1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Lý luận Văn học: Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

104 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 743,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Lý luận Văn học: Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 bao gồm những nội dung về một số vấn đề chung về lý thuyết tiếp nhận văn học, một số vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi qua lĩnh vực dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu; một số vấn đề về các yếu tố quy định tiếp nhận trong tiếp nhận Lep Tônxtôi.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN V Ă N THỊNH

VẤN ĐỀ

TIẾP NHẬN LEP TÔNXTÔI

TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lep Tônxtôi là một trong những nhà văn Nga thế kỉ XIX có ảnh hưởng lớn đến văn học thế giới

và văn học Việt Nam Uy tín và tiếng tăm của nhà văn này luôn được các nhà phê bình và nghiên cứu

văn học đánh giá rất cao Sự xuất hiện của Chiến tranh và hoà bình, Anna Karênina và Phục sinh cùng

với những tác phẩm tôn giáo đã nâng tên tuổi của Lep Tônxtôi lên hàng vĩ nhân của nền văn học nhân

loại Sự xuất hiện của Chiến tranh và hoà bình được xem như một sự kiện văn học lớn của nền văn học

Nga và thế giới thế kỉ XIX với tư cách như là sự xuất hiện của một thể loại tiểu thuyết mới: tiểu thuyết

sử thi Sự xuất hiện của Anna Karênina một lần nữa lại trở thành một sự kiện văn học lớn khi nó được

xem như là một trong những tác phẩm đã đột phá thể loại tiểu thuyết gia đình đương thời Lep Tônxtôi

nghiễm nhiên trở thành một nhà văn mà tác phẩm của ông hiện diện khắp nơi trên thế giới, Chiến tranh

và hoà bình, Anna Karênina hầu như có mặt trong mọi thư viện gia đình

Không chỉ là một nhà văn lớn, Lep Tônxtôi còn là một nhà tư tưởng lớn Nói đến nhà văn Lep

Tônxtôi, không thể không biết đến nhà cải cách Lep Tônxtôi và càng không thể không biết nhà tư

tưởng Lep Tônxtôi Chủ nghĩa Lep Tônxtôi trở thành một học thuyết tôn giáo-xã hội mà ảnh hưởng của

nó chắc chắn đã có tác động rất lớn đến sự vận động và biến đổi của lịch sử thế giới Gandhi- một vị

thánh sống của Ấn Độ, đã từng khẳng định mình đã học hỏi và vận dụng học thuyết Lep Tônxtôi vào

con đường tranh đấu cách mạng nhằm giải phóng và thống nhất Ấn Độ Đương thời, tên tuổi và học

thuyết tôn giáo-xã hội của Lep Tônxtôi đã quyến rũ hàng ngàn người trên thế giới hành hương đến

Iaxnaia, quê hương của “giáo chủ” Lep Tônxtôi Ảnh hưởng của Lep Tônxtôi đến tinh thần của loài

người trên thế giới là không gì có thể đo đếm được Điều này cũng hoàn toàn đúng đối với người Việt

Nam nói chung, người miền Nam nói riêng

Nguyễn Ái Quốc được xem là người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với sáng tác của Lep Tônxtôi

(khi Người đang ở Pháp) Người cũng tự nhận mình là người học trò nhỏ của đại văn hào Lep Tônxtôi

Ở miền Bắc, những tác phẩm của Lep Tônxtôi được đón nhận nồng nhiệt mà thái độ của độc giả khá

thống nhất trên tinh thần tiếp nhận của Lênin đối với Lep Tônxtôi vào thập niên đầu tiên của thế kỉ XX

Ở miền Nam, những tác phẩm của Lep Tônxtôi cũng được đón nhận không kém phần hào hứng

Trên tinh thần thời đại và điều kiện kinh tế-chính trị-văn hoá-xã hội miền Nam, sự tiếp nhận của độc

giả ở miền Nam có sự khác biệt so với sự tiếp nhận của độc giả miền Bắc Việt Nam, tuy vậy với tư

cách như là những công trình nghệ thuật đích thuật và có giá trị nghệ thuật lớn lao, sự tiếp nhận của

công chúng miền Nam đối với sáng tác và tư tưởng của Lep Tônxtôi vẫn tương đối thống nhất Sự phân

Trang 3

hoá độc giả trong quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi tuy có tồn tại nhưng chưa bao giờ là một sự phân hoá lớn và sâu sắc

1 Lý do chọn đề tài:

Chúng tôi chọn đề tài Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan, nhưng nguyên nhân chính vẫn là xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của đề tài Nhìn chung, chúng tôi có một số lý do như sau:

-Văn học Nga là một trong những nền văn học tiên tiến và vĩ đại của thế giới Những tên tuổi và tác phẩm của nền văn học này từ lâu đã quen thuộc với độc giả bình dân và giới trí thức Việt Nam hơn nửa thế kỉ nay Ảnh hưởng nền văn học này đến nền văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng là rất lớn và từ lâu đã được khẳng định Kí ức người Việt từ lâu luôn dành một vị trí trang trọng cho những giá trị bất diệt của nền văn học giàu tính triết lý và tinh thần nhân văn này Vì những

lý do đó, việc tiếp cận và nghiên cứu về những biểu hiện của nền văn học này là hết sức cần thiết

-Cùng với các tên tuổi Puskin, Gôgôn, Tuôcghênhep, Đôxtôiepxki, Tsêkhôp,… nhà văn Lep Tônxtôi là một trong những tinh hoa của đội ngũ các nhà văn Nga và đồng thời cũng là một trong số những nhà văn lớn của văn học thế giới Do tầm vóc, uy tín cũng như vai trò của Lep Tônxtôi to lớn như thế nên việc tìm hiểu về sáng tác cũng như những vấn đề liên quan đến sự nghiệp của ông vẫn luôn

là một yêu cầu đối với sự nhận thức văn học nghệ thuật của mọi thời đại Mặt khác, Lep Tônxtôi trong thế giới tinh thần người Việt Nam hiện đại có một vị trí cực kì quan trọng nên việc tìm hiểu về ông là một cách để hiểu thêm về chính chúng ta Sự hiểu biết này không bao giờ là thừa

-Xã hội miền Nam trước 1975 đối với đa số chúng ta đã là quá khứ Tuy nhiên, hiểu biết về quá khứ để nắm bắt thực tại và định hướng tương lai vẫn là một việc làm có ý nghĩa Đối với một lĩnh vực tinh thần như văn học nghệ thuật, việc tìm hiểu thế giới tinh thần của người miền Nam trước 1975 sẽ có

ý nghĩa thực tiễn trong việc định hướng tinh thần người miền Nam nói riêng, người Việt Nam nói chung trong thời kì hiện đại

-Lý thuyết tiếp nhận từ khi ra đời đến nay vẫn luôn là một lĩnh vực mới của lý luận văn học Từ

lý thuyết tiếp nhận, tiếp cận một nhà văn và nhà tư tưởng có tiếng tăm lớn như Lep Tônxtôi là một công việc mà các nhà nghiên cứu trước đây chưa thực hiện đầy đủ Đề tài luận văn này sẽ góp một hướng tiếp cận mới bổ sung vào một số khiếm khuyết mà lý luận văn học trước đây đã bỏ sót đối với Lep Tônxtôi

2 Lịch sử vấn đề:

Tìm hiểu lịch sử vấn đề của đề tài Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai

đoạn 1954-1975, chúng ta thấy có không nhiều những bài báo hoặc công trình nghiên cứu về Lep

Trang 4

Tônxtôi Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy bài viết Lep Tônxtôi tại các đô thị miền Nam trước 1975 của tác giả Trần Thị Quỳnh Nga (in trong Khoa Ngữ Văn một phần tư thế kỷ, Khoa Ngữ Văn ĐHSP TPHCM) và Luận văn thạc sĩ Văn học Nga tại các thành thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của tác giả Phạm Thị Phương (một số phần đã được trích in như: Thống kê đầu sách dịch và bài viết về văn

học Nga tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, Khoa Ngữ Văn ĐHSP TPHCM, 1995; Văn học Nga tại thành thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, Kỷ yếu khoa học 1998, Khoa Ngữ Văn ĐHSP

TPHCM) là đáng quan tâm hơn hết

Luận văn thạc sĩ Văn học Nga tại các thành thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của tác giả

Phạm Thị Phương là công trình đầu tiên đề cập đến trường hợp tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với Lep Tônxtôi trước 1975 Công trình này lấy việc nghiên cứu tiếp nhận văn học Nga-Xô và trường hợp tiếp nhận Đôxtôiepxki làm đối tượng nghiên cứu chính nên trường hợp tiếp nhận Lep Tônxtôi chỉ

là một trong những đối tượng được đề cập đến Điều này đã chi phối kết quả nghiên cứu đối với trường hợp tiếp nhận Lep Tônxtôi Nhìn chung, đối với trường hợp tiếp nhận Lep Tônxtôi, tác giả Phạm Thị Phương đã có những nhận định và minh chứng mang tính chất khái quát nhưng do Lep Tônxtôi không phải là đối tượng nghiên cứu trọng tâm nên tác giả không đi vào phân tích cụ thể Xem việc tiếp nhận Lep Tônxtôi như một trong những biểu hiện của tiến trình tiếp nhận của độc giả miền Nam trước 1975 đối với nền văn học Nga –Xô, tác giả công trình đã đặt việc tiếp nhận Lep Tônxtôi bên cạnh Đôxtôiepxki và đã có những nhận định chính xác về vị trí của hai nhà văn này trong mắt độc giả miền Nam :

Lev Tolstoi và Dostoievski có một vị trí quan trọng giữa các nhà văn cổ điển nước ngoài được giới thiệu vào miền Nam Về phương diện tư liệu ta thấy tổng số các danh tác của hai nhà văn này được chuyển dịch và xuất bản nhiều hơn so với các nhà văn Nga khác Trong các bài nghiên cứu, phê bình văn học tên tuổi của Lev Tolstoi và Dostoievski được nhắc đến khá thường xuyên Ở hai nhà văn này, người ta thường đi khai thác những tư tưởng triết học, tôn giáo phù hợp với tinh thần Đông phương Về dịch thuật, các danh tác của hai nhà văn này cũng có phần công phu hơn, điển hình là trường hợp Nguyễn Hiến Lê với bản dịch “Chiến tranh và hoà bình” [47, 37]

Khi so sánh sự tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với hai nhà văn này tác giả Phạm Thị

phương cũng có những nhận định chí lý: Nhìn chung giới độc giả thành thị miền Nam cho rằng Lev là

một nghệ sĩ hoàn toàn hơn, dễ hiểu hơn Dostoievski: đối với tâm hồn người Việt Nam, tinh thần của Lep Tônxtôi dễ tiếp thu hơn [47, 39] Có lẽ vì thế mà tác giả Phạm Thị Phương cho rằng: So với Lev Tolstoi, thành phần độc giả của Dostoievski ở thành thị miền Nam dường như thu hẹp hơn [47, 39]

Trang 5

Đánh giá về ảnh hưởng của phong cách viết của Lep Tônxtôi đối với quá trình tiếp nhận của độc

giả miền Nam, tác giả Phạm Thị Phương lưu ý rằng: “Phong cách cổ điển rất mực trong sáng, hài hoà

của Lep Tônxtôi gây được cảm tình lớn đối với những nhà văn, những bạn đọc vốn từng hấp thụ truyền thống văn học cổ điển và lãng mạn Pháp và được đào luyện trong tinh thần Nho giáo Phong cách ấy thấm dần, trở thành mẫu mực để người ta noi theo, “rèn cách viết” [47, 38]

Tác giả Phạm Thị Phương cũng không quên đề cập đến một trong những đặc điểm quan trọng

nhất của quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi, đó là cách thức tiếp nhận có vấn đề của một số ít độc giả Tác giả công trình cho rằng: “Ở Sài Gòn đôi khi người ta có xu hướng nhìn nhận Lep Tônxtôi với cặp mắt

Hiện sinh chủ nghĩa Một số người thích khai thác một cách thái quá những chi tiết đời sống thường nhật của nhà văn Họ hay dùng những từ ngữ, những khái niệm của lý thuyết Hiện sinh để bàn đến nhà văn và tác phẩm.” [47, 38] Để minh chứng cho luận điểm này, tác giả dẫn lại và nhấn mạnh những từ

ngữ, khái niệm mà nhà xuất bản Phù Sa đã sử dụng khi giới thiệu tác phẩm “Vùng đất hồi sinh”: “ý niệm khai phóng”, “mặc cả vô hiệu”, “ẩn ức”, “trả giá”

Bài viết Lev Tolstoi tại các đô thị miền Nam trước 1975 [42] của tác giả Trần Thị Quỳnh Nga

tiếp cận vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi trước 1975 tại các thành thị miền Nam tương đối khái quát và cụ thể hơn Đây cũng là lẽ đương nhiên bởi lẽ đối tượng được đề cập chính trong bài nghiên cứu này chính

là Lep Tônxtôi Tiếp cận Lep Tônxtôi, tác giả Trần Thị Quỳnh Nga đặt trọng tâm ở hai phương diện chính: tình hình dịch thuật và tình hình nghiên cứu

Đề cập đến tình hình dịch thuật Lep Tônxtôi ở các đô thị miền Nam trước 1975, tác giả Trần Thị Quỳnh Nga đã cho thấy toàn bộ tình hình dịch Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn này Tác giả cho

rằng người đọc miền Nam đã quen thuộc với Lep Tônxtôi từ những năm 50: Trên tư liệu dịch thuật,

Tolstoi trở nên quen thuộc với độc giả miền Nam vào những năm 50 Cuối những năm 50, bạn đọc Sài Gòn tiếp xúc với tác phẩm Hạnh phúc gia đình, Bản sonat tặng Kreutzer và một số đoạn trích Chiến tranh và hoà bình qua bản dịch của Bảo Sơn [42, 192] Tình hình dịch vào những năm 60 và 70 cũng

được tác giả đề cập khá cụ thể

Chất lượng dịch thuật cũng được tác giả bài viết đề cập Theo Trần Thị Quỳnh Nga, “những tác

phẩm của Lep Tônxtôi được giới thiệu ở miền Nam đã góp phần vào việc giới thiệu sáng tác của nhà văn cổ điển này, song chất lượng các bản dịch còn là vấn đề cần xem xét bởi hầu hết các tác phẩm của L.Tolstoi cũng như văn học Nga nói chung đều được dịch qua một ngôn ngữ trung gian là tiếng Anh hoặc tiếng Pháp (mà tiếng Pháp là chủ yếu) Đó là chưa kể một số dịch giả tuỳ tiện thay đổi nhan đề tác phẩm, Việt hoá các tên nhân vật, ngôn ngữ dịch nghèo nàn, thiếu chính xác.” [42, 194]

Trang 6

Về tình hình nghiên cứu Lep Tônxtôi, tác giả Trần Thị Quỳnh Nga đã đề cập đến những nhận định, nghiên cứu chung về bản thân nhà văn Lep Tônxtôi và mảng sáng tác của ông Những nhận định của Nguyễn Hiến Lê đặc biệt được tác giả bài viết lưu ý Tác giả cũng không quên tìm hiểu một cách

sơ lược những nguyên nhân, tiền đề nhằm lý giải cho tình hình dịch thuật và nghiên cứu Lep Tônxtôi

Nhìn chung, trong bài viết của mình, tác giả Trần Thị Quỳnh Nga đã cố gắng giới thiệu một cách cụ thể nhất về Lep Tônxtôi trong khuôn khổ của một bài khảo cứu sơ bộ Tuy nhiên, do khuôn khổ của một bài báo nên tác giả chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu những vấn đề cụ thể và rộng lớn hơn

Dù vậy, bài viết này đã có những gợi mở rất quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu Lep Tônxtôi

3 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, chúng tôi

sẽ tiến hành tiếp cận một số vấn đề sau:

-Chúng tôi đề cập một số nét về sự ra đời, tình hình nghiên cứu lý luận tiếp nhận trên thế giới và

ở Việt Nam cũng như những khái niệm cơ bản và tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận đối với lý luận văn học Trên cơ sở những tiếp cận đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến lý thuyết tiếp nhận như là một lĩnh vực mới mẻ đồng thời thể hiện cách hiểu của mình về một số khái niệm và đó cũng là cơ sở để tiếp cận một nhà văn lớn như Lep Tônxtôi

-Đề tài Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 sẽ được triển

khai theo hướng làm rõ một số đặc điểm của quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi của độc giả miền Nam trước 1975 Trên cơ sở những vấn đề được đề cập, một mặt chúng tôi sẽ triển khai lý giải thực trạng tiếp nhận Lep Tônxtôi đồng thời làm rõ sự ảnh hưởng và tác động qua lại giữa các nhân tố độc giả-tác phẩm-hiện thực xã hội cũng như một số vấn đề thuộc về lý thuyết tiếp nhận và ứng dụng chúng vào trường hợp tiếp nhận cụ thể

- Những kết quả tiếp nhận Lep Tônxtôi sẽ được chúng tôi xem như là những kinh nghiệm tiếp nhận để từ đó gợi ý quá trình tiếp nhận thực tế ở miền Nam cũng như đối với độc giả Việt Nam nói chung hiện nay

Nhìn chung, với đề tài Vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn

1954-1975, chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi của độc giả

miền Nam mà chỉ tiếp cận một số vấn đề có liên quan đến việc độc giả tiếp nhận tác gia này để sơ bộ lý giải và làm cơ sở định hướng cho những nghiên cứu dài hơi hơn Những vấn đề như công việc dịch, vấn đề chuyển mã văn bản sang Tiếng Việt không được đề cập cụ thể trong đề tài này Những vấn đề như ảnh hưởng của Lep Tônxtôi đối với sáng tác của các văn nghệ sĩ miền Nam, cũng như ảnh hưởng của nhà văn này đến các lĩnh vực sáng tác nghệ thuật cũng không được đề cập Việc tiếp cận một cách

