Luận án được thực hiện nghiên cứu với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môi trường trong nhà trường thông qua việc đưa ra các hình thức và phương pháp giáo dục có hiệu quả qua môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI I
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
XÁC ĐỊNH CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC
VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
CƠ SỞ VIỆT NAM
Chuyên ngành: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để thực hiện đề tài của mình, chúng tôi đã nhận được sự chỉ dẫn và động viên tận tình của tập thể các thày cô hướng dẫn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PTS Nguyễn Minh Phương, PGS Nguyễn Dược, PTS Nguyễn Giang Tiến
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thày, các cô của Tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy Khoa Địa lí, trường Đại học sư phạm Hà Nội I, Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Trung tâm tài nguyên và môi trường trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trung tâm giáo dục môi trường trường Đại học sư phạm Hà Nội I, các giáo viên và học sinh một số trường phổ thông cơ sở của các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Hải Hưng, Vĩnh Phú, Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định - Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước sự cổ vũ và giúp đỡ vô cùng quý báu đó
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 4
I Lý do chọn đề tài 4
II Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài 6
III Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
IV Phương Pháp nghiên cứu đề tài 12
V Những điểm mới của luận án 14
CHƯƠNG I 16
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ VIỆT NAM 16
I Khái niệm “môi trường” và vấn đề “bảo vệ môi trường” 16
II Mục đích, nội dung giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông 24
III Nội dung giáo dục môi trường trong chương trình sách giáo khoa địa lý ở trường phổ thông cơ sở 29
IV Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh phổ thông cơ sở về nhận thức, thái độ và hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường 37
V Nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường của giáo viên địa lý ở trường phổ thông cơ sở 43
CHƯƠNG II 50
XÁC ĐỊNH CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ 50
I Các nguyên tắc giáo dục môi trường qua môn địa lý ở trường phổ thông cơ sở 50
II Các hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông: mối quan hệ của chúng với mục đích và nội dung giáo dục môi trường 53
III Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lý ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam 64
1 Các hình thức tổ chức và phương pháp dạy kiến thức về môi trường và bảo vệ
Trang 4THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 114
I Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 114
II TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 114
III Xác định phương hướng và nội dung thực nghiệm 115
IV Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 118
V Nội dung thực nghiệm cụ thể 118
VI Nhận xét chung phần thực nghiệm 151
KẾT LUẬN 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
Trang 5MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã gắn với thiên nhiên Nhờ có lao động, con người đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự sống của mình Trong quá trình lao động và sản xuất, con người đã cải tạo thiên nhiên, nhưng ngược lại cũng đã tàn phá thiên nhiên như đốt rừng, tiêu diệt các loài động thực vật, sử dụng chất hoá học, chất phóng xạ hủy hoại thiên nhiên gây nên tình trạng "khủng hoảng sinh thái" Cần phải làm gì để ngăn chặn thực trạng trên, cứu lấy con người và sự sống của muôn loài
Nhiều cuộc hội thảo quốc tế đã được tổ chức để bàn bạc tìm cách giải quyết vấn
đề này Các chính phủ của nhiều quốc gia cũng đã ban bố những đạo luật, những quyết định nhằm cứu vãn, ngăn chặn nguy cơ suy thoái của môi trường Một trong những biện pháp có hiệu quả lâu dài và rất quan trọng là phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho lớp người chủ tương lai của xã hội, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường Chính vì vậy, trong chương trình UNEP của Liên hiệp quốc (United Nations Environment Programe) ngoài nhiệm vụ nghiên cứu môi trường về các mặt, cơ quan này còn có trách nhiệm giúp các quốc gia xây dựng chương trình và đào tạo cán bộ về bảo vệ môi trường ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục của nước mình từ cấp mẫu
Trang 6Ở nước ta, vấn đề giáo dục môi trường đang là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và các cơ quan có liên quan Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII năm 1993 đã đề ra nhiệm vụ:
"Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, môi trường, dân số, rèn luyện thể chất cho học sinh"
Trong bài nói chuyện nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 1984, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng có nói:
"Giáo dục phổ thông phải dạy cho học sinh biết yêu qúi, bảo vệ, sử dụng và làm phong phú thiên nhiên từ những việc nhỏ như không phá hoại mà biết trồng cây, không giết hại mà biết chăm nom các loài vật có ích, tiến lân biết tạo ra khung cảnh sống gắn
bó hài hòa con người với thiên nhiên, xây dựng quê hương tươi đẹp cho cuộc đời mình, nhân dân địa phương mình, cho cả thế hệ mai sau."
