1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy Tin học ở các khoa không chuyên trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương và một số giải pháp

158 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 9,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu với các mục tiêu: điều tra và nắm rõ thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng, kiến nghị và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG VĂN ÂN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC GIẢNG DẠY TIN HỌC Ở CÁC KHOA KHÔNG CHUYÊN TRƯỜNG CAO ĐANG SƯ PHẠM BÌNH

DƯƠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC GIÁO DỤC

MÃ SỐ : 60 14 05 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS : BÙI NGỌC OANH

TP HỒ CHÍ MINH – 2004

Trang 7

PH ẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do ch ọn đề tài:

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và sự hội nhập của nền kinh tế tri thức, lượng tri thức tăng lên theo cấp số nhân, nhu cầu học tập của con người được nâng cao, nhu cầu về chất lượng tri thức mới, hiện đại, phong phú đã trở nên bức thiết Xã hội hoa giáo dục và phổ cập giáo dục đi cùng với xã hội hoa tin học, phổ cập tin học cho mọi người đã trở thành phương châm của giáo dục thời đại Tin học có thể giúp cho mọi người học hỏi nhiều thứ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoa, khoa học, kỹ thuật, ở mọi nơi, mọi lúc, bằng nhiều hình thức học tập trong khoảng thời gian nhất định và chi phí ít nhất

Đảng và nhà nước ta rất quan tâm và coi trọng vai trò của tin học, công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước Đặc biệt, việc ứng dụng và phát triển tin học, công nghệ thông tin trong giáo dục ở mọi ngành, mọi cấp và mọi bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong những năm qua, nhiều trường lớp đào tạo tin học được mở ra phục vụ cho nhiều đối tượng trong xã hội Trong hệ thống đa dạng các loại hình đào tạo về tin học, thì đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng giữ vai trò then chốt, có khả năng đóng góp một cách hiệu quả vào sự phát triển kinh tế, khoa học- kỹ thuật và giáo dục của đất nước Hiện nay, hầu hết các trường cao đẳng đều có bộ môn tin học với sự thành lập các khoa, tổ bộ môn tin học tương đối hoàn chỉnh, đã góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng, phong phú và hỗ trợ một cách có hiệu quả cho các phương thức học chính quy, phi chính qui, học trong trường lớp, tự học, học từ xa

Trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương, một trong những trung tâm giáo dục lớn của tỉnh, đã đưa giáo dục tin học vào nhà trường với nhiều hình thức đào tạo khác nhau Trong các loại hình đào tạo tin học, đối tượng tập trung đông đảo và đáng kể nhất là sinh viên các khoa không chuyên Mục tiêu chung

Trang 8

của giáo dục tin học trong nhà trường là nhằm trang bị những kiến thức tin học

cơ bản theo chương trình của Bộ giáo dục- đào tạo qui định, nhằm đào tạo ra đội ngũ giáo viên có trình độ Cao đẳng có thể giảng dạy tin học ở các trường phổ thông học cơ sở trong tỉnh; bên cạnh đó, giúp các em có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại ngay trong quá trình học tập, trong việc tra cứu, khai thác thông tin, cơ sở dữ liệu, và có thể sử dụng kiến thức tin học ương thực tiễn

xã hội sau khi tốt nghiệp ra trường trong lĩnh vực nghiên cứu và công tác chuyên môn Song, qua thực tế giảng dạy cho thấy, do tính đặc thù của bộ môn, còn mới mẻ so với các ngành khoa học khác trong nhà trường nên việc kết cấu nội dung, chương trình đào tạo cũng có nhiều biến động, vẫn chưa được điều chỉnh, cải tiến và bổ sung một cách cơ bản, chưa theo kịp trình độ chung về giáo dục đào tạo Công nghệ thông tin; việc bố trí thời lượng giảng dạy cho bộ môn chưa sát mục tiêu đào tạo và thực tế của sự phát triển xã hội; tài liệu, sách giáo khoa phục vụ cho môn học còn hạn chế; phương pháp giảng dạy, giáo trình bộ môn do giáo viên tự biên, tự diễn, chưa có sự thống nhất Bên cạnh đó, công tác quản lý việc giảng dạy, quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập chưa được quan tâm đúng mức và còn nhiều bất cập Hậu quả là sau khi tốt nghiệp, khả năng ứng dụng tin học của đa số sinh viên vào thực tế công tác còn nhiều hạn chế Do đó, để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy tin học và đem lại lợi ích thiết thực cho sinh viên, nhất thiết phải có những giải pháp quản lý một cách sâu sát và toàn diện đối với việc dạy học bộ môn

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Dương và một số giải pháp" là vấn đề mang tính cấp thiết Thông qua đề tài này, sẽ là một số cải tiến quan trọng trong công tác quản lý, nội dung, chương trình, phương thức dạy học bộ môn, giúp cho sinh viên có đủ điều kiện phát huy khả năng của mình trong học tập, trong nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu của các em trong thực tiễn công tác

2.M ục đích nghiên cứu :

2.1.Điều tra và nắm rõ thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học

Trang 9

ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

2.2.Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng

2.3.Kiến nghị và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

3.Nhi ệm vụ nghiên cứu :

3.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Vị trí của Giáo dục- Đào tạo trong sự nghiệp đổi mới

- Vị trí, nhiệm vụ của nhà trường cao đẳng trong công cuộc đổi mới

- Vai trò của Công nghệ thông tin ương sự nghiệp đổi mới giáo

- Quan điểm của Đảng về phát triển Công nghệ thông tin trong giáo dục

- Hoạt động quản lý và một số khái niệm có liên quan

- Nội dung công tác quản lý việc giảng dạy tin học

3.2.Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

3.3.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng

3.4.Kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

3.5.Một số thực nghiệm cải tiến quản lý về nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng

Trang 10

- Hoạt động quản lý việc giảng dạy của giáo viên tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

- Sinh viên của các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

4.2.Đối tượng nghiên cứu :

- Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tin học

- Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

5.Giả thuyết nghiên cứu :

Công tác quản lý việc giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương đã thực hiện tương đối tốt ở một số mặt

và đạt được một số kết quả kết quả nhất định Tuy nhiên, hiệu quả của việc giảng dạy vẫn chưa cao, còn những tồn tại cần khắc phục Nếu khắc phục được những tồn tại này và áp dụng các giải pháp đề xuất một cách khoa học thì hiệu quả quản lý và chất lượng giảng dạy sẽ tăng lên rất nhiều, đáp ứng được nhu cầu của sinh viên khi ra trường giảng dạy và yêu cầu cấp thiết của xã hội

6 Phương pháp nghiên cứu :

6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý

s ố liệu

-Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến:

- Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và tham khảo những đề tài liên quan đã có trước đây

- Phiếu trưng cầu ý kiến có hai loại:

-Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên :

Trang 11

- Gồm 21 câu hỏi được soạn thảo với nhiều mục nội dung và hình thức khác nhau: trong mục công tác quản lý có 4 câu hỏi; mục nội dung chương trình có 2 câu hỏi; mục thời lượng môn học có 3 câu hỏi; mục phương pháp giảng dạy có 2 câu hỏi; mục trình độ sinh viên có 5 câu hỏi; mục hướng dẫn học tập có 1 câu hỏi; mục phương tiện kỹ thuật có 2 câu hỏi; mục đánh giá sinh viên có 2 câu hỏi Có loại câu hỏi gồm 3 đến 4 lựa chọn và giáo viên chỉ được chọn duy nhất một lựa chọn, có loại câu hỏi với nhiều lựa chọn và giáo được quyền chọn những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến của mình

-Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho sinh viên:

- Gồm 17 câu hỏi cũng được soạn thảo với nhiều hình thức khác nhau: trong mục nội dung, chương trình có 3 câu hỏi; mục thời lượng môn học có 2 câu hỏi; mục nhu cầu, hứng thú học tập có 6 câu hỏi; mục đánh giá khả năng học tập và ứng dụng tin học có 3 câu hỏi; mục trang thiết bị có Ì câu hỏi; mục phương pháp có 2 câu hỏi Có loại câu hỏi gồm 3 đến 4 lựa chọn và giáo viên chỉ được chọn duy nhất một lựa chọn, có loại câu hỏi với nhiều lựa chọn và giáo được quyền chọn những lựa chọn nào mà họ cảm thấy phù hợp với ý kiến của mình

- Cách tiến hành :

+ Giai đoạn 1: Gặp gỡ các giảng viên trong tổ bộ môn tin học để thực hiện phiếu trưng cầu ý kiến Tiến hành phân loại, xử lý số liệu, và bình luận từng vấn đề

+ Giai đoạn 2 : Liên hệ và gặp gỡ sinh viên để thực hiện phiếu trưng cầu

ý kiến Tiến hành phân loại, xử lý số liệu,và bình luận từng vấn đề trên 6.3- Phương pháp quan sát & phỏng vấn:

- Quan sát giờ học thực hành tin học của sinh viên các lớp ở phòng máy vi tính Ghi chép và nhận xét các mặt: kiến thức, kỹ năng, trình độ, thái độ học tập của sinh viên

Phỏng vấn và ghi nhận ý kiến của một số lãnh đạo, phòng đào tạo, và các chủ nhiệm khoa về nội dung, chương trình, thời lượng môn học, cơ sở vật chất

Trang 12

phục vụ dạy học bộ môn

6.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng

- Tổng kết điểm số đạt được về bộ môn tin học của sinh viên mỗi khoa Ương từng năm học từ 1999- 2000 đến năm học 2003- 2004 Phân loại: giỏi, khá, trung bình, yếu Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm (PL4)

- Nắm rõ kết quả học tập bộ môn tin học của sinh viên ở các khoa không chuyên trường Cao Đẳng Sư phạm Bình Dương, theo từng năm học từ 1999-

2000 đến năm học 2003- 2004 Thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm và nhận xét kết quả học tập của sinh viên

6.5 Phương pháp thực nghiệm :

Đây là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu hiệu quả của những giải pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

-Mục đích: Tiến hành thực nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

-Cách tiến hành thực nghỉệm: Chọn ra hai nhóm, nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng để nhận xét, so sánh giữa hai nhóm sinh viên để tìm ra sự khác biệt giữa hai nhóm, kiểm định hiệu quả các giải pháp tác động

6.6 Phương pháp toán thống kê :

Để tiến hành phân tích, xử lý số liệu điều tra nhằm định lượng kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS for WIN 10.5 để tính trị số trung bình M, độ lệch chuẩn P

- Số liệu được quy ước sau:

+ Đối với câu hỏi có 4 khả năng trả lời

a = 4;b = 3;c=,2;d= 1

+ Đối với câu hỏi có 3 khả năng trả lời a = 3; b = 2; c = 1

Trang 13

7.Ph ạm vi nghiên cứu :

7.1.Ph ạm vi nghiên cứu :

- Việc quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

7.2 Địa bàn nghiên cứu :

- Hoạt động giảng dạy của tổ tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương

- Sinh viên ở các khoa không chuyên : Anh văn, sử, địa, giáo dục công dân, thể dục - công tác đội, cao đẳng tiểu học chuyên tu, cao đẳng mầm non, cao đẳng nhạc, cao đẳng mỹ thuật

Trang 14

- " Ứng dụng công nghệ thông tin và những vấn đề cần xem xét đổi mới trong hệ thống phương pháp dạy học môn toán " của Tiến sĩ Đào Thái Lai (Viện khoa học giáo dục) Đã nêu lên vai trò của công nghệ thông tin trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học toán, xây dựng môi trường dạy học đa phương tiện: máy tính, video, máy chiếu đa năng, mạng internet, website giáo dục, phát huy tính tích cực của học sinh; " Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục ở Việt Nam" của PSG-TS Lê Hồng Sơn Đã nếu việc ứng dụng của công nghệ thông tin trong sự nghiệp cải cách giáo dục, đóng góp như một phương thức và các giải pháp hữu hiệu cho việc thực hiện những đổi mới về nội dung, phương thức giáo dục, các hình thức dạy và học đa dạng, phong phú: tự học, học từ xa, chính qui, phi chính qui

- " Một số vấn đề về sử dụng phần mềm ( SOFTWARE ) trong giảng dạy hoa học" của nhóm tác giả (Hà thị Lan Hương, Lê trọng Tín, Nguyễn Đức Chùy) khoa hoa Đại học sư phạm Hà nội Nêu lên các công dụng hỗ trợ của

Trang 15

máy tính trong việc sử dụng phần mềm ghi trên đĩa CD trong giảng dạy môn hoá

- "Sử dụng hệ thống mạng đào tạo đa phương tiện trong dạy học"- Ths Vương Đình Thắng ( Đại học sư phạm - Đại học Huế) Nêu lên vai trò tác dụng của hệ thống phương tiện HiClass, như một mạng máy tính giao tiếp hai chiều, với khả năng truyền thông đa phương tiện, với sự hấp dẫn của âm thanh, hình ảnh tạo nên môi trường dạy học tương tác mạnh mẽ Người dạy luôn giữ vai trò chủ thể, thiết kế, tổ chức, giám sát, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học, người học có điều kiện phát huy sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu vấn đề Hiệu suất học tập của học sinh sẽ được tăng cường trong môi trường học tập

- "Sử dụng hiệu quả phần mềm Powerpoint để làm cho phương pháp thuyết trình trở thành phương pháp dạy học tích cực" của Thạc sĩ Ngô Quang Sơn (Viện khoa học giáo dục) Nêu lên tác dụng tích cực của phần mềm Povverpoint, làm thay đổi môi trường học tập Giúp giáo viên chủ động trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể chia nhỏ bài giảng, nhấn mạnh các nội dung chính, quan trọng và sinh viên có thể chú ý cao hơn, hoạt động nhiều hơn,

và có thể tự tóm tắt nội dung bài giảng dễ dàng hơn

- "Thiết kế bài học môn Công nghệ thông tin theo hướng dạy học tích cực

và tương tác" của TS - Nguyễn Văn Khôi và Ths - Lê Huy Hoàng -Trường Đại học sư phạm Hà Nội Đã nêu lên đặc điểm của dạy học tích cực và tương tác, quá trình học tập hướng vào học sinh, tăng cường sự hứng thú, giảm việc trình bày những tri thức sẩn có, áp đặt, mà chủ yếu trình bày thông tin và gợi ý các phương án xử lý thông tin

- " Khai thác phần mềm PCFACT trong dạy - học địa lý" của tác giả Nguyễn Trọng Phúc - Đại học sư phạm Hà Nội Nêu lên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học địa lý bằng phần mềm PCFACT góp phần làm thay đổi các phương pháp dạy - học truyền thống và tạo tiền đề cho đổi mới cho việc cải tiến nội dung dạy học và thiết kế bài giảng địa lý

- "Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin- xu thế của

Trang 16

thời đại" của tác giả Quách Tuấn Ngọc (Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ giáo dục và đào tạo) Nêu lên quá trình dạy và học thực chất là quá trình phát

và thu thông tin, muốn thu nhận số lượng lớn thông tin phải biết tận dụng các phương tiện truyền thông để đưa thông tin vào ở nhiều cửa và nhiều dạng khác nhau Phương pháp dạy theo Công nghệ thông tin dựa vào công nghệ mới như

phim chiếu, đèn Overhead, phần mềm hỗ trợ bài giảng, máy chiếu đa năng prọịector, phần mềm tự học,, tự kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính, trao đổi qua mạng Internet làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh, nhiều hơn và hiệu quả hơn

