sinh Tuy nhiên để giờ đàm thoại có hiệu quả, giáo viên cần phải chuẩn bị kĩ hệ thống câu hỏi

và phải tổ chức lớp học hợp lý

Phương pháp đọc diễn cảm: là một phương pháp truyền thống được các giáo viên dạy văn

ở nước ta sử dụng cho học sinh đọc trước khi phân tích tác phẩm Tuy nhiên, hầu hết giáo viên và học sinh chỉ coi đó là công đoạn mở đầu cho giờ dạy học tác phẩm văn chương Giáo viên chưa chú ý đến hiệu quả của phương pháp này Theo giáo sư Lê Trí Viễn:

"Giữa giọng đọc và tâm hồn người đọc có ảnh hưởng tương hỗ Hiểu bài văn rồi mới đọc tốt nhưng đọc tốt càng hiểu thêm bài văn" Đọc diễn cảm là một hình thức đặc thù của nhận thức văn học Âm vang của lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tuởng tượng và tái hiện hình ảnh Bằng sức mạnh của đọc diễn cảm, người giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng phù hợp với qui luật cảm thụ văn học

Đọc diễn cảm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc dạy văn học, tuy nhiên hiện nay trong dạy học văn người giáo viên vẫn chưa phát huy hết hiệu quả của nó, đọc diễn cảm chỉ là việc làm một, hai lần trong suốt giờ dạy một tác phẩm văn chương

Phương pháp gợi tìm: phương pháp này được khởi nguyên từ phương pháp "nêu vấn đề" trong lý luận dạy học đại cương (Ơrixtic) Phương pháp gợi tìm chủ yếu cho người học đi tìm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức của mình Hoạt động nhận thức của học sinh thay đổi theo những chiều hướng khác nhau trên văn bản của tác phẩm nghệ thuật Ở đây, vai trò chủ thể HS được phát huy, việc phân tích tác phẩm sâu sắc hơn đòi hỏi người đọc cũng phải có một vốn tri thức các khoa học cơ sở như: lý luận dạy học, lịch sử văn học… Phương pháp này giúp cho việc cảm thụ nghệ thuật ban đầu ở HS được khơi sâu thêm bởi những nỗ lực trí tuệ của các em được thúc đẩy HS phải suy luận, phân tích rồi biểu hiện

ra bằng ngôn ngữ nói hoặc viết Chủ yếu hoạt động của phương pháp này ở dạng đàm thoại hoặc bài làm độc lập theo câu hỏi gợi mở của thầy

Phương pháp nghiên cứu: là phương pháp giúp HS tìm ra đối tượng khảo sát ít nhiều mới

mẻ mà trước đó chưa biết Nó phát triển kỹ năng tự phân tích tác phẩm, tự đánh giá những thành tựu về nội dung và nghệ thuật ở HS HS xác định được tiêu chuẩn đánh giá một tác phẩm, từng bước hoàn thiện khiếu thẩm mĩ cá nhân Câu hỏi bài tập của phương pháp này phải mang tính chất nghiên cứu Sau khi HS nắm được biện pháp làm việc sẽ tự giải quyết các nhiệm vụ phức tạp hơn, biết vận dụng các tri thức đã có để xử lý những tư liệu mới mẻ, phát biểu được ý kiến có lập luận, có căn cứ của mình Phương pháp nghiên

Trang 11

cứu được sử dụng ở các giờ thông thường đặc biệt trong các buổi xêmina, hoặc những hội nghị văn học tổng kết các bài làm của HS

Phương pháp tái tạo: thực chất đây là phương pháp nhớ một cách sáng tạo Phương pháp này hướng hoạt động của HS vào những tri thức sẵn có trong ngôn ngữ hoặc bài giảng của GV, SGK… đã được chọn lọc HS không hoàn toàn ghi nhớ máy móc mà chiếm lĩnh tri thức một cách có ý thức Tức là tăng cường hoạt động của tư duy để thuộc nhớ bài đạt kết quả tối đa Trong phương pháp này GV cũng nêu vấn đề theo nhiều hướng rồi trò tự giải quyết HS cũng học cách tháo gỡ rồi vận dụng vào việc tiếp thu những tri thức mới, chọn lựa tri thức cũ một cách sáng tạo

Phương pháp này có một ưu điểm là HS nắm vững tri thức và tự mình làm việc một cách sáng tạo với những tài liệu vừa sức lại có được kĩ năng kiểm tra lại nhận thức của mình, tránh được bệnh công thức giáo điều Đây là phương pháp thích hợp nhất ở những lớp lớn và dễ phát hiện những HS năng khiếu

Dạy học nêu vấn đề: hay còn gọi là dạy học giải quyết vấn đề Đây là phương hướng dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề

mà người giáo viên đặt ra Trong dạy học nêu vấn đề, kiến thức không đưa đến dưới hình thức có sẵn mà thông qua những tình huống có vấn đề đặt ra trước học sinh Dạy học nêu vấn đề là một hệ thống tình huống có vấn đề gắn liền nhau, phức tạp hóa, trong quá trình

đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên nắm nội dung bài học và phát triển ở mình những phẩm chất cần thiết cho sáng tạo, trong khoa học và đời sống

Tóm lại dạy học nêu vấn đề là quá trình người giáo viên đặt vấn đề- học sinh tri giác-giáo viên tổ chức giải quyết vấn đề, trong quá trình đó học sinh nắm kiến thức, phương thức giải quyết và phương pháp nhận thức khoa học Dạy học nêu vấn đề kích thích được sự tư duy sáng tạo ở học sinh

Dạy theo hình thức thảo luận nhóm: thảo luận là một hình thức dạy học trong đó học sinh

tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của học sinh vào quá trình học tập Trong đó giáo viên sử dụng các nhóm nhỏ và yêu cầu học sinh cùng nhau làm việc để mở rộng tối đa việc học của bản thân học sinh và tất cả học sinh trong nhóm

Thảo luận nhóm thường được tổ chức theo hình thức: nhóm 2 học sinh, 4- 5 học sinh, ghép nhóm, các nhóm kim tự tháp, hoạt động trà trộn Hình thức thảo luận nhóm tạo điều kiện cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào hoạt động học tập của lớp, phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực tư duy của học sinh Mặt khác thảo luận nhóm còn rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Hình thức dạy học thảo luận nhóm thường mất nhiều thời gian đòi hỏi người giáo viên có năng lực quản lý tổ chức nhóm Đồng thời đòi hỏi người giáo viên mất nhiều thời gian chuẩn bị giáo án, chuẩn bị những vấn đề, những câu hỏi thảo luận phù hợp

Phương pháp giảng bình: vốn là một phương pháp dạy học truyền thống, nhưng nó không

hề lỗi thời so với xu thế dạy học hiện nay đó là phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của

HS, lấy HS làm trung tâm, GV là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn giúp HS từng bước chiếm lĩnh tác phẩm Trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản, nếu thiếu đi những lời giảng dạy sâu sắc, những lời bình đắt giá thì bài giảng liệu có thành công không?

