Luận án Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam, trên cơ sở đó mà chỉ ra những đóng góp trong phong cách văn xuôi nghệ thuật của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi nghệ thuật Tiếng Việt. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHONG CÁCH VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT THẠCH LAM
Chuyên ngành : Lý thuyết và lịch sử văn học
Mã số : 5.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Trang 3MỤC LỤC
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
PHẨN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG LUẬN ÁN 13
CHƯƠNG MỘT: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA THẠCH LAM 13
1.1 Về khái niệm phong cách nghê thuật và quan niêm nghệ thuật 13
1.2 Quan niệm về con người cá nhân với đời sống nội tâm "phiền phức" 19
1.3 Quan niêm về cái đẹp tiềm tàng, khuất lấp 36
CHƯƠNG HAI: NHỮNG NỘI DUNG TỰ SỰ CHỦ YẾU TRONG VXNT THẠCH LAM 45
2.1 Từ bức tranh phố huyện và không gian làng - phố đến cái nhìn nhiều phía và những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Thạch Lam 45
2.2 Con người nội tâm "phiền phức" và những "chuyện" về đời sống tâm hồn tâm hồn của người trí thức bình dân 50
2.3 Con người duyên phận và những "chuyện" buồn vui của người dân lành ngoại ô, phố chợ 62
2.4 Con người văn hóa và cảm hứng "về nguồn" 72
CHƯƠNG BA: PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ CỦA THẠCH LAM 85
3.2 Khắc họa tâm trạng, phô diễn cảm giác: 86
3.3 Tạo tình huống và dựng truyện "phi cốt truyện": 106
3.4 Trần thuật trầm tĩnh khoan hòa và trữ tình sâu lắng 120
CHƯƠNG BỐN: MẤY ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ HÌNH THỨC THỂ LOẠI VÀ NGÔN NGỮ VXNT THẠCH LAM 138
4.1 Những thể loại tìm cảm hứng từ những cảnh đời và tâm trạng 138
4.2 Ngôn ngữ của đời sống và của tâm hồn: 162
PHẦN KẾT LUẬN 188
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ: 199
DANH MỤC THAM KHẢO 201
PHẦN PHỤ LỤC 220
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 6PHẨN MỞ ĐẦU
0.1 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
0.1.1 Mục đích của luận án
0.1.1.1 Trong sự phát triển lịch sử của văn học Việt Nam hiện đại, Thạch Lam chỉ
hiện diện chừng non mười năm, nhưng ông vẫn được xem là một tác giả văn xuôi có tầm vóc Tác phẩm của ông khá đa dạng: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tiểu luận phê bình, dịch thuật, bài báo, truyện thiếu nhi v.v Trong đó truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút chiếm một vị trí quan trọng Các tác phẩm này không chỉ có ý nghĩa khẳng định sự nghiệp văn học của ông
mà còn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển lịch sử của văn học Việt Nam nói chung, của văn xuôi nghệ thuật (VXNT) Tiếng Việt nói riêng
Cho nên để hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về Thạch Lam và VXNT Việt Nam hiện đại vào những năm ba mươi đến đầu những năm bốn mươi thế kỉ XX, không thể không nghiên cứu những đóng góp đặc sắc của VXNT Thạch Lam
0.1.1.2 Mục đích của luận án vì vậy là khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống
những đặc điểm của VXNT Thạch Lam Trên cơ sở đó mà chỉ ra những đóng góp trong phong cách VXNT của ông trong tiến trình hiện đại hóa VXNT Tiếng Việt
0.1.2 Ý nghĩa của luận án:
0.1.2.1 Luận án cung cấp một cái nhìn tổng quát về đặc trưng nghệ thuật VXNT
Thạch Lam trên cơ sở phân tích khảo sát các bình diện biểu hiện phong cách nghệ thuật của
ông, từ quan niệm nghệ thuật, nội dung và phương thức tự sự đến hình thức thể loại và ngôn
ngữ nghệ thuật
0.1.2.2 Cung cấp những tư liệu, dữ liệu để nghiên cứu thi pháp văn xuôi nghệ thuật,
đặc biệt là truyện ngắn, trong một giai đoạn văn học có nhiều thành
Trang 7tựu và nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo
0.1.2.3 Bổ sung giáo trình lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đồng thời
có thể sử dụng để giảng dạy chuyên đề cho sinh viên ngữ văn ở các trường đại học
0.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Thạch Lam là một nhà văn được nghiên cứu từ rất sớm và có quá trình Ngay từ khi ông cho ra mắt tập truyện đầu tay đã được nhiều người giới thiệu, phê bình Tính đến nay, đã hơn 60 năm, việc nghiên cứu đánh giá về ông không phải không có ý kiến khác nhau, nhưng
cơ bản là thống nhất Có thể chia quá trình nghiên cứu về Thạch Lam nói chung và phong cách VXNT của ông nói riêng thành mấy giai đoạn chính như sau:
0.2.1 Trước năm 1945:
Ngay từ tập truyện đầu tay- Gió đầu mùa - sáng tác của Thạch Lam đã được Khái
Hưng đánh giá rất cao [1937] Tiếp nhận truyện ngắn Thạch Lam khá tinh tế, chính xác, Khái
Hưng đã chỉ ra các phẩm chất nổi bật hơn người của truyện Thạch Lam là sự thành thực:
"đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành thực" [82], sự
thành thực mà Khái Hưng hằng "ước ao", "nhưng không sao có được" Vì vậy, ông khâm
phục "ngả mũ chào" tác giả Gió đầu mùa cũng hệt như đã "ngả mũ chào" L.Tônxtôi [82]
Khái Hưng, cũng là người đầu tiên nhận ra Thạch Lam là nhà văn của cảm giác, tư
duy nghệ thuật của Thạch Lam là tư duy nghiêng về cảm giác Ông viết: "Nếu ta có thể chia
làm hai hạng nhà văn: nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm giác (NTT nhấn
mạnh), thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới" [82] Có thể xem đây là phát hiện có
ý nghĩa mở đường cho những người đến sau
Trang 8Đến "Nhà văn hiện đại" [1945,153], nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng nhấn mạnh
vào điểm đó và chỉ ra cụ thể hơn: Thạch Lam "có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng,
ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những cảm tình, cảm giác con con nảy
nở và biểu lộ đủ ở các hang người, mà ông tả một cách tinh vi" [153:1060] Tác giả "Nhà
văn hiện đại" còn nhận thấy từ "Gió đầu mùa" đến "Sợi tóc", nghệ thuật miêu tả cảm giác,
cùng với nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam nói chung, càng về sau càng sắc sảo tài tình
Ông luôn luôn nhấn mạnh "ngọn bút của Thạch Lam ghi cảm giác rất tài tình" hay "cảm
giác chiếm hẳn phần quan trọng", "chỉ là một cảm giác rất nhỏ" mà "ảnh hưởng của nó đã
rất lớn" dưới ngòi bút Thạch Lam [153:1075]
Tuy nhiên, trong khi dừng lại ở một số truyện ngắn cụ thể, tác giả "Nhà văn hiện đại" đã chưa thỏa đáng khi chê là "tầm thường" "đơn giản", "nhạt nhẽo và rời rạc" các truyện
"Nắng trong vườn", "Hai đứa trẻ", "Đứa con đầu lòng", "Dưới bóng hoàng lan", "Bên kia
sông", "Người đầm", "Bóng người xưa" [153:1066]
Sau khi Thạch Lam qua đời, nhân giỗ đầu Thạch Lam, nhà thơ Thế Lữ, bạn thâm giao
của ông đã viết rất hay về "Tính cách tạo tác của Thạch Lam" [1943,120] Ông quả quyết:
"Gió bụi xa xưa, hương ruộng lúa, mùi rạ phơi, tiếng lá tre réo rét, thứ bóng tối uất ức nhẫn nại của đời thôn quê dưới mái lá nát, hay những đêm sâu điểm trống huyện, những buổi sáng trăng dặt dìu", "không có một sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó" Hoặc: "Thạch Lam sống hết cả từng ý văn, từng câu văn anh viết trên giấy" Và, "Thạch Lam" hơn cả là "sự thực tâm hồn" "đằm thắm" "nhân hậu" của chính nhà
văn [120] Như vậy, theo Thế Lữ, với Thạch Lam, văn chính là người
Trang 90.2.2 Từ 1945 đến đầu những năm tám mươi:
Trong số những bài nghiên cứu, phê bình thưa thớt về Thạch Lam vào những năm tháng này, đáng lưu ý là các ý kiến của Nguyễn Tuân trong một bài giới thiệu riêng về Thạch Lam [1957, 219] Nhà văn khinh bạc, tài hoa đã dành cho Thạch Lam những lời thật trân
trọng Ông cho rằng "Thạch Lam hay đi vào những cảnh ngộ nghịch trái mà đồng thời cũng
là đi sâu vào những tâm trạng, tâm tình, cảm xúc, cảm giác" [219:351]; Thạch Lam "vận dụng được kinh nghiệm sống, vận dụng được cái vốn suy nghĩ và tưởng tượng của bản thân