Trang 7

toàn diện tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi của độc giả miền Nam trước 1975 sẽ được thực hiện trong một công trình nghiên cứ dài hơi hơn Với đề tài này, kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên và nhiều đối tượng khác có nhu cầu tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến lý thuyết tiếp nhận và một số vấn đề nổi bật trong tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Ngoài ra, công trình còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý văn hoá và xuất bản sách, người đọc và cả giới sáng tác

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Phạm vi đề tài của chúng tôi là sơ bộ tiếp cận một số vấn đề có liên quan đến quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi của độc giả ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Những vấn đề mà chúng tôi đề cập trong luận văn này không phải là toàn bộ các vấn đề của lý thuyết tiếp nhận Phạm vi mà chúng tôi đề cập chỉ

là một số vấn đề Những vấn đề được đề cập sẽ được chúng tôi triển khai theo hướng phân tích thực tiễn để đúc rút thành những vấn đề có tính lý luận

Đây là một đề tài có phạm vi nghiên cứu hẹp, chúng tôi sẽ chỉ quan tâm đến công chúng miền Nam tiếp nhận Lep Tônxtôi như thế nào, những ảnh hưởng xã hội học, ảnh hưởng văn học… đối với họ như thế nào

Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong luận văn này chính là những nhận định, phản ứng trực tiếp hoặc gián tiếp của người đọc đối với trường hợp cụ thể là Lep Tônxtôi trong giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam Chúng tôi ý thức được đây là những đối tượng hết sức cụ thể đồng thời cũng hết sức khó xác định Thời kì mà chúng tôi tiếp cận nghiên cứu là một thời kì đã qua, thời kì đã lui vào

dĩ vãng, những biểu hiện tiếp nhận của độc giả đối với Lep Tônxtôi nói riêng, với nhiều tác gia văn học khác nói chung đã thất lạc hoặc ít tồn tại dưới dạng vật chất Những tài liệu dùng để nghiên cứu hết sức hạn hẹp và không thể tránh được thiếu sót Đó là một trong những khó khăn chính của chúng tôi khi tiếp cận đề tài này

5 Phương pháp nghiên cứu:

Từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sử dụng những thao tác cũng như những phương pháp khả dĩ có thể đem đến những kết quả nghiên cứu tốt nhất

Phân tích các tư liệu được xem như là thao tác trọng tâm trong việc triển khai đề tài và giúp chúng tôi phát hiện cũng như làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến độc giả tiếp nhận và kết quả tiếp nhận của độc giả đối với Lep Tônxtôi Các thao tác diễn dịch, quy nạp cũng được chúng tôi sử dụng thường xuyên trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài

Sử dụng phương pháp lịch sử chức năng, chúng tôi hy vọng tìm thấy sự hỗ trợ của nó trong việc xác định các vấn đề xã hội có liên quan đến quá trình tiếp nhận của độc giả miền Nam trước 1975 đối

Trang 8

với Lep Tônxtôi Xác định các tiền đề kinh tế-chính trị-văn hoá-xã hội để từ đó làm rõ sự ảnh hưởng của chúng đến sự vận động, biến đổi và phát triển của độc giả trong quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi là một trong những mục tiêu của luận văn, điều này chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở có sự trợ giúp của phương pháp lịch sử chức năng

Sử dụng phương pháp xã hội học, chúng tôi có điều kiện đề cập đến những vấn đề thuộc về thị hiếu thẩm mỹ, tầm đón nhận của độc giả Phương pháp này còn cho phép chúng tôi lý giải những vấn

đề liên quan đến đặc điểm của độc giả tiếp nhận

Nhìn chung, tuỳ theo yêu cầu của từng nội dung và mục tiêu, đối tượng của luận văn mà chúng tôi sử dụng những thao tác, phương pháp phù hợp

6 Đóng góp của luận văn:

-Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận của lý thuyết tiếp nhận trên cơ sở phân tích thực tế tiếp nhận -Vận dụng lý thuyết tiếp nhận để làm sáng tỏ một số phương diện của tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

- Kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi rút ra những kinh nghiệm cho việc định hướng hoạt động tiếp nhận hiện nay với tư cách như là những gợi ý

7 Kết cấu luận văn:

Luận văn gồm 122 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (4 trang), nội dung luận văn được triển khai trong ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về lý thuyết tiếp nhận văn học

1.1 Lý thuyết tiếp nhận - một lĩnh vực mới của lý luận văn học

1.2 Lý thuyết tiếp nhận và sự vận dụng nó ở Việt Nam

Chương 2: Một số vấn đề tiếp nhận Lep Tônxtôi qua lĩnh vực dịch thuật, xuất bản

và nghiên cứu

2.1 Lĩnh vực dịch thuật và xuất bản

2.2 Lĩnh vực nghiên cứu

Chương 3: Một số vấn đề về các yếu tố quy định tiếp nhận trong tiếp nhận Lep Tônxtôi

3.1.Vấn đề độc giả trong tiếp nhận Lep Tônxtôi

3.2 Vấn đề tiền đề xã hội trong tiếp nhận Lep Tônxtôi

3.3 Vấn đề đặc trưng đối tượng tiếp nhận trong tiếp nhận Lep Tônxtôi

3.4 Vấn đề kích hoạt tiếp nhận trong tiếp nhận Lep Tônxtôi

Trang 9

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC

1 Lý thuyết tiếp nhận văn học - một lĩnh vực mới của lý luận văn học:

1.1 Lịch sử ra đời của lý thuyết tiếp nhận:

Lấy việc nghiên cứu sự tiếp nhận của người đọc làm nhiệm vụ trung tâm, lý thuyết tiếp nhận ra đời vào giữa thế kỉ XX là một bước tiến quan trọng của nền lý luận văn học Tuy nhiên, trước khi lý thuyết tiếp nhận ra đời thì nhân loại đã có những tiếp cận nhất định đối với vấn đề này Thời cổ đại,

Aristote đã từng đề cập đến khái niệm “Catharsis” trong cảm xúc thẩm mỹ của đối tượng Khi ông định nghĩa bi kịch như sự thanh lọc tình cảm thông qua xót thương (pitie) và sợ hãi (terreus) thì cũng

có nghĩa là ông đã đụng chạm đến nhân tố người đọc Sau Aristote, Kant cũng đề cập đến khái niệm

“thị hiếu” trong các tác phẩm của mình Đến Hêghen, vấn đề tiếp nhận đã được đề cập một cách khá cụ

thể Ông cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật tồn tại để (…) cho công chúng, những người muốn nhìn thấy

trong đối tượng miêu tả bản thân mình cùng với những tín ngưỡng, tình cảm và trí tưởng tượng của mình, và để cho công chúng có khả năng trở thành đồng vọng với vật thể được miêu tả…” (Hêghen,

Mỹ học, T.1 )

Nhà phê bình lý luận Nga Biêlinxki cũng nhiều lần nhắc đến nhân tố người đọc Ông cho rằng, văn học không thể tồn tại thiếu công chúng, cũng như công chúng không thể thiếu văn học Khi bàn về Puskin, ông nhấn mạnh đến sự lưu chuyển, sự biến đổi, những quan niệm của độc giả về các hiện tượng

văn học: “Puskin thuộc về những hiện tượng sống động và chuyển biến không ngừng, những hiện

tượng không chấm hết tại thời điểm cái chết của nhà văn mà vẫn tiếp tục phát triển trong ý thức xã hội Mỗi thời đại nhìn nhận những hiện tượng như thế dường như chưa được đầy đủ, chính xác, mặc dù đã

có cố gắng phát biểu về chúng một điều gì mới mẻ hơn, đúng đắn hơn, nhưng rút cuộc không thời đại nào phát triển hết những mới mẻ đó” [24] Ở đây, nhà phê bình Biêlinxki đã nhìn thấy những khả năng

bất tận của các tác phẩm Puskin trong mối liên hệ với người đọc Đặt trong mối liên hệ biện chứng với người đọc, tác phẩm của Puskin sẽ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi theo sự tiếp nhận của người đọc

Với những ý tưởng tinh tế và tiên tri như vậy, lẽ ra người ta phải sớm phát triển và tìm hiểu chúng, nhưng mãi đến sau này, những ý tưởng đó của Bêlinxki mới được người ta đọc lại và tìm hiểu

Trang 10

Như vậy, không nhiều thì ít, trong quá khứ lý luận tiếp nhận đã được đề cập ở những mức độ nhất định Sự ra đời của nó chắc hẳn phải là sự phản ứng lại quan niệm về tính tự trị của tác phẩm và quan niệm xem tác phẩm, văn bản tác phẩm là duy nhất, bất biến và tách khỏi văn cảnh Tuy nhiên, để nói đến tiền đề vững chắc cho sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận thì trước hết cần phải nhắc đến vai trò của chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague và hàng loạt những trường phái khác như:giải thích học, chủ nghĩa hình thức Nga những năm 1910 - 1920, xã hội học văn học

Chủ nghĩa cấu trúc ra đời trên cơ sở phát triển những thành tựu của chủ nghĩa hình thức Nga

Khái niệm “lạ hoá” của Skhlôpxki lần đầu tiên đã nhấn mạnh đến vai trò người đọc Xuất phát từ nhân

tố người đọc, ông đã đề xuất cách miêu tả làm cho sự vật trở nên mới lạ, hấp dẫn người đọc

Chủ nghĩa cấu trúc tiếp tục nhấn mạnh vai trò của người đọc Chủ nghĩa cấu trúc cho rằng, khi người đọc tiếp xúc với một tác phẩm, không phải là đang đối diện với một văn bản mang một hàm nghĩa nào đó, mà chỉ là một văn bản được đan dệt một cách có nghệ thuật những lời văn thế thôi, và bạn đọc, do đó, mỗi người sẽ có một cách lý giải khác nhau đối với tác phẩm Ở đây, sự phủ nhận cực đoan nội dung tác phẩm văn học đã tạo tiền đề cho sự tôn vinh hoá vai trò người đọc ở lý thuyết tiếp nhận Đến chủ nghĩa hậu cấu trúc, Jacques Derrida một lần nữa tạo tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận khi cho rằng “cái được biểu đạt” có thể chuyển hoá thành “cái biểu đạt”- tức là, “cái biểu đạt”

sẽ tạo ra hàng loạt những “cái được biểu đạt” tuỳ theo sự tiếp nhận của người đọc

Bên cạnh chủ nghĩa cấu trúc, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái hiện tượng luận (như Roman Ingarden) và giải thích học (như Hans Georg Gadamer) cũng nhấn mạnh đến vai trò của người đọc Những nhận định của họ đã góp phần tạo ra tiền đề cho sự ra đời của mỹ học tiếp nhận

Đến những năm năm mươi của thế kỉ XX, mô hình “mỹ học tiếp nhận” tương đối hoàn chỉnh

đã ra đời với người chủ soái là Hans Robert Jauss

Hans Robert Jauss có một cái nhìn độc đáo về “tính lịch sử của văn học” Theo ông, sự thật của tác phẩm phải bao gồm sự thể hiện ý đồ sáng tạo của nhà văn và sự tiếp nhận thực tế của người đọc Do

đó, lịch sử của văn học không chỉ là lịch sử của nhà văn mà còn bao gồm cả lịch sử tiếp nhận của người

đọc Hans Robert Jauss khẳng định: “Tính lịch sử của văn học không phải ở chỗ chỉnh lý sắp xếp

những sự thực văn học “post festum” mà ở những trải nghiệm vốn có của bạn đọc đối với tác phẩm văn học” ( Lịch sử văn học như là sự thách thức đối với khoa học văn học) Tác phẩm văn học được

ông quan niệm: Tác phẩm văn học = văn học + sự tiếp nhận của công chúng

Với những khái niệm trọng tâm như “tầm đón nhận”, “khoảng cách thẩm mỹ” Hans Robert Jauss và cả trường phái Konstanz đã tạo lập được một định thức biểu thị sự hoàn tất quá trình sáng tạo của nhà văn, nhà thơ từ sáng tác đến tiếp nhận

Trang 11

Ngoài Hans Robert Jauss, Wolfang Iser cũng là một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết tiếp nhận Khác với Jauss (Jauss triển khai vấn đề tiếp nhận trên một bối cảnh xã hội và văn học rộng lớn), Iser chỉ tập trung nghiên cứu sự tiếp nhận trong một hoạt động đọc cụ thể Hai công

trình nghiên cứu tiêu biểu của ông là kết cấu vẫy gọi của văn bản và hoạt động đọc

Như vậy, lý thuyết tiếp nhận ra đời trên cơ sở kế thừa, phát triển và kết hợp những lý luận của nhiều trường phái lý luận khác nhau trước nó Sự ra đời của nó thật sự đã đánh dấu một bước phát triển mới của lý luận văn học cũng như khẳng định một đường hướng mới, một phương diện tiếp cận mới hoàn toàn về chất đối với văn học nghệ thuật Tuy nhiên, hiện tại lý thuyết tiếp nhận vẫn chưa có một

hệ thống lý thuyết thật sự hoàn chỉnh G.Grimn nhận xét, những khó khăn gắn với việc xây dựng một

lý thuyết tiếp nhận thống nhất, có gốc rễ ở tính phức tạp và đa thành phần của chính đối tượng nghiên cứu, cần phải đòi hỏi một sự tiếp cận phân tích liên ngành và đa ngành trong tương lai Rõ ràng, lý thuyết tiếp nhận ra đời đã mấy thập kỉ nhưng đến nay nó vẫn đang trên đường được bổ sung để tiến đến

sự hoàn chỉnh Một lý thuyết về lý thuyết tiếp nhận hoàn chỉnh hơn trong tương lai sẽ là một tất yếu không thể phủ nhận Tuy nhiên, để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu tiếp nhận cần triển khai nghiên cứu nhiều hơn những trường hợp tiếp nhận cụ thể, từ đó mới tiến dần đến sự khái quát về mặt lý luận nhằm làm giàu thêm cho lý thuyết tiếp nhận

1.2 Một số khái niệm và phạm trù cơ bản của lý thuyết tiếp nhận:

Lý thuyết tiếp nhận có một hệ thống những khái niệm Song song với sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận trước đây, những khái niệm này cũng đang dần dần hoàn chỉnh qua quá trình vận dụng thực

tế Dưới đây là một số những khái niệm và phạm trù cơ bản của lý thuyết tiếp nhận có liên quan đến những vấn đề được nghiên cứu ở luận văn này

1.2.1 Tầm đón nhận:

Hans Robert Jauss đã cố gắng phát triển khái niệm “tầm đón nhận” và biến nó thành một phạm trù quan trọng của mỹ học tiếp nhận Ông cho rằng, tầm đón nhận là những nhu cầu và trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú, lý tưởng của từng người đọc Nó chính là tầm văn hoá do điều kiện lịch sử- xã hội và thời đại quy định Tầm văn hoá đó hình thành trong quá trình tiếp thu các sáng tác mang năng lượng thẩm mỹ của nhà văn đồng thời với sự rèn luyện về mặt văn hoá Nó gắn liền với hệ thống chuẩn mực nghệ thuật tương đối ổn định Cho đến khi người đọc tiếp nhận những tác phẩm văn học mới với năng lượng thẩm mỹ mới và chất lượng nghệ thuật mới hẳn thì lúc đó có thể người đọc sẽ bị thuyết phục bởi những chuẩn mực mới và do đó tầm đón nhận cũng được nâng lên Ngược lại, nếu như nhà văn chỉ sáng tác những tác phẩm thấp kém và người đọc bị cám dỗ bởi những tác phẩm này thì tầm đón nhận sẽ bị kéo xuống

Trang 12

Như vậy, khái niệm “tầm đón nhận” là một khái niệm có khả năng chỉ ra mối liên hệ giữa sáng tác và tiếp nhận Thông qua tầm đón nhận mà ta nhận ra sự tác động và chi phối mạnh mẽ của tiếp nhận đối với sáng tác Ở một mức độ nào đó, những nguyên tắc nghệ thuật của tác phẩm phải phù hợp với những đòi hỏi, nhu cầu và tiếp nhận của người đọc Nhưng tiếp nhận của người đọc thì lại được quy định bởi những quan niệm thẩm mỹ, đạo đức,… của từng thời đại và thậm chí những cả điều kiện thuộc về mỗi cá nhân tiếp nhận như tâm sinh lý, nghề nghiệp, lứa tuổi, nhân sinh- thế giới quan cho nên đời sống, số phận của từng tác phẩm, thậm chí cả di sản của một nhà văn cũng được nhìn nhận hết

sức khác nhau Khrapchenko đã đưa ra một ví dụ: “Tác động của những tác phẩm của Lep Tônxtôi và

Đôxtôiepxki trong những điều kiện dân tộc khác nhau cũng phức tạp không đồng đều Ở đây chỉ nêu lên sự cảm thụ đặc biệt với Tônxtôi ở Ấn Độ và một số nước phương Đông khác, nơi người ta đánh giá cao ông với tư cách là một triết gia tôn giáo, hoặc chỉ cần nêu lên việc một số nước phương Tây ra sức

đề cao tư tưởng của Đôxtôiepxki về bi kịch vĩnh cửu của kiếp sống con người, về sự quy phục, nhằm đối lập lại những yếu tố phê phán trong sáng tác của nhà văn…” [24]

Có thể nói, tầm đón nhận được lý thuyết tiếp nhận xem như là một thước đo nhà văn và người đọc đồng thời cũng chính là phẩm chất mà nhà nghiên cứu cần xác định ở người đọc trong mối quan hệ với phẩm chất nghệ thuật của nhà văn, bên cạnh đó nó cũng là một trong những mục tiêu nhân bản và tiến bộ mà xã hội cần hướng tới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nhằm đào tạo và xây dựng nhân cách con người