Có thể giảng bình là một việc làm khá quen thuộc với GV dạy văn, nó đã trở thành một bí quyết trong giờ đọc - hiểu văn bản Người GV biết bình và bình giỏi thì sẽ gây được niềm đam mê, sự hứng thú cho HS trong giờ học, không có một giờ giảng văn nào thành công

mà lại thiếu được lời bình của GV Giảng bình có ưu thế đặc biệt trong giờ đọc - hiểu, nó

Trang 12

là phương pháp đặc thù của cảm nhận và phân tích chiếm lĩnh tác phẩm Muốn có một lời bình sâu, gọn thì GV nhất định phải nghiên cứu, ngẫm nghĩ, trăn trở rất nhiều Chính những lời bình sâu và gọn sẽ làm cho giờ giảng văn trên lớp tiết kiệm được thời gian và lắng đọng, khêu gợi sức suy tưởng của HS về nội dung bài học, nhưng nếu lời bình quá rông dài, sáo rỗng sẽ dẫn đến cháy giáo án, hiệu quả giờ học không cao

Trên đây là một số phương pháp, biện pháp dạy học văn đang được các nhà nghiên cứu, các giáo viên đưa vào nghiên cứu vận dụng sáng tạo trong quá trình dạy học văn theo phương pháp mới Mỗi phương pháp, biện pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng của nó, khi vận dụng vào dạy học đòi hỏi người giáo viên phải biết khắc phục những nhược điểm và phát huy những ưu điểm của các phương pháp trên Trong quá trình dạy học, những phương pháp, biện pháp trên phải được vận dụng phối hợp, sáng tạo tùy theo đối tượng học sinh, tùy theo bài dạy Nếu được vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu quả dạy học cao hơn trong quá trình dạy học văn

Phương pháp dạy học đọc - hiểu là phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn, phát hiện ý nghĩa trong các văn cảnh Phương pháp này giúp học sinh đọc văn bản, tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật trong văn bản GV sẽ đặt câu hỏi hướng học sinh vào những điểm mấu chốt Từ đó, GV vận dụng những yếu tố trong văn bản, ngoài văn bản để giúp học sinh giải quyết câu hỏi Cuối cùng, tổng hợp những vấn đề đã phân tích rút ra các giá trị tác phẩm Phương pháp dạy đọc - hiểu không bao giờ cung cấp sẵn ngay kết quả cho học sinh nên phương pháp đọc - hiểu là phương pháp dạy cho học sinh tìm tòi nắm bắt thông tin, xử lý thông tin và rút ra chân lý Trong phương pháp này chúng ta không sử dụng đơn thuần một phương pháp dạy nào cả mà là sự phối hợp tất cả các phương pháp một cách hiệu quả và hợp lý

Ngày nay với yêu cầu phát huy được tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh thì ngoài việc phối hợp một cách hợp lý các phương pháp giảng dạy, phương pháp dạy đọc - hiểu cũng không loại trừ việc kết hợp các hoạt động tích cực của học sinh trên lớp học Học sinh phải tích cực đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu và tích cực thảo luận, phát biểu ý kiến tranh luận với các bạn Giáo viên phải phát huy tối đa những hoạt động của học sinh thì bài dạy mới thành công

1.1.3 Dạy học theo hướng đọc - hiểu là phương pháp dạy học tích cực

Dạy đọc - hiểu văn bản chính là tổ chức cho học sinh tìm tòi phát hiện và tự cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm Với cách tổ chức, hướng dẫn học sinh bám sát vào những yếu

tố trong văn bản, ngoài văn bản cũng như liên hệ so sánh sẽ giúp cho học sinh từ từ khám phá được vấn đề Khi đó vai trò của thầy cũng như của trò Thầy giữ vai trò chủ đạo, trò không phải là đối tượng thụ động mà trở thành chủ thể nhận thức Như vậy dạy đọc hiểu làm thay đổi cách dạy của thầy và trả lại vai trò chủ thể cho học sinh, giải phóng học sinh khỏi tri thức áp đặt Việc này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động nhận thức Chỉ khi là chủ thể nhận thức thì học sinh mới phát huy được tính chủ động sáng tạo của mình

Trong dạy đọc - hiểu, giáo viên là người hướng dẫn, người khơi gợi dẫn đường cho học sinh đi tìm vấn đề Còn học sinh chính là những người học thực sự, phải tích cực hoạt động trên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tìm ra chân lý Trong mối quan hệ này, giáo viên với vai trò của một bạn đọc đi trước có kinh nghiệm, có kiến thức vững vàng hơn Học sinh cũng là một bạn đọc nên vẫn có những suy nghĩ riêng, độc lập của mình Mỗi học sinh là một cách hiểu khác nhau, nên với cách dạy hướng dẫn gợi tìm sẽ tạo cho mỗi học sinh một tâm thế hiểu của riêng mình Tuy nhiên người giáo viên sẽ phát huy vai

Trang 13

trò của người đầu tàu để hướng học sinh vào những cách hiểu đúng nhất tránh đi chệch hướng Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ đi vào những cách hiểu của riêng mình và tích cực chủ động bộc lộ những cách hiểu đó Từ đó học sinh sẽ rút ra được chân

lý và tính tích cực chủ động sáng tạo của từng học sinh được phát huy một cách tối đa Trong phương pháp dạy học đọc- hiểu, học sinh từ cách học thụ động, chỉ là đối tượng tiếp thu nay trở thành người đọc, người đọc trực tiếp, người đọc nhiều lần, đọc có cảm xúc và suy nghĩ, đọc cho thấu đáo và đọc cho ra cái mình cần Hoạt động đọc như vậy thỏa mãn sự tiếp cận và khám phá Bạn đọc học sinh không chỉ lắng nghe một chiều kiến thức của thầy, mà còn có sự cảm thụ theo cách riêng và độc đáo… Nhiều ý kiến xuất phát

từ thực tế đã thừa nhận ở học sinh ít tuổi vẫn có thể tinh nhạy trong cảm xúc thẩm mỹ và sáng suốt trong cảm nhận ý nghĩa tác phẩm văn học Với năng lực ấy, học sinh xứng đáng

là người bạn bình đẳng để đối thoại với tác giả, với tác phẩm, với giáo viên và những người cùng thời về những gì chứa trong tác phẩm và được tác phẩm văn học khơi gợi ra Bằng những phương pháp khơi gợi hướng dẫn và để học sinh tiếp xúc trực tiếp, được khám phá và được thưởng thức"chất văn", nghĩa là được thể nghiệm, nếm trải và hiểu sâu thêm những việc đời, việc người, việc mình chân thực là đã phát huy chủ thể sáng tạo tích cực trong dạy văn

1.2 Dạy đọc - hiểu và một số khuynh hướng dạy học khác

1.2.1 Một số khuynh hướng dạy Văn

Như chúng ta đã biết, quá trình giảng dạy một tác phẩm văn chương bao giờ cũng trải qua hai bước chủ yếu: bước tìm hiểu nội dung để tìm ra chất văn của tác phẩm (bước này là

"dạy cái gì?") và tìm ra một phương pháp tốt nhất để chuyển tải nội dung đó đến với học sinh ("dạy như thế nào?") Vì vậy, nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ nhau Nhìn chung khi lên lớp người thầy thực hiện một số công đoạn giống nhau như: trước khi lên lớp, thầy chuẩn bị giáo án; lên lớp, thầy truyền thụ kiến thức cho học sinh (đó là nội dung giảng dạy), kiến thức đó chủ yếu do thầy sao chép được

từ tài liệu hướng dẫn giảng dạy, từ sách giáo khoa, từ các bài nghiên cứu v.v… Mục đích chính của người thầy là làm sao học sinh có tỉ lệ đậu tương đối bởi họ luôn bị trói buộc bởi điểm số giảng dạy, còn phương pháp giảng dạy, tâm lý tiếp nhận tác phẩm, sự cảm thụ văn chương của học sinh như thế nào thì họ chưa quan tâm đầy đủ Có những giáo viên quan niệm dạy văn chỉ là sự rung động, sự cảm thụ của từng cá nhân học sinh dẫn tới tình trạng bài văn bị đập vụn ra theo sự gợi ý cho học sinh làm việc trên văn bản, liên tưởng nhân vật, minh họa một cảnh trong bài văn, liên tưởng từ một chi tiết, một cảnh đời trong văn bản Có giờ dạy văn mà giáo viên không hề quan tâm đến đặc trưng thể loại của văn bản được giảng để có phương pháp phân tích phù hợp Có những giờ giảng chủ yếu thiên về những rung cảm, xúc động của học sinh mà coi nhẹ những khái quát nghệ thuật, những hiểu biết quan trọng về bài văn Những biểu hiện này thể hiện sự thiếu hiểu biết có hệ thống cơ bản về phương pháp dạy học văn mới Hiện nay, trong trường phổ thông tồn tại một số khuynh hướng, phương pháp giảng dạy văn chương như sau:

Khuynh hướng coi tác phẩm văn chương trong nhà trường như một hiện tượng tĩnh: ở khuynh hướng này, người thầy phân tích tác phẩm mà không hề nắm chắc đối tượng tiếp nhận tác phẩm; học sinh hầu như đứng ngoài quá trình giảng bài của giáo viên Công việc phân tích tác phẩm văn học chỉ thu hẹp trong mối liên hệ đơn phương giữa giáo viên và tác phẩm Phương pháp chủ yếu của khuynh hướng này là độc thoại, diễn giảng Người thầy dùng ngôn từ của mình để giảng dạy, thầy áp đặt cho trò những gì mình biết, mình muốn, trò thụ động ghi chép về nhà học thuộc rồi trả bài cho thầy Trên lớp, thầy nói với

Trang 14

mình nhiều hơn là nói với trò; thầy thuyết giảng thao thao những vấn đề kiến thức có sẵn

mà thầy đọc được trong sách hướng dẫn giảng dạy, các bài viết nghiên cứu, các tài liệu học tập v.v… Khuynh hướng này dẫn đến hậu quả là học sinh vô tình bị gạt ra ngoài quỹ đạo tác động trực tiếp của tác phẩm; giáo viên là người cảm thụ tác phẩm hộ cho học sinh Do đó, hứng thú học tập của học sinh bị hạ thấp và mai một dần; vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình học văn bị xem nhẹ Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng học sinh chán học văn chương hiện nay

Khuynh hướng coi tác phẩm văn chương đơn thuần như một hiện tượng lịch sử xã hội: khuynh hướng này sử dụng cách tiếp cận lịch sử phát sinh để nhận thức và phát hiện giá trị của tác phẩm Vì thế, tác phẩm văn chương không được nhìn nhận như một sản phẩm nghệ thuật, một đối tượng nhận thức thẩm mỹ Ở khuynh hướng này, người thầy phân tích tác phẩm theo kiểu gò ép tác phẩm vào chủ điểm, chủ đề chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, thời sự: do đó, bài văn bị biến thành bài chính trị hoặc đạo đức công dân Thầy đối chiếu tác phẩm với bối cảnh của thời đại lúc tác phẩm ra đời hay những sự kiện trong tiểu sử tác giả để tìm tòi giá trị tác phẩm; thầy sơ đồ hoá nhân vật, cốt truyện của tác phẩm làm cho việc phân tích văn học không còn tính chất nghệ thuật và thẩm mỹ; tiếng nói tình cảm của nhà văn gởi gắm trong tác phẩm bị mờ nhạt Khuynh hướng này dẫn đến tình trạng các giờ giảng văn na ná như nhau, cái độc đáo, đặc sắc của tác phẩm bị hoà tan trong một mớ nhận định đơn giản, sơ sài, vì thế, ít sức thuyết phục, không thu hút được học sinh Ví dục (VD): Khi giảng truyện Làng của Kim Lân, có một số giáo viên trình bày chung chung về lòng yêu nước của ông Hai qua các chi tiết thể hiện diễn biến tâm trạng ông Hai để kết luận giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà không thấy được nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai đã góp phần làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm, ý đồ nghệ thuật của tác giả gởi gấm trong tác phẩm

Khuynh hướng minh họa trong giảng dạy văn chương: ở khuynh hướng này, người thầy lấy tác phẩm văn chương để minh họa cho những nhận định khái quát về tác giả, về giai đoạn văn học và những vấn đề lý luận văn học Bài văn bị biến thành một thứ dẫn chứng,

tư liệu đơn thuần cho bài giảng lịch sử văn học hay lý luận văn học Như thế, hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương không được cảm nhận một cách đầy đủ; dẫn đến tình trạng nhận thức phiến diện, chủ quan, méo mó về tác phẩm; làm cho giờ giảng văn nghèo nàn, khô khan

Khuynh hướng tách rời ngôn ngữ với văn học: ở khuynh hướng này, người thầy mới chỉ chú tâm đến mặt nội dung tác phẩm mà bỏ quên giá trị nghệ thuật của tác phẩm - trong đó ngôn ngữ là chất liệu hàng đầu Ta thấy trong giảng văn, mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn học giúp học sinh hiểu toàn diện về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; vì thế, khi phân tích tác phẩm văn chương không thể quá nghiêng về nội dung mà

bỏ quên đi nghệ thuật; song nếu chú trọng quá mức đến nghệ thuật mà xem nhẹ ý nghĩa nội dung của tác phẩm sẽ rơi vào khuynh hướng hình thức chủ nghĩa; tính văn học và tính ngôn ngữ của tác phẩm vô hình chung bị tách rời Cũng cần nói thêm ở khuynh hướng này khi khai thác ngôn ngữ trong tác phẩm, người thầy cần khai thác "nghệ thuật ngôn từ" chứ không phải chỉ là ngôn ngữ của tác phẩm, như thế, trò chơi mới có thể cảm nhận hết vẻ đẹp thẩm mĩ, vẻ đẹp văn chương tác phẩm

Khuynh hướng cung cấp kiến thức có sẵn: ở khuynh hướng này, thầy dùng phần lớn thời gian tiết dạy để cung cấp kiến thức có sẵn cho trò Đây là loại kiến thức không phải của thầy hay trò phát hiện ta mà là kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách hay bài viết nghiên cứu tham khảo Khuynh hướng này biến học trò thành

Trang 15

những cái máy chép, không còn khả năng cảm thụ, sáng tạo và dần trở nên lười biếng, tầm gửi Khuynh hướng này mang tính chất áp đặt của thầy cho trò chứ chưa thật dự xem trò là từng cá thể - chủ thể tiếp nhận tác phẩm văn chương trong giờ học văn chương Vả lại, trong hệ thống câu hỏi mà thầy đặt ra cho trò, nhiều khi thầy bị rơi vào chủ nghĩa hình thức, thầy chỉ chú trọng đến câu hỏi vụn vặt không khêu gợi suy nghĩ của học sinh, những thao tác, những biện pháp thuần tuý hình thức bện ngoài như điệu bộ, cử chỉ, tranh ảnh, thậm chí nhiều khi rất giả tạo nhằm tạo nên một không khí có vẻ sôi nổi cho lớp học nhưng thực chất vẫn là thụ động; học sinh thụ động chịu sự tác động từ bên ngoài (của người thầy) chứ thực chất không chủ động trong cảm thụ và chiếm lĩnh tác phẩm

Khuynh hướng phát huy tính tích cực của học sinh: Đây là khuynh hướng thể hiện sự đổi mới về phương pháp giảng dạy văn chương: thực hiện phương pháp này, thầy đặt ra một

hệ thống câu hỏi vấn đáp suốt giờ học, trò trả lời câu hỏi dưới sự dẫn dắt của thầy Kết hợp với hệ thống câu hỏi là những phương tiện trực quan, nếu có, giúp học sinh thấy vấn

đề rõ hơn Khuynh hướng này thể hiện được khát vọng của thầy và trò là muốn thoát khỏi các phương pháp cũ hạn chế khả năng sáng tạo của họ

Dạy đọc - hiểu văn học không tách rời các khuynh hướng và phương pháp đã đề cập trên, nhưng phương pháp này có sự khác biệt so với giảng văn

