Luận văn nghiên cứu với mục đích: khẳng định tầm quan trọng của hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam và sự cần thiết phải phát triển vững mạnh hệ thống loại trường này, nhằm phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và có kỹ năng nghề theo nhu cầu kinh tế - xã hội của các địa phương; xây dựng một mô hình chung (mô hình tổng quát) và một số mô hình chi tiết cơ bản. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành gởi đến:
• Thầy hướng dẫn khoa học Tiến sĩ Trương Văn Sinh, Giảng viên chính, Học viện Hành chính Quốc gia;
• Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học, Phòng Khoa học Cộng nghệ - Sau Đại học, Khoa Tâm lý - Giáo dục, Quý Giáo sư, Giảng viên, Cán bộ Cộng nhân viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
• Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
• Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp; Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Đồng Tháp;
• Ban Giám hiệu, Cán bộ và Giảng viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp;
• Ban Giám hiệu các Trường Cao đẳng Cộng đồng: Tiền Giang, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Hà Tây, Bà Rịa -Vũng Tàu;
• Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học
• Nhà giáo ưu tú Phạm Chí Năng, Giám đốc sở Giáo dục - Đào tạo Đồng Tháp;
• Các bạn đồng khoa;
Đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và tư vấn, giúp đỡ, góp ý kiến, cung cấp tư liệu và tạo nhiều thuận lợi giúp chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trang 4Chúng tôi không sao tránh khỏi những sơ sót, khiếm khuyết trong việc nghiên cứu và soạn thảo luận văn Kính mong được sự chỉ giáo của Quý vị
Trang 5CHƯƠNG 1: TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ,
1.2.TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ, VI TRÍ CỦA
NÓ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN6T 31
6T
1.2.1.QUAN NIỆM VỀ GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG6T 31
6T
1.2.1.1.'Cộng đồng' là gì?6T 31
Trang 61.2.4.2.Giáo dục cộng đồng ià một hình thức đào tạo, bồi dường nhanh chóng nguồn nhân lực cỏ tay nghề, có trình đỏ phục vụ kịp thời, có hiệu quá nhu cầu của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội:6T 38
Trang 7đại học truyền thống:6T 45
6T
1.3.2.THỜI LƯỢNG, NỘI DUNG ĐÀO TẠO VÀ VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VÀ ĐẠI HỌC CỘNG ĐỒNG6T 46
Trang 12L ỜI MỞ ĐẦU
1 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu tổng quát cho
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nước ta giai đoạn 2001-2010 như sau: "Đưa
đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trỏ thành một nước cộng nghiệp theo hướng hiện đại hóa" Để đạt được
mục tiêu ấy, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mô rộng giao lưu, mau chóng hội nhập quốc tế
Hiện tại, khi đẩy mạnh sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta đang đứng trước những thách thức, khó khăn Tình hình thế giới chuyển biến phức tạp, cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa thấp, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, nghèo nàn, trình độ dân trí, trình độ khoa học Kỳ thuật
va cộng nghệ còn non kém, lạc hậu,
Nhận thức sâu sắc khó khăn, thách thức ấy, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương phát triển nhanh chóng sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học Kỳ thuật và cộng nghệ, phải tạo điều kiện cho giáo dục - đào tạo đi trước một bước Trong khi đó, sau 15 năm đổi mới, bên cạnh một số thành tựu đáng ghi nhận, nền giáo dục - đào tạo còn nhiều khiếm khuyết Một trong những khiếm khuyết, tồn tại nổi rõ: hệ thống giáo dục quốc dân quá xơ cứng, chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực lao động có trình độ khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ, có tay nghề cao của các lĩnh vực kinh tế - xã hội; đội ngũ cộng nhân Kỳ thuật vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về tay nghề Nhu cầu về nhân lực, về khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ của các địa phương ngày càng lớn, nhưng hệ thống đào tạo cộng nhân Kỳ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, đáp ứng chưa được bao nhiêu
Khiếm khuyết, tồn tại có nhiều nguyên nhân Một trong những nguyên nhân cần phải nêu lên đầu tiên là mạng lưới đào tạo cộng nhân Kỳ thuật, THCN, cao đẳng, đại học của chúng ta không hợp lý cả về ngành nghề đào tạo,
Trang 13phương thức đào tạo và địa bàn phân phối, chính sách lương bổng chưa hợp lý, chưa có những loại hình đào tạo mới phù hợp với yêu cầu mới, đặc biệt ỏ giai đoạn hiện nay khi tất cả các địa phương đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Từ thực trạng trên đây, một số vấn đề bức xúc đang đặt ra cho giáo dục - đào tạo là phải đẩy mạnh hơn nữa chủ trương cải cách triệt đê, toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân, phải xây dựng các loại hình đào tạo mới có sứ mệnh đào tạo một đội ngũ lao động mới có trình độ khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ, có tay nghề phục vụ trực tiếp cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của các địa phương nói riêng
2 Lời giải cho vấn đề đặt ra đã có: sự ra đời của một loạt trường cao đẳng cộng đồng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam từ giữa năm 2000 đến nay Sau một thời gian ngắn ra đời và đi vào hoạt động, các trường cao đẳng cộng đồng đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng mừng Tuy nhiên, hoạt động của nhiều trường cao đẳng cộng đồng đã bộc lộ một số hạn chế: mỗi trường tổ chức, hoạt động then cách riêng của mình, chẳng ai giống ai Và hình như chưa có sự định hình một cách đầy đủ của loại hình trường cao đẳng cộng đồng theo đúng nghĩa của nó
Rõ ràng là cần phải xúc tiến việc xây dựng mô hình chung cho các trường cao đẳng cộng đồng Việt Nam để làm cơ sở để các trường cao đẳng cộng đồng
đã và sẽ thành lập nhanh chóng đi vào hoạch định theo đúng quỹ đạo của nó Đấy là lý do để chúng tôi đi đến với đề tài: "Xây dựng mô hình trường Cao đẳng cộng đồng (trên cơ sở thực tiễn Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp)"