mình" để miêu tả hiện thực và tạo cho mình phong cách riêng về bố cục, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, cách tả người, tả việc [219:350] Tuy vậy, Nguyễn Tuân, đôi chỗ cũng sa vào
khiên cưỡng, cực đoan (như ý kiến về Người đầm, Nhà mẹ Lê) Bước tiến đáng kể nhất của
việc nghiên cứu nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam, qua bài viết của Nguyễn Tuân, có lẽ là ở việc nhìn lại và nhìn đúng giá trị văn chương đích thực của một số truyện ngắn thuộc loại
"không có truyện" mà trước đây soạn giả Vũ Ngọc Phan [153] chê là tầm thường nhạt nhẽo
như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan
Suốt một thời gian dài, việc nghiên cứu Thạch Lam lại rơi vào im lặng, hoặc rất dè dặt Ở miền Bắc, trong khi Tự Lực Văn đoàn hầu như không được nhắc đến, các nhà nghiên cứu như Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đức Đàn [1964, 158], Lê Thị Đức Hạnh [1965, 53], Hà Minh Đức [1971, 41] vẫn viết về Thạch Lam Nhưng phần lớn các ý kiến chủ yếu dừng lại ở đánh giá quan điểm lập trường tư tưởng của nhà văn mà ít khi chú ý trực diện đến vấn đề phong
cách qua văn bản nghệ thuật, chưa kể rằng có không ít ý kiến sa vào khuynh hướng xã hội
học dung tục khi nghiên cứu sáng tác văn học Tuy vậy, nhìn chung, sáng tác của Thạch Lam
vẫn được xem xét với thái độ trân trọng (dù rất dè dặt), thậm chí
Trang 10ông được nhìn nhận như một hiện tượng khá đặc biệt tách rời văn đoàn của mình Trong tình hình ấy, các giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của các trường đại học sư phạm, tổng hợp
Hà Nội, dù trân trọng Thạch Lam đến mức có xu hướng muốn xem ông như một "ngoại lệ" trong Tự Lực Văn đoàn, cũng không có điều kiện viết nhiều, viết đủ rõ và sâu về ông
Ở miền Nam, vào thời gian này, giới sáng tác phê bình văn học đã ra hai số đặc san
chuyên đề về Thạch Lam: Văn số 36 [15.6.1965] và Giao điểm [số ra 12.12.1971] Hai
chuyên san này tập hợp nhiều bài viết về Thạch Lam (hồi ức, cảm nhận, phê bình, tiểu luận) của bạn bè, thân hữu, gia đình Trong đó có thể kể đến các bài của Dương Nghiễm Mậu -
"Thời của Thạch Lam"[129], Đào Trường Phúc - "Thạch Lam: những lời thủ thỉ của truyện ngắn" [157], Nguyễn Nhật Duật - "Hương thơm và nỗi u hoài" [26], Huỳnh Phan Anh -
"Thạch Lam tiểu thuyết gia" [7] Ở loạt bài này, đáng ghi nhận là hướng đi thẳng vào văn
bản để tìm kiếm những nét đặc sắc, độc đáo của tác phẩm Thạch Lam, nhờ vậy, không ít nhận xét, kết luận tỏ ra có sức thuyết phục, có đóng góp Bên cạnh đó, loạt bài của Thế Uyên
[224, 225], Nguyễn Thị Thế [181], Nguyễn Tường Giang [49], Đinh Hùng [73, 74], Đỗ Đức Thu [196] cũng giúp người đọc hiểu rõ hơn về thân thế con người Thạch Lam và phần nào,
giúp soi sáng phong cách nghệ thuật của ông
Tuy vậy, có thể nói rằng suốt non 40 năm đọc văn Thạch Lam, giới nghiên cứu phê bình vẫn chưa có bài viết hay tiểu luận nào thực sự đi sâu vào xem xét một cách đầy đủ, có hệ thống về phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam với tầm vóc một chuyên luận hay một công trình
0.2.3 Từ những năm tám mươi đến nay:
VXNT Thạch Lam cùng với VXNT có khuynh hướng lãng mạn của Tự
Trang 11Lực Văn đoàn, đã đến lúc được xem như một đối tượng nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc, khoa học
Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định tác phẩm của Thạch Lam cùng một số nhà văn gần
gũi về phong cách với ông là "những tác phẩm chứa đựng những rung cảm sâu sắc đối với
quê hương đất nước và phản ánh được một cách chân thật những quan hệ xã hội nhất định
và số phận của những người nghèo khổ" [1983,124]
Từ điển văn học [1983, 20, tập I], trong những dòng cô đúc, đã cố gắng khái quát
phong cách nghệ thuật Thạch Lam Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Phương Chi phát hiện rằng: ở
"Gió đầu mùa" hai yếu tố "đan cài xen kẽ với nhau" là hiện thực và thi vị; rằng: đặc sắc của
truyện ngắn Thạch Lam là ở sự "khai thác những tác động qua lại tinh vi giữa con người và
ngoại cảnh cũng như khi đi vào những diễn biến bên trong, những trạng thái phức tạp của tình cảm, những đổi thay khó nhận biết của tâm hồn con người"; rằng: Thạch Lam "thuộc số những nhà văn có khả năng đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật một cách tinh tế, và
phát hiện được trong những cái bình thường những điều sâu xa, thầm kín " Từ điển văn
học tập II, mục Thạch Lam (Nguyễn Hoành Khung soạn), khẳng định một lần nữa thiên
hướng đi vào "thế giới bên trong" với "sự phân tích cảm giác tinh tế, giàu chất thơ", đồng thời nhấn mạnh hai yếu tố "hiện thực" và "tình cảm" [1984,94]
Trong Tuyển tập Thạch Lam [1988], Phong Lê viết một "Lời giới thiệu" khá dày dặn
Đặt Thạch Lam trong Tự Lực Văn đoàn, ông đã xem xét truyện ngắn Thạch Lam "ở giá trị
hiện thực trên một số cảnh đời, ở tình thương và lòng trân trọng người nghèo, ở ý vị và màu sắc dân tộc, mà Thạch Lam luôn có ý thức nâng niu gìn giữ, ở đóng góp cho câu văn xuôi Tiếng Việt " [108] Ông cũng là người đầu tiên phát hiện về "những khoảng tối và sức gợi của nó thường trở đi
Trang 12trở lại nhiều lần trong văn Thạch Lam" [108] Sau đó ít lâu, Trong cuốn Về Tự lực Văn
Đoàn, xem Thạch Lam như một trong "những cây bút phụ lưu" của nhóm, Nguyễn Trác cho
rằng với Thạch Lam, văn đúng là người: "Truyện của ông là tâm hồn ông, tâm hồn của một
nhà văn đậm đà tinh thần dân tộc, biết trìu mến đất nước quê hương, biết yêu cái đẹp thiên nhiên cũng như những điểm sáng trong tâm tư những người khốn khổ, thấy băn khoăn day
dứt về cảnh sống mù xám của hộ và gợi được những mong muốn đổi thay" [1989, 211] Ở
"Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945" [1989, 93], Nguyễn Hoành Khung cũng nêu ra
những ý kiến xác đáng về nghệ thuật, phong cách giàu chất nhân bản, chất thơ, của truyện
ngắn Thạch Lam Phan Cự Đệ trong cuốn "Tự lực văn đoàn, con người và văn chương" [1990, 39] cũng gợi lại một ý cần quan tâm: vị trí của hồi ức tuổi thơ trong truyện ngắn
Thạch Lam Luận án P.T.S khoa học của Trần Ngọc Dung khảo sát phong cách Thạch Lam
trong tương quan với Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong tiến trình truyện ngắn Việt Nam
hiện đại [1992, 30] Các soạn giả cuốn "Tác giả văn học Việt Nam tập II" [1993, 127] thì đề
cập đến cái thế giới "phố huyện lèo tèo hạ du Bắc Kỳ" của Thạch Lam và đưa ra thêm một ý mới: "Phần lớn truyện của Thạch Lam thuộc loại truyện không có truyện Mỗi truyện là một
tâm tình, một tâm trạng, nghĩa là một bài thơ trữ tình"
Điều đáng nói là, các bài viết và các công tình vừa kể trên tùy mức độ, phạm vi, đều
đã gợi mở được nhiều khía cạnh, luận điểm có ý nghĩa khoa học trong việc nghiên cứu Thạch Lam và phong cách nghệ thuật của ông
Năm 1994, cuộc thi bình văn do bán nguyệt san Kiến Thức Ngày Nay tổ chức (đợt I) cũng có một loạt bài viết tốt về truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam [33, 35, 67, 182,
201, 230 ]; chuyên khảo Thạch Lam thân thế và sự nghiệp của Vu Gia công bố một số tư
liệu mới (chủ yếu có giá trị về gia thế)
Trang 13[1994, 44]
Sau Hội thảo khoa học kỷ niệm năm mươi năm ngày mất của Thạch Lam, do Viện
Văn học tổ chức, một loạt bài viết được công bố trong cuốn "Thạch Lam, văn chương và cái đẹp" [1995, 9] Đến đây, có thể thấy việc nghiên cứu Thạch Lam và sáng tác của ông đã tiến
một bước khá dài Trong đó, tác phẩm của Thạch Lam đã được tiếp cận từ "một cách nhìn xã
hội và loài người", từ "văn chương và cái đẹp", từ "thi pháp và thể loại", từ sự soi sáng của
"một quan niệm văn chương" Đây đó trong hơn ba mươi tham luận, có thể ghi nhận nhiều ý
kiến rất đáng lưu ý như:
- Nhân vật của Thạch Lam thường là những con người nhỏ bé được miêu tả trong một
không gian bao trùm bóng tối, tù hãm và ngưng đọng Đó là những nhân vật sống nhiều với