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào các môn học ở trường phổ thông từ những năm 80 của thế kỷ này Hơn
bộ môn nào hết, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào môn địa lí ở trường phổ thông bởi môi trường vừa là nội dung, vừa là đối tượng nghiên cứu của địa lí học
Tuy vậy, qua việc điều tra thực tế, chúng tôi thấy rằng: Học sinh phổ thông cơ
sở vẫn chưa hiểu rõ các khái niệm "môi trường", "bảo vệ môi trường" các kỹ năng bảo
vệ môi trường còn yếu Chính vì vậy, các em học sinh phổ thông cơ sở còn có hành vi
Trang 7trường một cách vô ý thức như đổ rác bừa bãi, bẻ cây, bắt chim non
Môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở có nhiều thuận lợi trong việc giáo dục môi trường cho học sinh vì môi trường tự nhiên là một trong những nội dung học tập của học sinh Mặt khác, học sinh phổ thông cơ sở ở nước ta ít hay nhiều đã tham gia lao động sản xuất ở địa phương, đối mặt với những vấn đề của môi trường và bảo vệ môi trường
Vì vậy, làm thế nào để hình thành cho học sinh những trí thức về môi trường, bảo vệ môi trường, xây dựng cho học sinh thái độ, hành vi cư xử đúng đối với môi trường là rất cần thiết Điều đó liên quan không chỉ đến nội dung giáo dục mà cả đến hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua bộ môn, trong điều kiện của kinh tế - xã hội nước ta, của nhà trường phổ thông cơ sở
Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
"Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua bộ môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam"
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Mục tiêu
Nâng cao chất lượng giáo dục môi trường trong nhà trường thông qua việc đưa
ra các hình thức và phương pháp giáo dục có hiệu quả qua môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở
Trang 8chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí, hình thành cho học sinh các tri thức về môi trường, xây dựng cho các em có thái độ và hành vi cư xử đúng đắn đối với môi trường xung quanh
và hoàn cảnh của nhà trường phổ thông nước ta
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ sau hội nghị quốc
Trang 9tế đầu tiên về giáo dục môi trường được tổ chức tại Bêôgrat (Nam Tư) vào năm 1975
Vì thế, đã có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài nghiên cứu vấn đề này, trong đó có giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông Phân tích các công trình nghiên cứu đó, chúng tôi thấy có một số khuynh hướng sau:
1 Nghiên cứu về nội dung giáo dục môi trường qua môn địa lí
Ở Liên xô (trước đây) vấn đề bảo vệ tự nhiên đã được đề cập ở chương trình các môn sinh vật học và địa lí các trường phổ thông Đặc biệt từ nửa sau thập kỷ 70, vấn đề bảo vệ tự nhiên mới được chú ý đúng mức (74) Nhiều tác giả đã đề cập đến nội dung bảo vệ tự nhiên trong môn địa lí ở trường phổ thông Đại diện cho nhóm tác giả này là N.M ENA Bà cho rằng: "Cần phải xác định một hệ thống các khái niệm về bảo vệ tự nhiên trong môn địa lí ở phổ thông Những khái niệm đó phải được mở rộng dần dần từ lớp này qua lớp khác" (72) Bà đã đưa ra hơn 100 thuật ngữ và khái niệm về bảo vệ tự nhiên trong các giáo trình địa lí lớp 6, 7, 8, 9
Đối với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nội dung giáo dục môi trường cũng được đưa vào trong chương trình các môn học ở phổ thông, trong đó
có môn địa lí
Việc đưa giáo dục môi trường vào nhà trường phổ thông ở các nước này được triển khai ngay sau hội nghị môi trường
Trang 10nội dung giáo dục môi trường chỉ tập trung vào một số vấn đề sát với thực tiễn môi trường của họ
Ở nước ta, vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông cũng được nghiên cứu từ năm 1981 với mục đích đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình các môn học trong cải cách giáo dục Đối với môn địa lí, nội dung này được đưa vào sách giáo khoa địa lí phổ thông, bắt đầu từ năm 1986
2 Nghiên cứu về các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí
Cùng với việc đưa nội dung giáo dục môi trường vào các môn học trong nhà trường phổ thông, một số tác giả đã chú ý đến việc nghiên cứu các hình thức và phương pháp giáo dục như ở Liên xô có các tác giả: V.A.Senhep: I, V Đunxia: N.V.Xcarban; A.P Phinôxina; O.R Ecmôlôvich, I.V.Xêmênôp
Tiêu biểu cho nhóm tác giả này là hai tác giả O.R Ecmôlôvich và I.V Xêmênôp (19,90)
Bằng thực tế giảng dạy của mình, các tác giả nói trên đã nêu ra những kinh nghiệm giáo dục bảo vệ tự nhiên trong môn địa lí ở trường phổ thông 8 năm và đều nhấn mạnh đến việc tổ chức công tác ngoại khóa về bảo vệ tự nhiên như thành lập các nhóm "Tuần tra xanh", "Người bạn xanh" trong nhà trường