1.2.2 Sự khác biệt giữa dạy đọc - hiểu và giảng văn

Phương pháp giảng văn truyền thống trong nhà trường đã tồn tại từ rất lâu Quan niệm dạy học văn truyền thống với tất cả bề dầy kiến thức và kinh nghiệm phong phú của nó, nhìn chung còn có hạn chế là chưa phát huy đúng mức tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh Mô hình tiêu biểu của phương pháp dạy đó là thầy giảng- trò nghe, thầy đọc - trò chép Kiểm tra là thầy ra đề hỏi về những điều đã học, trò thuộc bài

và trả lời Trong phương pháp này, giáo viên đóng vai trò trung tâm của tiết học, mọi hoạt động của tiết học nghiêng về phía người giáo viên Giáo viên cảm thụ thay cho học sinh những cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học còn học sinh chỉ thụ động ngồi nghe và ghi lại Quá trình đó là quá trình truyền thụ một chiều, từ giáo viên đến học sinh và từ tác phẩm đến học sinh Học sinh chỉ cảm thụ được những giá trị tác phẩm thông qua kiến thức truyền thụ của giáo viên

Ngày nay tất cả các môn học đều thay đổi phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh Quan điểm dạy học mới là đầu tư phát huy chủ thể học sinh Với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, những hạn chế, khuyết điểm của phương pháp dạy học truyền thống không còn phù hợp nữa Học sinh ngày nay phải năng động tích cực, chủ động đi tìm kiến thức chứ không phải chờ đợi người khác mang kiến thức đến Trong phương pháp dạy đọc- hiểu, giáo viên chỉ là người tổ chức cho học trò thực hiện quá trình tự đi tìm kiếm kiến thức theo khả năng của mình Tác phẩm sẽ là đối tượng chính để học sinh tích cực tác động lên Học sinh sẽ bám sát câu chữ của văn bản để tìm hiểu nội dung tư tưởng của tác phẩm, tập trung khai thác vẻ đẹp của nội dung qua hình thức nghệ thuật Học sinh không còn thụ động Trong phương pháp này học sinh bắt buộc phải đọc văn bản, hiểu văn bản và có phương pháp đọc hiểu tác phẩm cùng thể loại Mối quan hệ giữa giáo viên- học sinh- tác phẩm là mối quan hệ vòng tròn khép kín Tác phẩm

là đối tượng chung để giáo viên lẫn học sinh cùng nhau khai thác Giáo viên trong tư cách

là người đọc trước có kinh nghiệm nắm vững kiến thức sẽ là người hướng dẫn, truyền thụ kinh nghiệm cho học sinh con đường tiếp cận tác phẩm Học sinh chính là trung tâm của tiết học, bằng mọi con đường trực tiếp tác động lên tác phẩm để tìm ra chân lý dưới sự hướng dẫn của giáo viên Chúng ta có thể thấy mối quan hệ đó qua mô hình sau:

Trang 16

Giáo viên

Học sinh Tác phẩm

"Ngày nay, sự hiểu biết của con người luôn luôn biến đổi cho nên dù được học trong nhà trường bao nhiêu đi chăng nữa cũng chỉ rất hạn chế Thế thì cái gì là quan trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất cho bộ óc của mình,…" (Phạm Văn Đồng) [35]

Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện Người GV không chỉ là người truyền đạt kiến thức - HS là người thụ động tiếp nhận mà giờ Văn là giờ học mà cả thầy và trò đều phải hoạt động Thầy hướng dẫn, chỉ đạo còn HS là người thực hiện, khám phá, khai thác văn bản bằng sự tư duy và suy nghĩ của mình Chính vì thế mà phương pháp dạy đọc - hiểu là một trong những cách để phát huy tính năng động, sáng tạo và làm việc của HS

Để tiếp nhận một văn bản, hiểu được cái hay, cái đẹp của văn bản thì phương pháp dạy đọc - hiểu là cách thức tiếp nhận có cơ sở khoa học, quy trình hóa được hình thành từ phương pháp đọc Đây là cách giúp HS tiếp cận, khai thác được cái hay, cái đẹp của văn bản ấy Vì tác phẩm văn học là một văn bản đặc biệt - nó vừa có tính đa nghĩa (từ ngữ, văn cảnh, ý đồ tác giả, người đọc…) vừa có tính nguyên tắc ổn định (sáng tạo của cá nhân, hướng tới cộng đồng,…) cho nên đọc - hiểu một tác phẩm văn học chúng ta không chỉ dựa vào yếu tố nào đó riêng biệt mà phải là một quá trình tổng hợp, tích hợp Đọc - hiểu các yếu tố trong văn bản, thuộc văn bản, ý nghĩa của các yếu tố và chỉnh thể hệ thống… Vận dụng các yếu tố ngoài văn bản để soi sáng cho kết quả phân tích văn bản: tiểu sử, thời đại, hoàn cảnh sáng tác,… Coi trọng cảm nhận và ý kiến của người tiếp nhận Chính vì thế mà nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học văn là tập trung hình thành cho các em cách đọc văn để dần dần các em có thể tự đọc - hiểu tác phẩm một cách khoa học, đúng đắn Qua tiết học văn bằng phương pháp đọc - hiểu, các em phải nhận biết và chỉ ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học một cách tinh tế, chính xác và có sức thuyết phục Thấy được cái độc đáo của tác phẩm và có những nhận xét, đánh giá mang màu sắc

cá nhân độc đáo Từ đó các em có thể hiểu rõ tác phẩm từ nghệ thuật để làm nổi bật nội dung - và quan trọng hơn nữa là các em hiểu được cả những ý tưởng bao trùm ngoài tác phẩm

Như vậy, giữa Giảng văn và đọc - hiểu văn bản có sự khác nhau như sau:

Giảng văn thì nghiêng về công việc của thầy, thầy nói cái hay cái đẹp cho HS nghe, bên cạnh dạy đọc - hiểu là cách tổ chức cho trò tư duy GV chỉ là người gợi ý, hướng dẫn cách đọc, còn các em sẽ tự đọc Từ việc đọc các em sẽ tự cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn bản, tác phẩm theo cách riêng của mình

Trong cách dạy giảng văn - GV chỉ tập trung khai thác nội dung tư tưởng của văn bản là chủ yếu, còn với phương pháp đọc - hiểu, HS tiếp cận vẻ đẹp nội dung qua hình thức nghệ thuật của văn bản

Trong giảng văn thường nghiêng về nội dung, hồn của văn bản, còn trong đọc - hiểu sẽ tiếp cận hình thức, giúp ta nâng cao vẻ đẹp của nội dung Đây là bước đầu để HS đọc - hiểu văn bản, tiếp cận vẻ đẹp của văn bản một cách đầy đủ

Trong giảng văn, HS nhiều khi không cần đọc văn bản một cách tường tận, chi tiết mà chỉ cần nắm ý chung chung Hơn nữa, các truyện ngắn được đưa vào giảng dạy ở SGK cũ thường có dung lượng dài so với tiết học Vì thế, việc đọc văn bản không được chú trọng

Trang 17

Điều này dẫn đến một nghịch lý là HS có thể nói nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm, còn chính tác phẩm như thế nào thì có khi HS chưa được đọc Trong dạy đọc - hiểu, HS bắt buộc phải đọc văn bản Ngoài ra các văn bản được đưa vào SGK mới đã có sự chọn lựa, tinh chỉnh nội dung nên tương đối hợp lý cho việc đọc Đọc tác phẩm, HS có những rung cảm riêng, độc lập sáng tạo Những rung cảm này được phát huy trong giờ dạy đọc - hiểu thông qua hoạt động của thầy và trò