sự hồi tưởng, suy nghiệm, băn khoăn, để "tự thức tỉnh"
- Truyện Thạch Lam thường ít hành động và vai trò của cốt truyện là vai trò thứ yếu, Thạch Lam là một trong những nhà văn thành công trong hướng "tìm vào nội tâm, tìm vào
cảm giác", ông có quan niệm, cách thức riêng trong việc biểu hiện tâm lý nhân vật
- Bên cạnh các sáng tác của Thạch Lam, đặc biệt là truyện ngắn, các tiểu luận của ông vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn thiết thực Các ý kiến, băn khoăn của ông
trong Theo dòng đã tỏ ra ăn khớp và có ý nghĩa soi sáng việc sáng tạo và tiếp nhận truyện
ngắn của ông Có một sự thống nhất giữa nhà văn và nhà lý luận trong sáng tác của Thạch Lam
Tuy nhiên, những kết luận trên đây cũng mới chỉ dừng lại ở các ý kiến, nhận xét, nhận
định tương đối khái quát, mà nhiều khi chưa được khảo sát kỹ lưỡng, đầy đủ, toàn diện
Bên cạnh ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu, ý kiến của các nhà văn, dưới hình thức hồi ức, cảm nhận cũng gợi lên nhiều ý kiến mới, giúp soi
Trang 14sáng thêm mối quan hệ giữa con người Thạch Lam và truyện ngắn của ông Rất đáng lưu ý là bài viết của nhà văn Hồ Dzếnh, Bùi Hiển, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Quốc Hải, Hoàng Tiến
Luận án tiến sĩ khoa học "Dòng truyện ngắn trữ tình Việt Nam 1930-1945 nhìn từ ba
tác giả tiêu biểu Thạch Lam - Hồ Dzếnh - Thanh Tịnh" của Phạm Thị Thu Hương [1995,
85] đã có một đóng góp đáng lưu ý trong việc nghiên cứu phong cách trữ tình của truyện
ngắn Thạch Lam Trong bộ Văn học Việt Nam (1900-1945), ở phần Thạch Lam, Hà Văn
Đức đã sớm cập nhật được các thành tựu nghiên cứu về Thạch Lam vào giáo trình đại học Tác giả cũng đã cố gắng chỉ ra được một số nét đặc trưng trong truyện ngắn, tiểu thuyết, của
Thạch Lam qua hệ thống hình tượng (người tiểu tư sản, người dân nghèo, người phụ nữ và
nghệ thuật viết truyện, kí) của Thạch Lam
Nhìn chung, các bài viết, các chuyên luận, các công trình nêu trên, dù khác nhau về góc nhìn, về qui mô nghiên cứu, trực tiếp hay không trực tiếp, đều đã góp một tiếng nói có ý
nghĩa cho việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật cũng như thi pháp Thạch Lam (Đó cũng là
lý do khiến cho lịch sử vấn đề nghiên cứu văn chương Thạch Lam về căn bản cũng là lịch sử
vấn đề nghiên cứu phong cách, hay thi pháp Thạch Lam) Mặc dầu vậy, cho đến thời điểm
này, vẫn chưa có một công trình dày dặn tập trung nghiên cứu một cách trực diện, hệ thống
về Thạch Lam và phong cách văn xuôi nghệ thuật của ông (kể cả các bài giới thiệu tuyển tập,
các luận án, các chuyên luận, báo cáo khoa học)
Trong tình hình ấy, để vừa tiếp thu được ý kiến của người đi trước, kế thừa được những thành tựu nghiên cứu phê bình của hơn nửa thế kỷ "tìm kiếm Thạch Lam", vừa tránh
sa vào sự trùng lặp, chọn đề tài Phong cách phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam,
tác giả luận án này muốn góp một tiếng nói khiêm nhường bổ sung vào chỗ khiếm khuyết đó
Trang 150.3 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
Luận án tập trung nghiên cứu VXNT Thạch Lam nhằm:
0.3.1 Phát hiện đặc trưng phong cách nghệ thuật Thạch Lam; phân tích những biểu hiện cụ thể và giá trị của các đặc trưng bút pháp ấy qua các sáng tác cụ thể, tiêu biểu trong các tập truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút của Thạch Lam
0.3.2 Khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa bút pháp nghệ thuật với tư tưởng, cảm hứng trong tính chỉnh thể của VXNT Thạch Lam; chỉ ra cái nhìn độc đáo của nhà văn bộc lộ
trên các bình diện quan niệm nghệ thuật, nội dung và phương thức tự sự, hình thức thể loại và ngôn ngữ nghệ thuật
0.3.3 Đặt những tìm tòi thể nghiệm của Thạch Lam trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi hiện đại để xem xét những đóng góp cụ thể của Thạch Lam đối với sự phát triển của nghệ thuật văn xuôi hiện đại nói chung và sự phát triển của truyện ngắn tiểu thuyết, tùy bút nói riêng
0.4 ĐỚI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng khoa học mà luận án đề cập đến là đặc trưng của VXNT Thạch Lam Ở đây hầu như các bình diện chính yếu trong sáng tác của ông đều được đề cập, xem xét một cách tương đối đầy đủ, nhưng chủ yếu là để làm rõ chỗ đặc sắc, độc đáo trong phong cách sáng tác cũng như những đóng góp cụ thể của ông trên các bình diện này
Với một đối tượng khoa học như vậy, phạm vi khảo sát giới hạn cho luận án là ba tập
truyện ngắn: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc; một tiểu thuyết: Ngày mới; và một tập tùy bút: Hà Nội 36 phố phường Đó là những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật, cũng là phần
sáng tác chủ yếu trong đời văn ngắn ngủi của Thạch lam Đồng thời, để có một cái nhìn tổng quát hơn, khi cần, luận
Trang 16án khảo sát thêm tác phẩm của một số tác giả gần gũi hoặc khác biệt về xu hướng, cùng giai đoạn hoặc khác giai đoạn với ông
0.4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng quát của luận án là phương pháp luận duy vật biện chứng Luận án
nghiên cứu phong cách VXNT Thạch Lam, do vậy phương pháp sử dụng trước hết là các
phương pháp của thi pháp học miêu tả Theo đó, phương pháp nghiên cứu cấu trúc - hệ
thống sẽ được sử dụng để xác lập các nguyên tắc tư duy nghệ thuật của Thạch Lam
Luận án cũng sử dụng phương pháp phân tích loại hình hóa nhằm xác lập đặc trưng
loại hình tư duy nghệ thuật và phong cách tự sự của nhà văn Từ đó có cơ sở để so sánh, đối chiếu và chỉ ra được những cái gì là thành tựu thuộc về thời đại, những cái gì là đóng góp thuộc về cá nhân nhà văn
0.5 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Nghiên cứu phong cách VXNT của Thạch Lam (nói chính xác là nghiên cứu phong
cách nghệ thuật Thạch Lam qua VXNT của ông), thực chất là nghiên cứu đặc trưng nghệ
thuật của VXNT Thạch Lam Đặc trưng ấy có nguồn gốc ở quan niệm nghệ thuật về con người, nơi ngưng kết bản chất nhân học [171:93] của các sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, nhưng
lại được biểu hiện sinh động trong nội dung, cảm hứng và chi phối sâu sắc hình thức nghệ
thuật của tác phẩm Tác phẩm nghệ thuật, theo Bakhtin, có hai "lớp" hình thức: Hình thức kiến tạo là "hình thức tổ chức về mặt giá trị hướng tới nội dung" - còn gọi là "hình thức của
nội dung" - và hình thức tổ chức vật liệu của chỉnh thể tác phẩm - còn gọi là "kĩ thuật của
hình thức" [theo l71:119] Cả hai "lớp" hình thức này đều cần được nghiên cứu trong một
tương quan hợp lý Như vậy, sẽ có hai cụm vấn đề đều cần được chú trọng nghiên cứu trong luận án này, do cách hiểu nội hàm của phong cách nghệ thuật quy định (sẽ được nói rõ hơn ở mục 1.1.1 - 1.1.2., chương một)
Trang 17Cụm thứ nhất nghiên cứu các nhân tố quy định, chi phối đặc trưng phong cách (chương một, chương hai) Cụm thứ hai khảo sát những biểu hiện cụ thể của phong cách qua đặc điểm các
"lớp" hình thức của tác phẩm (chương ba, chương bốn) Riêng mục trình bày đặc điểm về thể
loại thực ra cũng có thể đặt ở chương ba (Phương thức tự sự của Thạch Lam), nhưng lại
được đặt ở chương bốn (ghép chung một chương với các đặc điểm về ngôn ngữ VXNT) Đó
là vì các đặc điểm thể loại ở đây được nhìn chủ yếu trên bình diện hình thức (luận án gọi là
hình thức thể loại) Vả lại, có như vậy mới tránh được sự "quá tải" về dung lượng đối với
chương ba, một chương vốn đã sẵn có dung lượng lớn (53 tr.)
Theo đó, luận án, ngoài mở đầu (12 tr.), kết luận (11 tr.), thư mục (20 tr.) và phụ lục (11 tr.), phần nội dung (176 tr.) sẽ được trình bày thành bốn chương chính:
Chương một: Quan niệm nghệ thuật của Thạch Lam (33 tr.)
Chương hai: Những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Thạch Lam (40 tr.) Chương ba: Phương thức tự sự của Thạch Lam (53 tr.)
Chương bốn: Những đặc điểm nổi bật về hình thức thể loại và ngôn ngữ VXNT
Thạch Lam (50 tr.)