-"Về việc ứng dụng công nghệ thông tin để dạy âm nhạc" của tác giả Phan Quân- Nguyên giám đốc trung tâm tin học cơ sở Giáo dục -Đào tạo Hải Phòng Dùng phần mềm máy tính để dạy các phân môn của âm nhạc : Dạy hát, dạy tập đọc nhạc, dạy thường thức âm nhạc, hô trợ việc sáng tác, phôi âm các tác phàm âm nhạc, thưởng thức âm nhạc bằng máy tính

Ngoài ra, còn nhiều đề tài, bài viết khác có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin như : Xây dựng phần mềm quản lý cán bộ, công chức ngành giáo dục đào tạo (trung tâm Công nghệ thông tin Bộ giáo dục và đào tạo); "ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy Vật lý" của ( Viện Vật

lý Kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà nội); bài viết "Thực hành đổi mới phương pháp dạy và học bằng Công nghệ thông tin" (của Phạm trường Lưu, phòng giáo dục quận Hai Bà trưng ); bài " Một số hiệu quả bước đầu về việc ứng dụng CNTT trong quản lý, giảng dạy các môn học tại trường THPT Phụng Hiệp" (của Nguyễn Văn Ba, Hiệu trưởng THPT Phụng Hiệp cần Thơ ); " Một số công tác đổi mới quản lý đào tạo sử dụng công nghệ thông tin tại trường Đại học sư phạm Hà Nội" (của Nguyễn Văn Bính, Nguyễn Phú Thu , ĐHSP-HN); " Những vấn đề về chương trình ứng dụng CNTT Và truyền thông trong nhà trường phổ thông" (của Lê Thuận Vượng, Vụ giáo dục thường xuyên, Bộ giáo dục); bài viết " Khai thác và tổ chức dữ liệu tri thức trong dạy- tự học môn toán trong môi trường ÍT" (tác giả Trần Thái Hà, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục); "Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng phương tiện kỹ

Trang 17

thuật" ( Ths Vũ Mạnh Xuân, ĐHSP Thái Nguyên )

Nhìn chung, các đề tài, bài viết trên đã nghiên cứu nhiều vân đề, đề cập nhiều mặt của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhiều lĩnh vực khác nhau Riêng trong lĩnh vực giáo dục thì công nghệ thông tin được xem như một môn học vừa là phương tiện hỗ trợ hữu hiệu trong giáo dục - đào tạo, trong việc thiết kế bài giảng, việc sáng tạo ra các phần mềm phục vụ cho giảng dạy trong phạm vi của một môn học cụ thể nào đó để nhằm cải tiến phương pháp, nội dung, hình thức dạy và học theo hướng tích cực, hiện đại và hiệu quả Tuy nhiên, ít có một đề tài nào nghiên cứu một cách xác thực về thực trạng của việc dạy và học bộ môn tin học, cùng với việc đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả

để nâng cao chất lượng giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên ở trường cao đẳng một cụ thể và sâu sắc

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.V ị trí của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới

Trong thế kỷ 21, khoa học - công nghệ đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp và nòng cốt, là lực lượng cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Tri thức đã thật sự trở thành một yếu tố có sức sống quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất, là hạt nhân kết nối và thúc đẩy các yếu tố sản xuất khác Ai nắm được tri thức thì sẽ ở vào địa vị chi phối kinh tế

xã hội; quốc gia nào nắm được nhiều tri thức sẽ chi phối kinh tế toàn cầu Chính tiền đề xán lạn đó đã làm cho các quốc gia phải nhanh chóng tranh thủ tìm biện pháp thích ứng và cạnh tranh với kinh tế tri thức Cũng từ đây các nền giáo dục phải đổi mới theo chiều hướng của kinh tế tri thức

Giáo dục trong xã hội học tập của thế kỷ 21 là giáo dục cho tất cả mọi người, cho cuộc sống, trang bị cho cá nhân khả năng đối mặt với các thay đổi Trong xã hội học tập, mọi người được quyền học tập và không ngừng học tập, suy luận, sáng tạo, học suốt đời Với việc học suốt đời, mọi người được bồi dưỡng các năng lực trí tuệ, được cung cấp đầy đủ kiến thức và có khả năng tìm kiếm những tri thức cần thiết cho cuộc sống trong môi trường của nến kinh tế -

xã hội liên tục biến đổi và phát triển

Do vậy, vấn đề cốt lõi nhất đối với giáo dục là phải đổi mới nội dung và phương thức đạo tạo, nhằm tạo ra những con người mới, con người của một xã hội tri thức, có năng lực tốt, làm việc chủ yếu với thông tin và tri thức Con người có năng lực tri thức phải biết tiếp thu một cách chủ động kiến thức qua việc học, biết tự mình tìm ra những tri thức, có khả năng vận dụng tạo ra những tri thức mới cần thiết cho cuộc sống và cho hoạt động của mình Chính vì vậy, việc giáo dục học sinh trong nhà trường cần lưu ý đến giai đoạn "học", giai đoạn này là hết sức quan trọng để trang bị cho người học một vốn kiến thức cơ bản và cần thiết ương suốt cả cuộc đời

Chính giáo dục có vai trò quan trọng trong việc định hình xã hội học tập

Trang 19

và làm vững mạnh xã hội học tập Vì vậy, xã hội cần đối xử với giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cao đẳng như một ngành công nghiệp nặng của xã hội, cần đầu tư lớn cho giáo dục và cần thực hiện công nghệ đào tạo mới cho giáo dục, với nội dung giáo dục mới và phương pháp giáo dục mới, để sao cho giáo dục thích nghi được với môi trường xã hội đang thay đổi và chuyển dịch mô hình theo trục đo lường là chất lượng giáo dục con người chứ không phải là bằng cấp

2.2.Nhi ệm vụ của trường cao đẳng sư phạm trong giai đoạn đổi mới

Trường cao đẳng sư phạm Bình Dương là một trong những trung tâm giáo dục lớn của tỉnh Nhà trường được sự quản lý và chỉ đạo của Bộ giáo dục-đào tạo, Sở giáo dục- đào tạo và ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương Mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường luôn gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đất nước và của tỉnh Hiện nay, nhà trường quản lý và tổ chức đào tạo nhiều ngành học với nhiều loại hình khác nhau, từ đào tạo chính quy đến không chính quy, liên kết đào tạo Trước yêu cầu đổi mới của giáo dục, trường Cao Đẳng sư phạm Bình Dương đã thực hiện đổi mới phương thức giáo dục, đào tạo theo xu thế mới của sự phát triển, trên cơ sở dân chủ hoá, hiện đại hoa giáo dục

Nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường không chỉ đơn thuần đào tạo ra số lượng cán bộ giảng dạy, khoa học kỹ thuật và quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, mà còn có nhiệm vụ cung cấp cho sinh viên có đủ

úi thức, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, dạy cho họ phương pháp tự học và tự nghiên cứu suốt đời; biết sử dụng các thành tựu của khoa học công nghệ mới, biết giải quyết trúng, nhanh các vấn đề đặt ra trong cuộc sống

Trong đổi mới phương thức đào tạo và cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng của quá trình đào tạo, nhà trường thực hiện chức năng: vừa đào tạo, vừa bồi dưỡng, vừa nghiên cứu khoa học Nội dung dạy học gắn chặt với khoa học- công nghệ hiện đại, tổ chức quản lý trường cao đẳng theo kiểu mới, theo tinh thần dân chủ, công khai, mở rộng liên kết với các trường đại học