Giờ giảng văn chỉ giúp HS biết được văn bản được học trong khi cách dạy đọc - hiểu giúp HS có phương pháp đọc - hiểu các tác phẩm cùng loại

Điểm mới nhất của dạy đọc - hiểu là phương pháp dạy học tích hợp (tích hợp ngang, tích hợp dọc) tăng cường sử dụng phương tiện kỹ thuật trong dạy học Ngữ văn nói chung và trong tiết dạy đọc - hiểu văn bản Bên cạnh đó, việc tăng cường các hoạt động thực hành (thảo luận, nêu nhận xét, ý kiến cá nhân, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo, luyện tập…) cũng nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện năng lực cho mỗi cá nhân HS

So với giảng văn, dạy đọc - hiểu có chú trọng hệ thống các câu hỏi liên quan đến hoạt động đọc:

Câu hỏi về đặc điểm thể loại

Văn bản thuộc thể loại nào? Phương thức biểu đạt chính

Vai trò tác dụng của thể loại

Câu hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản

Câu hỏi đọc lướt, đọc thông

Câu hỏi đọc sâu - cảm nhận ngôn từ

Câu hỏi đọc - hiểu

Câu hỏi yếu tố ngoài văn bản

Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Câu hỏi về tác giả - xuất xứ

Câu hỏi về vai trò người tiếp nhận: HS có kinh nghiệm, vốn sống, hoàn cảnh gia đình khác nhau, cần khai thác năng lực, trí tuệ của các đối tượng HS

Phương pháp dạy đọc - hiểu với cách thuyết minh - giới thiệu nhưng phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo của HS, giúp các em cảm nhận tác phẩm toàn diện mà không gượng

ép - giờ học vì thế sẽ thoải mái và sinh động hơn

Chương 2: DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 THEO HƯỚNG ĐỌC - HIỂU

2.1 Sơ lược chương trình dạy đọc - hiểu văn bản truyện ngắn cấp THCS

Toàn bộ chương trình môn Ngữ văn ở cấp THCS (trong phân phối chương trình ban hành năm 2005) của cả bốn cấp lớp 6, 7, 8, 9 có 595 tiết:

Trong đó số tiết về văn bản là 173 tiết và ở từng khối lớp cũng khác nhau:

+ Lớp 6: VHVN 30 tiết

+ Lớp 7: VHVN 30 tiết

Trang 18

+ Lớp 8: VHVN 27 tiết

+ Lớp 9: VHVN 57 tiết

Như vậy, tính trong tổng số tiết Văn học Việt Nam thì Văn học hiện đại chiếm 104 tiết chiếm tỷ lệ 72,2% Tỷ lệ này cho thấy Văn học hiện đại Việt Nam có một vị trí rất quan trọng trong chương trình Ngữ văn nói chung và phần Văn học Việt Nam nói riêng Trong

đó, thể loại truyện ngắn hiện đại Việt nam cũng có số tiết đáng kể

Hầu hết các tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam từ khối 6 đến khối 9 đều phân phối hai tiết là tương đối hợp lý với những yêu cầu về kết qủa cần đạt ở mỗi bài Cụ thể ở lớp 9 có bốn tác phẩm với những đề tài phong phú, đa dạng, qua những kiểu nhân vật điển hình thể hiện những tình cảm, lý tưởng sống rất cao đẹp (Làng, Lặng lẽ SaPa, Chiếc lược ngà, Những ngôi sao xa xôi) Riêng tác phẩm Bến quê (Nguyễn Minh Châu) tương đối khó với HS, nay đã chuyển qua phần đọc thêm

Tóm lại, nhìn tổng thể văn học hiện đại nói chung và truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói riêng trong trường Trung học cơ sở như vậy là hợp lý về số lượng và chất lượng

2.2 Dạy đọc - hiểu với văn bản là truyện ngắn

2.2.1 Đặc trưng cơ bản của thể loại truyện

Thể loại hiện nay đang là một trong những trục tích hợp của SGK Ngữ văn THCS Bởi vậy, quan tâm đến những đặc điểm thi pháp của từng loại thể nhất định có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ đối với việc rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu tác phẩm văn

chương cho HS Thi pháp thể loại đặt vấn đề về bản thể, về phương thức tồn tại thực sự của văn học, cung cấp một "chìa khóa" khoa học mở cánh cửa văn chương đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang đi dần vào chiều sâu trong nhà trường phổ thông hiện nay

"Tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến

sự việc kia Cuối cùng dẫn đến một kết thúc thể hiện một ý nghĩa." [30, tr.28] Tác phẩm

tự sự bao giờ cũng có một câu chuyện làm nòng cốt, trong đó có những sự việc đang xảy

ra, đang diễn biến, có sự tham gia của những con người với những hành động ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách… của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội và trong mối quan hệ lẫn nhau Nhờ những đặc điểm đó nên loại hình tự sự có khả năng nhiều nhất trong việc dựng nên những bức tranh rộng lớn sâu sắc, nhiều mặt về đời sống

xã hội và con người, về những biến cố lịch sử quan trọng Đây cũng là phương thức phản ánh đời sống chân thật nên rất gần gũi với đối tượng học sinh THCS Trong đời sống hàng ngày, văn kể chuyện rất cần thiết, thường sử dụng trong giao tiếp, trong đó thể loại truyện ngắn (những tác phẩm trong chương trình) sẽ bồi dưỡng tình cảm đẹp, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh

Một vấn đề đặt ra ở đây là các văn bản được giảng dạy trong chương trình của lớp 9 đều thuộc loại truyện ngắn Sau đây là những đặc điểm của thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn: là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, nội dung bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống và thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; mỗi nhân vật là một mảnh nhỏ của thế giới đời thường và là hiện thân cho một trạng thái quan hệ hay ý thức xã hội Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế; đề cập đến một vấn

đề nào đó về cuộc đời hay tình người Khi đề cập đến truyện ngắn, yếu tố không thể thiếu

là tình huống của truyện và nhân vật Chi tiết trong truyện ngắn phải tiêu biểu, biểu trưng cho ý tưởng nghệ thuật của nhà văn Bút pháp nghệ thuật của truyện ngắn thường là chấm

Trang 19

phá; chi tiết cô đúc, và lối hành văn mang nhiều ẩn ý khiến tác phẩm có chiều sâu hơn Thế giới nghệ thuật của truyện còn có cả giọng điệu của tác phẩm: giọng tâm sự (Làng) hay giọng trầm lắng, buồn (Chiếc lược ngà)… Tóm lại, truyện ngắn là thể loại gần gũi,

có khả năng phản ánh nhanh nhạy, thực tế đời sống

2.2.2 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu thể loại truyện ngắn hiện đại

Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ và bộc lộ nhanh những thông tin mới mẻ Đây là thể loại văn học có nội khí "một đời mà thiên cổ, một lời mà trăm suy"

Truyện ngắn có khả năng sống và chớp lấy sự thật nếu không quá chăm chú vào cái đặc biệt độc đáo nổi lên như một hiện tượng trong đời sống Sự thật ấy tiềm ẩn trong cái bình thường, trong những sự kiện hoàn toàn có thực bởi sự "truyền ngôn" chứ không phải là truyền thuyết để đem lại cho truyện ngắn những con người thực sự và sự thật về con người

Truyện ngắn là sự phá vỡ chiều hướng êm ả và sự cân bằng vốn đang trở thành vô nghĩa