Liên quan đến tầm đón nhận của người đọc, các nhà nghiên cứu cũng cần lưu ý đến “tầm đón nhận” của tác phẩm, nói chính xác hơn, đó là tầm thẩm mỹ của tác phẩm Tầm thẩm mỹ của tác phẩm chính là cái tạo nên giá trị của tác phẩm trong mối tương quan với những giá trị thẩm mỹ được người đọc xác lập Tầm thẩm mỹ của tác phẩm có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định khoảng cách thẩm mỹ giữa tầm đón nhận giữa người đọc và tầm thẩm mỹ của tác phẩm Mối liên hệ giữa tầm đón nhận của người đọc (cũng có thể tạm gọi là tầm thẩm mỹ của người đọc) và tầm thẩm mỹ của tác phẩm (cũng có thể gọi là tầm đón nhận, tầm đón đợi của tác phẩm) là một mối liên hệ biện chứng và tác động lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong tiến trình phát triển của văn học nghệ thuật

Về khái niệm “tầm đón nhận” được sử dụng trong luận văn này, chúng tôi không tiếp thu toàn

bộ nội hàm của khái niệm đã được lý thuyết tiếp nhận khẳng định Nội hàm tầm đón nhận mà chúng tôi quan tâm ở đây chỉ là tổng thể những khác biệt ở người đọc do những yếu tố xã hội tạo nên Tầm đón nhận được đề cập ở đây không hướng đến việc xác định tầm đón nhận của người đọc ở đây là cao hay thấp, có tác động tiêu cực hay tích cực đến tác phẩm và nhà văn mà là nhằm xác định dạng người đọc của Lep Tônxtôi trong mối tương quan với các dạng người đọc của một số tác giả khác

Trang 13

1.2.3 Người đọc:

Một trong những phạm trù quan trọng của lý thuyết tiếp nhận mà người ta thường vận dụng vào nghiên cứu cụ thể những hiện tượng văn học là phạm trù “người đọc” Đối với lý thuyết tiếp nhận, người đọc chính là cái tạo nên lịch sử văn học Viết lại lịch sử văn học chính là viết lại lịch sử tiếp nhận của người đọc đối với văn chương nghệ thuật Với ý nghĩa này, công chúng đóng một vai trò vô cùng quan trọng và ta thấy nổi bật lên vai trò của người đọc với tất cả sự chủ động sáng tạo của nó Sự chủ động sáng tạo này chính là cái tạo nên đời sống đích thực của tác phẩm và tác phẩm trở thành một “khả năng” chứ không phải là một sự khẳng định cuối cùng Thật vậy, trước hết người đọc căn cứ vào tầm đón nhận của mình mà quyết định thái độ tiếp nhận ban đầu đối với tác phẩm Quá trình đọc tiếp theo

sẽ là quá trình giải mã mà kết quả của nó không phải là cái mã nguyên si bất biến mà tác giả đã đưa vào, nó phụ thuộc vào tầm đón nhận của người đọc Bên cạnh đó, nhà văn không thể nói hết mọi chuyện mà người đọc sẽ phải tưởng tượng thêm, sáng tạo thêm trên cơ sở văn bản tác phẩm, vì thế mà tác phẩm trong lòng người đọc sẽ khác nhau với những mức độ khác nhau Nói tóm lại, tác phẩm trường tồn hay chết yểu, tất cả đều do người đọc quyết định

Nhìn chung, khi nghiên cứu vai trò nổi bật của người đọc, các nhà khoa học đi đến nhận định rằng:

-Một tác phẩm văn học sẽ phát huy tác dụng trong chừng mực nó phù hợp với thái độ, quan điểm của người tiếp nhận đã có từ trước, đến nay được bổ sung thêm

-Sự đánh giá chủ quan của người đọc có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả giao tiếp văn học -Sự lựa chọn và cách tiếp thụ nội dung, hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học tuỳ thuộc vào tư tưởng và mối quan tâm của người đọc

-Mạng lưới quan hệ giữa các thế hệ, cá nhân người đọc tác động không nhỏ đối với kết quả tiếp nhận

Những nhận định trên cho phép chúng ta đi đến kết luận rằng, nghiên cứu tiếp nhận để đi đến những kết quả khoa học thì phải biết lắng nghe tiếng nói sáng tạo của độc giả Tiếp nhận văn học không thể chỉ dừng lại theo cách khảo sát và nghiên cứu người đọc thông qua văn bản tác phẩm của nhà văn

Người đọc quy định sự tồn tại hay chết yểu của tác phẩm chứ không phải là nhà văn (một cách tương đối), tuy nhiên, do có nhiều loại độc giả nên những giá trị quy định sự trường tồn hay chết yểu đối với tác phẩm vẫn khá tương đối Như chúng ta đã biết, đối với loại độc giả này, giá trị này của tác phẩm sẽ làm cho nó trở nên bất tử trong lòng họ nhưng đối với loại độc giả khác, một giá trị khác của tác phẩm-đôi khi trái ngược với giá trị kia-sẽ quy định sự sống còn của tác phẩm Chính những khuynh

Trang 14

hướng tiếp nhận khác nhau đó sẽ góp phần đáng kể cho việc tạo nên lịch sử của tác phẩm Tất cả những điều đó cho thấy vai trò của người đọc là rất quan trọng

Tiếp cận phạm trù người đọc, người ta có thể thấy những dạng công chúng khác nhau đối với sáng tác của tác giả, tức là đối tượng mà nhà văn muốn tác động, giao tiếp trong quá trình sáng tác cũng như chịu sự tác động ngược trở lại từ phía đối tượng Nói đến loại người đọc là nói đến các dạng người đọc được phân loại theo cách thức tiếp nhận, theo tầm đón nhận… nhưng xét cho cùng thì khái niệm “loại người đọc” là chỉ ra khả năng, hiệu quả tác động của sáng tác đối với người đọc và ngược lại Thật vậy, các sáng tác của nhà văn tuỳ theo năng lượng thẩm mỹ, tư tưởng chứa đựng trong tác phẩm mà có những loại người đọc khác nhau, nhưng đồng thời, những loại người đọc khác nhau cũng tạo ra những hiệu quả tiếp nhận khác nhau đối với từng tác phẩm cụ thể Ở đây, nội dung tư tưởng, nghệ thuật, cấu trúc của tác phẩm cũng như sự khác nhau về giới, về lứa tuổi, về đặc điểm tâm lý, về địa vị xã hội, về văn hoá, về dân tộc… ở người đọc đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên những dạng công chúng khác nhau Chẳng hạn, người ta có thể chia ra ba loại người đọc: 1) Người đọc thực tế, 2) Người đọc giả định, 3) Người đọc tinh hoa Ba loại người đọc này tạo ra sự không đồng nhất trong tiếp nhận Thông qua sự tiếp nhận của công chúng, người ta có thể tái lập lại một cách tương đối đầy đủ về một thời đại xác định cùng với những đặc điểm chung về tâm lý, thị hiếu, trình độ văn hoá, quan điểm giai cấp …và ngược lại Dĩ nhiên, vấn đề công chúng là một vấn đề cực kì phức tạp của lý thuyết tiếp nhận đồng thời đó cũng là vấn đề trọng tâm Nếu như trước đây lịch sử văn học được xem là lịch sử của nội dung văn học hoặc hình thức văn học thì trong mối tương quan với công chúng, lý thuyết tiếp nhận đã có tham vọng muốn viết lại lịch sử văn học với tư cách như là lịch sử tiếp nhận của người đọc cả theo hướng đồng đại và lịch đại Mặt khác, nếu như trước đây người ta chỉ lưu ý đến vấn

đề phân loại công chúng dựa trên sự khu biệt về tâm sinh lý, về lứa tuổi, về địa vị, về các mức độ tiếp nhận, về cách thức tiếp nhận, về tầm đón nhận khác nhau đối với tác phẩm thì hiện nay chúng ta cũng cần lưu ý đến sự phân loại người đọc căn cứ vào mối quan hệ giữa người đọc với người đọc cũng như căn cứ vào chức năng tiếp nhận của họ để làm rõ tiến trình tiếp nhận của từng trường hợp cụ thể Đó cũng là một trong những điều kiện để lý thuyết tiếp nhận ngày càng phát triển và dần hoàn thiện

1.2.4 Khoảng cách thẩm mỹ:

“Khoảng cách thẩm mỹ” là khái niệm xác định mức độ bất ngờ của tác phẩm đối với độc giả và xác định giá trị thi học của nó Theo quan niệm của lý thuyết tiếp nhận, một trong những tiêu chuẩn để xác nhận giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm nghệ thuật chính là biểu hiện của trạng thái tâm lý dưới dạng thất vọng hay ngạc nhiên của người tiếp nhận tác phẩm đó Sự thất vọng, thờ ơ hay khoan khoái, ngạc nhiên ở đây chính là biểu hiện tâm lý của người tiếp nhận khi mà khoảng cách giữa tầm đón nhận

Trang 15

của độc giả và tầm chờ đợi của tác phẩm có những giá trị khác nhau Nếu như khoảnh cách giữa tầm đón nhận của độc giả, tức là những cái thuộc về kinh nghiệm thẩm mỹ đã trải qua và tầm đón nhận của tác phẩm có một độ chênh tương đối lớn thì kết quả của độ chênh đó sẽ biểu hiện bằng trạng thái tâm lý cực đoan của người đọc khi tiếp nhận tác phẩm Cụ thể, khi tầm đón nhận của độc giả lớn hơn tầm đón đợi của tác phẩm thì người đọc sẽ có trạng thái tâm lý thờ ơ, thất vọng, dửng dưng, vô cảm Còn nếu tầm đón nhận của độc giả không nhỏ hơn quá so với “tầm đón đợi” của tác phẩm thì ở người đọc sẽ xuất hiện trạng thái ngạc nhiên, sửng sốt, hứng khởi, sung sướng… Đương nhiên, nếu như tầm đón đợi của tác phẩm quá lớn so với tầm đón nhận của người đọc thì có thể ở người đọc cũng xuất hiện trạng thái do dự, lưỡng lự do không thể đánh giá được tầm thẩm mỹ của tác phẩm

Một số khái niệm vừa trình bày ở trên là những khái niệm thuộc loại quan trọng của lý thuyết tiếp nhận Bên cạnh những khái niệm đó, chúng ta thấy lý thuyết tiếp nhận còn có những khái niệm như:

văn cảnh, cụ thể hoá, đồng nhất hoá, hiện thời hoá, tính bất định giao tiếp, tính xác định giao tiếp, tính phi tình thế, chiến lược văn bản, nghĩa ảo, lập nghĩa, kinh nghiệm thẩm mỹ Tuy nhiên, nghiên cứu sự

tiếp nhận không chỉ dừng lại ở những khái niệm trung tâm đó mà vấn đề là làm sao tiếp cận một cách chi tiết, cụ thể những con đường khác nhau của tiếp nhận Nghiên cứu tiếp nhận có thể là nghiên cứu những tiền đề của tiếp nhận, những con đường của tiếp nhận, đối tượng tiếp nhận, những phương thức tiếp nhận, cách thức tiếp nhận, hình thức tiếp nhận, nội dung tiếp nhận, những nguyên tắc tiếp nhận…

từ đó mà hiểu rõ được quá trình tiếp nhận cũng như đề ra được những khái niệm mới cho lý thuyết tiếp nhận để thâm nhập sâu hơn vào tiến trình tiếp nhận của lịch sử văn học, vừa triển khai được những vấn

đề cụ thể của tiếp nhận, vừa bổ sung thêm về mặt lý thuyết cho lý luận tiếp nhận, đó mới là nghiên cứu thực tế lý thuyết tiếp nhận và thúc đẩy lý thuyết tiếp nhận phát triển

1.3 Tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận:

Nói đến tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận, tức là chúng ta phải xem xét vị trí, vai trò của lý thuyết tiếp nhận trong đời sống văn học

Lý thuyết tiếp nhận chiếm một vị trí cực kì quan trọng trong nghiên cứu văn học Nếu như xem hoạt động nghiên cứu văn học trước đây chỉ đề cập chủ yếu đến tác phẩm và tác giả mà ở đó người ta

cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ giữa bối cảnh lịch sử xã hội với nội dung các tác phẩm và mối quan hệ giữa nhà văn với tác phẩm thì với lý thuyết tiếp nhận, mối quan hệ giữa người đọc với các nhân tố khác của quá trình văn học mới được triển khai một cách có hệ thống và khá cụ thể Với vai trò đó, lý thuyết tiếp nhận đã có một vị trí quan trọng trong lý luận văn học, cũng nhờ đó lý luận văn học trở nên đầy đủ hơn, hợp lý hơn, quá trình văn học nhờ đó mà được soi sáng hơn, được

Trang 16

nhìn nhận nhiều chiều, nhiều hướng và tổng quát hơn Không có lý thuyết tiếp nhận, lý luận văn học cũng như đời sống văn học sẽ thiếu một mảng lớn mà không gì có thể thay thế được

Nói đến tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận, cũng không thể không nói đến sự trưởng thành của lý luận về tiếp nhận cũng như ý nghĩa của sự trưởng thành đó

Trong suốt lịch sử của lý luận văn học, lý luận về tiếp nhận luôn tồn tại và phát triển nhưng chỉ đến khi lý thuyết tiếp nhận ra đời thì những lý luận đó mới trở nên có hệ thống và được triển khai cụ thể vào trong nghiên cứu bên cạnh những lý thuyết khác về văn học Do đó, sự xuất hiện của lý thuyết tiếp nhận chính là một biểu hiện của sự phát triển mang tính bước ngoặc của lý luận văn học

Cũng liên quan đến tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận, chúng ta không thể không nhìn nhận

sự đóng góp của lý thuyết tiếp nhận vào quá trình nghiên cứu văn học hiện nay Trên cơ sở của lý thuyết tiếp nhận, hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học ra đời, cũng như sẽ có nhiều công trình ra đời trong tương lai Điều đó sẽ dự báo tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận trong việc làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu, làm nảy sinh và đặt ra nhiều vấn đề mà các lý thuyết văn học khác đã tỏ ra cạn kiệt về mặt lý luận cũng như ứng dụng

Với tầm vị trí và tầm quan trọng như trên, lý thuyết tiếp nhận chắc hẳn sẽ còn phát triển và cần thiết cho sự phát triển của lý luận văn học nói riêng, văn học nói chung

1.2 Lý thuyết tiếp nhận và sự vận dụng ở Việt Nam:

1.2.1 Nghiên cứu lý luận tiếp nhận ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, lý luận tiếp nhận phát triển khá muộn màng Người đầu tiên nói đến vấn đề tiếp

nhận là nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh Trong bài Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và

đời sống (Tạp chí Văn học, số 4, 1971), ông đã chỉ ra:

- Mối liên quan giữa giá trị của tác phẩm với phạm vi “thưởng thức” tác phẩm của người đọc

- Trong khâu sáng tác, giá trị là cố định; trong khâu thưởng thức, giá trị mới hiện thực và luôn biến đổi

Những ý kiến nói trên đã bước đầu xác lập những bước tiếp cận đầu tiên đối với vấn đề tiếp nhận trên nền tảng của lý luận macxit Tuy nhiên, chỉ mãi đến gần bảy năm sau, lần đầu tiên, một số vấn đề của lý thuyết tiếp nhận mới được giới thiệu ở Việt Nam qua bản dịch bài viết “Song đề của mỹ học tiếp nhận” mang tính chất phê phán của Manfred Nauman, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu tiếp nhận trên lĩnh vực lý thuyết Đến 1980, Hoàng Trinh tiếp cận những vấn đề

tiếp nhận trong bài viết Văn học so sánh và những vấn đề tiếp nhận văn học (Tạp chí văn học, số 4,

1980 ) Năm 1990, những vấn đề của lý thuyết tiếp nhận được đề cập và làm rõ trong các bài viết Quan

hệ văn học-hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ, Nhà văn, bạn đọc và hàng

Trang 17

hoá sách hay văn học và sự dị trị của Huỳnh Vân Năm 1991, Nguyễn Văn Dân tổng hợp một số bài

viết có liên quan đến tiếp nhận và được Viện thông tin Khoa học xã hội xuất bản dưới nhan đề Văn học

nghệ thuật và sự tiếp nhận

Trong bài viết Giao tiếp trong văn hoá của Hoàng Trinh đăng trên Tạp chí Văn học, số 4, 1986,

ông đã xem xét phạm trù người đọc trong mối quan hệ với nghệ thuật Ông cho rằng, mỗi một thế hệ sáng tạo mới sẽ tạo ra những tác phẩm nghệ thuật chứa đựng những năng lượng thẩm mỹ mới Điều này đòi hỏi phải có một lớp người đọc mới xuất hiện có khả năng giải mã được nguồn năng lượng thẩm

mỹ ấy Và như vậy, tương ứng với một thế hệ sáng tác mới sẽ là sự xuất hiện của một lớp công chúng tương ứng có khả năng và khát vọng mới về nghệ thuật nhất định

Các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Vân, Nguyễn Thanh Hùng…khi tiếp cận lý thuyết tiếp nhận đã có những nghiên cứu ban đầu đối với vấn đề này Về mặt lý luận, các nhà nghiên cứu này đều cho rằng lý luận tiếp nhận là một mảng lớn của lý luận văn học nhưng chưa được đề cập, nghiên cứu cũng như vận dụng một cách đúng mức Nhà lý luận Trần Đình Sử cho rằng:

“Nếu xem hoạt động của văn học gồm hai mảng lớn: sáng tác và tiếp nhận, thì bản thân sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lý luận văn học (…) Nếu lý luận văn học về sáng tác gắn liền với ý thức

về cá tính sáng tạo của nhà văn, thì lý luận tiếp nhận đề cập đến tính sáng tạo của người đọc.” [54]