Nhìn chung, hai tác giả trên đã chú ý đến các hình
Trang 11thức giáo dục bảo vệ tự nhiên trên lớp và ngoài lớp nhưng đặc biệt chú trọng đến các hình thức ngoài lớp
Tuy nhiên, việc trình bày chủ yếu nặng về mô tả các kinh nghiệm của một số trường phổ thông ở Liên xô và chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cũng như chương trình sách giáo khoa của Liên xô lúc đó
Một số nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng đã chú ý đến việc xây dựng các tài liệu về phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Ôxtrâylia
Ngoài hình thức giảng dạy trên lớp, các hình thức giáo dục môi trường qua hoạt động ngoại khóa cũng được chú ý như tổ chức ngày môi trường, ngày hội cây, ngày trái đất (ở Trung Quốc), tuần lễ sinh thái và tuần lễ khám phá (ở Malaixia, Inđônêxia)
Tổ chức UNESCO phối hợp với cơ quan UNEP cũng đã xuất bản các tài liệu về giáo dục môi trường trong trường tiểu học và trung học Các tài liệu này ngoài việc trình bày nội dung còn đề cập cả đến phương pháp giáo dục môi trường Tuy nhiên, các tài liệu này còn nặng về xây dựng một giáo trình riêng mà chưa chú trọng đến việc lồng giáo dục môi trường vào các bộ môn văn hóa Hơn nữa việc vận dụng các phương pháp giáo dục còn phải tính đến các điều kiện cụ thể ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia
Ở nước ta, vào năm 1980 đề tài thuộc chương trình cấp Nhà nước 52.02 đã bước đầu đề xuất việc đưa kiến thức
Trang 12bảo vệ môi trường vào các trường phổ thông và đại học, chủ yếu ở hai môn Sinh vật và Địa lí Nhiều trường đã tham gia tích cực vào phong trào giữ gìn vệ sinh sạch đẹp, phong trào VAC, hưởng ứng các cuộc thi vẽ, sáng tác văn học và tìm hiểu môi trường
do Đoàn thanh niên phát động
Một số trường cao đẳng, đại học sư phạm hiện cũng đang tiến hành nghiên cứu không những nội dung mà cả các hình hức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí
Tóm lại: Qua việc nghiên cứu trên có thể thấy rằng:
a) Vấn đề giáo dục môi trường là một trong những nhiệm vụ được đặt ra cho nhà trường phổ thông hiện nay
b) Phần lớn các tác giả đã nghiên cứu về nội dung giáo dục môi trường trong một số môn học ở phổ thông, trong đó có môn địa lí Có một vài tác giả đã đề cập đến phương pháp giáo dục môi trường qua bộ môn địa lí Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó còn chung chung, chưa đi sâu vào những hình thức và phương pháp giáo dục môi trường cụ thể và đầy đủ về các mặt tri thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của học sinh trong nhà trường phổ thông Mặt khác, các hình thức và phương pháp muốn vận dụng có hiệu quả, phải tính đến điều kiện của mỗi nước, mỗi khu vực
Ở nước ta, việc nghiên cứu vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông cũng chỉ mới đề cập đến
Trang 13nội dung mà chưa có điều kiện nghiên cứu một cách có hệ thống các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường
Rõ ràng là, việc nghiên cứu vấn đề giáo dục môi trường qua môn địa lí còn chưa đồng bộ Đã đến lúc cần phải nghiên cứu các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí một cách đầy đủ và hợp lí trên cơ sở mục đích, nội dung giáo dục đã đề ra
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để thực hiện đề tài nói trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Trang 14cơ sở Mai Dịch, Nghĩa Tân (Từ Liêm, Hà Nội), trường phổ thông cơ sở Đống Đa (Quận Đống Đa, Hà Nội), trường phổ thông cơ sở Bình Lãng, Nghĩa Hưng (Tứ Lộc, Hải hưng) trường phổ thông cơ sở Xuân Hòa, Cao Minh (Mê Linh, Vĩnh Phú) Việc quan sát nhằm tìm hiểu kinh nghiệm sử dụng các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường của giáo viên, khảo sát việc học tập và hoạt động bảo vệ môi trường của học sinh ở trường phổ thông cơ sở
4 Phương pháp trao đổi
Chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp với các giáo viên địa lí ở các trường phổ thông cơ sở để tìm hiểu quan niệm, thái độ và phương pháp giáo dục môi trường
mà họ đã tiến hành qua bộ môn địa lí, những thuận lợi và khó khăn mà các giáo viên thường gặp trong quá trình giáo dục học sinh
- Ngoài hình thức trao đổi trên, chúng tôi còn dùng phiếu để hỏi ý kiến của các giáo viên địa lí và một số giáo viên sinh vật ở trường phổ thông cơ sở về các vấn đề nhận thức, thái độ, hình thức và phương pháp giáo dục môi trường đã tiến hành qua bộ môn, giáo trình mà họ đảm nhiệm ở trường phổ thông
- Dùng phiếu hỏi ý kiến học sinh ở một số trường phổ thông cơ sở thuộc các tỉnh miền núi, đồng bằng để tìm hiểu nhận thức, thái độ và hoạt động bảo vệ môi trường của các em