Nó đẹp như sự vỡ tan của ánh sáng Nó giảm trừ tối đa sự long đong nhân quả hay nói như R.Barthes, truyện ngắn tiềm ẩn trục trặc trong quan hệ nhân quả Lý do đưa đẩy câu chuyện không phải là chuỗi liên tục sự kiện mà là một ám ảnh tâm hồn trong quá trình biến chuyển lương tri trong những thời khắc có ý nghĩa nhất đời người Với Chekhov, những thời khắc bất thường đã đem lại những tư tưởng lớn lao Lấy thời khắc làm động lực và kết nối câu chuyện được kể, truyện ngắn nói chung ưu tiên cho "quãng giữa", phần đầu hoặc phần cuối truyện thường được cắt xén đi để tránh sự kéo dài loãng nhạt nhưng lại ngụ ý khơi gợi dòng suy ngẫm Mạch kể trong truyện không chỉ sắp xếp theo thời gian theo thời gian tuyến tính mà còn theo sơ đồ ma trận, gồm có nhiều chiều mà người đọc có thể đột kích thâm nhập cùng một lúc để thấy tất cả các chiều kích ấy cùng có mặt Truyện ngắn tạo ra chiều hướng tiếp nhận đồng bộ và thắt nút thời gian Có thể hình dung truyện ngắn là bức phù điêu ảo ảnh, là một khối nước nhiều màu của tâm hồn, đa sắc về hiện thực

Có thể điểm qua một số quan điểm về bản chất và cách đọc truyện ngắn hiện đại:

Truyện ngắn hiện đại mang đầy đủ tính thi ca, là thể loại có đẳng cấp tinh xảo và toàn bích của văn học Ngôn ngữ truyện ngắn không phải sự thông báo mà như một công trình toán học để tạo ra một thế giới trần trụi trong sự hài hòa của tiếng nói và những mảnh vỡ hiện thực từ những yếu tố khác nhau hợp lại Truyện ngắn hiện đại chấp nhận sự phá cách, luôn lấp lánh ánh sáng nhận thức

Nói chung, truyện ngắn hiện đại tìm được tiếng nói chung bởi tính "lạnh lùng" của nó Bản thân nó là một khối thép "hiện thực" góc cạnh đòi hỏi người đọc phải nhìn ra được "giá trị" thực của nó Đó là những phạm trù về tinh thần và qui luật của nó Qui luật này vẽ lên những giới hạn, những đường biên thắt - mở, mở - thắt theo suy nghĩ người đọc nhưng khó cảm thụ bằng lời Nó bỏ qua cả cách diễn đạt, sự chạm khắc tinh tế để toát lên tinh hoa của nó

Truyện ngắn hiện đại không bao giờ là một dòng chảy trực tiếp tuôn trào từ trái tim hoặc từ tính ẩn dụ cũ kỹ mà lại không phá vỡ cách nói phản chiếu từ đời sống giao tiếp của ngôn ngữ đương thời

Lý thuyết của truyện ngắn hiện đại thuộc về việc sử dụng ngôn ngữ không cần chất vấn

và có thể tảng lờ về bình diện cú pháp mà lưu ý mối quan hệ giữa những yếu tố có mặt và những yếu tố vắng mặt trong truyện ngắn Đó là bình diện chữ nghĩa

Trang 20

Nhiều truyện ngắn hiện đại đã được dạy và học trong nhà trường Có thể nói rằng không thể trông cậy nhiều vào hiệu quả dạy và học Văn nếu không chú trọng trước hết việc đọc Riêng đọc văn đã thấy nhiều dạng đọc, nhiều kiểu đọc, cách đọc, phương pháp đọc, kĩ năng đọc, kĩ thuật đọc…

Dù có liệt kê ra hàng trăm lối đọc đi nữa thì vấn đề tối thượng vẫn là đọc văn để làm gì? Dẫn tới đọc như thế nào? Và muốn có được kết quả mang tính hiệu ứng thì thẩm mĩ trong mục đích học văn phải tính đến năng lực đọc có hiểu không, hiểu gì, hiểu như thế nào nên sinh ra khái niệm đọc - hiểu Dạy học Văn hiện nay trong đó có dạy học truyện ngắn hiện đại cần dạy cho học sinh đọc hiểu chúng Đọc - hiểu mang tính toàn diện Trước tiên đọc

- hiểu là nội dung cần đạt của nghiên cứu và giảng dạy văn học, sau đó mới là vấn đề của phương pháp Cơ sở chung của nội dung và phương pháp là lý luận đọc hiểu Về điều này Hoài Thanh đã lưu ý: "Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều khi người đọc khó mà biết có đúng là thơ Nguyễn Trãi không Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng Lại có khi chữ hiểu đúng, câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu"

Cái khó ở đọc hiểu là ở chỗ làm sao tìm được một hệ thống bao gồm những quy tắc chặt chẽ chi phối sự đa dạng của những cách đọc Người đọc luôn luôn phản ứng bằng cảm giác đối với gì trừu tượng của nội dung thể hiện trong truyện ngắn hiện đại song lại đánh giá nó theo những cách khác nhau, có khi lại dùng thước tấc cũ Đọc truyện ngắn hiện đại không phải là sự mô tả, giải thích thể loại cùng cách dùng từ đặt câu, mô tả tâm lý nhân vật hay tóm lược nghĩa hiển hiện của truyện mà phải "đọc" ra được nghĩa ẩn của tác phẩm Theo chú giải "đọc" thì ngoài sự hiểu ra không có gì còn có ý nghĩa hơn đối với chúng ta, nên thế giới hiện ra bằng sự biểu thị ngôn ngữ của nó Hiểu nghĩa là trình bày

và giúp người khác hiểu cái điều đã hiểu Nguyên lý chú giải "đọc" theo Gadamer là con người phải cố gắng tìm hiểu tất cả những gì đã hiểu được Vậy mức độ cao nhất của đọc hiểu là hiểu toàn diện đầy đủ và hiểu sâu sắc văn bản đọc Gadamer lại nhấn mạnh sự hiểu không đơn giản chỉ là hiểu văn bản truyện mà là hiểu tư tưởng của chúng vì chính tư tưởng cho biết giá trị người của mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội của chúng

Vì thế hiểu cấu trúc tư tưởng truyện ngắn hiện đại là quan trọng hơn cả và là kết quả của hiểu thấu đáo mối quan hệ hữu cơ của ba tầng cấu trúc ngôn ngữ, hình tượng và tư tưởng của tác phẩm văn học

Muốn đọc hiểu một truyện ngắn hiện đại phải có cách nhìn trong đó bao gồm sự định hướng và mức độ am hiểu bắt đầu từ sự tiếp cận rồi phân tích đến cắt nghĩa và bình giá nhận định tác phẩm

Đọc truyện ngắn hiện đại để hiểu được những điều đã đọc như thế nào mới là điều cần nói Không phải một lúc đọc truyện đã hiểu được ngay Phải có thời gian và phải luyện tập thực hành Nguồn gốc, quá trình phát triển và sự biến đổi ý nghĩa của từ ngữ và đoạn văn liên quan đến trình độ ngôn ngữ của người đọc Nhiều truyện tuy ngắn nhưng cần đọc thật chậm để hiểu rõ ý nghĩa nội dung, nhưng trong nhiều trường hợp ngược lại cần bao quát được mối quan hệ chung giữa các ý tưởng mà muốn thế phải đọc lướt thật nhanh Khi đọc cần tập trung tinh thần, cố gắng theo dõi quan sát quá trình đọc, nghĩa là phải đọc kĩ để hiểu thấu đáo, phân tích sâu, ghi chép đầy đủ, nhớ chính xác và lĩnh hội đầy đủ truyện ngắn

Lâu nay trong việc đọc tác phẩm văn chương ở bậc phổ thông cũng như ở đại học, tồn tại một tình trạng rất phổ biến: người học không đọc hoặc rất ít đọc tác phẩm, dù chỉ là đọc

để nắm cốt truyện, chưa nói đến việc nghiên cứu các bình diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Phần lớn HS chỉ "ăn theo, nói leo" những vấn đề thuộc về nội dung và