Trang 18PHẦN NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG MỘT: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA THẠCH LAM
1.1 Về khái niệm phong cách nghê thuật và quan niêm nghệ thuật
1.1.1 Vấn đề phong cách nghệ thuật là một vấn đề phức tạp Về nội hàm, khái niệm
này có thể được hiểu rất rộng (khi nó được đồng nhất với cá tính sáng tạo của nhà văn), mà cũng có thể được hiểu rất hẹp (khi nó được đồng nhất với phong cách ngân ngữ của nhà văn);
có thể được hiểu như là một cái gì thuộc về ý thức nghệ thuật, hay thuộc về nhãn quan của nhà văn (ví dụ quan niệm phong cách chủ yếu là vấn đề cái nhìn), cũng có thể được hiểu như
là đặc điểm riêng trong hệ thống phương tiện biểu đạt của nhà văn (ví dụ quan niệm phong
cách là vấn đề kĩ thuật hay mối quan hệ giữa những yếu tố của hình thức nghệ thuật)
Nhưng điều mà luận án quan tâm ở đây chưa phải là tính khoa học hay tầm khái quát của các định nghĩa về phong cách; điều quan trọng là qua những cách hiểu, hay từ những định nghĩa của các nhà lý luận và các nhà sáng tác, người ta có thể xác định được đâu là những yếu tố hợp nhất nên phong cách hoặc những nhân tố chi phối, qui định phong cách? Sau đây là mấy cách trả lời khác nhau nhưng có thể bổ sung cho nhau đối với câu hỏi trên:
(1) Phong cách chỉ thuần túy là vấn đề kỹ thuật hay cách thức biểu đạt, biểu hiện ở
hình thức của tác phẩm (tức phong cách chỉ biểu hiện ở hình thức, qua hình thức của tác
phẩm)
Trang 19(2) Phong cách chủ yếu và trước hết biểu hiện qua ý thức nghệ thuật, qua cái nhìn, qua cách cảm nhận thế giới độc đáo của nhà văn (phong cách chỉ biểu hiện ở nội dung)
(3) Phong cách biểu hiện cả ở nội dung, cả ở hình thức của tác phẩm
(4).Phong cách biểu hiện thành những đặc điểm hình thức nhưng những đặc điểm này
có nguồn gốc trong ý thức nghệ thuật của nhà văn, tức là hình thức có tính nội dung
Tiêu biểu cho quan niệm (1) là quan niệm của V Kôvalet: "Phong cách -đó là một sự
thống nhất chỉnh thể của nhà văn đó là liên hệ qua lại giữa những yếu tố trong hệ thống
nghệ thuật của nhà văn, là sự qui định lẫn nhau của những yếu tố đó" [dẫn theo 133] Hoặc
trong qua niệm của Đreprov: "Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó
bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật." [dẫn theo 133]
Rất tiêu biểu cho quan niệm (2) là quan niệm của Macxen Prust Nhà văn Pháp, tác
giả Đi tìm thời gian đã mất đã có lý khi cho rằng: bản chất của phong cách là vấn đề cái
nhìn Nhưng ông đã cực đoan khi phủ nhận vấn đề kỹ thuật: "Đối với nhà văn, cũng như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn Đó là một sự khám phá mà người ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một khám phá về chất, chỉ có được trong cách cảm nhân về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệ
thuật mang lại thì mãi mãi sẽ không ai biết đến [dẫn theo 142:151]
Tiêu biểu cho quan niệm (3) là quan niệm sau đây của A.x Likhatsov: "Cần phải
phân biệt hai khái niệm của phong cách với tính cách một hiện tượng của ngôn ngữ học và
phong cách với tính cách một hệ thống cụ thể về hình thức và nội dung
Trang 20Phong cách không những là hình thức của ngôn ngữ mà đó còn là một nguyên lý mỹ
học của kết cấu thống nhất tất cả nội dung và tất cả hình thức của tác phẩm Cái hệ thống tạo nên phong cách có thể được bộc lô trong tất cả các yếu tố của tác phẩm Phong cách
nghệ thuật hợp nhất ở bản thân nó cái tri giác về thực tế tiêu biểu đối với nhà văn cũng như phương pháp nghệ thuật của nhà văn bị quy định bởi những nhiệm vụ mà nhà văn đặt cho
mình." [Thi pháp của nền văn học Nga cổ, Nxb Khoa học Lêningrat, 1967, Phan Ngọc dịch,
2 tập, bản đánh máy Trường ĐHTH Hà Nội, Khoa Ngữ Văn, 1970, tập I, :41-42] Rất gần gũi
với quan niệm này, là quan niệm của Grigôrian: "Phong cách là sự nhận thức hiện thực
Nhưng phong cách cũng là hình thức của sư nhận thức đó Hình thức này đôi khi xác định
tính chất của bản thân sự nhận thức, thâm nhập vào sự nhận thức đó." [1966, dẫn theo 133]
Gần gũi với quan niệm (4), có thể kể đến ý kiến của Khrapchencô Ông cho rằng:
"Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiên độc đáo để thể hiên những tư tưởng và hình tượng của mình ( ) Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì
phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng
đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả [1978, 133:152]
Ở Việt Nam, cách hiểu về phong cách thiên về hai trường hợp (3) và (4), nhất là
trường hợp (4) Phong cách thường được định danh là những kiểu lựa chọn; là những đặc
điểm hay những dấu hiệu hình thức được quy định bởi cái nhìn độc đáo hay ý thức nghệ thuật của một nhà văn Chẳng hạn Phan Ngọc: "Phong cách là một cấu trúc hữu cơ tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả" Nó "chứa
đựng một cái nhìn đối với hiện thực" [1985,139:22-23] Hoặc: "phong cách [ ] là một
Trang 21cái nhìn [ ] nó không phải đơn thuần là hình thức Nhưng phong cách phải dựa trên hình
thức thì mới tồn tại được" [139:198] Tác giả Từ điển thuật ngữ văn học (1992) đã định
nghĩa một cách khá đầy đủ : "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống
nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tương, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật,
nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào
lưu văn học hay trong văn học dân tộc", " các dấu hiệu phong cách dường như nổi lên trên
bề mặt tác phẩm, như là một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác được tất cả moi yếu tố
cơ bản của hình thức nghệ thuật "" [51] Lê Ngọc Trà: "Phong cách nói lên những đặc điểm nào đó thuộc về hình thức của tác phẩm, các đặc điểm này có nguồn gốc trong ý thức nghệ thuật của nhà văn." [210:142]
1.1.2 Mỗi một quan niệm nhƣ trên, dĩ nhiên đều có cơ sở lý luận riêng Nhƣng xét
trên yêu cầu ứng dụng vào thực tiễn, từng quan niệm này tự nó vẫn chƣa đủ sáng rõ, vẫn thiếu những chỉ dẫn cần thiết cho việc xây dựng một mô hình nhận thức khái quát để có thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật của từng nhà văn cụ thể, nhất là khi những quan niệm này chƣa đƣợc triển khai, minh họa, ứng dụng đầy đủ
Nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Thạch Lam Muốn vậy cần dựng đƣợc một "mô hình" ứng dụng Để có đƣợc "mô hình" đó, trong tình hình có nhiều quan niệm khác nhau nhƣ trên về nội hàm của phong cách, luận án không tự đƣa ra một quan niệm riêng, cũng không chọn và theo triệt để một quan niệm nào nói trên, mà chọn lấy một quan niệm cho là hợp lý hơn cả làm nòng cốt rồi bổ sung một vài điểm cần thiết rút tỉa từ
những quan niệm khác gần gũi với nó Yêu cầu đặt ra ở đây là tìm đủ, tìm đúng các yếu tố cơ
bản của phong cách và nhận rõ quan hệ giữa chúng "Mô hình" có thể
Trang 22chưa hoàn chỉnh nhưng phải có ý nghĩa soi sáng cho phương pháp nghiên cứu và cho cả cách
tổ chức các chương mục của luận án Trên tinh thần này, luận án dựa hẳn vào quan niệm của
A.X Likhatsov: khảo sát phong cách trên tất cả các yếu tố hình thức và tất cả các yếu tố nội
dung trong các tác phẩm của Thạch Lam Nhưng sẽ bổ sung vào chỗ mà ông nói chưa đủ rõ
về quan hệ giữa các yếu tố: trong cấu trúc phong cách nghệ thuật, vai trò các loại yếu tố này
có đồng đẳng với nhau hay không, và có quan hệ chi phối lẫn nhau như thế nào?
Phong cách nghệ thuật của một nhà văn, suy cho cùng là vấn đề cái nhìn (Macxen Prust), nhưng cái nhìn ấy phải toát lên từ tất cả các yếu tố hình thức và nội dung của tác
phẩm, từ hệ thống hợp nhất cái tri giác về thực tế tiêu biểu đối với nhà văn và phương pháp nghệ thuật của nhà văn ấy, nghĩa là cần được tiếp cận "với tính cách một hệ thống cụ thể về
hình thức và nội dung" (A.x Likhatsov, Grigôrian); toát lên từ một cấu trúc hữu cơ tất cả các
kiểu lựa chọn (Phan Ngọc) Tuy vậy, các yếu tố này không đồng đẳng với nhau mà có quan
hệ thứ bậc, tạo thành một cấu trúc mà ở đó có những yếu tố biểu hiện trên bề mặt và những
yếu tố tiềm ẩn ở những tầng sâu, chìm khuất của nó (như quan niệm của tác giả Từ điển thuật ngữ văn học hay phần nào của Lê Ngọc Trà)
Vì vậy, nghiên cứu phong cách VXNT Thạch Lam, một mặt, luận án có nhiệm vụ phải tìm cho ra những đặc điểm hình thức (biểu hiện qua hai "lớp" hình thức như đã nói) Mặt khác, luận án cũng cố gắng chỉ ra cho được những nhân tố quy định các đặc điểm của hình
thức ấy - những nhân tố thuộc về chiều sâu nội dung của sáng tác như ý thức nghệ thuật, hay