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ những vấn đề lý luận chung về trường Cao đẳng cộng đồng, và kinh nghiệm phát triển hệ thống trường đại học và cao đẳng, khi tiến hành đề tài luận văn, chúng tôi hướng vào hai mục đích sau đây:
Một là: Khẳng định tầm quan trọng của hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam và sự cần thiết phải phát triển
Trang 14vững mạnh hệ thống loại trường này, nhằm phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động có trình độ khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ và có Kỳ năng nghề theo nhu cầu kinh tế - xã hội của các địa phương
Hai là: Xây dựng một mô hình chung (mô hình tổng quát) và một số mô hình chi tiết cơ bản, coi đổ như là những cái khung, cái sườn để các trường Cao đẳng cộng đồng vân dụng vào việc xây dựng, tổ chức và hoạch định của đơn vị mình sao cho có hiệu quả hơn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này gồm có:
- Thực tiễn của Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp (từ cách tổ chức
bộ máy nhân sự, tổ chức hệ thống đào tạo, đến việc xây dựng cơ sở vật chất, )
- Thực tiễn của một số trường cao đẳng cộng đồng mà chúng tôi có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu, khảo sát
Như tên gọi của luận văn, đối tượng thứ nhất là chủ yếu Đối tượng thứ hai là thứ yếu, có tính chất bổ sung thêm những dữ liệu giúp cho các kiến giải của chúng tôi có thêm cơ sở vững chắc
1 Mô hình trường cao đẳng cộng đồng, xét về tính chất và cấp độ, cổ nhiều loại:
- Mô hình tống quát (hay còn gọi là mô hình chung) nhằm tạo ra một cái khung, một cái sườn chung vừa để xác định vị trí của loại hình trường cao đẳng cộng đồng trong mối quan hệ với các loại hình trường khác trong hệ thống giáo dục quốc dân vừa chỉ ra những đặc điểm của các loại trường này Đây là cơ sở chủ yếu để khẳng định một trường cao đẳng nào đổ có phải là trường Cao đẳng cộng đồng hay không
- Mô hình chi tiết (hay còn gọi là mô hình cụ thể, mổ hình riêng) nhằm tạo ra một cái khung, một cái sườn chung về một mặt nào đó của trường Cao
Trang 15đẳng cộng đồng chẳng hạn như mô hình về tổ chức nhân sự,
Mô hình chi tiết có nhiều loại khác nhau:
+ Mô hình về tổ chức nhân sự
+ Mô hình về ngành nghề đào tạo
+ Mô hình về chương trình đào tạo + Mô hình về tổ chức dạy và học +
2 Ở luận văn, do giới hạn của luận văn và thời gian, chúng tôi chỉ đề cập đến:
Một là: Mô hình tổng quát về trường Cao đẳng cộng đồng
Hai là: Mô hình về tổ chức nhân sự và về ngành nghề đào tạo
Về mô hình tổng quát, do tầm quan trọng như đã nêu ở trên, nên việc trình bày mô hình này vừa là đương nhiên, vừa là bắt buộc
Về hai mô hình chi tiết (mô hình về tổ chức nhân sự và về ngành nghề đào tạo), được chúng tôi trình bày bởi mấy lý do sau:
- Trong số các mô hình chi tiết, đây là hai mô hình quan trọng nhất để trường Cao đẳng cộng đồng tổ chức đào tạo, đồng thời góp phần làm rõ hơn những đặc điểm của trường Cao đẳng cộng đồng được nêu trong mô hình tổng quát
- Việc tổ chức bộ máy nhân sự và tổ chức ngành nghễ đào tạo cua một số trường Cao đẳng cộng đồng đang có tình trạng:
- Về tổ chức bộ máy nhân sự không khác gì một trường cao đang, đại học truyền thông, hoặc một trường cao đẳng và đại học dân lập
❖ về tổ chức ngành nghề đào tạo của các trường Cao đẳng cộng đồng quá giống nhau
Tình trạng này đưa đến: hoặc làm cho đặc điểm của một trường Cao đẳng cộng đồng bị mờ đi, dễ lẫn lộn với các trường cao đẳng, đại học khác, hoặc làm cho hoạt động đào tạo của các trường cao đẳng cộng đồng kém hiệu quả
Trang 165.CÁI M ỚI CỦA LUẬN VĂN
1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ
1.1.Một trong những xu thế phát triển của giáo dục hiện đại là xây dựng
và phát triển các loại trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng Một
số nước phát triển như Mỹ, Pháp Nhật, Canada, Hà Lan, Hàn Quốc, đã phát triển khá mạnh loại trường này Các nhà Giáo dục học ở các nước này đã đúc kết kinh nghiệm và rút ra được một số kết luận quý giá:
- Sự ra đời của các trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng xuất phát từ nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và phái triển cộng đồng
- Trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng phát triển do có nhiều ưu thế mà các trường Cao đẳng và Đại học truyền thống không có: Thu hút được nhiều người học vì đỡ tốn kém cả về tiền của, sức lực, thời gian; đáp ứng nhanh chóng nhu cầu về nhân lực lao động có trình độ khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ và tay nghề cao cho cộng đồng (địa phương) và mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Các nước đang trôn con đường phát triển cần nhanh chống phát triển các trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mình
1.2.Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã có hai viện đại học cộng đồng ở Tiền Giang và Khánh Hòa nhằm đào tạo giáo viên trung học cơ sở, Kỳ thuật viên về chế biến hoa quả, hải thủy sản, cho các tỉnh miền Duyên hải và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhưng sau 1975, do nhiều nguyên nhân, hai viện này không còn tồn tại (chúng tôi sẽ trình bày rõ điều này ở Chương 1)
1.3 Từ những năm đầu tiên của thập niên 90 thế kỷ XX.Ttrước xu thế giao lưu hợp tác quốc tế trên nhiều tỉnh vực, trong đó có giáo dục - đào tạo, nhiều trường đại học cộng đồng nước ngoài (Canada, Hà Lan, Úc, Mỹ, Pháp .) đã soạn thảo dự án thành lập đại học cộng đồng ở Việt Nam Về phía Việt Nam Bộ Giáo dục & Đào tạo đồng thuận với những dự án này Một số nhà
Trang 17nghiên cứu và quản lý giáo dục nhưPGS TS Lê Viết Khuyến , PGS TS Đào Trọng Hùng, PGS TS Đặng Bá Lãm , PGS TS Lê Quang Minh, GS TS Võ Tòng Xuân, GS TS Nguyễn Văn Thúy đã có nhiều ý kiến bàn thảo xung quanh vấn đề xây dựng các trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng ở Việt Nam
Một số tác giả như PGS TS Lê Viết Khuyến, PGS TS Đào Trọng Hùng, PGS TS Đặng Bá Lãm, TS Trần Khánh Đức, PGS TS Lê Quang Minh, đề cập đến một số vấn đề mang tính chất đặt nền móng, tạo cơ sở cho sự ra đời của trường cao đẳng cộng đồng:
- Sự cần thiết của việc xâv dựng và phát triển trường Cao đẳng cộng đồng
ở Việt Nam
- Những cơ sở của sự ra đời các trường Cao đẳng cộng đồng
- Khả năng và điều kiện thực hiện trường cao đẳng cộng đồng như thế nào?