Nhà trường luôn coi trọng việc áp dụng Công nghệ thông tin và truyền

Trang 20

thông trong quản lý và đào tạo, quan tâm đến việc ứng dụng và phát triển tin học cho đội ngũ giáo viên và sinh viên Đối với sinh viên, việc học và sử dụng tin học được xem là một nhu cầu quan trọng và rất cần thiết để truy cập thông tin phục vụ cho học tập và nghiên cứu Với sự trợ giúp của tin học, trình độ chuyên môn, khả năng tư duy, sáng tạo và khả năng tự học của sinh viên sẽ không ngừng được nâng cao Đối với giảng viên, nhà trường đã tổ chức giảng dạy tin học cho giảng viên (coi như một hình thức bắt buộc), đa số các giảng viên của trường biết sử dụng công nghệ thông tin Trình độ và hiệu quả sử dụng tin học của cán bộ, giảng viên có nhiều tiến bộ đáng kể Nhiều người đã

sử dụng máy tính thành thạo để soạn giáo án, giáo trình giảng dạy, làm đề thi, lên điểm, lưu trữ tài liệu, lịch công tác và thời khoá biểu Nhiều giảng viên ứng dụng tin học, sử dụng thành thạo các phần mềm phục vụ trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Nhìn chung trong những năm qua, nhà trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục, đào tạo Từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng tin học trong giảng dạy, khai thác tối ưu các hệ thống thiết bị máy tính, các phương tiện thông tin hiện đại, luôn lấy nhiệm vụ đào tạo nhân lực chuyên môn làm trọng tâm, phát huy đầy đủ tài năng và trí tuệ của giảng viên và sinh viên

Trong thời gian tới, căn cứ vào chủ trương của Đảng, để nâng cao hiệu quả ứng dụng tin học trong giáo dục, đào tạo, sử dụng một cách có kế hoạch đội ngũ cán bộ tin học, khai thác hết công suất, tính năng, tác dụng của hệ thống thiết bị máy tính trong nhà trường vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhà trường cao đẳng sẽ không ngừng cải tiến phương thức đào tạo, và giải pháp quản lý trong việc tổ chức dạy học tin học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập tin học của sinh viên, đáp ứng yêu cầu của Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 "Phổ cập kiến thức tin học cơ sở trong nhà trường, đặc biệt chú trọng khả năng truy cập và xử lý thông tin trên mạng", từ đó " Đảm bảo cho sinh viên sau khi tốt nghiệp sử dụng tốt máy tính

Trang 21

để thu thập và xử lý thông tin , nâng cao năng lực hội nhập quốc tế"

Các đặc điểm và yêu cầu trên đây đã khẳng định vị trí, nhiệm vụ của nhà trường cao đẳng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hệ thống tổ chức và phương pháp đào tạo trong thời đại mới Đòi hỏi tổ chức và phương pháp dạy học cao đẳng phải gắn liền với ngành nghề, nghiên cứu khoa học, khoa học công nghệ

và thực tiễn xã hội

2.3.Vai trò c ủa công nghệ thông tin trong sự nghiệp đổi mới giáo dục

Trong thiên niên kỷ mới, công nghệ và mạng thông tin sẽ làm thay đổi cách thức thông tin giữa các nước Các quốc gia sẽ có sự liên thông với nhau về kinh tế, văn hoa, và mối liên kết này sẽ ngày càng phát triển trong tương lai Trong thế giới như vậy, tri thức và việc ứng dụng các tri thức thực sự trở thành một tài sản quan trọng trong sự đi lên của kinh tế và xã hội Giáo dục có nhiệm

vụ trang bị cho lực lượng lao động các kỹ năng và tri thức phù hợp với nền kinh tế xã hội mới

Đổi mới giáo dục bằng việc phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin

và truyền thông (CNTT và TT), là con đường, là giải pháp tất yếu và là quan trọng nhất hiện nay, mà tất cả các nước đều quan tâm thực hiện Cụ thể là đổi mới về quản lý giáo dục, về chương trình đào tạo mọi ngành, về phương pháp dạy học và sử dụng CNTT - TT, nhận thức và tư duy về CNTT và TT

Trong cải cách giáo dục, CNTT có vai trò rất quan trọng, đã đóng góp các công cụ, phương thức và các giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện những đổi mới về nội dung và phương thức giáo dục Đối với giáo dục, CNTT có một vai trò kép: vừa tạo ra một môi trường mới cung cấp những điều kiện và phương tiện thuận lợi cho các hình thức dạy và học đa dạng, phong phú, lại vừa là một ngành học với những quan điểm, nội dung, phương pháp đặc thù đang được tiếp tục mở rộng và hoàn thiện và ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống tri thức của con người Vì vậy, việc giáo dục- dạy học CNTT trong nhà trường cũng cần phải chú trọng trên cả hai mặt: một mặt

là phổ cập tin học cho mọi người như một phương tiện để sống và làm việc trong xã hội thông tin, biết sử dụng CNTT như một công cụ trong các hoạt

Trang 22

động của mình; mặt khác là nhằm đào tạo các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau của CNTT

Nhìn chung, Công nghệ Thông tin và Truyền Thông (CNTT- TT) đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi thế giới nói chung và đặc biệt cho giáo dục CNTT- TT đã làm nên một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, tạo ra Công nghệ giáo dục (Education Technology ) với nhiều thành tựu rực rỡ :

* Công nghệ dạy và học ( Teachỉng and Learning Technology )

- Làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học với nhiều hình thức phong phú Mối giao lưu giữa máy tính và người đã trở thành tương tác hai chiều với nhiều phương tiện truyền thông (Mutimedia) là âm thanh, tiếng nói, hình ảnh, phim, mà đỉnh cao là mạng Internet (e-learning)

-Chính nhờ có công cụ mới mà giáo dục có thể thực hiện những tiêu chí học tập mới: học mọi nơi (anyvvhere), học mọi lúc (anytime), học mọi thứ (ôn anythings), học một cách mở và mềm dẻo, học suốt đời ( open and Hexible lifelong learning) Bản chất của quá trình dạy và học là quá trình TT- TT : (Thông Tin và Truyền Thông) Thông tin là nội dung bài giảng và tri thức cần truyền đạt Quá trình trao đổi thông tin (truyền thông ) là quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giữa người học và tư liệu học tập

* Công nghệ quản lý giáo dục (Education Managemant Technology )

-CNTT và TT làm thay đổi cung cách điều hành và quản lý giáo dục, hỗ trợ công cuộc cải cách hành chính để làm việc hiệu quả hơn ( kinh tế, thời gian, thông tin, tri thức ) và quản lý quá trình học tập ( Learning Management) Bản chất quá trình quản lý giáo dục cũng là CNTT- TT Công nghệ dạy và học sẽ

hỗ trợ trực tiếp quá trình học tập của người học, trong khi đó công nghệ quản lý giáo dục là phần hỗ trợ gián tiếp cho quá trình học tập Song, cả hai đều ảnh hưởng đến kết quả của người học Từ bản chất của CNTT chúng ta cũng phải đổi mới nhận thức về vai trò của CNTT- TT đối với giáo dục : CNTT- TT không chỉ đơn giản là một ngành học mà phải thấy rộng ra là công cụ cho mọi cuộc đổi mới giáo dục, cho mọi ngành, mọi bậc học,(kể cả ngành xã hội nhân

Trang 23

văn và bậc học mẫu giáo), cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc và mọi hình thức giáo dục Đó là các tiêu chí mới của giáo dục trong giai đoạn đổi mới

-Tuy nhiên, có thêm nhiều công cụ, phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học thì không có nghĩa là người thầy bớt việc làm Người thầy phải làm việc tốt hơn vai trò của một người hướng dẫn cho học sinh qua các quá trình tìm kiếm

tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức, qua đó, trau dồi khả năng độc lập tư duy và sáng tạo cho người học Do vậy, để ứng dụng hiệu quả CNTT trong giáo dục thì nhất thiết không thể thiếu vai trò của người thầy trong việc

sử dụng kỹ thuật của CNTT, tham gia phát triển các phần mềm dạy học thông minh, soạn các bài giảng, các phương án, các mẫu đối thoại phục vụ cho người học, tự học, tham gia các hoạt động tư vấn giáo dục, phải làm sao cho khi sử dụng một phần mềm dạy học thì không phải là dùng máy tính để thay thế một thầy giáo mà là thay một người thầy bằng trí tuệ và kinh nghiệm tổng hợp của nhiều thầy giỏi trong dạy học và giáo dục, còn máy tính chỉ là công cụ để thể hiện