Những tài liệu thực tế thu nhập được là căn cứ để chúng tôi đề xuất các hình
Trang 15môi trường qua bộ môn trong luận án này
5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm để khai thác và tổng kết nguồn kinh nghiệm thực tế về hình thức và phương pháp giáo dục môi trường trên thế giới, trên cơ sở đó xem xét khả năng vận dụng các phương pháp trên vào thực tế nhà trường Việt Nam
6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Vì là một đề tài về phương pháp dạy học nên chúng tôi coi trọng thực nghiệm
sư phạm ở trường phổ thông Dựa vào giả thiết khoa học đã đặt ra, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm ở một số trường phổ thông cơ sở trên các địa bàn khác nhau (trường thành phố: nội và ngoại thành, trường nông thôn: ở đồng bằng và trung du) để xem xét tính khả thi và hiệu quả của các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường đã đề xuất
Việc thực nghiệm được tiến hành để tìm ra những hình thức và phương pháp có hiệu quả về giáo dục kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi bảo vệ môi trường cho học sinh phổ thông cơ sở qua môn địa lí theo hướng "lấy học sinh làm trung tâm"
V NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án có những đóng góp về lí luận và thực tiễn như sau:
Trang 16phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam
2) Đã xác định hướng "được các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí một cách có hiệu quả trên cơ sở lí luận và thực tiễn của nhà trường phổ thông Việt Nam, tiếp cận với các phương pháp giáo dục mới của thế giới, theo hướng "Lấy học sinh làm trung tâm"
3) Bằng thực nghiệm kiểm chứng đã chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường đã đề xuất về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhà trường phổ thông cơ sở Việt Nam hiện nay
4) Đã xác định được các điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường nói trên
CẤU TRÚC LUẬN ÁN Luận án ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục gồm ba chương:
Chương I: Trình bày cơ sở khoa học và thực tiễn của việc giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở
Chương II: Đề cập tới các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở
Chương III: Trình bày một số thực nghiệm để chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường đã đề ra qua môn địa lí ở
Trang 17CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ
VIỆT NAM
I KHÁI NIỆM “MÔI TRƯỜNG” VÀ VẤN ĐỀ “BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG”
1 Khái niệm "Môi trường"
Thuật ngữ "môi trường" trong những năm gần đây đã được sử dụng rộng rãi trong các sách vở, tài liệu nghiên cứu và thông tin đại chúng trên thế giới, nhưng nội dung của khái niệm đó trong nhiều tài liệu không hoàn toàn thống nhất
Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì môi trường bao gồm tất cả những gì có ở xung quanh một đối tượng, mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với nó Nếu đối tượng đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, sự phát triển và tồn tại của cơ thể đó Môi trường đó đồng nghĩa với môi trường sống hay môi trường tự nhiên ở xung quanh cơ thể sinh vật
Con người cũng là một sinh vật, nhưng là một sinh vật đặc biệt Do biết chế tạo
và sử dụng công cụ lao động, con người không những thoát khỏi sự lệ thuộc vào các
Trang 18của con người cũng mang theo những đặc điểm xã hội của nó Các nhà địa lí học, tiêu biểu là X.V Kalexnic đã gọi bộ phận tự nhiên bao quanh con người bị thay đổi bởi con người ở mức độ này hay mức độ khác là môi trường địa lí Môi trường địa lí như vậy bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên đã chịu tác động của con người I.V Sautskin cũng cho rằng: trong giai đoạn hiện nay của sự phát triển xã hội và tuần hoàn vật chất của xã hội với tự nhiên, định nghĩa môi trường chỉ bao gồm những thành phần tự nhiên
đã trở nên hẹp, vì rằng "Ngày nay không còn một bộ phận nào của bề mặt trái đất, diện tích nào của đại dương thế giới, tầng lớp nào của khí quyển mà lại không chịu tác động này của các sản phẩm công nghiệp hiện đại" (51)
Con người hiện nay không chỉ sống trong một loại môi trường mà là trong hai loại môi trường có quan hệ qua lại với nhau Loại môi trường thứ nhất là môi trường địa lí, đã chịu tác động của con người Loại môi trường thứ hai, hoàn toàn do con người với trình độ kĩ thuật của mình tạo nên như: thành phố, công trường, xưởng máy Từ đó, trong địa lí học còn có thêm một khái niệm mới nữa là "môi trường nhân tạo" Giữa hai loại "môi trường tự nhiên" và "môi trường nhân tạo" có sự khác nhau về mặt nguồn gốc phát sinh và phát triển Môi trường tự nhiên xuất hiện trên bề mặt trái đất không phụ thuộc vào con người Nếu con người ngừng tác động, nó sẽ tiếp tục tự phát triển