Huỳnh Vân trong một số bài có liên quan đến lý luận tiếp nhận hay vận dụng cách tiếp cận theo

lý luận tiếp nhận đã đặt ra những vấn đề về mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm, người đọc, hiện thực, theo đó, đây là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, trong đó của người đọc có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống của một tác phẩm cũng như đối với sự nghiệp của một tác gia cụ thể Huỳnh Vân cho rằng khoa học văn học không thể dừng lại ở mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực, nhà văn

và tác phẩm mà còn phải chú ý đến mối quan hệ giữa nhà văn- người đọc, tác phẩm-người đọc, một vấn đề mà lý luận văn học ở ta lâu nay đã bỏ quên và việc bỏ quên đó đã làm cho lý luận văn học, nghiên cứu văn học trở nên không hoàn chỉnh Một số nhà nghiên cứu khác nhấn mạnh đến sự tương đồng giữa lý thuyết tiếp nhận và lý thuyết sản xuất- tiêu dùng của Các Mác, theo đó quá trình sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của công chúng thuộc về lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng tinh thần chứ không phải vật chất, do đó nó mang những đặc điểm đặc biệt của lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng tinh thần

Nguyễn Thanh Hùng thì lưu ý: “Tiếp tục phát triển lý thuyết tiếp nhận đi liền với sự đánh giá một cách

khoa học những thành tựu mà lý thuyết đó đã đạt được, đồng thời không quên chỉ ra những cách nhìn phiến diện hoặc cực đoan và giáo điều của luận giải học (Gađame), của hiện tượng học (Ingácđen), của mỹ học tiếp nhận (Giauxơ), của cấu trúc luận (Bácthơ),… là một cách khẳng định những thành tựu

đã được thừa nhận của mỹ học mácxít.” [21, 229]

Trang 18

Ở trên là vài nét sơ lược về những tìm hiểu bước đầu về lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Nhìn chung, về mặt lý luận, các nhà lý luận Việt Nam đã chủ động tiếp thu các thành tựu của lý thuyết tiếp nhận hiện đại trên cơ sở dung hợp với lý luận Macxit Chính vì thế mà lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam không rơi vào sự cực đoan hoá Tuy nhiên, liệu sự dung hợp đó có đến mức độ nào thì hợp lý, nó còn

có thể tạo nên những động lực thúc đẩy lý thuyết tiếp nhận phát triển đúng hướng và mạnh mẽ nữa hay không, đó còn là một vấn đề của thời gian

Có thể nói, hiện nay ở Việt Nam, những vấn đề chính của lý thuyết tiếp nhận vẫn chưa được các nhà lý luận Việt Nam đề cập và phân tích một cách thật đầy đủ trên cơ sở kết hợp với lý luận mácxit Tuy nhiên, ngoài những khái niệm và những vấn đề chính yếu của lý thuyết tiếp nhận đã được tiếp nhận, những vấn đề khác của lý thuyết tiếp nhận như vấn đề tiếp nhận tiêu cực và tiếp nhận tích cực, tiếp nhận đích thực và nguỵ tiếp nhận, vấn đề loại hình độc giả định hướng, vấn đề xu thế tiếp nhận, vấn đề đặc trưng của đối tượng tiếp nhận, vấn đề nguyên tắc tiếp nhận là chưa được đề cập cụ thể và chưa được làm rõ trong từng trường hợp tiếp nhận cụ thể

1.2.2 Vận dụng lý luận tiếp nhận ở Việt Nam:

Đối với việc vận dụng những thành tựu của lý thuyết tiếp nhận hiện đại vào việc khảo sát các hiện tượng văn học cụ thể, chúng ta đã đạt được những thành công nhất định Tìm hiểu lịch sử tiếp nhận của một tác phẩm cụ thể, chúng ta cũng đã có những công trình nghiên cứu bước đầu về phương

diện này Để dẫn chứng, chúng ta có thể nói đến công trình Lịch sử tiếp nhận truyện Kiều của Phan

Công Khanh Tìm hiểu về lịch sử tiếp nhận sự nghiệp sáng tác của một tác gia, chúng ta cũng đã có những công trình nghiên cứu nhất định Các tác gia đã được nghiên cứu có thể kể đến là Puskin, Gôgôn, Đôxtôiepxki, Sêkhôp, Gorki…

Trong công trình Lịch sử tiếp nhận truyện Kiều, tác giả Phan Công Khanh đã chỉ ra những cách thức tiếp nhận Truyện Kiều khác nhau và khá cụ thể của từng loại người đọc cũng như sự biến đổi của tác phẩm Truyện Kiều qua sự tiếp nhận tiêu cực hay tích cực của từng loại người đọc trong cùng một

hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cả từng thời kì lịch sử khác nhau Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra sự ảnh

hưởng tiêu cực và tích cực của Truyện Kiều đối với các lĩnh vực xã hội khác nhau như văn học và các

loại hình nghệ thuật, chính trị, văn hoá, xã hội Nhìn chung, công trình là một thành tựu rất đáng quý trong buổi đầu nghiên cứu tiếp nhận ở Việt Nam Những vấn đề như những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loại người đọc trong quá trình tiếp nhận, vấn đề tiếp nhận sáng tạo và tiếp nhận tiêu cực, vấn đề định hướng tiếp nhận… tuy chưa được triển khai cụ thể về mặt lý thuyết (do luận án không lấy đó làm trọng tâm) nhưng đã có những đề cập mang tính định hướng rất đáng quý đối với quá trình nghiên cứu tiếp nhận sau này

Trang 19

Trong công trình Văn học Nga tại các thành thị miền Nam trước 1975- trường hợp Đôxtôiepxki,

tác giả Phạm Thị Phương đã chỉ ra một số đặc điểm tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với một số tác phẩm của các tác giả Nga tiêu biểu như Puskin, Tônxtôi, Sêkhôp, Pasternac Điều đáng kể trong công trình này là tác giả đã cố gắng chỉ ra một cách khái quát và cụ thể việc độc giả miền Nam đã tiếp nhận văn học Nga giai đoạn 1954-1975 như thế nào Bên cạnh đó, tác giả công trình còn tiếp cận quá trình tiếp nhận Đôxtôiepxki thông qua việc tìm hiểu cơ sở tiếp nhận, tiền đề tiếp nhận, cũng như cách thức độc giả miền Nam tiếp nhận một số nội dung tư tưởng trong tác phẩm của nhà văn này Nhìn chung, đây là một công trình chủ yếu đề cập đến lịch sử tiếp nhận của một tác giả ở một giai đoạn lịch sử nhất định, nói cách khác, tác giả nghiên cứu lịch sử tiếp nhận Đôxtôiepxki theo hướng đồng đại Công trình này được xem như là công trình đầu tiên nghiên cứu lịch sử tiếp nhận về một tác giả nước ngoài ở miền Nam trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Trong công trình tiếp theo Vấn đề tiếp nhận Đôxtôiepxki của tác giả Phạm Thị Phương, tác giả

đã tìm hiểu sâu sắc và cụ thể hơn về lịch sử tiếp nhận tác giả Đôxtôiepxki theo hướng lịch đại Song song với hướng nghiên cứu này, ở đây tác giả cũng không quên việc kết hợp với nghiên cứu đồng đại Tác giả không dừng lại ở việc nghiên cứu sự tiếp nhận của độc giả miền Nam mà còn nghiên cứu sự tiếp nhận của độc giả miền Bắc ở những giai đoạn lịch sử khác nhau và trên cơ sở đó tiến hành so sánh, đánh giá quá trình tiếp nhận của độc giả Có thể nói, ở công trình này, tác giả Phạm Thị Phương đã tiến hành nghiên cứu cả theo hướng đồng đại và lịch đại Cách tiếp cận như thế là toàn diện đối với việc nghiên cứu lịch sử tiếp nhận tác giả

Nhìn chung, công trình này là một trong những thành tựu đáng kể của việc vận dụng lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Lịch sử tiếp nhận một tác gia nước ngoài lần đầu tiên được tác giả trình bày một cách toàn diện Một số vấn đề như cách thức mà người đọc tiếp cận tư duy nghệ thuật của tác giả, đặc điểm đối tượng tiếp nhận chi phối tiếp nhận… dù chưa được xem là mục tiêu nghiên cứu nhưng tác giả cũng đã có những gợi ý quan trọng cho quá trình nghiên cứu tiếp theo

Nhìn chung, các công trình này đặt trọng tâm nghiên cứu là một hay một vài tác gia tiêu biểu, một hay một vài tác phẩm nổi tiếng Đây là những công trình có định hướng nghiên cứu lịch sử tiếp nhận nên chưa đặt nặng vấn đề nghiên cứu về mặt lý luận tiếp nhận Qua thực tiễn nghiên cứu tiếp nhận ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng cần mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu lĩnh vực này

Trang 20

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN LEP TÔNXTÔI QUA LĨNH VỰC DỊCH THUẬT, XUẤT BẢN VÀ NGHIÊN CỨU 2.1 Lĩnh vực dịch thuật và xuất bản:

2.1.1 Tình hình dịch thuật và xuất bản:

Ở miền Nam trước 1975, trong sự tương quan với các ấn phẩm thuộc các nền văn học Pháp, Mỹ, Trung Quốc, văn học Nga tuy không được giới thiệu, nghiên cứu rộng rãi nhưng nó cũng có một vị trí

đáng kể Theo số liệu của Trần Trọng Đăng Đàn trong Văn hoá văn nghệ thực dân mới tại miền Nam

Việt Nam, (Nhà Xuất bản Long An, 1990, trang 309) các ấn phẩm văn học nước ngoài và các bài

nghiên cứu, giới thiệu có liên quan được xuất bản ở miền Nam Việt Nam trước 1975 được thống kê như sau:

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Đức: 57 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Ý: 58 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Nhật: 71 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Anh: 91 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Mỹ: 273 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Pháp: 499 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông: 358 đầu sách

Dịch và giới thiệu các tác phẩm của nền văn học Nga-Liên Xô: 120 đầu sách

Ngoài ra còn có 156 đầu sách của 38 nước không thuộc các nước nêu trên

Số liệu trên cho chúng ta thấy văn học Nga chiếm một tỉ lệ không lớn nhưng cũng không quá nhỏ so với các nền văn học khác ở miền Nam Việt Nam Tên tuổi các nhà văn Nga xuất hiện trên văn đàn miền Nam như F.Đôxtôiepxki, A.Tsêkhôp, M.Gorki, M.Sôlôkhôp, B.Pasternak qua các bản dịch hoặc các bài nghiên cứu của giới học giả Sài Gòn đã minh chứng cho vị trí của nền văn học Nga Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tên tuổi lớn của văn học Nga vẫn chưa được giới thiệu đầy đủ Puskin, Lecmôntôp, Nhêcraxôp, Êxênhin, Maiacôpxki còn khá xa lạ với độc giả Sài Gòn khi mà những thi phẩm của họ chưa đến được với bạn đọc Với sự nghiệp của Puskin, độc giả miền Nam chỉ mới tiếp

xúc với một vài tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi, chẳng hạn, tác phẩm Phát đạn đăng trên Bách Khoa

số 73 năm 1960 Với tên tuổi Maiacôpxki, độc giả cũng chỉ biết về ông qua quyển sách có độ dày

khiêm tốn Maiakovski- thi sĩ Nga và mối tình câm Về kịch của A.Tsêkhôp, độc giả Sài Gòn cũng chưa

Trang 21

biết nhiều Có một số bài phê bình về kịch của A.Tsêkhôp nhằm khẳng định vị trí của A.Tsêkhôp đối với nền kịch nghệ Nga cổ điển nhưng chưa có vở kịch nào của ông được dịch sang tiếng Việt

Không giống với các tên tuổi của nền văn học Nga như A.Tsêkhôp, M.Gorki, M.Sôlôkhôp, Lep Tônxtôi được các nhà xuất bản ở miền Nam quan tâm dịch và giới thiệu khá rầm rộ Từ cuối

những năm 50, độc giả miền Nam bắt đầu tiếp xúc với khá nhiều tác phẩm của Lep Tônxtôi như Tình

nghĩa vợ chồng (Nxb Phượng Giang, 1958), Một bản đàn (Văn hoá ngày nay, 1958, các số 1, 2, 3, 4, 5,

6, 7, 8, 9, 10, 11), những đoạn trích từ tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình như: Mối tình chớm nở (Văn hoá ngày nay, 1958, số 8), Cái chết của An Đễ, Tâm trạng một thương binh (Văn hoá ngày nay, 1959,

số 8), Buổi dạ hội đầu tiên (Tạp chí Tân Phong, tập I, 1958)

Đến những năm 60, bên cạnh hai bản dịch Tình nghĩa vợ chồng, Một bản đàn do Bảo Sơn dịch, được Nhà xuất bản Đời Nay tái bản 1961, xuất hiện bản dịch Cái chết của Ivan Ilitch của Vũ Đình Lưu, Nhà xuất bản Thời Mới ấn hành năm 1963 Truyện ngắn Số đất cần cho con người được Nguyễn Vạn

Hộ dịch đăng trên tạp chí Bách Khoa số 172 năm 1964 và truyện Ba người thánh thiện do Nguyễn Kim

Phượng dịch đăng trên Bách Khoa số 240 năm 1967 Năm 1966 ở Sài Gòn xuất hiện bản dịch truyện

ngắn Ba cái chết do Vũ Minh Thiều dịch đo nhà xuất bản Khai Trí ấn hành Năm 1969 ở Sài Gòn xuất hiện bản dịch Chiến tranh và hoà bình của Nguyễn Hiến Lê kèm theo phần giới thiệu khá chi tiết về

Lep Tônxtôi Bản dịch này trọn bộ bốn tập do Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành Bên cạnh đó còn có bản dịch của Nguyễn Đan Tâm (dựa trên bản dịch rút ngắn của Manel Komroff, trong số đó có bỏ một số chương bàn về tôn giáo, triết lý chiến tranh và lịch sử) do Nhà xuất bản Miền Nam công bố Trong dịp

này, tạp chí Văn đã ra số đặc biệt về Lep Tônxtôi để “độc giả của Văn - những bạn ưa thích văn học

dịch – làm quen với Tolstoi, biết tới sự xuất hiện của một tác phẩm cổ điển giá trị, đã từng được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến khắp hoàn cầu: Chiến tranh và hoà bình” [13, 79] Tạp chí Văn cũng

đã giới thiệu dịch giả trẻ Nguyễn Kim Phượng qua bản dịch một số truyện ngắn của Lep Tônxtôi như:

Ba cái chết, Các cô bé khôn hơn người lớn, Người ta sống bởi gì?, Cái xấu cám dỗ, những cái tốt tồn tại, Việc làm, sự chết và bệnh tật Ngoài ra, tạp chí này còn đăng Thiện ác đáo đầu do Lạc Nhân dịch

Sang những năm 1970, bên cạnh sự lên ngôi của các tác phẩm của các nhà văn mang tính thời

sự như Đôxtôiepxki, Pasternak, Soljenitsyn tác phẩm của Lep Tônxtôi tiếp tục xuất hiện qua các bản

dịch An na Kha Lệ Ninh (Anna Karênina) do Vũ Ngọc Phan và Vũ Minh Thiều dịch, (Nxb Khai Trí xuất bản 1970) Sơn lâm êm đềm (Những người Côdắc) của Nguyễn Trọng Đạt (Nxb Trí Đăng, 1970),

Đời tôi do Vũ Minh Thiều dịch (Nxb Khai Trí, 1970, 1971, 1972), Khúc nhạc mê ly (Bản Sonat tặng

Kreutzer) do Nguyễn Văn Điền dịch (Nxb Đất Sống, 1973), tác phẩm Vùng đất hồi sinh (Phục sinh) do

Nguyễn Đan Tâm và Vũ Kim Thư dịch (Nxb Phù Sa, 1973), tác phẩm Vùng đất hoang vu (Những người

Trang 22

Côdắc) do Mặc Đỗ dịch (Nxb Đất Sống, 1973), tác phẩm Tình trong chiến hào (Những mẫu chuyện

Sébastopol) do Hoàng Hải Thuỷ dịch (Nxb Đất Mới, 1973, 1974) Ngoài những tác phẩm trên, một số tác phẩm hoặc đoạn trích từ các sáng tác dài hơi của Lep Tônxtôi cũng được dịch và đăng trong các

tuyển tập, tập truyện Chẳng hạn, trong tập truyện ngắn quốc tế Tử thần chờ đợi do Xuân Hoàng tuyển dịch (Nxb Tự Lực, 1974) có in đoạn trích tác phẩm Cái chết của Ivan Ilitch; tập 101 truyện ngắn hay

nhất thế giới do Nguyên Hùng tuyển dịch (Nxb Sống Mới, 1970) in truyện Lạc giữa đồng tuyết; tập

truyện ngắn nước ngoài Mãi mãi yêu người do Vũ Đình Lân tuyển dịch in truyện Một lần trong đời

2.1.2 Một số vấn đề rút ra từ tình hình dịch thuật và xuất bản tác phẩm của Lep Tônxtôi:

Căn cứ vào tình hình dịch thuật và xuất bản, tái bản tác phẩm của Lep Tônxtôi ở miền Nam trước 1975, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề liên quan đến hoạt động tiếp nhận cần làm rõ để nhận diện tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi của độc giả miền Nam Dưới đây chúng tôi sẽ đi vào làm rõ một

số vấn đề

2.1.2.1 Tình hình dịch thuật và xuất bản Lep Tônxtôi cho thấy, cuối những năm 50, một số tác phẩm của Lep Tônxtôi đã bắt đầu được dịch và xuất bản ở miền Nam với sự tham gia hạn chế của một

số nhà xuất bản và tạp chí Điều này đặt ra vấn đề về thực tế tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam trong

giai đoạn đó Vấn đề nêu trên đặt ra nhiều câu hỏi như: Những tác phẩm của Lep Tônxtôi xuất hiện

trong thời gian này đóng vai trò gì? Ý nghĩa của chúng đối với việc nhận dạng tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975? Tầm quan trọng của chúng đối với việc hình thành lực lượng độc giả của Lep Tônxtôi vào những năm 60? Lý giải những câu hỏi đó sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi

Như chúng ta đã biết, vào những năm 50, một số tác phẩm của Lep Tônxtôi đã đến với bạn đọc

miền Nam Đó là tác phẩm Tình nghĩa vợ chồng (Nxb Phượng Giang, 1958), Một bản đàn (Văn hoá ngày nay, 1958, các số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11), đoạn trích Buổi dạ hội đầu tiên (Tạp chí Tân Phong,Tập I, 1958) Cái chết của Anđrây, tâm trạng một thương binh (Văn hoá ngày nay, 1958, số 8) từ tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình Đối chiếu với sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Lep Tônxtôi, chúng ta

dễ dàng nhận ra đây chỉ là những tác phẩm chưa tiêu biểu cho sự nghiệp của Lep Tônxtôi Một bản đàn,

Tình nghĩa vợ chồng chỉ mới là những đoản tác của đại văn hào, còn Cái chết của An Đễ, Tâm trạng một thương binh, Buổi dạ hội đầu tiên chỉ là những đoạn trích từ tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình Những tác phẩm lớn của Lep Tônxtôi như Chiến tranh và hoà bình, Anna Karênina, Phục sinh…

chưa hề được dịch và giới thiệu với bạn đọc Số lượng các nhà xuất bản và tạp chí tham gia vào việc giới thiệu tác phẩm của Lep Tônxtôi lúc này rất khiêm tốn với những cái tên như nhà xuất bản Phượng Giang, Văn hoá ngày nay, Tạp chí Tân Phong Vì vậy, ta có thể nói rằng, sự xuất hiện những tác phẩm

Trang 23

của Lep Tônxtôi vào những năm 50 cần được xem là giai đoạn giới thiệu Lep Tônxtôi với bạn đọc Đó

là giai đoạn khởi đầu, giai đoạn thăm dò, khảo sát thị hiếu độc giả miền Nam

Với sự xuất hiện khiêm tốn một số tác phẩm của Lep Tônxtôi như trên thì thực tế tiếp nhận của độc giả miền Nam diễn ra như thế nào? Về mặt lý thuyết, thực tế trên cho thấy hoạt động tiếp nhận Lep Tônxtôi vào giai đoạn này của độc giả ở miền Nam cũng chỉ mới là sự làm quen, sự tiếp xúc ban đầu Với những sáng tác được xuất bản khiêm tốn như thế, thật khó để độc giả có một sự tiếp cận đầy đủ, toàn diện đối với sự nghiệp của Lep Tônxtôi Về mặt lý thuyết, với những tác phẩm xuất hiện đầu tiên

ở miền Nam, sự tiếp nhận của độc giả miền Nam nói chung chỉ mới là sự khởi đầu, sự làm quen với một tên tuổi còn mới mẻ, dù đó là một đại văn hào của văn học thế giới đã xuất hiện trước đó hơn một thế kỉ

Sự xuất hiện những đoản tác và đoạn trích tác phẩm của Lep Tônxtôi tuy khiêm tốn như vậy nhưng cũng mang một ý nghĩa to lớn trong việc chuẩn bị cho sự hình thành lực lượng độc giả đông đảo của Lep Tônxtôi Điều này có thể lý giải cho sự xuất hiện lực lượng độc giả hùng hậu của Lep Tônxtôi vào những năm 60, 70

Khảo sát hoạt động tiếp nhận Lep Tônxtôi trong giai đoạn ban đầu này, chúng tôi nhận ra một thực tế thú vị: nếu như độc giả đa số chỉ mới được tiếp xúc với những đoản tác và đoạn trích của Lep

Tônxtôi thì ở miền Nam đã có sẵn những độc giả chuyên nghiệp của Lep Tônxtôi Chúng ta cần biết

rằng, độc giả miền Nam của Lep Tônxtôi không phải chỉ là người bản địa, người miền Nam Sau 1954,

có rất nhiều người miền Bắc đã di cư vào Nam và họ là những người đã từng tiếp xúc với tác phẩm của Lep Tônxtôi Chẳng hạn, Nguyễn Hiến Lê- một trong những độc giả chuyên nghiệp của Lep Tônxtôi-

là người miền Bắc, thời niên thiếu đã học ở trường Bưởi và đã đọc Chiến tranh và hoà bình qua bản cắt

bớt của nhà Hachette mua ở nhà sách Taupin ở phố Trường Tiền (Hà Nội) Nguyễn Hiến Lê hồi tưởng:

“Lần đầu tiên tôi đọc Chiến tranh và hoà bình là hồi 15 hay 16 tuổi ( ) Bản tôi đọc hồi đó là một bản cắt bớt của nhà Hachette trong loại sách Meilleurs livre khổ nhỏ, in rất xấu, nhà sách Taupin ở phố Trường Tiền (Hà Nội) bán có hai xu một cuốn ( )” [29, 18]

Nhất Linh, Vũ Bằng cũng là những trường hợp tiêu biểu cho độc giả của Lep Tônxtôi di cư từ

Bắc vào Nam Bên cạnh đó, các sáng tác của Lep Tônxtôi bản Pháp ngữ của miền Bắc Việt Nam cũng

đã xuất hiện ở Sài Gòn từ trước Ngoài ra, một độc giả kì cựu của Lep Tônxtôi là Trần Phong Giao

cũng đã tiếp xúc với tác phẩm của ông từ trước Ông Trần Phong Giao nhớ lại: “Thuở nhỏ, hồi bắt đầu

theo học ban trung học, tôi đọc Tolstoi do lời khuyên của người anh” [13, 82] Điều đó đã tạo nên sự

tuyển mộ âm thầm các độc giả của Lep Tônxtôi ở những người miền Nam chính gốc

Trang 24

2.1.2.2 Sau giai đoạn giới thiệu một số tác phẩm của Lep Tônxtôi có tính chất khảo sát thị hiếu độc giả vào cuối những năm 50, liên tục và hàng loạt những sáng tác từ đoản tác cho đến tiểu thuyết của Lep Tônxtôi đã lần lượt xuất hiện thậm chí xuất hiện cùng một lượt ở miền Nam Thực tế này cho

thấy việc dịch và xuất bản các tác phẩm của Lep Tônxtôi bắt đầu có sự nở rộ vào những năm 60 và vào

đầu những năm 70

Sự xuất hiện hàng loạt những tác phẩm của Lep Tônxtôi như trên đã cho thấy hoạt động tiếp nhận (tiếp xúc) với Lep Tônxtôi đã bắt đầu diễn ra mạnh mẽ Độc giả ở miền Nam đã có điều kiện tiếp xúc với Lep Tônxtôi nhiều hơn, toàn diện hơn Điều này chắc chắn có tác động đến sự phong phú trong hoạt động tiếp nhận của độc giả miền Nam cũng như sự hình thành nhanh chóng lực lượng độc giả của Lep Tônxtôi Trên lý thuyết, sự xuất hiện hàng loạt những tác phẩm của Lep Tônxtôi như thế chắc chắn

sẽ tạo ra sự tuyển mộ độc giả của Lep Tônxtôi một cách mạnh mẽ và cũng tạo ra những khuynh hướng tiếp nhận khác nhau Bên cạnh đó, thực tế dịch thuật và xuất bản đó còn cho thấy nhu cầu to lớn của độc giả ở miền Nam trong việc tìm đến tác phẩm của Lep Tônxtôi Sự xuất hiện với tần số cao các tác phẩm của Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam trong khoảng thời gian này có thể được xem là một đặc điểm của tiến trình tiếp nhận LepTônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 đồng thời cũng là một vấn

đề cần lý giải Dưới đây chúng tôi thử tìm hiểu những nhân tố có tác động đến sự xuất hiện mang tính chất đột phá của các sáng tác của Lep Tônxtôi

-Thứ nhất, sự xuất hiện với tần số cao các tác phẩm của Lep Tônxtôi, việc phát hành liên tục của các nhà xuất bản, tạp chí có thể được lý giải từ sự đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của lực lượng độc

giả của Lep Tônxtôi ở miền Nam vốn đã tiềm tàng từ trước Như chúng ta đã biết, ở miền Nam từ trước

và sau những năm 50 đã có sự hình thành hai lớp độc giả của Lep Tônxtôi là những người di cư từ Bắc vào Nam và những người ở miền Nam đã làm quen với các tác phẩm của Lep Tônxtôi được du nhập từ nơi khác đến (từ miền Bắc vào là chủ yếu) Lực lượng độc giả tiềm năng này của Lep Tônxtôi có điều kiện phát triển mạnh hơn qua việc giới thiệu một số đoản tác của Lep Tônxtôi của một số nhà xuất bản,

tạp chí và bài giới thiệu Lev Tolstoi-một Á thánh của Nguyễn Hiến Lê vào cuối những năm 50 Chính

sự hình thành lớp độc giả này đã dẫn đến nhu cầu xuất bản các tác phẩm của Lep Tônxtôi để đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của họ Tạp chí Văn khi ra số đặc biệt giới thiệu về Lep Tônxtôi cũng đã đề cập đến

nhu cầu này như sau: “Số Văn này được đặc biệt chuẩn bị ấn hành, một cách gấp rút Để độc giả của

Văn - những bạn ưa thích đọc văn dịch - làm quen với Tolstoi, biết tới sự xuất hiện của một tác phẩm

cổ điển giá trị, đã từng được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến trên khắp hoàn cầu: Chiến tranh

và hoà bình” [13, 79]

Trang 25

Trong số độc giả hình thành từ trước ở miền Nam, chúng ta nên lưu ý đến vai trò của loại độc giả chuyên nghiệp vốn di cư từ Bắc vào Nam Việc xuất hiện các tác phẩm của Lep Tônxtôi không chỉ

để đáp ứng thị hiếu của họ mà họ còn là những người chủ động tham gia tích cực vào việc dịch và xuất bản các tác phẩm của Lep Tônxtôi để phục vụ nhu cầu độc giả đa số

-Thứ hai, việc phát hành hàng loạt các sáng tác của Lep Tônxtôi có thể lý giải từ xu hướng của

nền học thuật miền Nam lúc bấy giờ Xu hướng này chính là xu hướng mở đường cho sự giới thiệu

những tác phẩm của nền văn học thế giới trong đó có Lep Tônxtôi Văn học chính thống miền Nam lúc bấy giờ chính là sự nối tiếp văn học trước cách mạng tháng Tám vốn đang trên đường tiếp xúc với phương Tây, đang trên đường hiện đại hoá Nếu như ở miền Bắc, do những điều kiện lịch sử nhất định

mà nền văn học vốn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn học Pháp, phương Tây đã chuyển hướng đột ngột sang nền văn học cách mạng, nền văn học phục vụ những yêu cầu của hoàn cảnh chiến tranh trong

đó khuynh hướng nổi bật là khuynh hướng trữ tình chính trị thì văn học chính thống ở miền Nam lại tiếp tục đi theo hướng chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Mỹ do ảnh hưởng bởi chế độ chính trị ở miền Nam Nếu như ở miền Bắc người ta đến với Puskin, Gôgôn, Tuôcghênhép, Sêkhôp, Gorki, Sôlôkhôp, Mác, Lênin thì ở miền Nam người ta tìm đến với Gớt, Đicken, Sếchpia, Alêchxanđ Đuma, Vito Hugo, Đôxtôiepxki, Stefan Zweig, Camus, Nietzsche, Freud Chính khuynh hướng văn học miền Nam như thế đã tạo nên những tiền đề để tiếp nhận Lep Tônxtôi

Như thế, việc xuất bản các danh tác của Lep Tônxtôi có nguyên nhân sâu xa từ xu hướng của nền văn học miền Nam, xu hướng này là sự kết nối với văn học trước cách mạng tháng Tám Điều này cũng có nghĩa là việc giới thiệu Lep Tônxtôi ở miền Nam là một điều dễ hiểu cũng như văn học cách mạng miền Bắc tiếp nhận Gorki, Sôlôkhôp Vấn đề còn lại ở đây chỉ là tìm hiểu xem văn học miền Nam tiếp xúc với những tác phẩm nào của Lep Tônxtôi, tiếp nhận từ ông cái gì, loại bỏ nội dung nào

-Thứ ba, việc giới thiệu các sáng tác của Lep Tônxtôi với bạn đọc miền Nam cùng nằm trong

khuynh hướng dịch thuật ồ ạt văn học, văn hoá nước ngoài ở miền Nam vào những năm 60 -70 Vào

thời gian này, họ dịch hàng trăm tác phẩm của gần một trăm tác giả thuộc nhiều khuynh hướng nghệ thuật, tư tưởng khác nhau ở khắp nơi trên thế giới Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá nói về hiện tượng đặc biệt này như sau:

“Hơn một trăm tác phẩm của non năm mươi tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau ở hầu khắp các đại châu, thuộc nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau được in ra Từ những cây bút

“chống cộng” cũ rích như An-đrê Git (A Gidê), Ac-tơ Kơt- slơ (A Koestler) đến những cây bút phản bội mới tinh như A-lêch-xăng Xôn-giơ-nhit-xưn (Alexandr Soljenitsyne) Từ cha đẻ của những chuyện tình mùi mẫn như E-rich Xê-gan (Erich Ségal), Tô-mat Hac-đi (Thomas Hardy) phương Tây đến Từ

Trang 26

Tốc, La Lan, Quỳnh Dao phương Đông Từ những tác gia cổ điển tiêu biểu như Tônx-tôi (L Tolstoi), Ta-go (H Tagore) đến những nhà văn hiện đại chủ nghĩa “thời danh” như Kap-ka(Kafka), Pha-nông (F.Fanon) Và, thật là trái khoáy, có cả Go-rki (M Gorki), Sô-lô-khôp (M Cholokhov) và Lỗ Tấn!”

[52, 383-384] Hiện tượng dịch thuật ồ ạt này xuất phát từ những nguyên nhân chính sau:

Trước hết, đó là do quy luật thị trường chi phối Các nhà xuất bản ở Sài Gòn làm ăn theo quy

luật của thị trường Họ triển khai những tác phẩm, những tên tuổi có thể tìm được nguồn tiêu thụ, tìm được người mua Các sáng tác, ấn phẩm trong nước lúc bấy giờ gặp phải sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Sài gòn nên các nhà xuất bản đã chủ động tìm đến sách dịch nước ngoài để dễ bề kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận Những ấn phẩm, tác phẩm của các tên tuổi nổi tiếng hoặc có khả năng đáp ứng được các loại thị hiếu của nhiều loại độc giả khác nhau sẽ được xuất bản Chẳng hạn, tác phẩm

Guồng máy của nhà hiện sinh chủ nghĩa Sartre được dịch và tái bản nhiều lần, những tiểu thuyết của

Đôxtôiepxki như Tội ác và hình phạt, Anh em nhà Karamadov cũng được tái bản Những danh tác của

Lep Tônxtôi hiển nhiên đương thời là những sáng tác có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng, vừa là sản phẩm của một nền văn hoá đang được khao khát khám phá… nên các nhà xuất bản có thể hy vọng vào

sự thành công của lợi nhuận

Thứ hai, khuynh hướng dịch thuật ồ ạt này xuất phát từ chính chiêu bài, đường lối chính trị của nguỵ quyền Sài Gòn Khi đề cập đến việc xuất bản và giới thiệu của đặc san Văn, Trần Hữu Tá đã nhận định:

“Mặc dù những người chủ trương tập san cố ý gây cho người đọc một ấn tượng rằng họ có một quan điểm cởi mở, phóng khoáng, không bị chi phối bởi một đường lối chính trị, rằng họ vô tư hồn nhiên trong thưởng thức và đánh giá văn học nước ngoài, nhưng thực tế họ không che giấu được động

cơ sâu kín bên trong Quan điểm chính trị của tập san này từ lâu vốn khá rõ ràng Nói chung, họ dịch

ai, giới thiệu ai, tại sao đề cao nhà văn này, đả kích nhà văn kia, đều có mục đích sâu xa cả” [52,

386-387] Ở đây, Trần Hữu Tá đã nhận ra tính chất chính trị đã chi phối việc xuất bản và dịch thuật của các nhà xuất bản, báo chí ở Sài Gòn lúc bấy giờ

Những đường lối chính trị khác nhau chi phối việc phổ biến nhiều tác giả, tác phẩm thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau trong đó đường lối chính trị hướng theo phương Tây có một tác động lớn lao Đường lối chính trị nầy đã chi phối phần lớn các nhà xuất bản, các tạp chí đương thời Có thể nói, sự

du nhập những tư tưởng tự do tư sản hiện đại trong xã hội miền Nam trước 1975, ở một mức độ nhất định, đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình dịch thuật các sáng tác của Lep Tônxtôi nói riêng, các sáng tác của nền văn học Nga –Xô nói chung Trên mặt dịch thuật, chủ trương này được thực hiện rộng rãi không chỉ giới hạn ở một vài nền văn học “thân Mỹ” mà còn mở rộng đến các nền văn học khác

Trang 27

Thực tế này được chứng minh qua sự xuất hiện hàng loạt các tác phẩm thuộc nhiều thể loại như triết học, văn học, tôn giáo của nhiều nền văn học văn hoá khác nhau

Như vậy, sự phổ biến và tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam cùng nằm trong dòng lưu tiếp nhận

và phổ biến hàng loạt những tên tuổi khác thuộc những khuynh hướng khác nhau, thậm chí đối lập nhau Nhờ vào dòng lưu phổ biến và tiếp nhận này mà tác phẩm của Lep Tônxtôi có dịp đến với bạn đọc Đây có thể xem là một trong những đặc điểm của tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