-Việc nâng cao năng lực dạy học của người thầy thông qua trang bị đầy

đủ hiểu biết và kỹ năng về CNTT sẽ đóng vai trò quan trọng và hiệu quả trong việc thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục

2.4 Quan điểm của Đảng về phát triển công nghệ thông tin trong nhà trường

-Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ hội tốt cho giáo dục nước ta nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới; tiếp cận với những cớ sở lý luận, phương pháp tổ chức, nội dung hiện đại

và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển Quá trình hội nhập quốc tế là một thời cơ cho giáo dục - đào tạo nước ta vươn lên đạt các chuẩn mực khu vực và quốc tế, thúc đẩy chúng ta nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời tạo thêm cho chúng ta nguồn lực bổ sung về thông tin, tri thức, chuyên gia, tài chính, để nhanh chóng nâng cao trình độ giáo dục - đào tạo nước ta, rút ngắn gián cách với các nước tiên tiến Con đường nhanh chóng giúp nước ta sánh vai với các cường quốc là con đường phát triển

Trang 24

giáo dục và khoa học công nghệ Trong sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước Đảng và Nhà nước ta chủ trương : Cùng với giáo dục là quốc sách hàng đầu, công nghệ thông tin là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước

-Có rất nhiều văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước chỉ đạo về việc phát triển công nghệ thông tin và truyền thông ở nước ta, đặc biệt đưa công nghệ thông tin vào môi trường giáo dục

- Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học, "

- Nghị quyết 7 của BCHTW Đảng khoa VII, ngày 30/7/1994 xác định:

"Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoa và tin học hoa kinh tế quốc dân"

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: " ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra

sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế"

- Nghị định số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ về "Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90"

- Nghị quyết 7/2000/NQ/CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về việc phát triển công nghệ phần mềm 2000-2005

-Mục tiêu đề ra đến năm 2010, Công nghệ thông tin Việt Nam phải đạt được một số mục tiếu cơ bản sau đây:

+ Công nghệ thông tin phải được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, Công nghệ thông tin trở thành mũi nhọn, có tỉ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước

+ Mạng thông tin quốc gia là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ

Trang 25

thông tin

+ Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu tố then chốt

có tính quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển

+ Phát triển công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là công nghệ phần mềm

+ Ứng dụng rộng rãi có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội: các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị đi đầu trong việc triển khai

và ứng dụng, theo phương châm thiết thực, có hiệu quả

+ Tạo môi trường cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin 'trên

cơ sở an ninh, an toàn, tránh những rủi ro, tháo bỏ nhận thức và qui định không phù hợp, phải có chế độ ưu đãi hợp lý

+ Đẩy mạnh việc đào tạo nhân lực cho công nghệ thông tin: đẩy mạnh xây dựng mạng thông tin quốc gia, hệ thống viễn thông và Internet Việt Nam Tăng cường giải pháp quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin

-Đối với giáo dục, có nhiều Nghị quyết, chỉ thị về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục

- Nghị quyết 4, BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam ( khoa VII) đã chỉ rõ:

“Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu Đó là một động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện những mục tiêu kinh

tế - xã hội”

- Trong chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về việc đẩy mạnh phát triển Công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp hiện đại hoa - công nghiệp hoa và quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 đã chỉ rõ : "Trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, ngành học"

- Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục : về việc Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-

2005 Đã chỉ đạo : Xây dựng hệ thống mạng thông tin trong ngành giáo dục, từ

Trang 26

cấp lãnh đạo đến cấp cơ sở, từ hệ thống mẫu giáo đến đại học Nêu rõ, nhiệm

vụ của nhà trường đào tạo ra những công dân có trình độ, có năng lực sáng tạo, biết áp dụng và sử dụng thành thạo thành tựu khoa học và công nghệ tin học, tạo ra nguồn lực khoa học -công nghệ cho ngành và cho đất nước Và vai trò của nhà giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức, mà chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, tạo điều kiện tối

đa cho việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và trong học tập

- Nhiệm vụ quan trọng nhất là đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ dân trí

và phát triển nhân tài, đặc biệt là nhân tài cấp cao trên cơ sỏ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn khoảng cách với các nước khác

- Cơ cấu lại hệ thống giáo dục từ nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, sách giáo khoa, các loại hình đào tạo theo hướng phát triển khoa học công nghệ, tin học

- Phải hướng mục tiêu giáo dục và đào tạo vào khoa học công nghệ, tin học, mạng internet vào trường học từ mầm non đến đại học, hình thành cho các

em ngay từ đầu về khoa học công nghệ tuy theo cấp lớp mà có nội dung cho phù hợp và thích ứng gồm cả lý thuyết và thực hành

- Ngành giáo dục phải nối mạng máy tính với các cơ sở trường học, làm việc, báo cáo qua hệ thống máy tính, tạo điều kiện cho sinh viên học qua mạng internet

- Trường học phải là nơi hướng mũi nhọn của công nghệ tin học, phải thường xuyên tổ chức thi tài năng giỏi về khoa học công nghệ, tin học để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ

- Trong giảng dạy và học tập, ngành giáo dục phải chỉ đạo cho các trường,

sở, hướng việc dạy học bằng phương pháp mới có sử dụng tin học và các thiết

bị của công nghệ thông tin như dạy bằng đèn chiếu, dạy qua mạng, dạy qua màn hình máy vi tính, hệ thống nghe nhìn Multimedia, phòng Lab Đây cũng chính là giải pháp để giáo viên áp dụng phương pháp mới mà xã hội đang yêu cầu, phương pháp này giúp cho người dạy chủ động trong việc truyền thụ tri

Trang 27

thức, học sinh dễ tiếp thu hơn và không nhàm chán, đồng thời cũng cho học sinh tiếp cận với công nghệ tin học ngay từ đầu

- Giáo dục phải tạo ra các phần mềm phục vụ cho đất nước, cho bản thân ngành, phần mềm phục vụ cho giảng dạy các bộ môn khoa học cơ bản và khoa học xã hội

Việc ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội

ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cấp bách của của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam để tiến tới xây dựng một xã hội văn minh, công bằng, dân giàu, nước mạnh, ấm no và hạnh phúc

Các trường đại học, cao đẳng sẽ là trung tâm đào tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực công nghệ thông tin có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, công tác quản lý việc giảng dạy và học tin học được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của giáo dục hiện nay

do họ biết cải tiến phương pháp quản lý nên đã phát huy được sức mạnh trí tuệ của con người Ngược lại, công tác quản lý tốt sẽ tác động hạn chế, ngăn cản sự phát triển kinh tế và xã hội, lãng phí sức người, sức của và chát xám, làm nghèo, làm chậm sự phát triên của đất nước

Mục đích của công tác quản lý ngày nay là tìm cách tác động, tạo điều kiện và làm cho mỗi người làm việc tốt hơn Vì lao động là nguồn gốc của sự giàu có của trí tuệ, tài nguyên vô tận của con người Xã hội càng phát triển thì lao động quản lý càng trở nên phức tạp vì xã hội đòi hỏi sự phân công hợp lý

và sự hợp tác chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều người Bất kỳ một tổ

Trang 28

chức nào muốn hoạt động có hiệu quả, có chất lượng đều phải thông qua hoạt động quản lý

và sự bất mãn cá nhân ít nhất"

- Cái chính trong quản lý là quan hệ giữa người với người Trong quan hệ này, bên làm phát sinh các tác động gọi là chủ thể quản lý, còn bên tiếp nhận gọi là khách thể quản lý

Như vậy, quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Có 4 yếu tố cơ bản của quản lý:

- Hướng tới các mục tiêu

- Thông qua con người

- Với kỹ thuật và công nghệ

- Thực hiện bên trong một tổ chức nhất định

Hiện nay, vấn đề quản lý chất lượng được quan tâm rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo

2.5.2.Gi ải pháp quản lý:

Quản lý nói chung và quản lý đào tạo đại học, cao đẳng nói riêng luôn luôn là hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều khâu, nhưng xét đến cùng thì khâu cách làm, khâu giải pháp (GP) là quan trọng nhất Nói chung, trong một hoạt động bất kỳ, hay một cuộc cách mạng thì giải pháp vẫn là khâu then chốt, có ý

Trang 29

nghĩa thành công, hiệu quả và chất lượng

Vấn đề giải pháp, trong khoa học cũng như trong thực tiễn đời sống có rất nhiều thuật ngữ: Giải pháp, phương pháp, biện pháp, thủ pháp, phương sách, kế sách, v.v ( Chúng tôi cũng xin không điểm qua hay hệ thống các định nghĩa và quan niệm về giải pháp) Những thuật ngữ này có các khía cạnh khác nhau, song, chúng đều thể hiện cái nội dung là cách làm, là phương thức hành động- hoạt động để đạt được mục đích định sẩn Trong đề tài này thuật ngữ giải pháp được hiểu như một phương thức hành động- hoạt động mang tính chiến lược, tổng thể và toàn diện và để thực hiện giải pháp có khi phải áp dụng nhiều biện pháp

2.5.3.Qu ản lý giáo dục :

Là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối

và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Quản lý giáo dục được diễn ra trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thồ (tỉnh, huyện) và quản lý đơn vị cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường)

2.5.4.Qu ản lý nhà trường :

Là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhằm huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đưa nhà trường tiến lên trạng thái phát triển mới

Cấp quản lý trường học cao nhất là Bộ giáo dục - Đào tạo, quản lý nhà

Trang 30

trường bằng các giải pháp vĩ mô cấp quản lý trung gian là sở giáo dục - đào tạo ở tính và các Phòng giáo dục ở các huyện, thị cấp quản lý trực tiếp và quan trọng của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý nhà trường

Hiệu trưởng là chủ thể quản lý nhà trường, tác động đến từng nhóm người, từng cá nhân, trong tập thể nhà trường (bao gồm: các tổ chuyên môn, nhóm giáo viên bộ môn, chủ nhiệm, công đoàn, đoàn thanh niên, đội,hội phụ huynh học sinh, tập thể học sinh ) và thông qua đó tác động đến từng bộ phận

và từng nhiệm vụ của hệ thống giáo dục (nhà trường), từng thành tố của các quá trình sư phạm Mỗi chức năng cụ thể của giáo dục là sự kết hợp giữa một chức năng cơ bản của quản lý với một thành tố của hệ thống giáo dục ( nhà trường)

Chất lượng của công tác dạy học - giáo dục ỏ nhà trường không chỉ phụ thuộc vào công tác của mỗi giáo viên mà còn phụ thuộc trực tiếp vào mức độ quản lý của hiệu trưởng trường học Do đó, một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục là phải nâng cao chất lượng quản lý việc giảng dạy của giáo viên Chiến lược giáo dục Việt Nam đến 2010 đã coi giải pháp nâng cao chất lượng quản lý giáo dục là "giải pháp đột phá "

2.6.N ội dung quản lý hoạt động giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng

Nội dung công tác quản lý dạy học tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng nằm trong qui định quản lý chung của nhà nước đối với hệ thống giáo dục quốc dân: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung chương trình, qui trình dạy học, kế hoạch dạy học, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, và các qui chế khác

2.6.1.Qu ản lý mục tiêu giáo dục :

Quản lý mục tiêu giáo dục, theo tinh thần Nghị quyết TW 2- khoa VUI đã nêu rõ : Nhà trường phải thực hiện ba mục tiêu : nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên cơ sở mẫu số chung là nhân cách, phải tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, có tay nghề, biết sử dụng và áp dụng thành thạo

Trang 31

khoa học kỹ thuật, công nghệ cho sự nghiệp công nghiệp hoa - hiện đại hoa đất nước Như vậy, quản lý mục tiêu giáo dục chính là quản lý việc đào tạo ra con người phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất và năng lực, làm chủ tri thức, khoa học - công nghệ hiện đại, giàu lòng yêu nước, kế thừa sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đối với bộ môn tin học, quản lý mục tiêu giáo dục là trang bị cho sinh

viên kiến thức cơ bản về Công nghệ thông tin (CNTT), tin học, hình thành cho các em kỹ năng, kỹ xảo thực hành máy tính để các em có thể ứng dụng kiến thức tin học vào môi trường thực tế học tập, giảng dạy và công tác, trên cơ sở

đó hình thành nhân cách cho sinh viên Nhằm tạo ra đội ngũ lao động mới vừa

có kiến thức vừa có kỹ năng, biết sử dụng thành thạo khoa học- công nghệ thông tin, tiếp cận với kỹ thuật hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của xã hội và bản thân trong tương lai Vì vậy, quản lý mục tiêu của bộ môn tin học ở các khoa không chuyên chính là đánh giá đầu ra của sinh viên, tức là xem xét sản phẩm đào tạo đạt tới trình độ, chất lượng đến mức độ nào Đánh giá phải dựa trên các mặt cụ thể về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng ứng dụng và kể cả thái độ học tập

+ Kiến thức: phải cung cấp cho sinh viên nắm vững các lý thuyết tin học

cơ bản: khái niệm, hệ thống máy tính, mạng, internet, khả năng ứng dụng các phần mềm của tin học, soạn thảo và tính toán

+ Kỹ năng, kỹ xảo : giúp sinh viên nắm vững và thành thạo các chức năng, các thao tác máy tính nhanh, chính xác, cách truy cập dữ liệu máy tính trên mạng và internet, qua đó sinh viên có thể tháo lắp và sửa chữa một số bộ phận đơn giản của máy tính

+ Khả năng ứng dụng : Giúp sinh viên có thể tự soạn thảo nội dung, phần mềm học tập, thống kê, tính toán các bài toán đơn giản ương lĩnh vực quản lý, biết lưu giữ, sao chép dữ liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu khoa học; qua đó, cũng biết thêm các từ ngữ tiếng Anh thông thường

+ Thái độ : qua môn học có nhiều điều mới mẻ, tiếp cận công nghệ hiện đại, với nhiều thao tác, tạo cho sinh viên niềm say mê học hỏi, kích thích tư

Trang 32

duy khám phá, sáng tạo trong học tập, từ đó, giúp các em có niềm tin yêu đối với khoa học công nghệ và hứng thú trong việc nghiên cứu, xác định động cơ tinh thần, thái độ học tập chững chạc và nghiêm túc

2.6.2.Qu ản lý nội dung chương trình dạy học :

Đây chính là cốt lõi của hoạt động dạy và học, chính nội dung sẽ thể chế hoa cho chương trình học và phương pháp học Quản lý nội dung hoạt động dạy học tin học ở các khoa không chuyên phải sâu sát với qui chế do Bộ giáo dục đề ra, đồng thời nội dung phải được cụ thể hoa, vừa cơ bản, vừa hiện đại, vừa thiết thực với thực tiễn kinh tế xã hội và sự phát triển của khoa học-công nghệ

Chương trình dạy học bộ môn tin học ở các khoa không chuyên là sự phân bổ số lượng nội dung kiến thức cho từng cấp học, bậc học, ngành học, được bố trí phù hợp với mục tiêu đào tạo, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi người học Mỗi chương trình dạy học được thể hiện qua nội dung kiến thức, phương pháp truyền thụ, phương tiện thiết bị, tài liệu dạy học cụ thể