những nét độc đáo trong cái nhìn của nhà văn - tức là chỉ ra các đặc điểm hình thức ấy có
"tính nội dung", "tính quan niệm" như thế nào
Theo định hướng của nội hàm khái niệm như vậy, luận án sẽ dành 2 chương đầu trình
bày kết quả nghiên cứu về những yếu tố thuộc về nội dung
Trang 23mang ý thức nghệ thuật, cái quy định phong cách nghệ thuật của nhà văn (chương một,
chương hai); hai chương sau trình bày về các biểu hiện cụ thể của phong cách nghệ thuật qua
các đặc điểm về hình thức VXNT Thạch Lam (chương ba, chương bốn)
1.1.3 Tiếp cận phong cách và giá trị nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn, người
ta không thể không tìm kiếm, xác định, trước hết quan niệm nghệ thuật về con người (và về
thế giới) của nhà văn ấy Bởi vì, quan niệm về con người (và về thế giới) của nhà văn, suy
cho cùng, là thuộc về ý thức nghệ thuật, nó bao hàm cái nhìn độc đáo của nhà văn ấy, về con người (và về thế giới) Trên nguyên tắc mà nói, nhà văn nhìn con người và thế giới như thế nào thì sẽ mô tả nó như thế ấy, trong các sáng tác của mình Tìm hiểu cái nhìn ấy (và rộng hơn là ý thức nghệ thuật của nhà văn), cần phải lưu ý mấy điều có tính nguyên tắc:
Thứ nhất, đây là cái nhìn mang tính mỹ học, tính triết luận trước thế giới và con người, một cái nhìn, nói như Trần Đình Sử, "cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có
tính chất công cụ để thể hiện những cuộc sống cần phải có mang tính khuynh hướng khác nhau" [51:185]; cái nhìn ấy có khả năng mở ra theo nó cả một thế giới nghệ thuật riêng biệt độc đáo của nhà văn [34]
Thứ hai, cái nhìn ấy bao hàm một "hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật" [51:185], và hòa tan trong sự miêu tả hình tượng sống động
Ngoài ra, khi nghiên cứu khảo sát phong cách nghệ thuật Thạch Lam trên bình diện
quan niệm nghệ thuật về con người (và về thế giới), luận án cho rằng, vấn đề không chỉ là đề
xuất các luận điểm, miêu tả đặc trưng quan niệm nghệ thuật của nhà văn mà còn góp phần chỉ
ra cái chiều hướng quan hệ chi phối lẫn nhau giữa các đặc điểm ấy (Chẳng hạn, ở Thạch Lam, cái nhìn có tính khám
Trang 24phá về con người cá nhân đã mở ra một thế giới cảm giác cũng như cái nhìn về thế giới sẽ tác động đến quan niệm về cái đẹp của nhà văn) Trong đó, việc nhìn sâu vào đời sống nội tâm vào những cảnh đời lầm lũi của con người cá nhân và việc tìm kiếm cái Đẹp tiềm tàng khuất
lấp, theo như quan niệm của ông, có một ý nghĩa rất đặc biệt
1.2 Quan niệm về con người cá nhân với đời sống nội tâm "phiền phức"
VXNT Thạch Lam đề cao con người cá nhân, nhưng đó là con người cá nhân với đời
sống nội tâm "phiền phức" Quan niệm đề cao con người cá nhân là thành tựu mỹ học của cả
một thế hệ nhà văn thời Thạch Lam trong những điều kiện tâm lý - lịch sử xã hội cụ thể Nhưng đó là "của chung" Từ cái "của chung" đó, mỗi một nhà văn nhà thơ, những người ít nhiều có tỏa sáng trên văn đàn bấy giờ, đều góp thêm cái nhìn khám phá độc đáo của riêng mình
Cũng là đề cao cá nhân, nhưng cá nhân trong sáng tác của Hoàng Đạo là cá nhân theo
đuổi, ôm ấp cái mộng cải cách xã hội, cải cách nông thôn (Con đường sáng); trong sáng tác
của Khái Hưng, Nhất Linh thời kỳ đầu, là con người khao khát "dấn thân" "tranh đấu" để đòi
giải phóng phụ nữ, giải phóng cá tính, đòi tự do yêu đương, tự do kết hôn (Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng ); trong sáng tác của Nguyễn Tuân là con người tài hoa tài tử chơi ngông với cuộc đời, tự đặt mình trên bậc với những ai phàm tục phàm trần (Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua ) v.v
Hít thở bầu không khí mỹ cảm dồi dào, mới mẻ như vậy về con người cá nhân của thời đại, Thạch Lam tìm kiếm một góc nhìn riêng, nhất quán suốt cả đời văn của mình: quan
niệm cá nhân như là con người có đời sống nội tâm phiền phức, nhạy cảm, như là một cõi
riêng
Có lẽ khi con người mới sinh ra cùng với thế giới và biết đấu tranh, sinh
Trang 25tồn như một thực thể xã hội, thì con người đã biết nhận thức và có nhu cầu nhận thức, biết cảm xúc và có nhu cầu bộc lộ cảm xúc Nhưng chỉ khi nào con người ý thức được thật đầy đủ
về mối quan hệ vừa lệ thuộc vừa chi phối giữa nó và thế giới; chỉ khi nào con người thực sự
khao khát và đủ tri thức để khám phá cái bí mật của cả phần tinh thần và phần thể xác của nó
để giải quyết mối quan hệ người với vật, người với người và người với chính nó [Lương
Thấu Minh, theo 174] bằng một thứ ánh sáng "phục hưng", dân chủ, thì khi đó con người mới
thực sự có đủ điều kiện để trở thành con người nội tâm, con người trong tư cách một chủ thể
tự nhận thức
Nhưng thời đại và tư tưởng mỹ học của nó chỉ có ý nghĩa mở đường, còn như ai sẽ là người đủ tư cách phát ngôn cho tư tưởng đó thì tùy thuộc vào chỗ nhà văn ấy có hội được những điều kiện cần và đủ hay không Thạch Lam hội đủ cả các điều kiện này Trong VXNT của Thạch Lam, con người cá nhân ấy là một tổng hòa của nhiều đặc tính mà trong đó, đáng
lưu ý nhất là mấy đặc tính: 1 Rất riêng; 2 Rất "phiền phức " (phức tạp); 3 Rất nhạy cảm
1.2.1 Cá nhân: Một cõi rất riêng
Cá nhân, trong bản tính của nó, vốn là một cái gì rất riêng, một thế giới riêng, không
lặp lại ở người khác, ở chỗ khác Cái chỗ rất riêng ấy, không phải chủ yếu là do nó được đánh dấu, xưng gọi bởi một danh tính cụ thể nào đó theo kiểu tự xưng danh mà thế hệ nhà nho tài
tử đã làm, cách Thạch Lam nhiều chục năm trước Thời ấy, cá nhân - cái chỗ riêng biệt, khác
lạ ở mỗi con người - vẫn khiêm nhường khuôn lại nơi cái riêng về chí hướng, tài tình, danh
phận Con người cá nhân nếu có cựa quậy vẫy vùng thì cũng chỉ là cựa quậy vẫy vùng trong
khuôn khổ mà thôi Ngay cả khi họ cả gan "chọc trời khuấy nước mặc dầu" như Từ Hải của Nguyễn Du, hay quả quyết "nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng", "cựa đuôi kình
toan vượt biển Trình Chu" như cái "tôi" trong
Trang 26thơ của Cao Bá Quát, thì người ta vẫn chỉ cảm nhận ở đó một cái gì như là khẩu khí Nho gia, hơn là một thái độ sống, thái độ ứng xử cá thể, cá nhân
Thời Thạch Lam thì khác: Cái "tôi" cá nhân dường như trở thành chuyện sống còn
của cá nhân và đôi khi được đẩy tới chỗ cực đoan (Cá nhân thậm chí "là Một, là Riêng, là
Thứ nhất" - Xuân Diệu)
Con người cá nhân ấy dễ bất hòa, xung đột với xã hội truyền thống đã đành, mà cũng
dễ tự va chạm, tự xung khắc với chính mình (nhất là khi nó vừa chịu ảnh hưởng của ý thức hệ
tư sản lại vừa phải thường xuyên tiếp xúc va chạm với xã hội còn mang nặng nếp sống phong
kiến) Cá nhân kiêu hãnh bao nhiêu vì chỗ khác người thì cũng mặc cảm bấy nhiêu về chỗ
khác mình của nó Cũng như nhiều nhà văn trong Tự Lực văn đoàn, Thạch Lam là người ý
thức sâu sắc và đầy đủ về đặc tính riêng này của con người cá nhân trong thời đại ông
Cái đặc tính rất riêng ấy của con người cá nhân trong VXNT Thạch Lam bộc lộ rất
đậm, rõ ở nhiều góc độ, ý nghĩa
Trước hết, con người cá nhân là rất riêng do chỗ đã là cá nhân thì thường có số phận
riêng, duyên phận riêng, cảnh ngộ riêng Chẳng hạn, cùng là phụ nữ lao động nghèo mà mỗi
người một tình cảnh, một duyên phận: Mẹ Lê (Nhà mẹ Lê) khác bà Nhì (Ngày mới), cô Tâm (Cô hàng xén) khác cô Liên (Một đời người), khác cô Dung (Hai lần chết); cũng là những nàng thôn nữ hạnh phúc và bất hạnh trong lần đầu biết đến hương vị tình yêu, mà Hậu (Nắng trong vườn), Liên, Thân (Tiếng sáo), Mai (Đêm trăng sáng), Lan (Tình xưa) mỗi người hạnh phúc và bất hạnh theo cái cách của riêng mình Cũng như vậy, Bào (Người bạn trẻ), Sinh (Đói), Minh (Cái chân què), Diên (Trong bóng tối buổi chiều), Thành (Cuốn sách bỏ quên) ; bác Dư (Một cơn giận), Người lính cũ (Người lính cũ), bà đầm (Người đầm) đều
là những cá nhân rất riêng trong những
Trang 27tình cảnh éo le đáng buồn hoặc đáng thương của họ v.v
Thứ hai, cá nhân phải mạnh mẽ: "mình dám là mình" [Theo dòng, 99] Nói chung
mình dám là mình, theo cái nghĩa thông thường, là dám sống, trải nghiệm theo cái cách của
riêng mình: để là một người đàn ông trưởng thành, một người cha trẻ "dám là mình" nhân vật
của Thạch Lam phải tự biết lấy tình cảm, thái độ của chính mình (Đứa con đầu lòng); để biết
thế nào là"duyên số", cá nhân phải tự trải nghiệm lấy "duyên số", và phải tự trả lấy "học phí"
một cách đích đáng cho bài học về "duyên số" của mình (Duyên số); để biết chắc rằng đồng
tiền dù rất đáng quý nhưng chưa phải là tất cả, chưa hẳn đã mang lại hạnh phúc cho ta trong
cuộc đời, cá nhân không tin ngay những lời khuyên của kẻ khác mà tự mình kiểm nghiệm lấy,