-Thứ tư, sự đòi hỏi của các lực lượng độc giả của Lep Tônxtôi hiện giờ có thể lý giải cho sự

xuất hiện ồ ạt các tác phẩm lớn của Lep Tônxtôi Như chúng ta đã biết, việc phổ biến các tác phẩm của Lep Tônxtôi trước hết xuất phát từ nhu cầu và đòi hỏi của độc giả Xét về mặt tư tưởng, ở miền Nam lúc bấy giờ có sự tồn tại của ba lực lượng độc giả với những đường lối tư tưởng, mục đích khác nhau nhưng có cùng chung mong muốn tìm đến Lep Tônxtôi

Lực lượng thứ nhất là những người trí thức chịu ảnh hưởng và sùng bái tư tưởng phương Tây

Họ sùng bái văn học phương Tây vì thế mà họ không thể bỏ qua văn học Nga vốn mang dáng dấp của văn học phương Tây Họ tiếp xúc và tiếp thu những tư tưởng của Đôxtôiepxki, Camus, Sartre, Heidegger lẽ đương nhiên họ cũng phải tìm hiểu Lep Tônxtôi

Lực lượng độc giả thứ hai là những người có mong muốn tiếp xúc và tìm hiểu về một nền văn học vốn xa lạ và chưa được tiếp xúc Đối với họ, văn học Nga là một nền văn học lớn, có ảnh hưởng đáng kể đối với nền văn học thế giới nhưng họ chưa được tiếp xúc Họ khao khát tìm đến nền văn học này với tư cách như là khao khát tìm kiếm những giá trị, tư tưởng văn học mới mẻ, chưa được khám phá

Lực lượng độc giả thứ ba là những người trí thức có tâm huyết đối với văn học và học thuật hoặc ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi âm hưởng của cuộc cách mạng tháng mười Nga hoặc những tư tưởng cách mạng tiến bộ ở miền Bắc và miền Nam lúc bấy giờ Họ đứng giữa hai tuyến lửa và cố giữ nhân cách của mình cũng như muốn đóng góp sức mình cho đất nước Thái độ thoát ly chính trị của họ có tác động lớn đến quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi Họ đến với tác phẩm của Lep Tônxtôi không đơn thuần là nhằm để giải trí mà mong muốn tìm kiếm những giá trị hữu ích trong các danh tác của Lep Tônxtôi

Đọc Chiến tranh và hoà bình, lực lượng độc giả này nhận ra đây là bản anh hùng ca bất diệt ca

ngợi tinh thần yêu nước của nhân nhân Nga trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp năm

1912 Tác phẩm đã tái hiện lại những sự kiện lịch sử vĩ đại của nước Nga với sự hiện diện của hàng loạt những nhân vật lịch sử có thật: đại đế Napôlêông, tổng tư lệnh Nga Kutudôp, Nga hoàng và

Trang 28

những trận đánh đi vào lịch sử nhân loại: trận Auxteclic, trận Bôrôđinô Bằng việc tái hiện những sự kiện lịch sử, Lep Tônxtôi đã tôn vinh và khẳng định tinh thần yêu nước bất diệt của nhân dân Nga, ca ngợi “tư tưởng nhân dân” đồng thời phê phán cuộc chiến tranh phi nghĩa và tư tưởng độc tài, cá nhân vị

kỉ của “thiên tài” Napôlêông

Bên cạnh những sự kiện lịch sử, họ còn có thể bắt gặp những con người bằng xương bằng thịt với tất cả những ước mơ và khát vọng, nỗi đam mê, tình yêu chân thành, bồng bột, lãng mạn cũng như những thất bại, đau khổ và dằn vặt, trăn trở của tuổi trẻ- những người mà lớp độc giả này tìm thấy sự đồng cảm với bản thân mình Họ có thể có những tính cách khác nhau, nhưng dù đó là là chàng thanh niên nghiêm nghị Anđrây, anh chàng bồng bột vui tính Pie hay cô gái sùng đạo Maria, cô gái hồn nhiên yêu đời Natasa thì tất cả đều là những con người khao khát tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống Họ nếm trải hết thất bại này đến thất bại khác, họ có đau khổ đến tột cùng vì đánh mất tình yêu, đánh mất người vợ yêu, đánh mất người thân, đánh mất công danh sự nghiệp nhưng rồi họ vẫn dám đối đầu và dám sống

để tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống Họ không bao giờ đầu hàng số phận và khuất phục thất bại

Họ chỉ sợ một điều duy nhất: sống vô nghĩa Qua họ, người ta tìm thấy tất cả những gì tượng trưng cho dòng đời muôn thuở, bất diệt của con người: tuổi thanh niên và tình yêu bồng bột, những vấp ngã của thời trai trẻ, những gì đã trở thành dĩ vãng và kỉ niệm giúp con người sống tốt hơn, chín chắn hơn trước cuộc đời

Có thể nói, tiếp xúc với Chiến tranh và hoà bình, lớp độc giả thứ ba mong muốn tìm thấy ở đó

tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm mãnh liệt của những con người chân chính Anđrây, Pie, Kutudôp, những “gã mugic” như Platôn và những nông nô, những con người nhỏ bé Họ mong muốn tìm kiếm những tư tưởng tiến bộ qua hình tượng những con người đi tìm ý nghĩa cuộc sống như Anđrây, Pie Họ muốn nhận ra cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa qua lịch sử nước Nga mà Lep Tônxtôi đã phản ánh

Tương tự tác phẩm Chiến tranh và hoà bình, lớp độc giả này khi đọc Anna Karênina chắc hẳn không chỉ nhìn thấy đây là “một cuốn tiểu thuyết tâm lý sâu sắc, một bức hoạ vĩ đại về xã hội Nga và

qua tất cả những trang này, sự phấn đấu của một tâm hồn tìm kiếm chân lý của cuộc đời” [83, 26] mà

họ còn tìm thấy ở đó tư tưởng giải phóng phụ nữ, tư tưởng đấu tranh vì quyền sống của phụ nữ, tư tưởng phê phán và đấu tranh cải tạo xã hội Bi kịch của Anna đối với họ không đơn giản chỉ là bi kịch của một cá nhân, một gia đình mà là bi kịch của cả xã hội, một bi kịch cần được giải quyết ngay tức khắc Hình tượng Lêvin trong tác phẩm không đơn giản là hình tượng đi tìm hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình riêng tư mà còn là hình tượng tiêu biểu cho khát vọng xây dựng một xã hội hoà đồng, hạnh phúc

Trang 29

Có thể nói, sự tồn tại của những lực lượng độc giả khác nhau của Lep Tônxtôi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc kích thích sự phổ biến các tác phẩm của Lep Tônxtôi Trong sự tương quan giữa các lực lượng độc giả của Lep Tônxtôi, lực lượng độc giả thứ ba có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình tiếp nhận Lep Tônxtôi theo hướng tích cực Lực lượng này khi hướng đến những giá trị tư tưởng tiến bộ trong các kiệt tác của Lep Tônxtôi đồng thời cũng nhận chân ra những giá trị nghệ thuật đích thực của tác phẩm Lep Tônxtôi

-Thứ năm, một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng khiến các sáng tác tiêu

biểu của Lep Tônxtôi xuất hiện ở miền Nam vào cuối những năm 60 là do sự tranh đua của giới học giả

và dịch thuật miền Nam trước sự phổ biến của các sáng tác lớn của Lep Tônxtôi tại các nước và kể cả ở miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ Chẳng hạn, Nguyễn Hiến Lê đã phàn nàn là một tác phẩm lớn như

Chiến tranh và hoà bình mà người miền Nam không biết đến trong khi ở Trung Quốc người ta đã dịch

nó trên ba mươi năm, ở miền Bắc Việt Nam đã xuất hiện bản dịch từ lâu…

-Thứ sáu, bên cạnh việc lý giải sự xuất bản và dịch thuật ồ ạt các tác phẩm của Lep Tônxtôi từ

những điều kiện khách quan, sự xuất hiện với tần số cao các tác phẩm của Lep Tônxtôi trong một

khoảng thời gian ngắn ở miền Nam còn có thể được lý giải bằng những đặc điểm của chính đối tượng

được tiếp nhận; trong đó nội dung tư tưởng, những vấn đề đặt ra trong các sáng tác của Lep Tônxtôi, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm của Lep Tônxtôi và uy tín, tiếng tăm, nhân cách, tài năng của Lep Tônxtôi cũng đóng một vai trò không nhỏ

Về nội dung tư tưởng, những vấn đề đặt ra trong các sáng tác của Lep Tônxtôi, chúng ta biết

rằng, các tác phẩm của Lep Tônxtôi có khả năng khơi gợi hoặc trả lời cho một số độc giả ở miền Nam trong việc đi tìm lời giải đáp cho xã hội tao loạn miền Nam Vấn đề này sẽ được chúng tôi đề cập rõ hơn trong phần tìm hiểu về độc giả không chuyên trong chương 3

Giá trị của các tác phẩm của Lep Tônxtôi và uy tín, tiếng tăm, nhân cách, tài năng của ông

cũng là một đặc điểm của đối tượng tiếp nhận có tác động mạnh mẽ đến sự phổ biến và tiếp nhận Lep Tônxtôi Cũng giống như nhiều tên tuổi nổi tiếng khác, trước hết Lep Tônxtôi là một nhà văn lớn của văn học Nga, là đại diện tiêu biểu của nền văn học Nga thế kỉ XIX, là đại văn hào của thế giới Tiếng tăm, tài năng và uy tín văn học của ông đã được khẳng định trước đó hơn một thế kỉ Những sáng tác của ông là những kiệt tác không chỉ của riêng nền văn học Nga mà là của cả nền văn học thế giới

Chiến tranh và hoà bình luôn được xem như là một kiệt tác văn học thế giới, là đại diện cho một thể

loại tiểu thuyết mới - tiểu thuyết sử thi, là một đỉnh cao của tiểu thuyết cổ điển Những giá trị tư tưởng

và nghệ thuật của kiệt tác này không gì có thể thay thế và so sánh Tiểu thuyết Anna Karênina cũng nổi

tiếng không kém khi mà nó được xem như là một đột phá của tiểu thuyết gia đình đương thời Nhà xuất

Trang 30

bản Khai Trí khi giới thiệu về tác phẩm này đã từng khẳng định đây là “một cuốn tiểu thuyết tâm lý sâu sắc, một bức hoạ vĩ đại về xã hội Nga và qua tất cả những trang này, sự phấn đấu của một tâm hồn tìm

kiếm chân lý của cuộc đời [83, 26] Tiểu thuyết Phục sinh của Lep Tônxtôi khi xuất hiện cũng được người ta ca ngợi, yêu thích, bàn tán: “truyện có sức lôi cuốn làm cho chúng ta phẫn uất trước những

bất công của xã hội Tcheskhov khen là tuyệt, nhiều đoạn đọc muốn nghẹt thở.( ) Truyện được độc giả rất hoan nghênh Đâu đâu người ta cũng bàn tán, phê phán các nhân vật trong truyện.” [66,64] Thế

giới khẳng định đây là kiệt tác cuối cùng của Lep Tônxtôi

Những tác phẩm của ông không chỉ là những tác phẩm gây tiếng vang lớn mà nó còn là những đỉnh cao của văn học thế giới, những mẫu mực không thể thay thế, từ đó các văn nghệ sĩ có thể học hỏi rất nhiều điều về nghệ thuật sáng tác Nguyễn Hiến Lê cũng đã không ngớt lời khen cách kết cấu của

truyện, theo ông lối kết của Chiến tranh và hoà bình là lối kết hay nhất mà ông từng được biết Hoặc

giả nhà văn Nhất Linh cũng đã từng thú nhận đã học hỏi rất nhiều từ nghệ thuật sáng tác của Lep

Tônxtôi Ông viết: “Tác giả như là một đấng tạo hoá đã mở cửa cho mình thấy những cái mà mình

không bao giờ tự thấu hiểu được”[35, 15]

Bên cạnh những giá trị lớn lao của các tác phẩm của Lep Tônxtôi, các nhà xuất bản, tạp chí ở miền Nam quan tâm nhiều đến Lep Tônxtôi bởi vì ông còn là một nhà tư tưởng, một “giáo chủ” chủ trương một học thuyết tôn giáo, một nhà cải cách xã hội có ảnh hưởng lớn đến lịch sử thế giới trong quá khứ và hiện tại Sinh thời, chủ thuyết tôn giáo của Lep Tônxtôi đã quyến rũ hàng ngàn người trên thế giới đến điền trang Iaxnaia Pôliana Đầu thế kỷ XX, tên tuổi Lep Tônxtôi càng lừng lẫy hơn khi mà học thuyết bất bạo động của ông gắn liền với Thánh Gandhi, người đã thực hành thuyết bất bạo động của Lep Tônxtôi và gây tiếng vang lớn trên thế giới Đối chiếu với hoàn cảnh xã hội miền Nam lúc bấy giờ, tư tưởng “bất bạo động” của Lep Tônxtôi có một vị trí quan trọng trong tinh thần và tư tưởng của thời đại Nó phù hợp với tinh thần của đạo Phật, Thiên chúa giáo và tinh thần phản đối chiến tranh đang phổ biến ở miền Nam lúc bấy giờ Có lẽ tất cả những điều này đã tác động đến nhu cầu cần phải phổ biến, xuất bản hàng loạt các tác phẩm của Lep Tônxtôi

Không những là một nhà văn và nhà tư tưởng lớn của thế giới, nhân cách sống của Lep Tônxtôi

cũng là một sự kiện để người ta tìm đến với ông, học hỏi ở ông Tư tưởng của Lep Tônxtôi: “Để sống

trung thực, cần phải xông xáo, mắc mớ, quẫy đạp, lầm lẫn, bắt đầu rồi bỏ đấy, rồi lại bắt đầu và lại bỏ đấy, mãi mãi đấu tranh và luôn chịu mất mát Còn sự bình ổn - là táng tận lương tâm” [88, 36] khiến

người ta khâm phục Người ta suy tôn ông là Á thánh bởi vì ông dám sống trung thực, không sợ thất bại, không an phận Nguyễn Hiến Lê tiếp cận và giới thiệu con người Lep Tônxtôi và các nhà xuất bản

Trang 31

tham gia vào việc phát hành các bài viết đó có lẽ vì muốn giới độc giả học hỏi nhân cách của một danh nhân, một bậc trí giả của nhân loại

Như thế, những nhân tố dẫn đến việc dịch và xuất bản ồ ạt các sáng tác của Lep Tônxtôi không chỉ xuất phát từ những điều kiện xã hội bên ngoài mà còn bị chi phối bởi sự tác động của chính đối tượng được tiếp nhận Nói cách khác, việc giới thiệu, tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam lúc này chính

là kết quả của sự tương tác giữa những điều kiện khách quan từ bên ngoài xã hội và chính bản thân đối

tượng được tiếp nhận Sự hô ứng giữa những tác phẩm, tư tưởng của Lep Tônxtôi với điều kiện xã hội

miền Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến các sáng tác của Lep Tônxtôi mà các nhà văn

khác như Sêkhôp, Gorki, Gôgôn, Tuôghênhep không thể có được 2.1.2.3 Trong xu thế xuất bản

hàng loạt các tác phẩm của các nhà văn mang tính thời sự cao như Đôxtôiepxki, Pasternak, Soljenitsyn các tác phẩm của Lep Tônxtôi vẫn tiếp tục được xuất bản với nhiều đầu sách, ở nhiều thể loại sáng tác Đây chính là một đặc điểm của tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn

1954-1975

Như chúng ta đã biết, từ giữa những năm 60 đầu những năm 70, tình hình dịch thuật có sự chuyển hướng từ việc phổ biến các tác phẩm cổ điển sang các tác phẩm hiện đại Các tiểu thuyết cổ điển dần dần nhường chỗ cho tiểu thuyết mới mà tiêu biểu là sự xuất hiện hàng loạt những danh tác của Đôxtôiepxki Trong xu hướng đó, lẽ ra các sáng tác mang tính cổ điển của Lep Tônxtôi phải nhường chỗ cho các sáng tác của của Đôxtôiepxki, Kapka, Pasternak, Soljenitsyn Thế nhưng, trên thực tế dịch thuật và xuất bản, tái bản cuối những năm 60 đầu những năm 70, những danh tác của Lep Tônxtôi

như Chiến tranh và hoà bình, Anna Karênina, Phục sinh cũng như những đoản tác vẫn được ấn hành

và phổ biến Thực tế dịch thuật và xuất bản, phổ biến những tác phẩm của Lep Tônxtôi như thế có thể xem như là một hiện tượng tiếp nhận đặc biệt đối với trường hợp của Lep Tônxtôi Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến hiện tượng độc đáo đó?