Trang 19theo quy luật của nó Ngược lại, sự xuất hiện của môi trường nhân tạo hoàn toàn phụ thuộc vào sức lao động của on người Chúng sẽ tự hủy nếu không có sự tác động của con người
Năm 1981 UNESCO đã đưa ra khái niệm về môi trường như sau:
"Là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động, đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người" (11)
Khái niệm về môi trường tương đối rõ ràng và đầy đủ được đề cập trong "Luật bảo vệ môi trường" của nước ta mới được ban hành năm 1994: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"
Như vậy, đối với con người, môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người: mà còn là "khung cảnh của lao động, của sự sống và sự nghỉ ngơi của con người" Nó là một thể thống nhất bao gồm nhiều đối tượng và hiện tượng tự nhiên: Đất đai, địa hình, khí hậu, nước,
Trang 20động thực vật, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo vệ thiên nhiên, phong cảnh, các công trình lịch sử
Gần đây, khái niệm môi trường được mở rộng Đó là khái niệm: "Môi trường và phát triển bền vững" Khái niệm này muốn nhấn mạnh đến việc giải quyết mâu thuẫn giữa sự tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không làm tổn hại đến môi trường sống của con người, sao cho đạt tới sự hài hòa lâu đời, bền vững giữa sự phát triển sản xuất
và bảo vệ môi trường
2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
Trong khi sinh sống, lao động và tiến hành các hoạt động của mình trong xã hội, con người vốn có nhiều mối quan hệ mật thiết với môi trường Các mối quan hệ đó không ngừng phát triển và biến đổi qua các thời đại
Tuy nhiên, những sự thay đổi đặc biệt lớn lao do con người tác động vào thiên nhiên đều gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Sự phát triển công nghiệp đòi hỏi phải đưa vào chu trình sản xuất những nguồn tài nguyên mới Quy mô sử dụng đất đai, rừng, thực vật, động vật, các nguồn khoáng sản và nguồn nước cũng tăng lên
Sự bùng nổ về dân số trong những năm gần đây đã kéo theo sự bùng nổ về nhu cầu lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, năng lượng, không gian sản xuất, cư trú, tiện
Trang 21nghi sinh hoạt Tất cả những cái đó đều dẫn đến việc khai thác một cách gia tốc các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho các ngành kinh tế Chất lượng môi trường sống do đó bị suy thoái Việc thải các chất khí SO2, CO2, CFO đã gây nên sự biến đổi khí hậu của trái đất, làm thành tầng ôzôn ở bắc và nam cực
Vấn đề suy thoái môi trường hiện nay đã diễn ra trên quy mô hành tinh Nếu như ở các nước công nghiệp phát triển sự suy thoái môi trường chủ yếu do các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm các nguồn nước, bầu không khí thì sự suy thoái môi trường
ở các nước đang phát triển lại do sự tăng nhanh dân số, sự khai thác các tài nguyên không hợp lí nhằm phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của mình
Đứng trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế trên thế giới đã nhất trí nêu lên sự cần thiết phải có những biện pháp bảo vệ môi trường sống trên thế giới Năm 1982 tiến sĩ Mostafa K Tolba, giám đốc chương trình môi trường liên hiệp quốc (UNICEP) đã ra lời kêu gọi: "Hỡi các quốc gia trên thế giới Chỉ có hai con đường để lựa chọn: một là tình trạng như hiện nay vẫn tái diễn để đi đến sự sụp đổ
về môi trường một cách nặng nề và không đảo ngược được, đến mức không có một cuộc chiến tranh nguyên tử nào sánh nổi, hai là phải bắt đầu ngay lập tức việc hợp tác với nhau một cách thiện ý trong việc sử dụng và quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên" (28)
Đất nước ta cũng đang đứng trước tình trạng suy thoái
Trang 22về môi trường Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị cạn kiệt, hiện tượng
ô nhiễm đã có nhiều biểu hiện
Trong môi trường tự nhiên, nguồn tài nguyên động, thực vật bị phá hủy nghiêm trọng nhất trong vòng năm mươi năm trở lại đây Hiện tại, diện tích đất phủ rừng của nước ta chỉ còn trên dưới 28% tổng diện tích tự nhiên Đây là một tỉ lệ báo động về mặt sinh thái đối với một nước nhiệt đới như nước ta Mức mất rừng hiện tại được đánh giá khoảng 200.000 ha/ năm, chủ yếu do chặt phá làm nông nghiệp, khai thác gỗ và làm củi đốt (27)
- Theo thống kê: "Hiện trạng sử dụng đất năm 1990", tổng số qũy đất của nước
ta là 33 triệu ha, trong đó, cả nước có khoảng 15 triệu ha đất chưa được sử dụng (1990), tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi (đất trống, đồi trọc chiếm khoảng 11,3 triệu ha) Nguyên nhân chính là do quá trình khai thác rừng không hợp lí (dưới nhiều hình thức)