dù cho có phải trả giá rất đắt (Cái chân què) Nhưng "mình dám là mình" còn có nghĩa là
biết đi bằng đôi chân của riêng mình, nghĩ bằng bộ óc của riêng mình, nhìn ngắm, cảm thụ, ứng xử, buồn vui đều cao độ theo cái cách của riêng mình Nhân vật "tôi" trong truyện ngắn
Bên kia sông, từng sống những ngày thơ ấu dám là mình như thế: " [ ] sung sướng và nhẩy
nhót như một con chim giữa cuộc sống hoạt động kia bao bọc lấy tôi, để hết cả mắt mà
trông, cả tai mà nghe, cả mũi mà ngửi cái mùi cát mùi đất lẫn mùi khói rác người ta đốt ở
đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố." [96:33]
Thứ ba, đặc tính riêng của cá nhân còn bộc lộ ở chỗ mỗi cá nhân thực sự là một thế
giới bí mật, một cõi riêng về đời sống cảm xúc, về tâm hồn
Suốt một đời văn của mình, Thạch Lam hầu như chỉ ao ước tìm được bí quyết,
phương thức hữu hiệu để có thể soi thấu và lột tả được "cái bí mật không thể tả được ở trong
mỗi con người" Cái thế giới ấy là riêng, là bí mật, là không thể tả được đối với kẻ khác đã
đành mà lắm khi còn bí mật "không thể tả được" đối với cả chính người trong cuộc Chẳng
hạn nhân vật Sinh (Đói) hẳn không thể
Trang 28ngờ được rằng sau khi khinh bỉ xua đuổi vợ đi, anh ta lại ăn ngốn ngấu những thứ mà anh ta
cho là nhơ bẩn, nhục nhã do chính nàng mang về Thành (Một cơn giận) không thể ngờ được
rằng có những phút giây anh ta lại tàn nhẫn và vô lý, bất công đối với một người phu xe
lương thiện đến thế Thanh (Sợi tóc) càng không thể ngờ được có những phút giây linh hồn
người ta lại bị đặt cheo leo bất trắc trên một ranh giới mong manh như "sợi tóc" giữa tốt và xấu, thánh thiện và tội lỗi đến như thế Ở đó, không chỉ có ý nghĩ, cảm giác là bí mật, bất thường mà đến cả cái động cơ, cái mãnh lực đưa đẩy người ta đi, hay níu giữ người ta lại, cũng là bí mật khôn lường
Cái thế giới ấy càng bí mật, kín đáo, khó tả bao nhiêu, thì lại càng cần đến văn
chương nghệ thuật bấy nhiêu Theo Thạch Lam, văn chương là "thứ khí giới thanh cao và đắc
lực" có thể góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn, đặc biệt là "làm cho lòng người phong phú
trong sạch hơn" [20:4]
1.2.2 Cá nhân: một thế giới rất phiền phức
"Phiền phức" là chữ mà Thạch Lam rất ưa dùng cả trong tiểu luận, tiểu thuyết lẫn
truyện ngắn: "Người ta là một động vật rất phiền phức" [Theo dòng, 101:588]; "Tân lại gần
cúi nhìn đứa bé Chàng thấy trong lòng một mối cảm động êm đềm phiền phức" [Đứa con
đầu, 101:68]; "Tâm hồn giản dị, nàng (tức Trinh, vợ Trường - NTT) không hiểu được cái phiền phức của lòng Trường" [Ngày mới, 101:520] v.v
Chữ phiền phức ở đây bao gồm hai ý nghĩa: tính cách phức tạp và tâm lý phức tạp
Nó cho thấy trong quan niệm của Thạch Lam, con người cá nhân cá thể là một cái gì, xét về
mặt tính cách xã hội, không đơn giản một chiều, không thuần nhất Thậm chí ở đó có thể
dung hòa những mặt đối lập nhau: "Người ta là người với những sự cao quý và hèn hạ của
người [Theo dòng, 101:588] Ông
Trang 29xem con người như "một động vật rất phiền phức" là vì vậy
Với một quan niệm như thế, khi cần miêu tả con người cá nhân như những nét tính cách, Thạch Lam thường tạo ra những nhân vật mà người ta không thể quy gọn vào một vài
từ mang ý nghĩa phẩm chất như tốt (hoặc xấu), thiện (hoặc ác), đáng yêu (hay đáng ghét)
Nhiều nhân vật của Thạch Lam thường có chút khó hiểu, bí ẩn, không thể nhìn bằng cái nhìn
một phía, đánh giá bằng những thang bậc cứng nhắc là vì vậy Xuân trong tiểu thuyết Ngày mới, Tiến trong truyện ngắn Tiếng sáo tiêu biểu cho những nhân vật như thế
Nhiều cảnh ngộ và nhân vật trong VXNT Thạch Lam còn mở cho thấy tính chất tương phản, sự thay đổi đột ngột trong tính cách xã hội của con người cá nhân Người ta vừa rất sẵn lòng trắc ẩn, lại vừa rất ích kỷ, mềm yếu, hèn nhát, không cưỡng nổi sự cám dỗ của
hạnh phúc cá nhân (Tiếng chim kêu, Người bạn cũ) Hoặc trong mỗi cá nhân con người có
cả phần bản năng tàn nhẫn lẫn phần cao quí nhân hậu (Một cơn giận), có cả một tên ăn cắp
và một con người trong sạch (Sợi tóc)
Sự "phiền phức" như vậy trong tính cách tâm lý xã hội của con người cá nhân trong
sáng tác của Thạch Lam, rõ ràng rất ăn khớp với quan niệm của ông được phát biểu trong
Theo dòng, mà cũng rất tương hợp với với quan niệm của các bậc thầy hiện thực chủ nghĩa
Lep Tolstoi đã có lần nhắc nhở:
"Một trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét đoán con người là chúng ta hay gọi và xác định người này là thông minh, người kia là ngu xuẩn, người này tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối, trong khi người ta là tất cả: tất cả các khả năng đó, là cái gì
luôn luôn biến đổi" [Lep Tolstoi, dẫn theo 210:185]
Đồng thời, quan niệm ấy cũng tiếp nối tinh thần nhân bản vốn có từ xa xưa của nhân
loại: "Tôi là người, không có gì thuộc về con người xa lạ với tôi"-
Trang 30ngay từ thế kỷ thứ II Tr CN, Terenxy, nhà soạn kịch La Mã đã để cho một nhân vật trong vở
Tự dày vò nói như thế [dẫn theo 210]
Nhưng Thạch Lam, được biết đến không phải chủ yếu như nhà văn của những tính cách xã hội, những điển hình Thạch Lam trước sau, chủ yếu vẫn là tác giả của những trạng
thái tâm lý phức tạp, tinh vi Cái "phiền phức" của tâm hồn con người ở sâu nơi tiềm thức,
vô thức, là khu vực thu hút cái nhìn và ngòi bút của Thạch Lam nhiều nhất Thậm chí, có thể nói mà không sợ quá lời rằng: trong số các nhà văn xuôi hiện đại (cả lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ nghĩa) vào cuối thập niên ba mươi thì Thạch Lam là một trong vài nhà văn đã
cảm nhận và miêu tả được thế giới cảm giác, cảm tưởng của con người cá nhân hiện đại một
cách chân thực, uyển chuyển, sinh động nhất
Cái "phiền phức" trong tâm hồn của cá nhân, nhiều khi chỉ là một cảm tưởng, cảm
giác tinh vi khó tả nào đó chợt dấy lên trong lòng nhân vật Ví như như cái "mối cảm động
êm đềm, phiền phức" mà người cha trẻ cảm thấy trong lòng, khi chàng lại gần "cúi nhìn đứa
bé" Thạch Lam gọi cái cảm tưởng, cảm giác ấy là "mối cảm động êm đềm, phiền phức" Đó
là một "rung động khẽ như cánh bướm non" Những cảm giác, cảm tưởng tinh vi, khó tả,
"phiền phức" như vậy, rất phổ biến trong những biến thái tâm hồn của nhân vật Thạch Lam,
đặc biệt là ở các nhân vật chính, hiện thân cho tác giả hay mang "điểm nhìn" của tác giả
Hãy trở lại với đoạn văn nói về cái "phiền phức" của lòng Trường mà Trinh vợ chàng "không hiểu được": "Tâm hồn giản dị, nàng không hiểu được cái phiền phức của lòng
Trường, và như thế, nàng càng đau khổ hơn Những nỗi băn khoăn của chồng mà Trinh đoán
bấy lâu nay, khiến nàng phải nghĩ ngợi, tuy nàng không biết duyên cớ vì đâu" [101:520]
"Cái phiền phức của lòng Trường" là gì, thật là khó nói Song cái "phiền
Trang 31phức" nhất của lòng Trường lại chính là về sự ác nghiệt vô lý đối với vợ, mà chàng biết rõ lẽ
ra phải tự giận mình, trách mình mới đúng "Giận Trinh vì chính sự quyết định của chàng"
[101:519], " thoáng thấy trong thâm tâm cái ác nghiệt vô lý và hèn nhát của mình nhưng
chàng vội tránh không nghĩ đến Chàng muốn đến bên vợ, an ủi và xin lỗi nàng nhưng một ý
xấu cứ giữ chàng lại" [101:519-520]
Mộ trạng thái tâm lý như vậy quả là đa đoan, phức tạp, sâu kín và "phiền phức" biết bao "Tâm hồn giản dị" như Trinh làm sao mà hiểu được cái phiền phức ấy của lòng Trường
Nàng hoang mang lo sợ vì sự không hiểu lòng chồng: "Tâm sự của Trường giờ đối với nàng
trở nên bí mật Mỗi ngày Trường đối với nàng xa lạ hơn một chút" [101:521]
Ngay cả những đôi uyên ương trẻ trung mơ mộng như Bình - Lan (Tình xưa), Bính - Hậu (Nắng trong vườn) đến một lúc nào đó rồi cũng lâm vào tình cảnh tương tự Chưa hết,
lâu nay khi nói đến con người cá nhân, người ta thường chỉ nghĩ đến chỗ khác người, chỗ lạ lẫm của nó Nhưng tiếp xúc với nhân vật của Thạch Lam, người ta lại thấy còn phải lưu ý đến
điều này nữa: con người cá nhân, thật bất ngờ và lý thú, cũng lại là hiện thân cho giống, loài, cho người ta nói chung
Ai thì rồi cũng có thể có những cơn giận bất thường, vô cớ, và có thể vô tình trở thành tàn nhẫn, độc ác, tội lỗi Nhưng cá nhân sẽ là cá nhân "người" hơn cả, khi anh ta biết băn khoăn biết sám hối hay chí ít tỏ ra có chút mặc cảm tội lỗi ám ảnh không thôi Ai cũng có thể
có lúc bị đặt vào một hoàn cảnh éo le đến lạnh gáy như nhân vật Thành cheo leo giữa sợi tóc nhân cách phân định sự ngay thẳng và gian manh Nhưng sẽ là cá nhân hơn cả khi anh ta dám
can đảm tự thú những ý nghĩ hồn nhiên thành thực của mình (Sợi tóc)
Còn nữa, người ta bất hạnh, khổ nhục có thể rất khác nhau, nhưng chính