Dù tiếp cận, phạm vi vấn đề được quan tâm rộng hẹp khác nhau, nhưng nhìn chung các tác giả thống nhất cho rằng: Việc thành lập và phát triển hệ thống trường Cao đẳng cộng đồng là vô cùng cần thiết bởi đây là loại hình trường đáp ứng nhanh, kịp thời nhu cầu nhân lực, khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; và chính nhu cầu này trở thành một trong những cơ sở cho sự ra đời các trường Cao đẳng cộng đồng
Vấn đề mà một số nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục băn khoăn là tính khả thi của loại trường cao đẳng cộng đồng Theo PGS TS Đặng Bá Lãm và
TS Trần Khánh Đức, tính khả thi của loại hình trường này tùy thuộc vào từng địa phương giải quyết những vấn đề sau đây như thế nào:
❖Mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển các chuyên ngành hẹp (sư phạm, y
tế, kinh tế) với nhu cầu đa ngành, đa lĩnh vực của các cơ sở đào tạo hiện có ở địa phương
❖Vấn đề xây dựng bộ máy nhân sự, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý
Trang 18đối với loại trường đa cấp, đa hệ, đa lĩnh vực,
❖Về vấn đề xây dựng đội ngữ cán bộ giảng dạy bảo đảm số lượng, chất lượng, trình độ chuyên môn
❖Vấn đề chú ý quan tâm: cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học ở một loại trường đào tạo thiên về dạy nghề, Kỳ thuật
Trước dư luận "Trường Cao đang cộng đồng và Đại học cộng đồng là trường đại học và cao đẳng có chất lượng thấp", PGS TS Lê Quang Minh đã
cảnh báo với các địa phương "Việc thành lập các trường Cao đẳng cộng đồng
sẽ cần các trang thiết bị rất đắt tiền và sẽ phải thường xuyên thay thế để tránh lạc hậu Đội ngũ cán bộ giảng dạy phải có trình độ và tay nghề cao" và "Mỗi trường cao đẳng cộng đồng cần xác định thế mạnh và tập trung đầu tư cho chuyên ngành đó" [TLđd, tr- 15]
GS Nguyễn Văn Thúy, người đã có nhiều năm tham gia giảng dạy ở trường Đại học cộng đồng Lansing - Michigan, Hoa Kỳ, đã tập trung trình bày mội số vấn đề chung của trường đại học cộng đồng (xuất phát từ thực tế của các trường đại học cộng đồng Mỹ, Canada, Hàn Quốc, ) nhưng kết qủa hoạt động đào tạo của các trường đại học cộng đồng ở nước ngoài, đồng thời cũng đưa ra những mô hình khi xây dựng trường đại học cộng đồng
Riêng về việc xây dựng mô hình trường Cao đẳng cộng đồng, PGS TS
Lê Quang Minh, GS Nguyễn Văn Thúy và PGS TS Đặng Bá Lãm, TS Trần Khánh Đức đã có đề cập ít nhiều Nếu như ý kiến của PGS TS Lê Quang Minh PGS TS Đặng Bá Lãm, TS Trần Khánh Đức chỉ là những gợi ý ban đầu nhằm hướng đến một mô hình trường cao đẳng cộng đồng, thì Ý kiến của GS Nguyễn Văn Thúy là những phác thảo mang tính định hướng về các loại mô hình khi xây dựng trường cao đẳng cộng đồng Ngay mô hình trường cao đẳng, đại học cộng đồng của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra (được trình bày tại Hội nghị toàn quốc cấp Phó Chủ tịch Tỉnh về Giáo dục ở Hà Nội, tháng 3/1997) theo chúng tôi cũng chỉ là những định hướng, chứ chưa hẳn là mô hình hoàn chỉnh Dù sao đối với chúng tôi, những ý kiến của các nhà nghiên cứu và quản
Trang 19lý giáo dục nêu trên thật đáng quý và cần phải trân trọng
1.4 Đối với một số nước trên thế giới, Cao đẳng cộng đồng là một mô hình đào tạo khá phổ biến, nhưng ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, do đó chưa hẳn đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người và ý kiến còn khác nhau
Về hình thức, nội dung đào tạo, về đặc điểm của loại trường này, là điều dễ hiểu
Về phương diện nào đó, những nội dung do đề tài đặt ra suy cho cùng chỉ
là một vùng đất mới có vài người cày xới Đây chính vừa là thuận lợi, vừa là khố khăn của chúng tôi khi đi vào 'cày xới' vùng đất này
2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Theo thiển ý của chúng tôi, luận văn này có một số đóng góp cả về lý luận lẫn thực tiễn:
2.1 Về mặt lý luận:
Khẳng định sự cần thiết phải xây dựng và phát triển hệ thông trường Cao đẳng cộng đồng và Đại học cộng đồng, đồng thời chỉ rõ những tiền đề cho sự ra đời của loại hình trường này, về một khía cạnh nào đó đã góp phần làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế - xã hội với giáo dục - đào tạo và các quan điểm chủ trương của Đảng ta với việc phát triển giáo dục:
a) "Giáo dục đào tạo phải gắn chặt với kinh tế - xã hội, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương" [ Nghị quyết 4 Ban Chấp hành Trung ương, Khoa VIII]
b) Chủ trương đa dạng hóa và xã hội hóa giáo dục
Trang 20động theo đúng quỹ đạo của nó, làm cho các trường Cao đẳng cộng đồng phát huy được vai trò tác dụng trong việc đào tạo nhân lực lao động có trình độ và tay nghề phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội của địa phương
Hai là: Góp phần củng cố và phát triển các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đâu phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao mặt bằng dân trí cho người dân ở địa phương
Ba là: Góp phần tháo gỡ một số khó khăn, hạn chế của hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, chẳng hạn vấn đề liên kết, liên thông trong đào tạo
1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ở luận văn này, chúng tôi tập trung vào ba nội dung cơ bản, mỗi nội dung làm thành một chương:
- Xây dựng một cách nhìn đúng đắn về Giáo dục cộng đồng và trường Cao đẳng cộng đồng: chỉ rõ những tiền đề cho sự ra đời của trường Cao đẳng cộng đồng, những ưu việt của loại trường này, các yếu tố cấu thành và các nhân
tỏ tác động đến việc ra đời của trường Cao đẳng cộng đồng; các quan điểm của Đáng ta về giáo dục nói chung và về Giáo dục cộng đồng nói riêng,
- Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên và xã hội của Đồng Tháp, quá trình ra đời của Trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp
- Đề xuất ba mô hình về trường cao đẳng cộng đồng (mô hình tổng quát,
mô hình cơ cấu nhân sự, mô hình về ngành nghề đào tạo) và một số vấn đề liên quan đến trường Cao đẳng cộng đồng (vấn đề đầu vào, đầu ra trong đào tạo, )
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Phương pháp luận nghiên cứu:
Xuất phát từ mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo với kinh tế - xã hội, giữa cái riêng (Trường Cao đẳng cộng đồng) với cái chung (hệ thống Giáo dục quốc dân), chúng tôi xem xét, nghiên cứu những nội dung do đề tài đặt ra từ:
Trang 21- Quan điểm hệ thống cấu trúc Quan điểm này trong trường hợp của luận văn được hiểu theo hai khía cạnh:
❖Trường cao đẳng cộng đồng là một yếu tố tổ chức nên hệ thống Giáo
dục quốc dân
❖Trường Cao đẳng cộng đồng là một hệ thống chặt chẽ với nhiều hệ thống con: mô hình tổng quát là một hệ thống lớn với nhiều hệ thống con là các
mô hình chi tiết
- Quan điểm thực tiễn: Mô hình trường Cao đẳng cộng đồng phải hướng đến phục vụ cộng đồng, do cộng đồng, vì cộng đồng và của cộng đồng
2.2.Các phương pháp nghiên cứu:
Ở luận văn này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây: 2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp:
Đây là phương pháp đi từ “mổ xẻ”, đánh giá phân tích từng dữ liệu, sự kiện, cụ thể đến việc khái quát hóa thành các mô hình chung
2.2.2.Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp nhằm tìm kiếm những thông tin, những dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc khái quát hóa trên cơ sở những số liệu
2.2.3.Phương pháp đối chiếu - so sánh: Phương pháp này nhằm chỉ rõ sự giống nhau và khác nhau của các dữ liệu, sự kiện, hiện tượng, có liên qua đến trường Cao đẳng cộng đồng
2.2.4.Phương pháp mô hình hóa: Với tên gọi của đề tài, chúng tôi phải dùng phương pháp này để vừa khái quát hóa, vừa thị giác hóa một hiện tượng phức tạp, trừu tượng: trường Cao đẳng cộng đồng
Ngoài một số phương pháp đã nêu, chúng tôi còn dùng một số phương pháp khác
Mỗi phương pháp trên đây có những tác dụng khác nhau Tùy từng chương, từng phần, từng mục, chúng tôi sử dụng một hay vài phương pháp hoặc sứ dụng tổng hợp các phương pháp kể trên
Trang 227.K ẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương sau đây :
Chương 1: TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG CỘNG ĐỒNG VÀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THONG GIÁO DỤC QUỐC DÂN Chương 2: ĐỒNG THÁP VÀ TRƯỜNG CAO ĐANG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
Chương 3: XÂY DƯNG MÔ HÌNH TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
Tuy nhiên, do trình độ có hạn và thời gian hạn chế, nên Luận văn khó nghiên cứu và trình bày đầy đủ nội dung như mong muôn, nhất là không sao tránh khỏi nhưng sơ sót, khiếm khuyến Kính mong quý Hội đồng, Thầy Cô và quý độc giả vui lòng chỉ giáo để Luận văn được hoàn chỉnh tốt hơn Xin biết
ơn
Trang 23CHƯƠNG 1: TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG VÀ
DỤC QUỐC DÂN
Xung quanh vấn đề giáo dục - đào tạo nói chung, giáo dục cộng đồng nói riêng có một loạt khái niệm có liên quan Ớ đây, chúng tôi đề cập đến một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Giáo d ục
Một điều kiện để xã hội tồn tại và phát triển là thế hệ trước phải truyền lại cho thế hệ sau những hiểu biết, những năng lực và phẩm chất cần thiết cho cuộc sống của từng thành viên cũng như của cả cộng đồng những thành viên
đó Việc truyền lại này được thực hiện bằng một loại hoạt động mà người ta gọi
là giáo dục, có người đã coi giáo dục như một kiểu di truyền xã hội Giáo dục không những truyền từ thế hệ trước đến thế hệ sau mà còn được truyền ngay giữa những nhóm người khác nhau trong cùng một thế hệ Từ đó, mỗi thời đại,
mỗi chế độ xã hội lại cụ thể hóa nó thành ra những nhiệm vụ thích hợp với thời đại, với chế độ đó Giáo dục ở thời cổ đại và thời phong kiến là để tạo tầng lớp cai trị xã hội Ở thế kỷ XX, đối với tất cả các nước dù thuộc chế độ nào, đều giao cho giáo dục trọng trách "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho xã hội
Theo cách hiểu thông thường, "giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho kíp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, để họ
có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội" Từ hướng Khoa học giáo dục (Giáo dục học), UGiáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về thế giới quan, khoa học Kỳ thuật, Kỳ năng trong hoai đông nghề nghiệp, là môi trong những yếu tố góp phần hình thành nhân cách con người
Trang 241.1.1.Giáo dục: Là hoạt động diễn ra liên tục trong mọi môi trường hoạt động, sinh sống của con người như gia đình, nhà trường và xã hội
Từ đây có giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Các loại giáo dục này gắn bó với nhau và gắn bó với một phần trong cuộc đời của mỗi người Giáo dục gia đình chủ yếu gắn với con người trong thời Kỳ đầu, khi con người chưa trưởng thành Giáo dục nhà trường gắn với con người trong thời gian dài, từ tuổi học đường đến khi trưởng thành Giáo dục xã hội chủ yếu gắn với giai đoạn con người bước vào giai đoạn trưởng thành Trong ba loại giáo dục này, giáo dục nhà trường đóng vai trò quyết định
1.1.2.Hiện nay, ở nước ta, giáo dục được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, giáo dục được tiến hành qua ba phương thức: (1) Phương thức kèm cặp, tức là tập luyện ngay trong cuộc sống Đó là phương thức giáo dục chủ yếu trong các xã hội nguyên thủy Trong xã hội hiện đại, phương thức kèm cặp này vẫn được sử dụng để giáo dục nhưng hiếu biết năng lực và phẩm chất thông thường, sơ đẳng trong gia đình, trong xã hội (như tập cho trẻ xúc cơm, chào hỏi; thiếu niên học cộng việc phục vụ trong nhà, v.v )
(2) Phương thức giáo dục bằng dư luận, bằng các hình thức văn học nghệ thuật (như tiểu thuyết, sân khấu ), bằng phong tục, tôn giáo, pháp luật, thông tin tuyên truyền, tạm quy ước gọi tắt là giáo dục bằng tuyên truyền
(3) Phương thức giáo dục có trường lớp, có chương trình, có người dạy và người học xác định, có han một thời gian nhát định để dạy và học, và hai bên trực tiêp liên hệ với nhau trong việc dạy và học đó, tạm quy ước gọi tắt phương thức giáo dục này là giáo đúc bằng trường lớp
Phương thức thứ ba hiện nay có một biến thể là phương thức giáo dục từ
xa với nội dung, chương trình, có người dạy và người học xác định, nhưng không có (hay gần như không có) trường lớp Hình thức này sẽ phát triển trong tương lai
Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục theo phương thức thứ ba, tức là giáo
Trang 25dục được tiến hành trong các trường, lớp với một chương trình xác định, ở đó
có sự phân chia rõ ràng, tách bạch giữa người truyền thụ tri thức (giáo viên) và người tiếp nhận tri thức được truyền thụ (học sinh) Hai lớp người này liên hệ chặt chẽ với nhau thông qua nhiều yếu tố trước hết là nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học