đã dẫn đến sự xói mòn đất Các dòng chảy đã mang ra biển hàng năm khoảng 200 - 250 triệu tấn cát bùn
Ở vùng đồng bằng, sự thoái hóa đất là do nguyên nhân bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu chưa hợp lí (27)
- Về tài nguyên nước: Mặc dù lượng nước được sử dụng so với tự nhiên chưa nhiều, nhưng hiện tượng nguồn nước bị nhiễm bẩn cục bộ đã xảy ra Điều đó đã gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề nước, vốn đã phức tạp trong
Trang 23khô hạn, hoặc nước bị nhiễm chua, ngấm mặn
Nền công nghiệp nước ta tuy chưa phát triển nhưng cũng đã thải ra sông, hồ một lượng nước bẩn đáng kể chưa được xử lí Thành phố Hà Nội hàng ngày thải vào môi trường 300.000m3
nước thải, hàng năm thải ra khoảng 3600 tấn chất hữu cơ, 317 tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng, dung môi và các chất độc hại khác Mỗi năm các xí nghiệp công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa thải vào môi trường 795,8 tấn dầu mỡ, 103 tấn phenol, 99.600 tấn chất hữu cơ, 80,7 tấn axit, hàng chục tấn kim loại nặng và các chất độc hại khác (27) Các chất thải chưa được xử lí sẽ làm ô nhiễm môi trường và trở nên độc hại đối với đời sống con người và sinh vật
- Chất lượng môi trường không khí tại các khu công nghiệp và ở một số thành phố nhiều lúc, nhiều nơi đã giảm sút, thậm chí có nơi còn bị ô nhiễm khá trầm trọng Hàm lượng các chất độc hại đã vượt xa tiêu chuẩn cho phép Tại khu công nghiệp Thượng Đình (Hà Nội), nồng độ bụi gấp 2 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ SO2 gấp 12 - 18 lần và nồng độ CO2 gấp 2 - 6 lần tiêu chuẩn cho phép (27) Tình trạng ô nhiễm trên đã gây ra các bệnh về hô hấp cho công nhân và nhân dân các khu vực xung quanh
- Tỉ lệ tăng dân số ở nước ta trong những năm gần đây tuy đã giảm, nhưng vẫn còn cao so với mức trung bình của thế giới Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên quá nhanh không cân đối với tỷ lệ tăng lương thực, nhà ở và các phương tiện sinh hoạt v.v đã khiến cho
Trang 24Vấn đề bảo vệ môi trường đã trở lên cấp bách Khả năng chịu đựng của trái đất
là có giới hạn: "Mãi mãi không bao giờ có sự lựa chọn hợp lí nào khác cả, nếu chúng ta không biết sử dụng tài nguyên của trái đất một cách lâu bền và thông minh thì tương lai của loài người sẽ bị hủy hoại" (5)
Đây chính là cơ sở khoa học để giáo dục cho mỗi học sinh phổ thông ý thức bảo
vệ môi trường
3 Khái niệm "Bảo vệ môi trường"
Trong các tài liệu của Liên xô (trước đây) thuật ngữ "bảo vệ tự nhiên" chỉ mới được sử dụng trong những năm đầu thế kỷ XX Trong định nghĩa lần đầu tiên (năm 1913) khái niệm này được giải thích là "ý muốn chung hướng tới việc bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng" Về sau, nội dung của khái niệm được mở rộng và được cụ thể hóa thêm Bảo vệ tự nhiên không chỉ là sự bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt, mà còn là việc sử dụng một cách hợp lí các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường khỏi bị ô nhiễm, làm giàu thêm các tài nguyên thiên nhiên, cải tạo tình trạng của môi trường, giữ gìn và bảo tồn các phong cảnh, các di sản văn hóa, lịch sử v.v Như vậy, khái niệm "bảo vệ thiên nhiên" được thay thế bằng khái niệm "bảo vệ môi trường" Khái niệm này rộng hơn bởi
vì trong khái niệm môi trường có cả môi trường tự nhiên và nhân tạo Đó là môi trường sống, lao động, nghỉ ngơi
Trang 25và giải trí của con người
II MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Giáo dục môi trường không những là một yêu cầu của xã hội mà thực ra còn là một vấn đề hết sức cấp thiết đối với bản thân từng người Bởi vì, môi trường gắn bó mật thiết với sự sống của con người Con người không phải chỉ biết sử dụng, khai thác hợp lý môi trường, mà còn phải biết chăm sóc và bảo vệ nó, làm cho nó càng ngày càng tối ưu đối với cuộc sống lao động Điều đó đòi hỏi mọi người đều phải có ý thức rõ ràng và sâu sắc trong việc đối xử một cách đúng mực đối với môi trường
Biện pháp lâu dài và có hiệu quả là phải giáo dục ý thức đó cho những người chủ tương lai của xã hội Đó là những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường
1 Mục đích giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Mục tiêu chủ yếu của việc giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông là phải làm cho học sinh không những hiểu rõ khái niệm môi trường và những mối quan
hệ của nó đối với hoạt động sinh sống của con người mà còn phải có sự chuyển biến về thái độ, hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường
Để tạo nên sự chuyển biến về các mặt trên thì trong nhà trường phải đồng thời chú ý cả các mặt giáo dục:
Trang 26kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi Kiến thức là cơ sở để hình thành thái độ và hành
vi Do vậy, mục đích giáo dục môi trường ở trường phổ thông phải:
a) Cung cấp cho học sinh những kiến thức nhất định về môi trường, cụ thể là làm cho học sinh:
+ Có được những hiểu biết tương đối đầy đủ về thiên nhiên về môi trường của đất nước ta
+ Nhận thức được những mối quan hệ khăng khít tác động lẫn nhau giữa con người - xã hội, và các yếu tự nhiên, vai trò của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người
+ Hiểu và nắm được những chủ trương, chính sách và luật lệ cơ bản của Nhà nước và vấn đề bảo vệ môi trường
b) Trên cơ sở những kiến thức đó, bồi dưỡng cho học sinh thái độ và hành vi cư
xử đúng đắn đối với môi trường
+ Trước hết, phải xây dựng cho học sinh từng bước tình cảm trân trọng tự nhiên, lòng yêu qúi tự nhiên, tha thiết muốn được bảo vệ môi trường sống, bảo tồn những phong cảnh đẹp, các di tích văn hóa, lịch sử của dân tộc
+ Sau đó, phải làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành phong cách, nếp sống của học sinh Họ phải có thái độ tích cực chống các hoạt động phá hoại môi trường, làm ô nhiễm môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức
Trang 27thường ở địa phương để sau này họ có thể tham gia một cách có hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước (11)
2 Nội dung giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Với các mục đích trên, nội dung giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông phải đề cập đến các vấn đề cấu trúc của môi trường, mối quan hệ giữa con người
và môi trường, các biện pháp bảo vệ, phục hồi và làm giàu môi trường, chống ô nhiễm môi trường Cụ thể, phải trang bị cho học sinh:
a) Hệ thống kiến thức về môi trường, các yếu tố cấu thành của môi trường, mối quan hệ sinh thái giữa con người và các yếu tố đó
b) Những kiến thức về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí, tránh khai thác chúng một cách bừa bãi, lãng phí, làm cho các nguồn tài nguyên chóng
bị cạn kiệt
c) Những hiểu biết về các biện pháp bảo vệ, phục hồi và làm giàu thêm môi trường tự nhiên, hạn chế các tác động phá hoại cân bằng sinh thái trong môi trường, chống những hành động làm ô nhiễm môi trường
d) Những kiến thức về việc bảo vệ môi trường lao động và nghỉ ngơi, giải trí của con người như các biện pháp phòng chống thiên tai, chống những tác nhân lí học có hại cho môi trường sống và lao động của con người như cường
Trang 28độ âm thanh, độ phóng xạ, điện từ trường, độ rung, độ ồn như bảo vệ các công trình văn hóa công cộng, các công viên, di tích lịch sử, các thắng cảnh
đ) Những khái niệm về mối quan hệ giữa dân số và môi trường, về quá trình đô thị hóa vì đó là những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái và
Mỗi bộ môn đều có thế mạnh riêng của mình về giáo dục môi trường Thí dụ:
Để học sinh hiểu và nắm được luật bảo vệ môi trường thì môn giáo dục công dân có nhiều ưu thế Để học sinh hiểu và nắm được các tác nhân lí học có hại đối với môi trường lao động và môi trường sống thì không có môn nào thuận lợi hơn môn vật lí Nếu muốn cung cấp cho học sinh những hiểu biết rõ ràng về môi trường, về những thành phần của nó, về tác động của môi trường đến sản xuất và vai trò của con người trong việc làm biến đổi môi trường thì không môn nào thuận lợi bằng môn địa lí
Trên thế giới, có nhiều cách giải quyết khác nhau Ở một số nước, nội dung giáo dục môi trường được tích hợp (lồng ghép) vào chương trình các môn sinh, địa, hóa Ở
Trang 29một số nước khác, nội dung giáo dục môi trường lại được tích hợp vào tất cả các môn nhưng có tập trung vào một số vấn đề có liên quan đến thực tế môi trường của họ Thí dụ: Trong chương trình các môn học trong trường phổ thông của Inđônêxia, giáo dục môi trường được tập trung vào 8 vấn đề lớn: chống nạn phá rừng, chống nạn để diện tích đất hoang hóa, chống hiện tượng xói mòn đất, sử dụng hợp lí các dòng chảy, chống
ô nhiễm các nguồn nước và đại dương, bảo vệ động thực vật và sức khỏe con người Trong chương trình các môn học của Nhật Bản, giáo dục môi trường được tập trung vào các vấn đề: Sự gia tăng ô nhiễm môi trường do sự phát triển kinh tế, sự phá hoại môi trường tự nhiên, nạn thiếu năng lượng, thiếu tài nguyên cho công nghiệp, tình trạng thiếu lương thực, môi trường và đời sống nhân dân
Ở Liên xô (cũ), giáo dục môi trường được dạy thành môn riêng (môn tự chọn)
và được quán triệt một cách toàn diện trong chương trình tất cả các môn