Trang 32trong hoàn cảnh cụ thể, tình cảnh cụ thể, mỗi người lại là hiện thân cho thân phận con người, cho một hạng người Chẳng hạn: mẹ Lê là mẹ Lê, nhưng mẹ Lê còn là hiện thân cho những
người dân lam lũ đôn hậu ở cái phố chợ ngụ cư khốn khó của mẹ (Nhà mẹ Lê) Cô Tâm là cô
Tâm, nhưng cũng là hình ảnh chung cho bao cô hàng xén khác hiền thục tần tảo như cô ở phố
huyện (Cô hàng xén)
1.2.3 Cá nhân: một chủ thể rất nhạy cảm
Quan niệm về cá nhân, thực chất xét trên một mặt nào đó là quan niệm về cái "tôi", quan niệm về cuộc sống, sự sống của cá nhân "tôi" Trong quan niệm về cuộc sống, sự sống của cá nhân "tôi" qua văn chương thời Thạch Lam nổi bật lên ba vấn đề quan yếu, ba điều băn khoăn cần được giải đáp bằng sáng tác văn học, trở thành các băn khoăn của con người
trong văn học: 1) về quyền sống tự do của cá nhân "tôi"; 2) về tư cách sống, tư cách "Người" của cá nhân "tôi"; và 3) về năng lực sống, năng lực "Người" của cá nhân "tôi"
Niềm băn khoăn thứ nhất - quyền sống tự do của cá nhân "tôi" - đặc biệt thu hút nhãn giới của những tiểu thuyết gia tiêu biểu nhất trong Tự lực Văn đoàn: Khái Hưng, Nhất Linh,
Hoàng Đạo Tiếng "quyền" "vang lên như một điệp khúc trên hành trình đi đến tự do" [217]
của nhân vật của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo Người ta nói đến "quyền lập thân"
(Loan, Đoạn tuyệt); quyền bình đẳng trong hôn nhân (Mai, Nửa chừng xuân); "quyền đi lấy chồng" của người phụ nữ (Nhung, Lạnh lùng); quyền không ai được xúc phạm, "quyền tự vệ những khi thấy nguy hại đến tính mệnh" (Loan, Đoạn tuyệt)
Niềm băn khoăn thứ hai - tư cách sống, tư cách "Người" của cá nhân "tôi" - chủ yếu bộc lộ trong sáng tác của Nam Cao Nhân vật của Nam Cao, kể cả nông dân lẫn trí thức, đều
có chung một niềm băn khoăn như vậy Những trí thức - văn sĩ như Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng, Nước mắt), Kim (Mua nhà) Thứ (Sống mòn) thường trực băn khoăn về tư
cách người, tư cách sống của
Trang 33mình Họ mặc cảm vì thấy hình như tư cách của mình luôn luôn dưới "chuẩn", chưa đạt
"chuẩn" (ví dụ: sống chưa tử tế, viết chưa hay) Ngay cả những nông dân như Chí Phèo, Lão
Hạc cũng vậy: Chí Phèo khi tỉnh rượu băn khoăn "Ai cho tao lương thiện?"; Lão Hạc thì suốt
phần đời nghèo túng cô độc chỉ chăm chăm giữ lấy cái tư cách người, tư cách hàng xóm, tư cách làm bạn, làm cha của mình
Niềm băn khoăn thứ ba - về năng lực sống, năng lực " Người" của cá nhân "tôi" - hầu như chỉ thấy đậm nét ám ảnh trong những thiên truyện của Thạch Lam và ở một chừng mực nào đó, trong sáng tác của Nguyễn Tuân, Xuân Diệu
Người có năng lực sống, năng lực "Người" là người có giác quan nhạy cảm, có tâm hồn phong phú, giác quan tâm hồn lúc nào cũng căng nhạy như những sợi tơ sẵn sàng rung lên những giai điệu thầm kín, những cảm xúc mãnh liệt Con người ở đây không phải là con người hành động, con người tư tưởng, con người tính cách, con người tâm lý nói chung, mà
là con người nội tâm "phiền phức", sống nhiều với trực giác, trực cảm Con người ấy khao
khát sống cao độ, sống hết mình trong những cảm xúc và những rung động mãnh liệt của thể
chất và tâm hồn mình Họ muốn "Sống toàn tim toàn trí, sống toàn hồn - sống toàn thân và
thức nhọn các giác quan" khi họ là một thi sĩ Ngay cả khi sống cái kiếp bé mọn của một cái giường, thì nhựa khô trong thân gỗ dường như cũng sống lại để cùng cảm xúc với đôi người
yêu nhau được mình nâng đỡ Họ sợ đến một lúc nào đó, cảm xúc trẻ trung sẽ bị mai một và
phế bỏ đi (Truyện cái giường, Xuân Diệu) hoặc bị đầu cơ vào một sự vụ lợi trơ tráo (Người
Lệ Ngọc, Xuân Diệu)
Con người nội tâm phiền phức trong tư cách chủ thể nhận thức qua quan niệm và
trong sáng tác của Thạch Lam cũng như vậy Thật ra, nhân vật của Thạch Lam, đặc biệt là
nhân vật người trí thức bình dân, cũng có những lúc băn khoăn về tư cách người, tư cách cá
nhân của mình Nhưng điều băn khoăn hàng
Trang 34đầu của họ là băn khoăn về cái năng lực cảm thụ sự sống và nói chung, năng lực sống của
bản thân Thanh trong Một cơn giận cũng băn khoăn về cái ác, điều thiện trong con người
mình Nhưng anh ta băn khoăn trước hết đến cái trạng thái tâm hồn: "Có những ngày mà tự
nhiên, không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì?"
[95:39], băn khoăn đến cái nguyên cớ nào đã đang đẩy anh ta phải làm một việc ác như vậy
Và, khi kể lại câu chuyện Một cơn giận của mình thì Thanh, không chỉ bộc lộ tình thương,
lòng hối lỗi, khao khát "sửa sai" của mình, mà có lẽ anh ta còn quan tâm hơn đến cái cảm
giác, cái diễn biến cảm xúc của "một cơn giận" Thành trong Sợi tóc cũng băn khoăn rất dữ
về cái tốt cái xấu, về hiền lương và tội lỗi, tức là băn khoăn về cái tư cách người của mình Nhưng anh ta chắc chắn còn băn khoăn hơn về cái ranh giới mong manh, về sự chuyển giao chóng vánh, giữa cái tốt và cái xấu, cái trong sạch và tình trạng vấy bẩn tâm hồn Toàn bộ thế giới cảm xúc, từ cái cảm giác vật chất đến cảm giác nội tâm, từ cái ý thức được và cái không
ý thức được, đã được "tôi" ghi lại tỉ mỉ, thuật lại tỉ mỉ như những thước phim quay chậm Đó
là một trải nghiệm của con người cá nhân trong tư cách một chủ thể tự nhận thức
Cũng thế, nhân vật Tân (Đứa con đầu lòng) không băn khoăn về cái tư cách tốt - xấu,
tận tụy hay vô tâm của một người cha Anh ta băn khoăn nhất là cảm giác được làm cha vào cái lúc đứa con đầu lòng ra đời, đã không đến với anh như đến với mọi người cha khác trong trường hợp tương tự
Như vậy, niềm băn khoăn về năng lực tự nhận thức, năng lực cảm thụ sự sống của con người nói chung và của từng cá nhân cá thể nói riêng thực sự đã thu hút nhiều tâm lực của ngòi bút Thạch Lam Ông thực sự muốn dò biết, khám phá cái cõi thầm kín bên trong của con
người Và nhân vật của Thạch Lam muốn giành cho mình cái hứng thú, cái quyền năng trực
giác, trực cảm: tự nhận
Trang 35thức, tự nhìn ngắm và lắng nghe những bí mật đó của sự sống và tâm hồn Họ xem đó là một sinh thú, một tín hiệu sống của thể chất và tâm hồn, là tự bộc lộ, tự khẳng định
Anh chàng Thanh (Dưới bóng hoàng lan) sau hai năm đi xa về thăm bà Lúc Thanh
ngả lưng trong căn nhà mát mẻ khoan khoái, bà tổ mẫu bước vào, người bà tóc bạc phơ như một bà tiên đi ra từ cổ tích Một cử chỉ rất hồn nhiên, rất đáng yêu: Thanh giả vờ ngủ Kỳ thực chàng đang chăm chú lắng nghe mọi vang động quanh mình, những vang động của lòng
mình [101:222-223]
Nhân vật Thanh và trạng thái tâm hồn của chàng là hiện thân rất đầy đủ cho quan niệm, cái nhìn của Thạch Lam về con người cá nhân nhạy cảm Nhà văn dường như dành hết
sự tinh tế của nội tâm và cảm giác của mình để miêu tả và biểu hiện
1.2.4 Con người nội tâm "phiền phức" trong những quan hệ nhiều chiều với thời gian
Trong những quan hệ nhiều chiều ấy, thái độ của Thạch Lam là khẳng định thực tại,
hiện tại, hướng vào khoảnh khắc giao thời
Với các nhà văn hiện đại, trong dòng chảy của thời gian, quá khứ luôn có một ý nghĩa đặc biệt (trong tương quan với hiện tại, thực tại) Điều này thực ra cũng dễ hiểu Bởi vì những
gì thuộc ngày qua, thuộc thiếu thời, khi đã thành hồi ức, kỷ niệm, thì luôn luôn có một sức sống, một sức ám ảnh lạ kỳ đối với đời sống tinh thần hiện tại của con người, nhất là với những ai vốn nặng tình với quá khứ Thạch Lam và con người trong văn phẩm của ông cũng nặng tình và có nhiều lý do để nặng tình với quá khứ như vậy
Nhưng thời ấy, số đông nhà văn - cũng như tác giả Vang bóng một thời -ngoái nhìn
quá khứ là để phủ nhận nay bày tỏ thái độ bất hòa, xung khắc với thực tại Khi quá nặng tình với quá khứ, người ta thường dễ đắm chìm vào quá
Trang 36khứ, mải mê tìm kiếm, ca tụng những Chiếc cáng xanh (Lưu Trọng Lư), những Chân trời cũ (Hồ Dzếnh), những Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái Hưng), những Chiếc lư đồng mắt cua, những Tóc chị Hoài (Nguyễn Tuân) từng "Vang bóng một thời"
Thạch Lam cũng ngoái nhìn quá khứ và vẫn thường để cho nhân vật hồi tưởng, nhớ lại quá khứ Nhưng ngoái nhìn, tưởng nhớ về quá khứ không phải để than khóc quá khứ, đắm chìm trong quá khứ, thoát ly, bài bác hiện tại, thực tại, trái lại, là để ý thức, cảm biết sâu và đầy đủ hơn về tình cảnh của con người và thế giới trong hiện thời, trong thực tại; cũng là để ý thức rõ hơn, sâu hơn, thành thực hơn về con người thực tại, cảnh tình thực tại của mình
Liên (Một đời người), "thơ dại nhớ lại quãng đời nàng từ lúc đi lấy chồng bảy tám
năm qua " [101:135] không phải là để quay lưng, trốn tránh thực tại, mà là để ý thức rõ hơn