Trường, lớp, người dạy, người học tùy môi trường cụ thể mà hiện ra với nhiều hình thức rất khác nhau, rất đa dạng và biến đổi linh hoạt Trường, lớp có thể mở trong gia đình, trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn, dưới bổng mát những cây cổ thụ, cũng có thể đặt trong một ngôi chùa, một đền thờ, cũng có thể là một mái nhà dựng tạm, thô sơ, hay xây dựng kiên cố, đồ sộ Trong một lớp học tại gia đình, giáo viên có thể là một người lớn tuổi trong nhà đảm nhiệm, có thể
là một gia su'; học sinh là con em trong nhà và có thế con em của họ hàng, thân thuộc hoặc trong xóm làng Các trường, lớp cũng có thể do một cộng đồng hay
do nhà nước mở ra Với sự phát triển của lịch sử, phương thức giáo dục này càng ngày càng phát triển về số lượng, về hình thức tổ chức, về nội dung dạy
và học, và trở thành bộ phận chủ yếu trong hoạt động giáo dục của xã hội Cũng vì vậy, khi nói đến giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề, đại học, v.v là người ta nói đến giáo dục theo nghĩa hẹp trên đây Cuối thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI, đang manh nha một phương thức giáo dục thứ tư, được gọi là phương thức toàn xã-hội học tập, ai ai cũng học tập thường xuyên và suốt đời, lấy việc tự học là phương pháp học tập cơ bản của mọi người Đây sẽ là một cuộc cách mạng giáo dục trong lịch sử nhân loại Những phương thức giáo đúc bằng trường, lớp vẫn sẽ đóng vai trò nòng cốt trong toàn bô hoạt đông giáo đúc của xã hội
1.1 1.2 Đào tạo:
1.2.1Thông thường, ‘đào tạo’ được hiểu là 'gây dựng, bồi dưỡng cho thành' (Văn Tân, TLđd, tr 342], "là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định"
Theo giáo dục học, 'đào tạo' là lĩnh vực trang bị kiến thức, Kỳ năng, kỷ xảo để hình thành chuyên môn cho người lao đong Theo cách hiểu này, 'đào
Trang 26tạo' cơ bản đồng nghĩa 'giáo dục' hiểu theo nghĩa hẹp, với chút sắc thái khác nhau: 'đào tạo' có mục tiêu tương đối cụ thể và hẹp, 'giáo dục' có mục tiêu tương đối rộng và khái quát Như vậy, 'giáo dục' và 'đào tạo' có mối liên hệ mật thiết với nhau, là hai phân đoạn nối tiếp của một chu trình hoạt động giáo dục
có cùng mục đích là trang bị kiến thức văn hóa, khoa học Kỳ thuật, Kỳ năng,
Kỳ xảo, chuyên môn, từ thấp lên cao cho người học
1.2.2 Đào tạo có nhiều bậc, nhiều cấp khác nhau: đào tạo chuyên nghiệp (cộng nhân Kỳ thuật, trung học chuyên nghiệp, ), đào tạo cao đẳng và đại học, đào tạo sau và trên đại học (đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, )
1.1.1.3 B ồi dưỡng:
1.3.1 Theo cách hiểu thông thường, "Bồi dưỡng là gìn giữ và tăng thêm sức khoẻ, khả năng, đạo đức" [Văn Tân, TLđd, tr 107], hoặc "bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất" [Hoàng Phê TLđd] Theo giáo dục học, 'Bồi dưỡng' là quá trình cung cấp thêm, bổ sung thêm kiến thức trên cơ sở kiến thức đà có 'Bồi dường' lả hình thức đào tạo khônỵ nhằm nâng cao bác học
mà chí nhằm bố sung cáp nhát hóa những kiến thức trong phạm vi của bác học 1.3.2'Bồi dưỡng', 'giáo dục' và 'đào tạo' có mối liên hệ gắn bó với nhau, song phân biệt nhau
Thứ nhất, 'giáo dục' và 'đào tạo' là hai quá trình cung cấp mới, trang bị mới kiến thức một cách có hệ thống cho người học, còn 'bồi dưỡng' chỉ là quá trình cung cấp thêm, trang bị thêm về một mảng, một phần kiến thức mà người học cần Do đó, 'đầu vào' (tuyển sinh) và 'đầu ra' (tốt nghiệp) của quá trình 'giáo dục' và 'đào tạo’ thường chặt chẽ hơn so với quá trình 'bồi dưỡng'
Thứ hai, khối lượng kiến thức được trang bị, cung cấp qua 'giáo dục' và 'đào tạo' thường rất lớn và đòi hỏi được tổ chức chặt chẽ theo một hệ thống Đôi với quá trình 'bồi dưỡng' không bắt buộc phải có những đòi hỏi như vậy Sau mội quá trình 'giáo dục' và 'đào tạo', người học được cấp bằng tốt nghiệp nếu đạt được những quy định Ngược lại, sau quá trình 'bồi dường', người học chỉ được cấp hoặc không cấp giấy chứng nhận (chứng chỉ)
Trang 271.1.2 H Ệ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.1.2.1 Từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ li, tình hình giáo dục ở các nước phát triển và đang phát triển cổ sự biến đổi sâu sắc, thể hiện qua các cuộc cải cách giáo dục Do đó việc nhận thức cơ cấu hệ thống giáo dục là nhiệm vụ
cơ bản đối với người nghiên cứu Khoa học giáo dục
Chúng ta đều biết, mục tiêu giáo dục - một thành tố trong sáu yếu tô cơ bản đầu tiên, nổ quyết định tất cả các vân đề khác của cộng tác giáo dục Một nền giáo dục tương đối phát triển, muốn đáp ứng được những yêu cầu nhiều mặt của xã hội, không thế chỉ có một hay một vài mục tiêu đào tạo, mà phái phân ra nhiều mục tiêu khác nhau, phân chia theo chiều sâu (kênh dọc), tức là theo trình độ cao tháp và theo chiều ngang (kênh ngang), tức là theo các hướng chuyên môn khác nhau cùng một bậc, một cấp "Táp hợp tất cả cức múc tiêu đó với những mối quan hê giữa chúng với nhau tạo thành hê thống cơ cấu các múc tiêu giáo dục hay gói tắt là hê thông giáo đúc (theo nghĩa hẹp)"
Chúng tôi hiểu: Hệ thống Giáo dục Quốc dân là hệ thống tổ chức giáo dục quốc gia, được tổ chức một cách chặt chẽ từ thấp lên cao Tùy từng quốc gia,
hệ thống giáo dục quốc dân có thể được tổ chức khác nhau về bậc học, cấp học,
số năm học, các loại hình đào tạo: ngắn hạn, dài hạn chính quy, không chính quy, tập trung, tại chức, bồi dưỡng, bổ túc, chuyên tu, v.v Với nội dung như vậy, hệ thống giáo dục quốc dân quyết định bộ mặt cơ bản của nền giáo dục của mỗi quốc gia
1.1.2.2 H ệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam
1.1.2.2.1 Nguyên tắc tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân:
(a) Thể hiện đầy đủ, rõ ràng quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với giáo dục - đào tạo;
(b) Tính hệ thống chặt chẽ : có nhiều cấp, bậc, trình độ đi từ thấp lên cao;
có nhiều hình thức, nhiều loại hình; các cấp, bậc, trình độ, hình thức, loại hình được xác lập theo quan hệ hai chiều : chiều thời gian, theo thứ tự cao thấp (kênh dọc) và chiều không gian, theo quan hệ liên đới (kênh ngang);
Trang 28(c) Phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội của Việt Nam Có thê thấy rõ những nguyên tắc này qua Luật giáo dục Điều 6 của Luật Giáo dục ghi rõ "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
1.Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
2.Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học; bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông; 3.Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề;
4.Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiên sĩ."