Trang 21

nghệ thuật mà giáo viên cung cấp về tác phẩm chứ không đọc chính bản thân tác phẩm Trong khi đó, một trong những đặc điểm của tiếp nhận văn học là tính cá nhân, mỗi người đọc với tri thức, vốn sống, với quan điểm thẩm mỹ riêng sẽ có cảm nhận khác nhau

về tác phẩm Do học sinh không tự giác đọc tác phẩm, giáo viên cũng không hướng dẫn

và tổ chức cho học sinh đọc và thảo luận tác phẩm cho nên giờ học biến thành giờ thuyết trình của giáo viên Học sinh chỉ làm nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép và kiểm tra thì "trả lại" cho giáo viên những gì giáo viên đã dạy

Để học sinh đọc tác phẩm, giáo viên không thể chỉ hô hào, động viên chung chung mà cần có sự thay đổi trong nhận thức về tầm quan trọng của việc đọc tác phẩm, về vai trò của học sinh với tư cách là chủ thể, vai trò của giáo viên với tư cách là người hướng dẫn quá trình học tập; sự thay đổi trong phương pháp dạy học sao cho học sinh có thể phát huy vai trò chủ thể của mình, có thể thể hiện và chia sẻ những cảm nhận của mình về tác phẩm và sự thay đổi trong cách đánh giá học sinh

Theo một tài liệu nghiên cứu, trong khi dự giờ và trao đổi với một số giáo viên dạy văn ở trường đại học Michigan (MSU-Mỹ) về cách hướng dẫn học sinh đọc, viết, thảo luận về tác phẩm, quá trình đọc tác phẩm văn chương được coi là một chu trình (xem sơ đồ) gồm các yếu tố: hoạt động đọc, viết, chia sẻ, trao đổi của người học, hướng dẫn của giáo viên

và hoàn cảnh xã hội

Cảm nhận tác phẩm phải bắt đầu từ việc đọc Mục tiêu của việc đọc là hiểu những gì người viết đã viết Trong quá trình đọc, người dọc phải huy động năng lực: tưởng tượng, đánh giá, nhận xét, phê phán, xếp loại thông tin, liên kết những ý tưởng và nguồn thông tin, nhận ra những thông điệp ngầm, những ý tưởng và quan điểm của người viết Để việc đọc tác phẩm của học sinh có hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn học sinh một cách cụ thể: cách đọc và tóm tắt, nhận xét tác phẩm như: Hãy xem xét kỹ và phân tích…; Hãy tìm những điểm giống và khác nhau của…; Hãy giải thích…; Hãy miêu tả…; Hãy đánh giá…; Hãy tóm tắt những điểm chính…; Hãy tổng hợp…, tránh hỏi chung chung nhằm giúp HS tìm hiểu về cả hai mặt nghệ thuật, nội dung, cách ghi chú nguồn tài liệu

Những gì học sinh đã đọc và viết cần được chia sẻ với bạn cùng lớp Điều này không chỉ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp mà còn để làm rõ những gì mình đã nghe, đọc, quan sát hoặc trải nghiệm và cũng để làm rõ những suy nghĩ của mình Khi chúng ta trầm ngâm suy nghĩ, những ý tưởng của chúng ta có thể rối rắm, không rõ ràng nhưng khi những ý tướng

ấy được nói ra chúng ta phải "tổ chức và cấu trúc những ý tưởng sao cho chúng gây ấn tượng với người nghe" Đó là lý do giáo viên cần cho học sinh thời gian để họ nói và nghe người khác nói Có thể tổ chức cho học sinh chia sẻ ý tưởng bằng nhiều cách: thảo luận nhóm 2 người, người này đọc cho người kia nghe bài viết thể hiện những cảm nghĩ của mình về tác phẩm, người nghe chia sẻ, nhận xét, nêu ra các câu hỏi Hoặc thảo luận trong những nhóm 4 -5 học sinh tóm tắt và trình bày những điểm chính của một tài liệu

đã đọc Khi học sinh thảo luận, giáo viên cần lắng nghe những nhận xét và những câu hỏi của học sinh và giúp học sinh làm rõ những suy nghĩ của họ Để giúp cho các cuộc thảo luận được chất lượng cao, các giáo viên trường MSU đã gợi ý học sinh thảo luận về các vấn đề sau:

Trang 22

- Điểm nút của tác phẩm (nếu có)?

Bối cảnh câu chuyện:

- Không gian và thời gian (hoàn cảnh xảy ra câu chuyện) đã chi phối thế nào đến tính cách nhân vật và những sự kiện của tác phẩm?

- Câu chuyện xảy ra khi nào và ở đâu? (nếu có thể)

- Tác giả thể hiện thời gian và không gian như thế nào?

- Vai trò của bối cảnh đó?

Tình huống truyện:

- Tình huống truyện có gì đặc biệt?

- Tình huống truyện sáng tạo chỗ nào?

- Tình huống nào cơ bản?

- Tình huống truyện đã dẫn đến tâm trạng nhân vật thế nào?

- Nhận xét gì về tình huống truyện?

Nhân vật:

- Nhân vật hiện lên như thế nào và mức độ phát triển của tính cách nhân vật?

- Tính cách nhân vật phát triển và thay đổi như thế nào?

- Sự phát triển của tính cách nhân vật có mối quan hệ như thế nào với các sự kiện?

- Các nhân vật đã thể hiện chủ đề tác phẩm như thế nào?

- Tại sao tác giả lại xây dựng nhân vật như vậy?

Phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện trong tác phẩm:

Quan điểm của tác giả:

- Ai là người kể chuyện? Dựa vào đâu mà bạn xác định được điều này?

- Ngụ ý của người kể chuyện?

- Hiệu quả của cách kể chuyện?

Việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả:

- Việc lựa chọn từ ngữ và hiệu quả của việc lựa chọn đó?

- Giọng điệu?

- Độ dài và nhịp độ của câu văn?

Chủ đề:

- Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm?

- Những hình ảnh tượng trưng (biểu tượng) đã góp phần thể hiện chủ đề như thế nào?

- Tác giả muốn gửi thông điệp gì tới người đọc?

Với sự phối hợp giữa các yếu tố: đọc, viết, nói (trao đổi, chia sẻ) dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chắc chắn học sinh không chỉ hiểu sâu tác phẩm mà còn được rèn luyện các năng lực tư duy như phân tích, so sánh, khái quát, đánh giá và năng lực diễn đạt Đó cũng

là những nền tảng của người lao động sáng tạo trong tương lai

đó Đối với HS, các em cần phải có sự chuẩn bị bài ở nhà

2.3.1 Tìm hi?u yếu tố ngoài văn bản (tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm) 2.3.1.1 Tác giả

Tìm hiểu về quê quán, cuộc đời, phong cách, sự nghiệp sáng tác

Trang 23

VD: Khi tìm hiểu truyện Làng của Kim Lân phải chú ý đến quê quán của nhà văn thuộc làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đó là nơi ông đã từng sống, gắn bó với nông thôn và cuộc sống của người nông dân Do đó, ông rất am hiểu về cuộc sống của

họ Vì vậy, sở trường chính của ông luôn viết về đề tài này và rất thành công

"Tôi là người gắn bó với làng tôi Đi xa vài ngày là tôi nhớ làng không chịu được Ở nơi

sơ tán trong hoàn cảnh xa làng xóm, quê hương tôi đã rất buồn, lại thêm tin đồn làng chợ Dầu của tôi theo Pháp Càng yêu làng và gắn bó với làng, tin này làm cho tôi bồn chồn, xấu hổ… Làng có được chút chú ý của người đọc là do cảm xúc, khát khao, buồn khổ của chính tôi."