-Thứ nhất, như chúng ta đã biết, văn phong của Lep Tônxtôi mặc dù mang tính cổ điển mẫu

mực như nhiều người khẳng định (điều này được thể hiện ở bút pháp tả chân, ở giọng văn ) nhưng nghệ thuật miêu tả tâm lý, nghệ thuật chuyển cảnh,… nhằm khắc hoạ tính cách nhân vật vẫn gần gũi với văn chương hiện đại “Phép biện chứng tâm hồn”, “thủ pháp dòng ý thức” của Lep Tônxtôi vẫn có một sức hút đáng kể đối với các nhà văn hiện đại Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật của Lep Tônxtôi đương thời được nhiều người thán phục và học hỏi Hoàng Vũ Đức Vân, Nhất Linh, Nguyễn Hiến Lê cho rằng Lep Tônxtôi đã có ảnh hưởng lớn đến mình Đó là nguyên nhân thứ nhất

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến hiện tượng nêu trên là do những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của

Lep Tônxtôi cũng như tư tưởng nghệ thuật của Lep Tônxtôi phù hợp với nhu cầu thời đại Người ta đến

Trang 32

với tác phẩm của Lep Tônxtôi không đơn thuần do thích tính cổ điển hay hiện đại Một trong những lý

do để người đọc tìm đến tác phẩm của Lep Tônxtôi là do chính những tư tưởng và vấn đề đặt ra trong tác phẩm Nhìn bề ngoài, người ta đối lập Lep Tônxtôi với Đôxtôiepxki, họ xem Đôxtôiepxki là một đối cực của Lep Tônxtôi Chẳng hạn, họ cho rằng Đôxtôiepxki thể hiện rõ một nước Nga phương Tây thì Lep Tônxtôi thể hiện rất rõ một nước Nga phương Đông Nguyễn Hữu Hiệu dựa trên những nhận định của triết gia Nga Nicolas Berdiaeff đã so sánh Lep Tônxtôi với Đôxtôiepxki như sau:

“…Dostoievski là truyền lệnh sứ của tinh thần cách mạng đang trên đường thực hiện, bản chất năng động phi thường, hướng về Biến dịch, là người tuyên xưng ràng buộc với quê hương, kẻ khẳng định đức tính của những truyền thống lịch sử, của những di sản thiêng liêng, chấp nhận quyền thống trị

và Giáo Hội chính thống Nga Tolstoi, trái lại, không bao giờ là tinh thần cách mạng cả; ông là học sĩ của chất liệu tĩnh, của môi trường xã hội như nó đã và đang hiện hữu; tầm mắt của ông còn quay về quá khứ chứ chưa hướng tới tương lai Tuy nhiên chính ông là kẻ nổi loạn chống lại tất cả truyền thống lịch sử và tôn giáo, chính ông là kẻ ngoan cố đầu tiên, chối bỏ chính thống giáo và chối bỏ Đế chính, không muốn chấp nhận ngay cả địa vị tối thượng của văn hoá Dostoievski cho thấy tính chất sâu xa của hư vô chủ nghĩa Nga Chính Tolstoi tự nhận mình là kẻ theo hư vô chủ nghĩa, kẻ phá hoại thánh tích và tất cả mọi giá trị Dostoievski biết cuộc cách mạng sắp tựu thành và đang khởi lên(…) Tolstoi, ông không biết rằng cách mạng đang khởi lên (…) Tóm lại, có thể Tolstoi là một nghệ sĩ hoàn toàn hơn Dostoievski…Nhưng Dostoievski lại là một tư tưởng gia hơn vĩ đại hơn Tolstoi.” [19, VII-

VIII]

Tuy nhiên, nhìn nhận ở bề sâu, cả hai đại văn hào này đều có điểm chung ở tư tưởng nghệ thuật,

ở tư tưởng hướng thiện, tôn vinh cái chân, thiện, mỹ của con người Họ có nhiều điểm chung trong việc giải quyết những vấn đề cốt lõi của nhân loại Cả hai đều nhận ra những mâu thuẫn của thời đại và có cùng chủ trương dùng đạo đức, tinh thần để hoà giải nhân loại chứ không dùng bạo lực Nguyễn Hiến

Lê cũng nhận ra sự giống nhau giữa hai nhà văn có nhiều cái riêng này: “Lạ thay! Cả hai văn hào bậc

nhất của Nga, Tolstoi và Dostoievski đều dùng tiểu thuyết để dạy cho ta đạo khiêm tốn và bác ái”

Trang 33

thấu hiểu khá sâu sắc một phần tư tưởng nghệ thuật của Lep Tônxtôi và Đôxtôiepxki chứ không phải là

sự tiếp nhận bề ngoài, xu thời

Nguyên nhân tiếp theo dẫn đến hiện tượng đã nêu còn có thể được lý giải từ sự đối lập tư tưởng bất bạo động của Lep Tônxtôi với tư tưởng cộng sản Tác phẩm của Lep Tônxtôi thể hiện giải pháp tiến hành cách mạng bất bạo động để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn nên đối lập với đường lối cách mạng

ở miền Nam lúc bấy giờ Chính vì sự đối lập này mà tác phẩm của Lep Tônxtôi tránh được sự kiểm duyệt và thậm chí được khuyến khích phát triển bởi nhà cầm quyền ở miền Nam

Sự đối kháng giữa chủ nghĩa hiện thực truyền thống mà Lep Tônxtôi là đại diện tiêu biểu với các trào lưu, khuynh hướng văn học hiện đại mới được du nhập vào miền Nam có thể còn là cách lý giải cho sự xuất hiện hàng loạt những tác phẩm của Lep Tônxtôi vào những năm 60, 70 Như chúng ta

đã biết, vào những năm 60, 70, phong trào dịch thuật văn học nước ngoài mà chủ yếu là những tác phẩm của Đôxtôiepxki và các loại tác phẩm được gọi là “tiểu thuyết mới” diễn ra ồ ạt và thống lĩnh văn đàn văn học miền Nam Cùng với sự xuất hiện các “tiểu thuyết mới” của Đôxtôiepxki, Kafka, Malraux,

ở miền Nam đã xuất hiện một loạt nhà văn chuyển từ phong cách cổ điển sang phong cách hiện đại như: Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Thế Uyên, Duy Lam… Trong xu hướng chuyển pha “theo thời” đó, sự xuất hiện hàng loạt tác phẩm cổ điển của Lep Tônxtôi phải chăng là một sự đối kháng lại xu hướng đó? Rất có thể âm hưởng của tiểu thuyết cổ điển cũng như những ưu thế không thể thay thế của nó vẫn còn được một số trí thức có tâm huyết với nền văn học nước nhà và một số không nhỏ độc giả ở miền Nam

ưa chuộng và gìn giữ Họ thích khuynh hướng văn học mang tính giáo huấn và khẳng định chân lý hơn

là thứ văn học hiện đại chỉ có khả năng tái hiện lại “bi kịch lịch sử” rồi “bỏ đó”

2.1.2.4 Có nhiều nhà xuất bản, nhiều tạp chí ở miền Nam tham gia của vào việc phát hành các sáng tác của Lep Tônxtôi Đây cũng là một thực tế rút ra từ sự khảo sát tình hình xuất bản Lep Tônxtôi Các nhà xuất bản, các tạp chí này có đặc điểm là không thống nhất về đường lối, chủ trương Chẳng hạn, nhà xuất bản Lá Bối là một nhà xuất bản của Phật giáo, họ chủ trương xuất bản các ấn phẩm có thể truyền bá Phật giáo chứ không thuần tuý xuất bản các tác phẩm văn chương Nhà xuất bản Khai Trí thì chủ trương xuất bản các loại sách đông tây kim cổ Tạp chí Văn thì lại là một tạp chí khá chuyên về công việc giới thiệu văn chương Nhiều nhà xuất bản có những chủ trương, mục đích khác nhau như thế nhưng cùng tham gia vào việc phát hành các tác phẩm của Lep Tônxtôi có thể được xem như một đặc điểm của hoạt động tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

Lý giải sự xuất hiện nhiều nhà xuất bản tham gia phát hành các tác phẩm của Lep Tônxtôi, ngoài những nguyên nhân đã nêu, chúng ta cũng cần lưu ý đến xu hướng tôn giáo của văn hoá văn nghệ miền Nam có ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia của nhiều nhà xuất bản đối với sáng tác của Lep Tônxtôi

Trang 34

Như chúng ta đã biết, văn hoá văn nghệ miền Nam trước 1975 có đặc điểm là mang xu hướng tôn giáo,

cả tôn giáo phương Tây lẫn tôn giáo phương Đông Lê Văn Hảo nhận xét về thực trạng này như sau:

“Miền Nam là mảnh vườn cho sự đua nở của triết học duy tâm, duy linh của Á đông, của Âu Tây cổ đại

và cận đại, của Thiên Chúa và Phật giáo cùng những luồng tư tưởng mới đang được nhắc nhiều tại các nước tư bản Âu Mỹ hiện nay.” [17,41] Xu hướng tôn giáo đa phương này chắc hẳn đã tìm thấy ở Lep

Tônxtôi sự tương đồng của những tư tưởng Phật giáo đang phổ biến ở miền Nam với tư tưởng bất bạo động trong các sáng tác của Lep Tônxtôi Như chúng ta đã biết, Nhà xuất bản Lá Bối khi ấn hành bộ

tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình “đã phải đi vay nợ, lãi, của nhiều người” [13,79] là không chỉ đơn thuần muốn biết đến một tác phẩm cổ điển có giá trị Họ dịch Chiến tranh và hoà bình chắc hẳn còn vì

lý do tôn giáo, muốn phổ biến những tư tưởng bất bạo động, gần gũi với tinh thần của đạo Phật đang thịnh hành lúc bấy giờ

Sự tham gia của nhiều nhà xuất bản, tạp chí vào việc phổ biến các sáng tác của Lep Tônxtôi như trên đã chỉ ra nhiều thực tế tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với Lep Tônxtôi Sự tham gia của nhiều nhà xuất bản, tạp chí với những đường lối chính trị, tư tưởng khác nhau đã cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp nhận Lep Tônxtôi Điều này cũng có nghĩa là tác phẩm của ông một lần nữa thể hiện được giá trị của nó trong tính đa nghĩa, nhiều tầng lớp ý nghĩa Lep Tônxtôi càng được nhìn nhận là một nhà văn lớn của thế giới và không thuộc về một ai, một chế độ chính trị nào mà là của chung nhân loại

2.1.2.5 Tình hình dịch thuật cho thấy có nhiều dịch giả tham gia dịch tác phẩm của Lep Tônxtôi nhưng chất lượng dịch thuật không đồng đều

Tình hình dịch thuật đã cho thấy hoạt động dịch thuật diễn ra khá sôi nổi và có sự tham gia của nhiều dịch giả Đây là một dấu hiệu đáng mừng đối với việc phổ biến các danh tác của Lep Tônxtôi Sự tham gia của nhiều dịch giả đối với các tác phẩm của Lep Tônxtôi đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt, sự tiếp nhận mạnh mẽ Lep Tônxtôi ở miền Nam bên cạnh các sáng tác của các nhà văn mang tính thời sự cao như Đôxtôiepxki, Kapka, Pasternak, Soljenitsyn

Sự tham gia của nhiều dịch giả tham gia dịch Lep Tônxtôi một mặt đã phản ánh thái độ tiếp nhận tích cực Lep Tônxtôi đồng thời cũng thể hiện sự không đồng nhất trong hoạt động dịch thuật Còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động dịch thuật Nếu như dịch giả Nguyễn Hiến Lê là một dịch

giả thật sự nghiêm túc trong công việc dịch và kết quả của ông là bản dịch Chiến tranh và hoà bình hiện nay vẫn còn giữ được giá trị thì hàng loạt những bản dịch khác (bản dịch Chiến tranh và hoà bình

của Nguyễn Đan Tâm chẳng hạn) lại không đạt yêu cầu Điều đó thể hiện sự không đồng đều trong giới

dịch giả cũng như thái độ tiếp nhận và hiệu quả tiếp nhận của họ Bản dịch Chiến tranh và hoà bình

Trang 35

của Nguyễn Đan Tâm thì không đầy đủ do căn cứ trên bản rút ngắn của Manel Komroff, trong đó đã bỏ

một số chương bàn về tôn giáo, triết lý chiến tranh và lịch sử Bản dịch An-na Kha-lệ-ninh của Vũ

Ngọc Phan và Vũ Minh Thiều cũng có nhiều vấn đề do cách phiên âm tên nhân vật cũng như trong cách sử dụng giọng văn Nhan đề của nhiều tác phẩm của Lep Tônxtôi khi được dịch cũng đặt ra nhiều

vấn đề về cách phiên dịch (thể hiện quan niệm tiếp nhận) Chẳng hạn tác phẩm Những người Côdắc được chuyển thành Sơn lâm êm đềm hoặc Vùng đất hoang vu, Bản Sonat tặng Kreutzer được chuyển thành Khúc nhạc mê ly hoặc Một bản đàn, Phục sinh được chuyển thành Vùng đất hồi sinh, Những mẩu

chuyện Sébastopol được dịch là Tình trong chiến hào Cách phiên dịch tên nhan đề tác phẩm có sự

“biến dạng” như trên rõ ràng đã chịu ảnh hưởng lớn bởi không khí thời đại của xã hội miền Nam trước

1975 vốn chịu chi phối bởi những xu hướng thẩm mỹ mang tính thị trường cũng như những trào lưu triết học lúc bấy giờ Đây là một đặc điểm, một vấn đề trong hoạt động tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

2.1.2.6 Các sáng tác của Lep Tônxtôi được dịch và xuất bản ở miền Nam hầu hết là những sáng

tác có giá trị và khá tiêu biểu cho sự nghiệp văn học của đại văn hào Lep Tônxtôi Nếu tính riêng từng

nhà xuất bản thì có thể họ không xuất bản tất cả những sáng tác tiêu biểu của Lep Tônxtôi Nhưng trên

tổng thể, hầu hết những tác phẩm lớn của Lep Tônxtôi như Chiến tranh và hoà bình, Anna Karênina,

Phục sinh cũng như những tác phẩm có tiếng vang như Cái chết của Ivan Ilich, Những người Côdắc, Bản Sonat tặng Kreutzer, Người ta sống bởi gì? đều được dịch hoặc xuất bản ở miền Nam Sự xuất

hiện hàng loạt những sáng tác tiêu biểu cho sự nghiệp của Lep Tônxtôi như trên đã cho thấy người miền Nam đã tiếp xúc với Lep Tônxtôi một cách khá toàn diện, ít nhất là ở phương diện tiếp xúc với tác phẩm Đây có thể được xem như là một đặc điểm của hoạt động tiếp nhận tác gia này ở miền Nam

mà theo đó ta có thể so sánh với sự tiếp nhận hạn chế các sáng tác của Puskin, Tuôcghênhep, Sêkhôp tức là những tên tuổi cổ điển của văn học Nga thế kỉ XIX Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao hầu hết các tác phẩm của Lep Tônxtôi được dịch ở miền Nam là những tác phẩm tiêu biểu cho văn nghiệp của ông chứ không phải là những tác phẩm không tiêu biểu, những tác phẩm phục vụ cho đường lối chính trị của chính quyền Sài Gòn?

Ở trên chúng tôi đã lưu ý đến sự xuất hiện ào ạt các tác phẩm của Lep Tônxtôi và đã lý giải những nguyên nhân khả dĩ có thể tác động đến hiện tượng đó, tuy nhiên chúng tôi chưa đề cập đến một trong những nhận xét rút ra từ thực tế khảo sát tình hình dịch thuật và xuất bản các tác phẩm của Lep Tônxtôi: các tác phẩm của Lep Tônxtôi được xuất bản và giới thiệu ở miền Nam không chỉ nhiều về số

lượng mà còn khá tiêu biểu cho văn nghiệp của Lep Tônxtôi Điều này cho thấy sự tiếp nhận Lep Tônxtôi là tiếp nhận có chọn lựa chứ không phải ngẫu nhiên và tự phát Các nhà xuất bản và các cơ

Trang 36

quan phát hành cũng như các dịch giả có khuynh hướng chọn lựa những tác phẩm lớn và nổi tiếng của Lep Tônxtôi để ra mắt bạn đọc chứ không phải giới thiệu tràn lan Điều này có thể được lý giải từ hai nguyên nhân chính như sau:

Thứ nhất, sự tiếp nhận của độc giả miền Nam phụ thuộc lớn vào nội dung bên trong tác phẩm của Lep Tônxtôi Trong khi đó, nội dung, tư tưởng nghệ thuật chủ yếu của Lep Tônxtôi lại tập trung và

cô đọng trong hầu hết danh tác của ông chứ không phân tán trong nhiều đoản tác khác nhau Điều này cũng có nghĩa là người đọc miền Nam tiếp nhận, tìm đến nội dung tư tưởng của Lep Tônxtôi tức là phải tìm đến những danh tác tiêu biểu của ông Điều này phần nào lý giải cho việc xuất hiện hàng loạt những tác phẩm tiêu biểu cho văn nghiệp sáng tác của Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975

Thứ hai, trong nhiều lớp độc giả của Lep Tônxtôi ở miền Nam, lớp độc giả thứ ba- tức những độc giả có cảm tình với những khuynh hướng tư tưởng tiến bộ từ âm hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, cách mạng tháng Tám năm 1945… cũng như một số trí thức có nhân cách, lương tâm muốn cống hiến cho nền văn học nước nhà- có một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy sự phổ biến các tác phẩm của Lep Tônxtôi Chính họ đã có công trong việc chọn lọc và dịch các danh tác tiêu biểu của Lep

Tônxtôi Học giả Nguyễn Hiến Lê là một ví dụ tiêu biểu Nhận thấy Chiến tranh và hoà bình là một

danh tác của Lep Tônxtôi, là một kiệt tác của nhân loại, ông đã nhiều lần đề nghị được dịch và khi lời

đề nghị được chấp nhận, ông đã dồn hết tâm huyết để dịch tác phẩm với một thái độ thật sự nghiêm túc

Có thể nói, với lớp độc giả này, nhu cầu tìm kiếm những tư tưởng tiến bộ, những giá trị nghệ thuật đích thực (theo quan niệm tiến bộ của họ) đã thúc đẩy việc xuất bản các kiệt tác, các danh tác tiêu biểu của Lep Tônxtôi Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975

Tóm lại, những tác phẩm của Lep Tônxtôi được dịch và xuất bản ở miền Nam đã góp phần vào việc nhận diện tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Tuy còn nhiều vấn

đề tồn tại (chất lượng dịch thuật, quan điểm dịch thuật…) nhưng tình hình dịch thuật và xuất bản Lep Tônxtôi ở miền Nam đã cho ta thấy sự quan tâm đặc biệt của xã hội miền Nam và con người miền Nam đến một tác gia cổ điển nổi tiếng của văn học Nga và văn học thế giới Điều này đã gợi mở nhiều điều

lý thú về hoạt động tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với Lep Tônxtôi trong một hoàn cảnh xã hội đặc biệt

2.2 Lĩnh vực nghiên cứu:

2.2.1 Tình hình nghiên cứu:

Bên cạnh hoạt động dịch và xuất bản các tác phẩm của Lep Tônxtôi, hoạt động nghiên cứu Lep Tônxtôi cũng diễn ra khá sôi nổi Từ những năm 50, trên văn đàn văn nghệ - phê bình miền Nam đã bắt