1.1.2.2.2 Trong hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiều loại hình, nhiều hệ, nhiều phương thức giáo dục - đào tạo khác nhau tuy thuộc chủ thể quản lý, cách thức tổ chức, Chẳng hạn, căn cứ vào chủ thể quản lý có:
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm có:
> Bằng tốt nghiệp Tiểu học
> Bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở
Trang 29> Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông
> Bằng tốt nghiệp Trung học chuyên nghiệp (tú tài)
> Bằng tốt nghiệp đào tạo nghề
Trang 301.1.2.3 Dưới góc độ lý luận giáo dục, thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, chúng ta có thể thấy được mức độ phát triển nền giáo dục - đào tạo nói riêng, mối tương quan của giáo dục - đào tạo với điều kiện lịch sử, chính trị,
Trang 31kinh tế cũng như văn hóa, khoa học, Kỳ thuật của xã hội nói chung của một quốc gia và quan điểm của giới cầm quyền ở quốc gia ấy đối với giáo dục 1.1.2.4 Trái qua quá trình tiếp xúc, giao lưu, trao đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nền giáo dục của các nước có ảnh hưởng, tác động lẫn nhau Không ai trong chúng ta phủ nhận sự ảnh hưởng tích cực nền giáo dục của một
sổ nước phát triển trên thế giới: Mỹ, Anh, Pt)áp, Đức và Liên Xô (nước Nga ngày nay), Nhật,Ý, đối với các nước khác
Một trong những xu thế phát triển của giáo dục hiện đại là phát triển mạnh loại hình giáo dục nghề nghiệp, với những đặc trừng riêng về tổ chức, nội dung, chương trình, phương pháp Từ đổ hình thành nên một loại hình trường thuộc bậc giáo dục cao đẳng và đại học của hệ thống Giáo dục Quốc dân, được gọi bằng những tên khác nhau Ở Hoa Kỳ: Community College; Pháp: [ÚT (Institút Ưniversitaire de Technologie; Canada: Community College hay City college; Nhật Bản : Koritsu (Tanki) Daigaku (= Đại học Đoản Kỳ); Hàn Quốc : Chonmun Taehak (= Đại học ngắn hạn )
Ở nước ta, loại hình trường Cao đẳng (Đại học) cộng đông đà bái đâu thu hút sự quan tâm của nhiều địa phương, nhiều nhà nghiên cứu
1.2.1.1.'C ộng đồng' là gì?
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nghe nói đen 'cộng đồng dân cư', ‘cộng đồng sở hữu’, ‘cộng đồng trách nhiệm’…Vậy 'cộng đồng' là gì? Lịch sử phát triển loài người chỉ rằng, không một ai có thể sống riêng rẽ được mà phải sinh hoạt và nương tựa nhau trong tập thể lớn hay nhỏ hay nói chung hơn : nương tựa vào cộng đồng Ý nghĩa thuật ngữ 'cộng đồng' đã tồn tại
từ thời tiền sử, và tiếp tục phát triển Sau Thế chiến lần thứ II, thuật ngữ 'cộng đồng' càng được phổ biến và đi vào cuộc sống các quốc gia phát triển và lan dần đến các nước đang phát triển với những cụm từ 'cộng đồng sắc tộc', 'cộng
Trang 32đồng tôn giáo', 'cộng đồng chính trị', 'cộng đồng kinh tế', 'cộng đồng văn hóa', 'cộng đồng xã hội', Dưới góc độ ngôn ngữ học, trong tiếng Pháp các từ như commun, communauté rồi communisme trong tiếng Anh có từ common, commune, community rồi cuối cùng communism tương đương trong tiếng Việt là 'cộng đồng1 và người Việt Nam thường hiểu "cộng đồng là cùng chung với nhau" Hai từ communitv và comuneté, theo Giáo sư Nguyễn Văn Thúy
"Cộng đồng là tổ hợp người một mục đích, sinh hoạt kinh tế - văn hóa và quyền lợi, sống trong một vị trí rõ rệt, như ranh giới, núi, sông, kinh, rạch, đường sá, v.v "
1.2.1.2 Giáo d ục cộng đồng:
1.2.1.2.1.Có thể hiểu: giáo dục cộng đồng là một loại hình giáo dục thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân do các cộng đồng dân cư (địa phương) thành lập nhằm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu phát triển và nâng cao trình độ học vấn, khoa học Kỳ thuật cho các thành viên của cộng đồng và cho toàn cộng đồng, cho nhu cầu phái triển về nguồn nhân lực, về kinh tế - xã hỏi của cộng đồng 1.2.1.2.2.Tính cộng đồng của loại hình giáo dục này được thể hiện chủ yếu qua những mặt sau đây:
- Cộng đồng về mục đích: Khác với các loại hình trường giáo dục - đào tạo khác, loại hình trường cộng đồng phục vụ trực tiếp cho sự phát triển về văn hóa, giáo dục, đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người dân trong cộng đồng và của loàn cộng dồng, từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hỏi của cộng đồng
- Cộng đồng về trách nhiệm: Để đạt được mục đích chung là vì sự phát triển của cộng đồng, giáo dục cộng đồng phải do cộng đồng xây dựng, duy trì
và phát triển Nghĩa là, cộng đồng cùng chung trách nhiệm xây dựng và phát triển để phục vụ cho chính cộng đồng
- Cộng đồng về nội dung, chương trình, đào tạo: Mọi nội dung, chương trình đào tạo của loại hình trường này đều xuất phát từ nhu cầu thực tế, về kinh
tế - xã hội của cộng đồng, của địa phương Những vấn đề kinh tế- xã hội nảy
Trang 33sinh từ trong đời sống xã hội của cộng đồng, của địa phương đòi hỏi loại hình giáo dục cộng đồng giải quyết
Nói tóm lại, chung hơn, Giáo dục cộng đồng là loai hình giáo dục do cộng đồng, của cộng đồng và vì cộng đồng
1.2.1.2.3 Các loai hình thức giáo dục cộng đồng:
Xuất phát từ ba mặt đã nêu ở 1.2.1.2.2, Giáo dục cộng đồng có thể tiến hành ở các cấp, các bậc đào tạo và với nhiều loại hình khác nhau Có thể có hai loại hình thức chủ yếu:
- Các trung tâm giáo dục cộng đồng cơ sở (ở làng, xã, )
- Các trường cao đẳng và đại học cộng đồng
Loại hình thức thứ nhất gắn liền với cộng đồng hẹp, trực tiếp với làng xã Chức năng chủ yếu của nó là chống mù chữ, phổ cập tiểu học, trung học cơ sơ 'và trang bị, bồi dưỡng, giải quyết những vấn đề về khoa học Kỳ thuật, kinh tế,