Để quản lý tốt nội dung chương trình môn tin học ở các khoa không chuyên đòi hỏi giáo viên, cán bộ quản lý phải luôn theo dõi sâu sát việc thực hiện nội dung chương trình dạy học của giáo viên bộ môn, nghiêm cấm việc cắt xén chương trình cho những hoạt động khác, cán bộ quản lý phải nắm tình hình phản ánh của giáo viên về việc thực hiện chương trình qua các cuộc họp chuyên môn theo định kỳ để có kế hoạch cải tiến, bổ sung kịp thời, tránh sự tụt hậu về kiến thức, lạc hậu về nội dung chương trình và kỹ thuật máy tính trong

sự phát triển của thời đại

2.6.3.Qu ản lý việc giảng dạy của thầy và việc học của trò :

Đây là hoạt động chính của quá trình dạy học Quá trình đào tạo có thành công hay không chính là do hoạt động chủ đạo của người thầy và tính chủ động của người học Sự tương tác của hoạt động này, nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất để người học nắm vững tri thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, phát huy hết mọi tiềm năng, thông minh sáng tạo để nhận thức và giải quyết các vấn đề

Trang 33

được đặt ra Tuy hai hoạt động này có mối quan hệ tương tác nhau, hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu giáo dục Song, không thể đánh giá hoặc có cái nhìn

về mặt quản lý giống nhau

- Quản lý hoạt động giảng dạy của người thầy giáo :

+ Quản lý hoạt động của người thầy thông qua việc thực hiện qui chế chuyên môn, kế hoạch giảng dạy và việc thực hiện chương trình dạy học Đây

là nhiệm vụ tiên quyết của một giảng viên, bởi vì kế hoạch đào tạo của nhà trường có khả thi hay không chính phụ thuộc vào việc thực hiện kế hoạch của từng giáo viên Điều này mang tính chất bắt buộc và mang tính chất pháp lệnh của nhà nước Và như vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải tuân thủ đúng theo kế hoạch đã đề ra, không được tự tiện thay đổi, cắt xén hoặc thêm bớt nội dung chương trình khi chưa có cơ sở khoa học, chưa được sự đồng ý của thủ trưởng hay hội đồng chuyên môn

Việc nắm vững nội dung kế hoạch, chương trình dạy học của giáo viên là một trong những tiền đề cho việc quản lý tốt hoạt động dạy và học Do đó, để thực hiện tốt công tác quản lý này, hiệu trưởng, cán bộ quản lý đơn vị đào tạo cũng phải đề ra kế hoạch và các yêu cầu đối với người giáo viên về các mặt sau:

- Lập kế hoạch giảng dạy môn học thông qua cán bộ quản lý

- Các phân bổ thời gian theo qui chế chuyên môn do Bộ qui định

- Các phương pháp, phương tiện hỗ trợ cho giảng dạy

- Các loại hồ sơ sổ sách liên quan đến hoạt động chuyên môn của giáo viên

- Quản lý việc chuẩn bị bài giảng của giáo viên

- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá của thầy đối với học sinh Hiệu trưởng hay cán bộ quản lý đào tạo phải có kế hoạch theo dõi, kiểm tra việc thực hiện qui chế chuyên môn của giáo viên để ngăn chặn và kịp thời nhắc nhở những sai phạm của giáo viên trong việc thực hiện qui chế chuyên môn do Bộ đề ra Bên cạnh đó, hiệu trưởng hay cán bộ quản lý cần nắm tình hình thực hiện kiểm tra,

Trang 34

đánh giá của giáo viên đối với học sinh, xem xét việc chấm, trả bài, cho điểm theo qui định của Bộ giáo dục và đào tạo Quản lý hoạt động học tập của học sinh

Môi trường hoạt động của học sinh bao gồm: nhà trường, gia đình và xã hội Để quản lý tốt việc học của học sinh, người quản lý cần phải phối hợp với các lực lượng xã hội và gia đình, trong đó chú ý đến vai trò của chủ nhiệm lớp

và tập thê, đoàn thể; nắm bắt tâm sinh lý, tình cảm của học sinh thông qua giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, xây dựng tinh thần thái độ, động cơ, nề nếp học tập đúng đắn cho học sinh

Quản lý việc dạy và học tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng phải tuân thủ theo qui chế quản lý chung của hoạt động dạy học Song, do tính đặc thù của bộ môn, dạy lý thuyết, dạy thực hành, dạy kỹ năng kỹ xảo kết hợp công nghệ máy tính, quá trình dạy và học tương đối phức tạp hơn các bộ môn khác, đòi hỏi phải có sự đầu tư và sự hợp tác giữa dạy, học với môi trường một cách hợp lý thì công đoạn dạy học mới thành công tốt

Do đó, để đánh giá kết quả dạy học bộ môn, người quản lý phải theo dõi sâu sát quy trình dạy của giáo viên và học của sinh viên, không thể đánh giá ở một mặt riêng biệt nào đó để qui kết cho một kết quả của quy trình dạy học tin học

2.6.4.Qu ản lý trình độ đội ngũ giáo viên

Chất lượng giáo dục của nhà trường có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào phần lớn khả năng và tiềm lực của đội ngũ giáo viên Nhà trường cao đẳng

sư phạm có đặc điểm riêng biệt, khác với trường phổ thông trong nhiệm vụ dạy học ở chỗ, không chỉ đơn thuần dạy kiến thức học sinh, mà còn đào tạo nghề cho sinh viên, đào tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học cho xã hội Do đó, người giảng viên sư phạm phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường sư phạm Bởi vì, thông qua giảng dạy của giảng viên sẽ là hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc cho nghề nghiệp tương lai của các em Muốn tạo nên hình tượng tốt đối với học sinh, nhà giáo phải không

Trang 35

ngừng rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất nghề nghiệp

Để thực hiện tốt việc quản lý đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên tin học nói riêng, lãnh đạo nhà trường phải luôn quan tâm sâu sát trình độ năng lực giáo viên bộ môn, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên tin học Cho đi học những cán bộ chưa đạt chuẩn, kịp thời nâng cao trình độ sau đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho các cán bộ giảng dạy, tạo điều kiện tối đa cho giáo viên bộ môn tin học trong việc học tập nâng cao nghiệp vụ, tiếp cận các chuyên đề tin học trong các hội thảo tin học do Bộ giáo dục - đào tạo tổ chức

Để có được đội ngũ chuẩn mực như trên, nhà quản lý giáo dục (hiệu trưởng ) phải thường xuyên quan tâm đến công tác tổ chức và hoạch định đội ngũ cán

bộ giảng dạy

- Một số điểm cần lưu ý trong việc bố trí, bồi dưỡng, chăm sóc đội ngũ

- Phân công đúng người đúng việc, đúng vị thế, đúng trình độ, phải công bằng và hợp lý trong phân công, tránh thiên vị cá nhân

- Tuyển dụng nhân tài có học vị cao, cần chọn lọc và bồi dưỡng sinh viên giỏi trở thành cán bộ giảng dạy cho trường

- Chăm lo đời sống vật chất đối với giáo viên, khuyên khích cho đi học

nâng cao và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên

- Có biện pháp và chính sách để kích thích sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giáo viên

2.6.5.Quản lý cơ sở vật chất:

Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định của công tác dạy và học của nhà trường nói chung Có các nhóm chính như sau:

+ Cơ sở vật chất : chính là mô hình trường lớp, phòng học, phòng họp, hội trường, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, nhà đa năng, sân chơi, bàn ghế + Phương tiện kỹ thuật và thiết bị giáo dục ĩ gồm tất cả các đồ dùng phục

vụ cho giảng dạy và học tập, máy vi tính, máy chiếu đa năng, ti vi, máy quét

Trang 36

ảnh, đèn chiếu phim trong, video, hệ thống multimedia, tư liệu, sách báo, vv

Cơ sở vật chất la bộ mặt quan trọng của nhà trường sư phạm Nhà quản lý phải lập kế hoạch xây dựng cơ sở mình quản lý, phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu của ngành giáo dục và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cần phải xác định mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài, đồng thời phải có kế hoạch kiểm tra việc sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật theo định kỳ để kịp thời bổ sung, cập nhật hoa theo tiêu chuẩn hiện đại, qua đó cũng kiểm tra, đánh giá việc sử dụng của giáo viên, tránh khuynh hướng có thiết bị dạy học nhưng giáo viên vẫn không đưa vào dạy học

- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học tin học cần chú ý một số chuẩn trong các lĩnh vực sau:

- Cơ cấu xếp lớp không quá đông, phòng học, bàn ghế, thiết bị phải đúng chuẩn

- Phòng máy thực hành phải thông thoáng, trang bị đủ số lượng máy điều hoa nhiệt độ theo tiêu chuẩn số người/ số máy, bố trí số lượng sinh viên phải hợp lý, bảo đảm sức khoe cho sinh viên trong học tập

- Máy vi tính, máy in phải đủ về số lượng, hiện đại về chất lượng, phải luôn luôn cập nhật kịp thời phần mềm học tập cho sinh viên

Bên cạnh đó, hệ thống chiếu sáng, đèn chiếu, âm li, loa, hệ thống Multimedia là những phương tiện không thể thiếu cho một phòng máy vi tính Quản lý cơ sở vật chất đối với môn tin học là nhiệm vụ thiết yếu của nhà trường cao đẳng sư phạm để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tin học

Vì vậy, nhà quản lý phải có kế hoạch định kỳ cho việc chỉnh trang cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học, đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của sinh viên và thích ứng với sự phát triển của xã hội

2.6.6.Qu ản lý việc thực hiện các phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của quá trình dạy học Là quá trình mà trong đó giáo viên là người tổ chức hoạt

Trang 37

động học tập của sinh viên, hướng dẫn người học tham gia một cách tích cực,

có hiệu quả trong quá trình học tập

Một số phương pháp thường sử dụng trong dạy học tin học ở cao đẳng.:

- Phương pháp giảng giải

- Phương pháp giảng dạy kết hợp với đèn chiếu

- Phương pháp giảng giải qua phần mềm Povverpoint

- Phương pháp giảng dạy kết hợp máy vi tính

- Phương pháp giảng giải trước và thực hành sau

Việc sử dụng phương pháp dạy học cũng tuy thuộc vào nội dung mà giáo viên sử dụng phương pháp riêng biệt, chứ không nhất thiết phải luôn bó buộc vào một phương pháp nào đó

Để dạy tốt môn tin học ở các khoa không chuyên, trước tiên người giáo viên phải là người có trình độ chuyên môn, có nghiệp vụ SƯ phạm vững vàng, biết kết hợp hài hoa các phương pháp với các phương tiện dạy học cho từng bài học cụ thể, tạo mọi điều kiện để kích thích tư duy và gây được hứng thú cho học sinh Để thực hiện tốt phương pháp dạy học, tổ bộ môn tin học phải thường xuyên tổ chức hội thảo các chuyên đề tin học, trao đổi những sáng kiến, kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn, thao giảng, dự giờ để học hỏi, rút kinh nghiệm

về phương pháp giảng dạy

6.7.Qu ản lý kết quả học tập của sinh viên

- Kết quả học tập của sinh viên được thông qua điểm số được biểu hiện qua các hình thức kiểm tra theo qui chế chuyên môn

- Đối với bộ môn tin học, hình thức kiểm tra bao gồm cả kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành trên máy vi tính Qua các kỳ kiểm tra, thi hết học phần, giáo viên nắm bắt được kết quả học tập của từng sinh viên, qua đó, giáo viên giảng dạy cũng rút ra được những ưu, khuyết điểm của mình trong việc tổ chức dạy học, sử dụng các phương pháp giảng dạy, việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo máy tính cho sinh viên

Trang 38

- Giáo viên cần kết hợp các hình thức kiểm tra để đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của sinh viên, khả năng sự sáng tạo, các năng khiếu của sinh viên Chính điều này, giúp cho sinh viên phát huy tính tích cực của cá nhân, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo để hoàn thành chu trình lĩnh hội tri thức đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội đặt ra

- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tin học của sinh viên đòi hỏi phải thật khách quan, chính xác, tránh trường hợp mang tính đối phó hoặc chiếu lệ, cần khuyên khích sự nỗ lực, sự sáng tạo của sinh viên

Trang 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Th ực trạng công tác quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không chuyên trường cao đẳng sư phạm Bình Dương

3.1.1.Th ực trạng việc quản lý nội dung chương trình

Trường CĐSP - BD đã đưa tin học vào giảng dạy từ năm 1995-1996 theo chương trình của Bộ giáo dục Thời điểm này chưa có tin học chuyên ngành, bộ môn tin học chỉ lồng ghép vào ngành khoa học Toán - tin với thời lượng cụ thể theo chương trình của Bộ giáo dục - đào tạo qui định Ngoài việc giảng dạy tin học cho ngành toán - tin, thì tin học còn được đưa vào giảng dạy cho hầu hết các khoa không chuyên khác: khoa ngoại ngữ, khoa tiểu học- mầm non, khoa

tự nhiên, khoa xã hội, khoa tâm lý, thể dục-nhạc - hoa

Đánh giá về nội dung, chương trình bộ môn tin học đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương, chúng tôi lấy ý kiến của 9 giảng viên trong tổ bộ môn và tham khảo ý kiến khác của lãnh đạo, phòng đào tạo và các chủ nhiệm về tính phù hợp của nội dung, chương trình so với nhu cầu thực tế qua các mức độ lựa chọn trong bảng sau:

Theo bảng số liệu trên, không có ý kiến nhận xét nội dung, chương trình môn học là rất phù hợp, nhận xét ở mức độ khá phù hợp có 22.22% ý kiến, ở mức độ chưa phù hợp lắm có đến 66.67% ý kiến, và ở mức độ hoàn toàn không

Trang 40

phù hợp có 11.11% ý kiến Qua tham khảo ý kiến của lãnh đạo, các chủ nhiệm khoa cũng cho rằng nội dung, chương trình chưa phù hợp lắm.Với thông số M= 2.1, cho thấy nội dung, chương trình chưa phù hợp với thực tế là có cơ sở

Để đánh giá nội dung, chương trình học một cách khách quan, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát ý kiến của 746 sinh viên ở các khoa không chuyên năm học 2002 -2003 và năm học 2003-2004 về tính phù hợp của nội dung, chương trình với nhu cầu thực tế của sinh viên, ở bốn mức độ có trong bảng sau:

Theo ý kiến nhận của 746 sinh viên, thì mức độ rất phù hợp của nội dung, chương trình bộ môn chiếm tỉ lệ rất thấp, chỉ có 9.12%, ý kiến cho rằng khá phù hợp chỉ có 19.17%, nhưng có đến 45.17% ý kiến cho rằng chưa phù hợp lắm và có 26.54% ý kiến nhận xét về nội dung, chương trình như thế hoàn toàn không phù hợp với thực tế Qua kiểm nghiệm M= 2.1, cho thấy, đa số sinh viên đều nhận xét nội dung, chương trình như hiện nay là chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của họ

- Từ cơ sở nhận xét của giáo viên và sinh viên như trên, trong thực tế dạy học bộ môn cũng cho thấy những bất cập của nội dung, chương trình như sau:

- Đối với những khoa không chuyên như ngành nhạc, hoa và văn học tiếng Việt, thể dục, học tin học theo Chương trình Nhập môn tin học với thời lượng 3 đơn vị học trình (45 tiết), các khoa còn lại khác chỉ học Chương trình Tin học cơ sở với thời lượng 2 đơn vị học trình (30 tiết)

Ngày đăng: 18/01/2020, 13:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w