Trang 37

đầu rải rác xuất hiện những bài viết, giới thiệu, khảo cứu về Lep Tônxtôi Nhìn lại quá trình xuất hiện các bài giới thiệu và khảo cứu về Lep Tônxtôi của giới học thuật miền Nam trước 1975, đầu tiên chúng

ta phải kể đến bài giới thiệu khá công phu của học giả Nguyễn Hiến Lê: Lev Tolstoi - một Á Thánh

đăng trên bách Khoa số 48 xuất bản năm 1959 Đây có thể được xem là bài giới thiệu khá công phu đầu tiên về tác gia này và rất có thể chính bài viết này đã khơi mào cho sự xuất hiện hàng loạt những sáng tác của Lep Tônxtôi ở miền Nam vào những năm 60 Đến năm 1963, Tràng Thiên giới thiệu với bạn

đọc miền Nam một bài viết mang tính chất khảo cứu: Một đề tài của Tolstoi: cái chết Trong bài viết

này, Tràng Thiên khảo sát nội dung tư tưởng trong sáng tác của Lep Tônxtôi dưới góc độ một đề tài mang tính thời sự trong bối cảnh miền Nam tao loạn: cái chết Năm 1964, Hoàng Vũ Đức Vân lại đưa

tên tuổi của Lep Tônxtôi đến với người đọc qua bài viết: Lep Tônxtôi trong tác phẩm Chiến tranh và

hoà bình Năm 1969 có thể được xem là năm có nhiều bài giới thiệu và khảo cứu về Lep Tônxtôi mà

tiêu biểu là những bài viết của Nguyễn Hiến Lê như: Lời cảm ơn gởi nhà xuất bản (Văn, số 128), Lời

giới thiệu Chiến tranh và hoà bình ( Nxb lá Bối, 1969), Bốn lối kết trong tiểu thuyết, bốn nhân sinh quan (Bách Khoa, số 290-291) Bên cạnh đó còn có bài giới thiệu của Trần Phong Giao trên Văn số

128: Vài cảm nghĩ xuôi dòng Đến đầu những năm 70, việc giới thiệu Lep Tônxtôi với người đọc có

một sự khác biệt so với trước đó Nếu như trrước kia việc giới thiệu Lep Tônxtôi có sự hỗ trợ từ cả hai loại bài viết: giới thiệu và khảo cứu, thì bây giờ chỉ còn những bài giới thiệu trực tiếp hoặc những bài giới thiệu về những nhà văn khác trong đó có so sánh với Lep Tônxtôi Cụ thể, nhà sách Khai Trí giới

thiệu về Lep Tônxtôi và các sáng tác của ông (trong đó nhấn mạnh đến tác phẩm Anna Karênina) trong lời tựa tác phẩm An- na Kha- Lệ- Ninh (xuất bản 1970) Nhà xuất bản Phù Sa cũng có bài giới thiệu về Lep Tônxtôi trong lời tựa tác phẩm Vùng đất hồi sinh (xuất bản năm 1973) Khi giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của Đôxtôiepxki trong phần Khai từ (xuất bản 1972, Nxb Nguồn sáng) cho tác phẩm Anh em

nhà Karamadôp, Nguyễn Hữu Hiệu cũng có đề cập đến Lep Tônxtôi trong sự đối chiếu với

Đôxtôiepxki Trong một số công trình khác, chẳng hạn, trong Ý thức mới trong văn nghệ và triết học

của Phạm Công Thiện (An Tiêm tái bản lần thứ tư, 1970) Lep Tônxtôi cũng được nhắc đến nhưng chỉ dưới dạng minh chứng cho một vài luận điểm của tác giả Những bài viết, nghiên cứu về Lep Tônxtôi nêu trên có một vai trò quan trọng trong việc giúp người đọc miền Nam hiểu biết sâu sắc hơn về một đại văn hào của nền văn học thế giới Chính những bài viết này phần nào giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn

về tiến trình tiếp nhận Lep Tônxtôi ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Dưới đây chúng tôi sẽ tìm hiểu nội dung một số bài viết của một số tác giả nhằm tìm hiểu hoạt động tiếp nhận của họ cũng như khảo sát khuynh hướng tiếp nhận của độc giả miền Nam đối với Lep Tônxtôi mà những tác giả đó là đại diện

Trang 38

Nội dung một số bài viết tiêu biểu về Lep Tônxtôi:

*Bài viết Lev Tolstoi, một Á Thánh của Nguyễn Hiến Lê, đăng trên Bách Khoa số 48, năm

Rõ ràng với những nhận định mang tính chất giới thiệu như trên, Nguyễn Hiến Lê không những

đã nêu lên được lý do tiếp xúc với một tên tuổi lớn của thế giới mà còn thể hiện được sự nhìn nhận và

tiếp nhận của của mình đối với Lep Tônxtôi Ông lý giải mâu thuẫn của Lep Tônxtôi như sau: “Tâm

hồn ông rất thanh mà bẩm tính ông lại rất trọc Hai phần đó luôn luôn mâu thuẫn nhau; càng về già, mâu thuẫn càng mạnh, làm cho suốt đời, ông sống trong một cơn dông tố gần như bất tuyệt” [30, 22]

Sự lý giải này bị đánh giá là chưa chính xác nhưng theo chúng tôi, nó đã thể hiện một cách nói đầy tinh

ý và sâu sắc của Nguyễn Hiến Lê về Lep Tônxtôi

Đi vào triển khai bài viết, Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng tái hiện lại những sự kiện chính trong cuộc đời của Lep Tônxtôi bằng chính những hành động, suy nghĩ của Lep Tônxtôi, đặc biệt là những hành động và suy nghĩ “bất thường” để chứng minh cho nhân cách vĩ đại của đại văn hào Qua phần tái

hiện đó, Nguyễn Hiến Lê nhận định về Lep Tônxtôi: “Ông nhu nhược, cũng như phần đông chúng ta

Mà chúng ta mến ông cũng vì lẽ đó Ông là một thiên tài thật, nhưng không phải là một thiên tài kiêu căng, đứng trên cao mà ngó xuống thiên hạ ở dưới chân Ông chỉ là người anh người bạn của chúng ta như ông thường tự xưng trong nhiều bức thư của ông.” [30, 33]

Từ những dẫn chứng sinh động về nhân cách vĩ đại của Lep Tônxtôi, Nguyễn Hiến Lê đã có một

kết luận: “Chỉ do tấm lòng thành thực, thành thực nhận tội mình và thành thực cứu vớt nhân loại, mà

ông được người đời tôn sùng là một á thánh” [30, 33] Chính nhờ nhân cách này mà Lep Tônxtôi được

thanh niên Pháp đương thời tôn xưng là vị cha già Nguyễn Hiến Lê dẫn lại lời của Romain Rolland:

“Chúng tôi - tức cả thế hệ Rolland - không phải chỉ tán thưởng những tác phẩm của ông (Tolstoi) mà còn sống với nó, như nó là tác phẩm của chúng tôi Đời sống nhiệt thành của ông, tấm lòng trẻ trung của ông cũng là của chúng tôi Những mộng bác ái và hoà bình của ông cũng là của chúng tôi Lời buộc tội ghê gớm của ông khi ông mạt sát những giả dối của văn minh cũng là của chúng tôi” [30, 31]

Phải chăng khi viết bài giới thiệu này về Lep Tônxtôi, Nguyễn Hiến Lê cũng có ý định muốn thanh

Trang 39

niên miền Nam không chỉ biết tán thưởng những tác phẩm của nhà văn mà còn phải học hỏi nhân cách của ông, tình cảm của ông, mơ ước, khát khao và trăn trở của ông như thế hệ thanh niên Pháp -thế hệ Rolland- đã tìm thấy ở ông hình ảnh của một người hướng đạo tinh thần?

Trong bài giới thiệu của mình, Nguyễn Hiến Lê đã lấy việc giới thiệu về nhân cách của Lep Tônxtôi là chính, tuy nhiên không vì thế mà ông bỏ qua việc giới thiệu các tác phẩm và tư tưởng của Lep Tônxtôi Hầu hết những danh tác của Lep Tônxtôi đều được Nguyễn Hiến Lê đề cập trong bài viết này dưới dạng rút gọn một cách đặt biệt Chúng luôn được Nguyễn Hiến Lê đề cập đến trong mối quan

hệ mật thiết với nhân cách, cuộc sống của nhà văn và đặc biệt là thuyết bất bạo động của ông chứ không phải bị tách rời Chẳng hạn, khi nói về việc Lep Tônxtôi viết cuốn Chúng ta phải làm gì?,

Nguyễn Hiến Lê viết:

“Trong nhật ký, ông (Lep Tônxtôi) tự thú: tôi đã giết người ở mặt trận tôi đã cờ bạc, điếm

đàng, tôi đã phung phí những số tiền mà nông dân cực khổ đóng góp cho tôi tôi đã trừng phạt họ nói dối, ăn cắp, tham lam, không có tội nào mà tôi không mắc phải Tôi viết sách vì tham danh, vì tham tiền, vì kiêu căng Không thể tiếp tục sống như vậy được nữa Phải tìm một lối thoát Ông đọc lại

những sách về triết lý, tôn giáo Ông suy nghĩ, tìm cách giải quyết và viết cuốn: Chúng ta phải làm gì?

(1884-1886) trong đó ông trút trách nhiệm lên hạng phú hào, hạng cầm quyền và giáo hội” [30, 27]

Lep Tônxtôi chủ trương “nghệ thuật phải diễn ý thức tôn giáo của thời đại Ý thức đó là ý thức

tứ hải giai huynh đệ; vì ông tin rằng loài người chỉ có mỗi một con đường để tiến tới hạnh phúc là con đương tương thân tương ái.” [30, 30]

Khi giới thiệu về Chiến tranh và hoà bình, Nguyễn Hiến Lê giới thiệu một cách ngắn gọn tác

phẩm trong mối quan hệ với tác giả nhưng cũng không quên nhận định về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:

“Bộ đó, viết xong năm 1869, được xếp vào hạng tiểu thuyết tràng giang vô tiền trong văn học thế giới Trong truyện, Tolstoi tả sự biến chuyển của xã hội Nga, nhất là giới quý phái, hồi Nã Phá Luân xâm lăng Đời sống phù phiếm vô ý nghĩa của các Lãnh Chúa, các bà Hoàng, cảnh chiến trường mênh mông, cảnh Moscou cháy ngùn ngụt, cảnh rút lui của quân đội Pháp trong cơn bão tuyết, nhất nhất được ghi lại bằng những nét sắc sảo của một bút pháp tả chân và tấm lòng nhiệt thành của một nghệ sĩ mơ mộng Khéo nhất là sau những bối cảnh đó, ta thấy hiện lên sự bình tĩnh của những luật bất dịch của định mạng, nó làm cho tác phẩm giữ được tính cách nhất trí Ba nhân vật ta mến nhất là Natacha trong sạch cả những khi tội lỗi, Anđré cao thượng và hiền từ, và Pierre Besoukhov ngây thơ vụng về, ráng tìm hạnh phúc và rốt cuộc thấy nó trong tình thương và lòng tin tưởng Pierre một phần

là ông và Natacha là một hình ảnh gần đúng của bà.” [30, 25-26]

Trang 40

Ở đây, “nghệ thuật tả chân và tấm lòng nhiệt thành của một nghệ sĩ mơ mộng” hay “sự bình

tĩnh của những luật bất dịch của định mạng, nó làm cho tác phẩm giữ được tính cách nhất trí” chính là

những nhận định cũng như cách tiếp nhận, đánh giá của Nguyễn Hiến Lê về nghệ thuật và tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm này

Hoặc khi giới thiệu tiểu thuyết Anna Karênina, Nguyễn Hiến Lê cũng gắn tác phẩm này với tư

tưởng bất bạo động và thế giới tinh thần của Lep Tônxtôi:

“Trong cuốn Anna Karénine (1873-1877), một tiểu thuyết có tính cách tự truyện và tả tâm trạng một người có ngoại tình, ông đã cho Constantin Levine, nhân vật chính, diễn những tư tưởng của ông, như câu: “Lý trí không dạy cho tôi biết chút gì cả; hết thảy những điều tôi biết là do trái tim phát giác cho tôi” Tác phẩm đó tuy già giặn, nhưng thiếu giọng nồng nàn của thời niên thiếu Ông đã hết tin ở hạnh phúc gia đình, lại thấy đời là trống rỗng, là ghê tởm, lại muốn chết.” [30, 26]

Trong bày viết này ta thấy Nguyễn Hiến Lê rất nhiều lần đề cập đến Lep Tônxtôi trong mối quan hệ với tư tưởng bất bạo động của ông Chẳng hạn ông miêu tả suy nghĩ và phản ứng của Lep

Tônxtôi khi đến Paris: “Nhưng chẳng bao lâu ông thất vọng và mất lòng tin ở tiến hoá Nhìn vẻ mặt và

dáng điệu của hạng người đầu cơ ở Thị trường hối đoái, ông muốn khạc, nhổ; đi coi Điện Phế Binh, nơi chôn di hài Nã-Phá-Luân, ông ghê tởm cho một dân tộc đã thần thánh hoá một kẻ bạo tàn Xúc động nhất là lần ông nhìn đầu một kẻ bị tử hình rớt từ máy chém vào trong một cái giỏ và ông tự hỏi không hiểu làm sao loài người lại có thể biện hộ cho một hành vi như vậy được” [30, 24] Ở một góc

độ khác, Nguyễn Hiến Lê dường như muốn lưu ý người đọc về những tình tiết nhỏ nhặt của nhà văn

nhưng thể hiện được tư tưởng bất bạo động của ông: “Rồi một buổi sáng mùa xuân, thơ thẩn trong

rừng một mình, đột nhiên ông tìm lại được lòng tin ở Chúa Về nhà ông đọc lại Phúc Âm và kiếm được trong bài Thuyết giáo trên núi của Chúa bốn quy tắc cho đời sống hàng ngày:

Yêu Chúa và người khác như yêu mình

Không giận dữ

Không gian dâm

Không lấy ác chống với ác.” [30, 26]

Có thể nói, qua bài viết này của Nguyễn Hiến Lê, chúng ta thấy ông tiếp nhận Lep Tônxtôi cũng theo hướng: đề cao nhân cách của Lep Tônxtôi - một nhân cách luôn đấu tranh và tự dằn vặt một cách thành thực để trở thành người tốt- và đề cao thuyết tương thân tương ái, chủ trương bất bạo động mà Gandhi đã tiếp thu và thực hành Cách tiếp nhận này hoàn toàn khác với cách tiếp nhận của Lênin và các nhà nghiên cứu văn học Nga đương thời ở miền Bắc khi cho rằng tác phẩm của Lep chính là “tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”

Ngày đăng: 18/01/2020, 15:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ văn hoá thông tin và thể thao - Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Bộ văn hoá thông tin và thể thao - Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
2. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dostoievski, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dostoievski
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
3. I. Bochenski, (1969) Triết học Tây phương hiện đại, Ca dao xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Tây phương hiện đại
4. Dorothy Brewster, John Angus Burrell (2003), Tiểu thuyết hiện đại, Dương Thanh Bình dịch, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dorothy Brewster, John Angus Burrell
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
5. Thu Oanh Nguyễn Duy Cần (1971), Văn hoá giáo dục miền Nam Việt Nam đi về đâu?, NXB Nam Hà, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá giáo dục miền Nam Việt Nam đi về đâu
Tác giả: Thu Oanh Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: NXB Nam Hà
Năm: 1971
6. Đỗ Hồng Chung và những người khác (1997), Lịch sử văn học Nga, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Nga
Tác giả: Đỗ Hồng Chung, những người khác
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
7. Phạm Vĩnh Cư (1982), “Lời giới thiệu”, Tội ác và hình phạt, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu”, "Tội ác và hình phạt
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1982
8. Trương Đình Cử (1972), “Lời nói đầu”, Tội ác và hình phạt, NXB Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nói đầu”, "Tội ác và hình phạt
Tác giả: Trương Đình Cử
Nhà XB: NXB Khai Trí
Năm: 1972
9. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
10. Nguyễn Văn Dân (1991), Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, Viện thông tin KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Viện thông tin KHXH
Năm: 1991
11. Trần Trọng Đăng Đàn (1991), Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954 – 1975, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954 – 1975
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
12. Trần Độ và các tác giả khác (1979), Văn hoá văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ-Nguỵ, tập 2, NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ-Nguỵ
Tác giả: Trần Độ, các tác giả khác
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1979
13. Trần Phong Giao (1969), Vài cảm nghĩ xuôi dòng, Văn 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài cảm nghĩ xuôi dòng
Tác giả: Trần Phong Giao
Năm: 1969
14. Nguyễn Hải Hà (1992), Thi pháp tiểu thuyết L.Tolstoi, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết L.Tolstoi
Tác giả: Nguyễn Hải Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
15. Nguyễn Văn Hạnh (1971), “Ý kiến của Lê nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống”, Tạp chí Văn học, số 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý kiến của Lê nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1971
16. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Lê Văn Hảo (1969), “Thực trạng KHXH vùng đô thị miền Nam”, Nghiên cứu lịch sử (6), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng KHXH vùng đô thị miền Nam
Tác giả: Lê Văn Hảo
Nhà XB: Nghiên cứu lịch sử
Năm: 1969
18. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 2000
19. Nguyễn Hữu Hiệu (1972), “Dostoievski”, Anh em nhà Karamazov, Nguồn Sáng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dostoievski”, "Anh em nhà Karamazov
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệu
Năm: 1972
20. Lưu Hiệp (1996), “Văn tâm điêu long” – Phan Ngọc dịch và giới thiệu, Văn học nước ngoài (3), Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long” – Phan Ngọc dịch và giới thiệu, "Văn học nước ngoài
Tác giả: Lưu Hiệp
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w