về cái thân phận, cái số kiếp tủi cực ê chề của nàng, về cái lê thê của ngày tháng và cái ngắn
ngủi của tuổi xuân: "Bảy tám năm qua mà Liên tưởng như lâu lắm, hình như đã hết nửa đời
người" [101:135] Quá khứ nặng nề, hiện tại cũng khổ đau, nàng có mơ tưởng đến việc làm
lại cuộc đời với người yêu ở một vùng "đất hứa" xa xôi Nhưng rốt cuộc, Liên vẫn chấp nhận cuộc sống thực tại Đó không hẳn là sự buông xuôi, mà còn do ràng buộc thiêng liêng của tình mẫu tử, do thiên chức làm mẹ Nghĩa là cái bổn phận thực tại, thiên chức trong hiện tại mới là điều quyết định ứng xử của nàng
Huệ (Tôi ba mươi) nhớ lại thời thơ trẻ còn là cô bé quê, sáng mồng một Tết một năm
nào năm nào cũng từng được "mặc áo mới đứng trên thềm nhìn mấy bông hoa đào nở ở trước
vườn" [Sợi tóc, 97:21] Có nhớ về một thời trong trẻo thế, thì Huệ và Liên bạn cô mới ý thức
đau đớn sâu xa hơn cái thiêng của một phút giao thừa sum họp và "tẩy trần" để khấn vái trước gia tiên tổ phụ
Bính (Buổi sớm) một đứa con có những tháng ngày hư hỏng, một buổi
Trang 37sớm thanh tân thức dậy, "thấy mình, lại như ngày trẻ, đang cúi nhìn sương đọng trên chùm lá
tươi non Và tiếng buổi sớm, tiếng gù của đôi chim bồ câu bên hàng xóm từ những ngày đã
qua trong thời niên thiếu, lại hình như vang vang đâu đây" [Nắng trong vườn, 96:124] Quá
khứ thanh tân phục hiện trong hiện tại, xóa nhòa đi những ranh giới để Bính tìm gặp lại chính mình, để tâm hồn Bính, vào cái buổi sớm ấy và sau cái buổi sớm ấy, mãi mãi có thể là "buổi sớm" v.v
Tóm lại, quá khứ được tái hiện là để chiếu rọi một nguồn sáng cần thiết vào hiện tại, thực tại, để con người hiểu mình đang ở đâu, trạng thái nào, cần phải dấn bước như thế nào trong hiện tại, trong thực tại Đó là một thái độ, một cái nhìn đầy tinh thần thực tiễn, mà ta thường thấy rõ ở Thạch Lam, Nam Cao hoặc Xuân Diệu
Cùng với việc khẳng định hiện tại, khẳng định thực tại ở Thạch Lam còn có một xu hướng rất nổi bật qua hầu khắp sáng tác của ông, đó là hướng vào những khoảnh khắc giao thời của thế sự, những phút giây chợt "sáng"của tâm linh
Ở đó có sự chuyển giao giữa ngày và đêm (Trong bóng tối buổi chiều), đêm và ngày
(Buổi sơm), giữa trẻ dại và thành niên (Bắt đầu), giữa mùa cũ và mùa mới (Gió lạnh đầu
mùa), năm cũ và năm mới (Tối ba mươi), ngày cũ và ngày mới (Những ngày mới, Ngày mới), giữa vai trò cũ và vai trò mới (Cô hàng xén), thế hệ trước và thế hệ sau (Hàng nước
cô Dần), giữa cái chết thể xác và cái chết tâm hồn (Hai lần chết), cái chết của mẹ già và cái
chết của con trẻ (Nhà mẹ Lê), giữa đi và về (Dưới bóng hoàng lan, Trở về)
Trong những khoảnh khắc chuyển giao, ta thường bắt gặp một cái "mốc" đột khởi nào
đó của thời gian (mà Thạch Lam thường dùng để đặt tên luôn cho tác phẩm): Buổi sớm, Bắt đầu, Ngày mới, Những ngày mới, Trong bóng tối buổi chiều, Tối ba mươi, Gió lạnh đầu mùa
Trang 38Lịch sử cũng như cuộc đời, xét ở một mặt nào đó, là một chuỗi dài của những cuộc, những cảnh chuyển giao này tiếp nối những cảnh những cuộc chuyển giao khác Điều này càng có ý nghĩa khi thời mà Thạch Lam sống và viết, là thời của những cuộc chuyển giao thế
hệ, chuyển giao giá trị
Thời ấy, khi âm vang hoài cựu não nùng của tiếng gọi đò (Sông lấp) trong thơ Trần
Tế Xương chưa dứt, thì đã tơi tả bên hè phố mùa xuân những chiếc lá vàng rơi trên mực tàu,
giấy đỏ của "những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ" trong thơ Vũ Đình Liên, hay
lóng lánh cái hồi ức "những đêm vàng bên bờ suối - ta say mồi đứng uống ánh trăng tan"
cùng với con hổ nhớ rừng trong thơ Thế Lữ
Trong cuộc chuyển giao, trở dạ ấy, người ta vô tình hay hữu ý và dù muốn dù không cũng phải cắt lìa, rũ bỏ, chia tay, đoạn tuyệt với một cái gì để mở lòng đón nhận một cái gì, hòa nhập vào một cái gì, bắt đầu một cái gì Sự rũ bỏ, đoạn tuyệt có thể làm cho người ta lưu luyến, xót thương cũng như sự đón nhận, hòa nhập có thể làm cho người ta ngỡ ngàng hay miễn cưỡng, chưa đầy đủ lòng tin và tình cảm mến Nhưng dù thế nào đi nữa, thì những thời khắc chuyển giao cũng mở cho thấy những lựa chọn ở đây là đầy dằng xé, dằn vặt và có thể còn đau đớn nữa
Thạch Lam xem những cảnh giao thời, những cuộc chuyển giao kia là một phần thực tại, là một thực tế khách quan mà con người không được phép trốn tránh, trái lại cần phải đối mặt phải chấp nhận, thích nghi, hòa nhập Nếu không thế thì anh sẽ chỉ còn như một cái bóng, một kẻ lạc loài
Có lẽ vì vậy mà trong tác phẩm của Thạch Lam có một loại nhân vật sống lặng lẽ mờ nhạt như những chiếc bóng hay như những ý niệm, đó là những ông đồ, ông tú, những bậc cha chú trong gia đình Những con người này, vào tay Nguyễn Tuân, đã là một thời nổi gió
lên trong những trang văn Vang bóng một
Trang 39thời Nhưng bước vào trang sách Thạch Lam họ lại chỉ như những chứng nhân của ngày hôm
qua Mất chỗ đứng và danh phận xã hội họ như lạc cảnh, lạc thời, như thừa, như đã "chết" trong các gia đình nơi ngoại ô phố chợ của Thạch Lam
Nhưng hiện thân đầy đủ hơn cho những bước chuyển giao của thời gian trong sáng tác của Thạch Lam là những cuộc chia tay, những cảnh chia tay của đôi lứa yêu nhau mà cách biệt nhau về nếp sống, về tâm hồn
Chàng là học sinh, sinh viên trốn thị thành về làng quê nghỉ hè hoặc lên phố huyện trọ học trường huyện gặp nàng là con gia chủ hoặc gặp lại cô bạn thuở thiếu thời Hai người yêu nhau và sống những tháng ngày ngào ngạt hương thơm và bóng mát Cuối cùng thường là
những cuộc chia tay "thấm đẫm nỗi buồn thân phận" [85]
Đôi khi sự tan vỡ của những mối tình kiểu này, là do một lý do khách quan (Đêm sáng trăng) Nhưng phần nhiều là do sự cách bức về mặt tâm hồn (Tình xưa, Nắng trong vườn) Đó thực ra không chỉ là sự chia tay của một người yêu với một người yêu mà là còn là
cuộc chia tay giữa con người với chính mình Cùng với sự ra đi, sự xa cách, quan niệm về
hạnh phúc tình yêu của những chàng trai trong những mối tình kia cũng đổi khác Con người cần phải trưởng thành hơn lên để hiểu rõ hơn về tình yêu và về chính mình Và muốn như
vậy, họ dường như không còn lựa chọn nào khác là phải "giã từ tuổi nhỏ", giã từ những mơ
mộng, những tình cảm quá hồn nhiên thơ trẻ Ở đây, tình yêu tan vỡ nhưng ý thức về cá nhân lại được khẳng định
Trước cảnh chuyển giao thời gian, có thể con người lại tìm được chính mình, trở về
đúng với giá trị bản thể của cá nhân (Ngày mới, Những ngày mới, Dưới bóng hoàng lan )
Nhưng thời gian chuyển giao cũng có thể đưa đẩy con người đứng trước nguy cơ đánh mất
chính mình Ví dụ trong Kẻ bại trận, nhân vật chính tự đối chiếu hình ảnh của mình trong
hiện tại (no đủ, yên ổn, "độc
Trang 40thiện kỳ thân") với hình ảnh của mình trong quá khứ: hào hiệp, sôi nổi, sẵn lòng cứu giúp bạn
bè, đồng sự, đồng hội đồng thuyền Hai hình ảnh này, con người quá khứ và con người hiện tại như hai mảnh vỡ khác biệt sẽ chẳng bao giờ khớp ghép được vào nhau Anh băn khoăn tự
hỏi một cách mỉa mai chua xót: "Cái hình ảnh nào (trong hai hình ảnh ấy) là thật cửa tôi"
[95:156] Rất nhiều truyện khác như Trở về, Cô hàng xén, Tối ba mươi, Một đời người
nhân vật chính cũng có sự đối chiếu và thấy sự tự đánh mất mình như thế
Hướng vào khoảnh khắc giao thời, Thạch Lam hình như đã thực sự sống sâu hơn với thế giới và con người, để có được những trang văn đầy không khí, tâm trạng
Thời gian đời người nơi phố huyện trong sáng tác của Thạch Lam vận hành không chỉ
theo lối tuần tự mà còn theo lối đột biến Cuộc đời mẹ Lê (Nhà mẹ Lê), cô Tâm (Cô hàng xén) nhẫn nại trôi theo những tháng ngày mòn mỏi Nhưng những cuộc đời như vậy sẽ chìm
khuất mù tối mãi Vĩnh viễn sẽ không ai biết đến những gắng gỏi nhọc nhằn của họ, kể cả bản thân họ, nếu không có sự đột biến, những sự kiện bất thường trong dòng chảy của thời gian
Đó là lúc mẹ Lê đánh liều đi vay thóc gạo nhà giàu, bị cậu Phúc "nét mặt gian ác và
tinh nghịch" xua chó Tây "nhe răng, chồm đến" cắn, khiến cho người mẹ ấy vừa chết đói,
vừa chết đau trong hãi hùng, lo lắng Ở Hai lần chết là cái khoảnh khắc Dung về nhà chồng sau cái lần chết đuối được vớt lên Ở Một đời người là khi đoàn tàu đưa người yêu và niềm
hy vọng làm lại cuộc đời của Liên ra đi vĩnh viễn Ở Tối ba mươi chính là cái giây phút sắp
đặt sửa soạn bàn thờ và tìm một lời khấn vái cho hợp tình cảnh của hai cô gái Huệ, Liên v.v
Những khoảnh khắc như thế quá ngắn ngủi trong tương quan với thời gian dài dặc của
cả một đời người bất hạnh, mù tối, nhưng lại là những phút giây "chợt sáng" trong một đời người Nó làm nổi bật số phận cùng ý thức, sự thức