2.3.2 Tìm hi?u các yếu tố trong văn bản

2.3.2.1 Giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm

Tựa đề là yếu tố đầu tiên biểu hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm

VD: Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đặt tên truyện là Chiếc Lược Ngà vì nó có nhiều ý nghĩa biểu tượng

Thứ nhất, nó là chiếc cầu nối của tình cha con Nó là biểu tượng giá trị tinh thần không có

gì thay thế được Tuy nhỏ bé nhưng nó là biểu tượng của tình cha con bất tử

Thứ hai, cùng với ý nghĩa, biểu tượng tinh thần Chiếc lược ngà còn có giá trị gợi cảm Đối với ông Sáu còn gì thân thiết hơn khi nhìn cây lược tự tay mình làm ra mà như được nhìn thấy đứa con bé bỏng Nó lấp đầy khoảng trống trong lòng người cha xa con:

"Những đêm nhớ con ông lấy cây lược ra ngắm nghía" Ngoài ra đối với bé Thu kỷ vật ấy

là niềm hạnh phúc

(Tương tự giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề các tác phẩm khác: Lặng lẽ Sa Pa, Những ngôi sao xa xôi…)

2.3.2.2 Tóm tắt nội dung của tác phẩm

Để có thể tóm tắt nội dung tác phẩm, GV yêu cầu HS đọc tác phẩm, kết hợp trả lời các câu hỏi gợi ý của GV và hướng dẫn trong SGK Trong quá trình đọc, HS cần chú ý khâu đọc ở nhà và đọc ở lớp

Đọc ở nhà: đọc là việc làm rất cần thiết cho học sinh trong quá trình chuẩn bị bài Học sinh có thể đọc theo sự gợi ý, hướng dẫn trước của thầy để tìm hiểu tác phẩm Trong quá trình đọc, học sinh cần đánh dấu những từ ngữ, những chi tiết khó, không hiểu để lên lớp hỏi giáo viên Đọc xong, học sinh cần tìm những chi tiết đặc sắc, những điểm nhấn, những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

GV có thể kiểm tra việc đọc và tóm tắt tác phẩm bước đầu của HS bằng cách nêu một số câu hỏi như:

Truyện có những nhân vật nào? Nhân vật nào là chính? Nhân vật nào là phụ? Truyện nói về vấn đề gì?

VD: Truyện Chiếc lược ngà gồm những nhân vật nào? (anh Sáu, bé Thu, bác Ba: bạn anh Sáu…)

Trang 24

Truyện kể về vấn đề gì? (cuộc gặp gỡ đầy xúc động của cha con anh Sáu sau tám năm xa cách)

Đọc ở lớp: đọc diễn cảm gắn bó với thầy và trò trong suốt giờ giảng văn làm cho tiếng nói của nhà văn luôn gần gũi với học sinh Gắn việc đọc diễn cảm với các phương pháp khác sẽ tạo cho giờ học thêm sinh động, giúp cho học sinh thêm hứng thú trong cảm thụ, phân tích tác phẩm Bởi vì, giọng đọc là thước đo mức độ rung cảm của người đọc với các tác phẩm

Từ việc đọc giúp học sinh nắm vững cốt truyện, diễn biến… và có thể kể, tóm tắt lại được tác phẩm hoàn chỉnh hơn

?ể giúp học sinh nắm được những nội dung cốt lõi, tổng thể của tác phẩm, GV có thể gợi

mở HS qua một số câu hỏi:

- Diễn biến tâm lý của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

Ông sững sờ, ngạc nhiên cao độ đến hốt hoảng sợ hãi, đau xót, tủi hổ (giáo viên cho học sinh gạch chân các chi tiết thể hiện tâm trạng trên trong SGK và hướng dẫn học sinh phân tích: "cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được…"; "cúi gằm mặt xuống mà đi…"; "nước mắt ông lão cứ giàn ra… hắt hủi đấy ư")

Khi nghe tin làng theo giặc, tình cảm yêu làng, yêu nước của ông Hai dẫn đến một cuộc xung đột nội tâm Ông nói: "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù"

Như vậy, tình cảm yêu nước của ông Hai rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm yêu làng quê

Nhưng ông Hai rất yêu làng, không thể bỏ được làng nên ông càng đau khổ dẫn đến tâm trạng ông bị dồn nén và bế tắc Ông đã tâm sự với đứa con nhỏ nhưng thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình

- Tâm trạng của ông Hai khi nghe làng theo giặc được cải chính: tâm trạng ông Hai thay đổi, ông vui như mở cờ trong bụng Ông khoe: "Tây nó đốt nhà tôi rồi Đốt nhẵn" (Giáo viên cho học sinh phân tích và bình)

Đây là một minh chứng làng ông không theo giặc Ông biết đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên quyền lợi của cá nhân, gia đình mình Giờ đây, niềm tin và niềm vui hoàn toàn trở lại trong tâm hồn người nông dân đi tản cư Ông là người yêu làng, yêu nước Tình cảm này

Ngày đăng: 18/01/2020, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn An (Chủ biên - 1996), Lý luận dạy học, Trường ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn An
Nhà XB: Trường ĐHSP
Năm: 1996
2. Nguyễn Đức Ân (2000), Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT, Trường ĐHSP Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Nhà XB: Trường ĐHSP Tp.HCM
Năm: 2000
3. Nguyễn Bá (Chủ biên - 1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo Dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Bá
Nhà XB: Nxb Giáo Dục - Hà Nội
Năm: 1998
4. Bộ GD&ĐT (2005), Tài liệu BDGV dạy SGK lớp 9 môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu BDGV dạy SGK lớp 9 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Bộ GD&ĐT (2008), Tài liệu tập huấn GV cốt cán môn Ngữ văn THCS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn GV cốt cán môn Ngữ văn THCS
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
7. Nguyễn Viết Chữ (2003), Phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2003
8. Trần Thanh Đạm, Trần Đăng Mạnh, Phương Lưu, Môn Văn và Tiếng Việt (Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn Văn và Tiếng Việt (Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên)
Tác giả: Trần Thanh Đạm, Trần Đăng Mạnh, Phương Lưu
9. Trần Thanh Đạm, Huỳnh Ly, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tân, Đàm Gia Cẩn (1971), Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm, Huỳnh Ly, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tân, Đàm Gia Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
10. Nguyễn Văn Đường (2003), "Tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn bậc THCS", (Hội thảo khoa học những nhà nghiên cứu Ngữ văn trẻ), tr.338, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn bậc THCS
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Đường (chủ biên - 2005), Thiết kế bài giảng Ngữ văn THCS lớp 9 (tập 2), Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn THCS lớp 9 (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
13. G.N PÔXPÊLÔP (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N PÔXPÊLÔP
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1998
15. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Văn học và học văn, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1999
16. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2000
18. Phạm Thị Thu Hương, "Một số nguyên tắc vận dụng thi pháp thể loại vào việc dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT" (Nội san), tr. 1-2, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên tắc vận dụng thi pháp thể loại vào việc dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT
19. Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Phùng Ngọc Kiếm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
20. Phan Trọng Luận, Văn chương bạn đọc sáng tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương bạn đọc sáng tạo
Tác giả: Phan Trọng Luận
23. Phan Trọng Luận (1996), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1996
24. Phan Trọng Luận, Lê Chí Viễn, Phùng Văn Tửu (1995), Môn Văn và Tiếng Việt (sách bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên), Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn Văn và Tiếng Việt (sách bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên)
Tác giả: Phan Trọng Luận, Lê Chí Viễn, Phùng Văn Tửu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1995
25. Phan Trọng Luận (chủ biên - 1999), Phương pháp dạy học văn, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1999
26. M. BAKHTIN (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. BAKHTIN
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w