xã hội nảy sinh từ thực tiễn của làng xã
Theo PGS.TS Trịnh Minh Tứ, loại hình thức giáo dục này từ những năm 1997-1998, khi Viện Khoa học giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) hỗ trợ về Kỳ thuật, tài chính và năm 1998 đã thử nghiệm 4 Trung tâm học tập cộng đồng cấp làng xã tại các xã Cao Sơn (Hòa Bình), Pú Nhung (Lai Châu),Việt Thuận (Thái Bình), An Lập (Bắc Giang) Đây là mô hình được phỏng theo mô hình Trung tâm học tập Terakoya của Nhật Bản
Trung tâm học tập cộng đồng là một tổ chức học tập do cộng đồng và vì cộng đồng,có chức năng: (1) Giáo dục, huấn luyện; (2) Thông tin, tư vấn; (3) Phát triển cộng đồng; (4) Liên kết, phối hợp các tổ chức chính trị, xã hội để tổ chức học tập cho cộng đồng Mục đích chính của Trung tâm học tập cộng đồng
lù góp phẩn phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt cho khu vực nông thôn, bằng cách cung cấp cơ hội học tập cho tất cả các đối tượng, đáp ứng tất cả các nhu cầu của cá nhân ở mọi lứa tuổi và trình độ, hình thức và nội dung phù hợp với phiùmg châm "Ai cần gì học nấy", "học đề biết, để làm, để
Trang 34cùng chung sống, để cùng tồn tại và phát triển" Mục đích cuối cùng cửa Trung tâm học tập cộng đồng là giúp địa phương phát triển Giáo dục thường xuyên mội cách chủ động góp phần xây dựng một xã hội học tập
Tuy mới hình thành ở Việt Nam, bước đầu Trung tâm học tập cộng đồng
đã hoạt động có hiệu quả, tính đến tháng 3 năm 2002 cả nước đã có 200 Trung tâm học tập cộng đồng được thành lập và đi vào hoạt động, trong đó gần 50 trung tâm được xây dựng bằng nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và
155 trung tâm được xây dựng bằng vốn cộng đồng Với sự xuất hiện hàng loạt các trung tâm này, cho phép khẳng định sự cần thiết của Trung tâm học tập cộng đồng:
> Góp phần nâng cao dân trí, bổi dưỡng nguồn nhân lực cho địa phương
> Tạo điều kiện thuận cho người dân được học tập và tham gia các hoạt động chung của cộng đồng
> Góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho dân
Nhiều chuyên gia khuyến cáo rằng: mặc dù việc thành lập Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã là cần thiết, cấp bách và có khá năng thực thi nhằm tạo cơ hội học tập thực sự cho mọi người dân trong cộng đồng, song cũng không nên triển khai một cách máy móc, áp đặt, mà chỉ nên thành lập ở những nơi nào thực sự có nhu cầu và có điều kiện
Loai hình thức thứ hai chỉ có thể do một cộng đồng lớn (thường là tỉnh, liên huyện, ) quyết định nhằm giải quyết những vấn đề chung, lâu dài cho cộng đồng: nâng cao trình độ khoa học Kỳ thuật, chuyên môn, cung cấp nhân lực có trình độ khoa học Kỳ thuật, phục vụ cho nhu cầu của các lĩnh vực kinh
tế - xã hội ở cộng đồng
- những nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada Pháp, Nhật Bản Hàn Quốc, loại hình thức thứ nhất dường như không được đặt ra Các nước này đang phát triển mạnh loại hình thứ hai Chẳng hạn, năm 2000, Hoa Kỳ có tới 1.500 trường đại học cộng đồng Năm 1999 ở Pháp số đại học thuộc các Viện Hàn lâm là 84 trong khi đó khi đó số IUT (Institut Universitaire de Technologie) là
Trang 35100 trường, Nhật Bản năm 1995 có 596 Tanki Daigaku trong tổng số 4.699 đại học, Hàn Quốc năm 1996 có 152 Chomun Teahak
Ở Việt Nam, giáo dục cộng đồng là một vấn đề khá mới mẻ, có thể nói là mới bắt đầu Bộ Giáo dục - Đào tạo đã và đang triển khai thí điểm cả hai loại hình thức giáo dục cộng đồng ở địa phương: Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Tậy, Quảng Ngãi, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, trong đó loại hình thứ hai được chú trọng hơn Nước ta hiện nay đã có 9 trường cao đẳng cộng đồng cỏ hàng loạt vấn đề mà chúng ta phải giải quyết: Vai trò, vị trí, chức năng, mô hình, chương trình, nội dung - đào tạo, của các trường cao đẳng cộng đồng
và đại học cộng đồng
Để xác định vai trò của giáo dục cộng đồng trước hết cần phải làm rõ câu hỏi: Vì sao có giáo dục cộng đồng? Hay nói khác đi, những cơ sở đưa đến sự ra đời của giáo dục cộng đồng là gì?
để lao động, sản xuất có hiệu qủa hơn của người dân ở từng cộng đồng
Thông thường nhu cầu học tập, nâng cao, mở rộng văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học Kỳ thuật, tay nghề để lao động, sản xuất có hiệu quả hơn của người dân trong một quốc gia, một địa phương được thực hiện thông qua hệ thống giáo dục cộng đồng đi từ thấp lên cao, từ giáo dục mầm non (bậc thấp nhất) đến giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học, trên đại học (bậc cao nhất) với nhiều loại hình khác nhau và theo một hệ thống chương trình, nội dung, thời lượng, được quy định chặt chẽ
Trong thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau (thời gian học tập, kinh phí cho học tập, ), không phải ai cũng có thể theo đuổi việc học hành ở các
Trang 36trường mà hệ thống giáo dục cộng đồng đã định Trong khi đó một bộ phận dân
cư trong cộng đồng mong muốn được đào tạo nhanh (thời lượng ngắn) và có tay nghề (thiên về thực hành) để có thể làm việc được ngay
Một số khác có thể đã được đào tạo qua một trường nào đó trong hệ thống giáo dục cộng đồng (với thời lượng 4-5 năm hay dài hơn), nhưng không tìm được việc làm, hoặc việc làm không phù hợp, cũng có nguyện vọng được
mở rộng bổ túc, chuyên môn, được đào tạo ở một loại hình thích hợp (cả
về thời lượng và về kinh phí, .)
Những hình thức đào tạo truyền thống không có khả năng đáp ứng những mong muốn trên đây Người dân đòi hỏi cộng đồng mở ra một hình thức đào tạo mới phù hợp hơn: giáo dục cộng đồng
1.2.2.2 Hai là: Từ nhu cầu phát triển nhanh nguồn nhân lực cỏ trình độ chuyên môn, khoa học Kỳ thuật phục vu kíp thời cho việc phát triển kinh tẽ -
xã hỏi của cộng đồng
Một hệ thống đào tạo cao đẳng và đại học - bậc đào tạo chuyên môn có trình độ cao - dù hoàn hảo đến đâu cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định, ít ra cũng có thể nói đến ba hạn chế chủ yếu:
- Tính cứng nhắc, kém linh hoạt trong đào tạo bởi những quy định chặt chẽ về chương trình, nội dung, thời lượng
- Chi phí đào tạo cao (dù đã được Nhà nước hỗ trợ) so với mức thu nhập bình quân của người dân
- Khó đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu nhân lực có trình độ chuyên môn, khoa học Kỳ thuật cho các cộng đồng (địa phương)
Vì thế để có nguồn nhân lực phục vụ kịp thời trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội ở địa phương, mỗi cộng đồng (địa phương) cần phải có hình thức đào tạo mới, khắc phục những hạn chế trên và phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nhân lực của cộng đồng Hình thức đó chính là giáo dục cộng đồng
Trang 371.2 3 ƯU THẾ CỦA GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
Vì sao giáo dục cộng đồng đang có xu hướng phát triển nhanh và được xã hội quan tâm? Lời đáp khá đơn giản: Giáo dục cộng đồng có những ưu thê mà các hình thức giáo dục khác không có hoặc có nhưng ở mức độ không cao Có thế nói đến một số ưu thế sau:
1.2.3.2.Có tính ti ết kiệm, tính kinh tế cao:
Ưu thế này xuất phát từ chỗ:
- Địa điểm học: gần nơi ở, nơi làm việc, nên chi phí cho đi lại học tập thấp
- Thời lượng học tập ngắn, gọn (theo kiểu đào tạo nhanh, đưa đến tiết kiệm thời gian)
- Học phí đào tạo phù hợp mức thu nhập
1.2.3.3 Có tính linh ho ạt, uyển chuyển, cập nhật về chương trình,
n ội dung, phương pháp
Khác với những hình thức giáo dục khác, nội dung, chương trình, thời lượng, của giáo dục cộng đồng uyển chuyển, linh hoạt theo:
- Nhu cầu của người học
- Những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương đặt ra
- Những biến đổi, phát triển khổng ngừng của khoa học Kỳ thuật, cộng nghệ của các nước trên thế giới
Trang 38Bất Kỳ ai cũng có thể theo học ở các trường cao đẳng cộng đồng hay đại học cộng đồng để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề,.v.v
Đề cập đến những cơ sở cho sự ra đời của giáo dục cộng đồng và những
ưu thế của nó, về một phương diện nào đó đã khẳng định phần nào vai trò của loại hình giáo dục này ơ đây, chúng ta có thể khái quát hóa vai trò của giáo dục cộng đồng thành một số điểm sau:
1.2.4.2.Giáo d ục cộng đồng ià một hình thức đào tạo, bồi dường nhanh chóng ngu ồn nhân lực cỏ tay nghề, có trình đỏ phục vụ kịp
th ời, có hiệu quá nhu cầu của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã
h ội:
Sự ra đời của giáo dục cộng đồng suy cho cùng xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, có trình độ khoa học Kỳ thuật phục vụ cho nhu cầu của các lĩnh vực kinh tế - xã hội từng cộng đồng (địa phương) Đây vừa là chức năng chủ yếu, vừa là vai trò quan trọng của giáo dục cộng đồng
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học Kỳ thuật là một trong những chức năng, nhiệm vụ và là chức năng, nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục chuyên nghiệp, đặc biệt là của giáo dục đại học Song do đặc điểm và vị trí của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân các trường cao đẳng và đại học (dưới đây tạm gọi là trường cao đẳng và đại học
Trang 39truyền thống) sẽ khó lòng đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cho các địa phương
1.2 4.3.Đối với các nước đang trên con đường phát triển như Việt Nam ch ẳng han, vai trò của giáo đúc cộng đồng càng to lớn, bởi lẽ:
- Những nước đang trên con đường phát triển phần lớn là các nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế nghèo nàn, mặt bằng dân trí và trình độ khoa học Kỳ thuật thấp Do đó xây dựng và phát triển hệ thống cao đẳng cộng đồng và đại học cộng đồng nói riêng, giáo dục cộng đồng nói chung một mặt phát huy được nội lực của địa phương, của quốc gia và mặt khác kịp thời đào tạo được một nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
- Xu hướng chung của các nước đang phát triển, là đi từ nền kinh tế nhỏ
và vừa lên nền kinh tế lớn, hiện đại Để phục vụ cho nền kinh tế nhỏ và vừa những hình thức gắn liền với đời sống gia đình với từng cộng đồng (địa phương) từ làng xã đến huyện, thị, tỉnh, thành phố - thì các loại hình trường cao đẳng cộng đồng, đại học cộng đồng tỏ ra nhiều ưu việt và hấp dẫn cộng đồng dân cư (xem §3 ở trên)
-Tất nhiên, việc phát huy vai trò của hệ thống giáo dục cộng đồng như thế nào? Theo hướng nào? tùy thuộc vào đòi hỏi cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia và quan điểm phát triển giáo dục - đào tạo (trong đỏ có việc phái triển hệ thống giáo dục cộng đồng) của giới cầm quyền ở địa phương ấy, quốc gia ấy
THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.2.5.1.Cần nói ngay, vị trí giáo dục cộng đồng được đề cập ở đây là vị trí của hệ thống trường cao đẳng cộng đồng và đại học cộng đồng trong hệ thông giáo dục quốc dân
Tùy thuộc vào quan niệm cao đẳng cộng đồng và đại học cộng đồng, tùy thuộc vào từng hệ thống giáo dục quốc dân mỗi nước, vị trí của trường cao đẳng cộng đồng và đại học cộng đồng có khác nhau
Trang 40Để xác định vị trí của loại hình trường cao đẳng cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân phải tiến hành đối chiếu nó với các trường cao đẳng - đại học khác vốn có lâu nay (chúng ta tạm gọi là trường cao đẳng - đại học truyền thống), để chỉ ra cái chung và cái riêng giữa các loại trường này với nhau theo một hệ thống tiêu chí xác định Vị trí của trường cao đẳng cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân được định vị theo một sở tiêu chí nhát định :
1.2.5.2.Các tiêu ch ỉ xác đinh vị trí của trường cao đẳng cộng đồng và đại học cộng đồng
1.2.5.2.1 Mục tiêu đào tạo:
Mục tiêu chung của nền giáo dục Việt Nam là " đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực cộng dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [Luật Giáo dục, Chương 1, Điều 2]
Từ mục tiêu chung này, mỗi bậc, mỗi cấp, mỗi loại hình trường đào tạo, cụ thể hóa thành mục tiêu riêng
Mục tiêu cụ thể của các trường cao đẳng vả dai học truyền thông là: "Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vu nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo,
có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và Kỳ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn
đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo" [Luật Giáo dục, Điều 35] Còn "Mục tiêu của trường cao đăng cộng đồng là đào tạo người lao động
có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có ý thức phục vụ cộng đồng, có kiến thức
và Kỳ năng nghề nghiệp ở trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn, có sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng tìm được hoặc tạo được việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của địa