Ở nước ta, vấn đề giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông cũng đã được chú ý ngay từ đầu thập niên 80, nhưng do thời gian trong kế hoạch dạy học bị hạn chế, nên chưa bao giờ nó được coi là một môn học riêng mà chỉ được lồng ghép vào nội dung những môn học khác, đặc biệt là trong các môn sinh học, địa lí và giáo dục công dân Ở tiểu học có môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội Trong quá trình
Trang 30cải cách giáo dục (từ năm 1981 đến nay), nội dung giáo dục môi trường đã được thể hiện trong các sách giáo khoa cho học sinh và sách hướng dẫn cho giáo viên Tuy nhiên, mức độ tích hợp giáo dục môi trường vào các tài liệu này còn rất tùy tiện và thiếu chặt chẽ Vì vậy trong các sách giáo khoa địa lí các lớp có cuốn đã đề cập đến vấn
đề môi trường và bảo vệ môi trường khá đầy đủ, nhưng cũng có cuốn còn sơ sài, chưa được quan tâm đúng mức Về bồi dưỡng giáo viên thì cũng chưa có một hội nghị chuyên đề chính thức nào bàn thật kỹ về vấn đề này, nhất là các hình thức và phương pháp giáo dục môi trường trong môn địa lí
III NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ
Khoa học địa lí, trong quá trình phát triển của mình đã tích lũy được một khối lượng lớn thông tin về môi trường Đó là các điều kiện tự nhiên, là các tài nguyên thiên nhiên và tình trạng khai thác, sử dụng chúng vào việc phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho con người Với những tri thức đó, khoa học địa lí có nhiều ưu thế trong việc giải quyết các vấn đề của môi trường hơn bất cứ bộ môn khoa học nào khác (17)
Chính vì vậy, việc giáo dục môi trường là một nội dung không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy địa
Trang 31lí trong nhà trường Thí dụ: Giáo trình địa lí đại cương học các khái niệm, các quy luật chung về địa lí Đó cũng là cơ sở để học sinh có hiểu biết cơ bản về môi trường Giáo trình địa lí thế giới học về các điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế của các Châu lục, các nước trên thế giới Qua đó học sinh hiểu được mối quan hệ giữa con người và môi trường trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Giáo trình địa lí nước nhà học
về các yếu tố tự nhiên, các hoạt động kinh tế đang diễn ra trên đất nước mình, trong môi trường xung quanh Ý thức mong muốn đất nước nhà tươi đẹp, giàu mạnh là cơ sở sâu sắc cho giáo dục học sinh ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường
Như vậy, môn địa lí ở trường phổ thông thực chất đã đề cập và phải đề cập đến những kiến thức và kỹ năng về môi trường và bảo vệ môi trường Có thể tóm tắt các nội dung đó trong bảng sau (trang 31)
Trang 32Bảng 1: Hệ thống kiến thức và kỹ năng về môi trường cần được đề cập trong môn địa lí ở trường phổ thông cơ sở
- Các khái niệm chung về môi trường, các yếu
tố thành phần của môi trường tự nhiên và nhân
tạo
- Quan sát, tìm hiểu điều tra các yếu tố thành phần của môi trường tự nhiên
2 Các tác động của con người đến môi trường - Nhận xét, phê phán, đánh
giá trạng thái của môi trường và những tác động của con người đến môi trường
- Việc khai thác và sử dụng hợp lý các tài
nguyên thiên nhiên, việc phục hồi và làm giàu
các tài nguyên thiên nhiên, việc cải tạo môi
trường tự nhiên
- Các tác động phá hoại và làm ô nhiễm môi
- Các hoạt động có tác dụng bảo vệ, cải tạo môi trường như trồng và chăm sóc cây, chim thú, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và cải
Trang 333 Tác động của môi trường đến sinh vật và con
người
- Các tác động của môi trường đến các điều
kiện sống, lao động, sản xuất và nghỉ ngơi của
con người (thiên tai, các tác nhân lý, hóa học
ảnh hưởng đến sự sống của con người, các điều
kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến việc
nghỉ ngơi, giải trí của con người)
- Làm quen với các biện pháp cải thiện môi trường như phòng chống bão lụt bảo vệ và cải thiện các điều kiện sống và nghỉ ngơi của con người
Các kiến thức và kỹ năng giáo dục môi trường nói trên phần lớn đã được tích hợp vào chương trình giáo khoa địa lí hiện hành ở phổ thông cơ sở (9, 18, 33, 48)
Trang 34Bảng 2: Hệ thống các kiến thức về môi trường đã được đưa vào chương trình và sách giáo khoa các lớp 6, 7, 8, 9
( )
Lớp Nội dung kiến thức
1 Môi trường và các yếu tố của môi trường
- Khái niệm chung về môi trường, các yếu tố cấu thành của
môi trường
2 Tác động của con người đến môi trường
- Khái niệm về việc khai thác và việc sử dụng hợp lý các tài
nguyên tự nhiên, về việc phục hồi và làm giàu các tài nguyên
thiên nhiên
- Khái niệm về việc cải tạo môi trường tự nhiên + + + +
- Khái niệm về tác động phá hoại và làm ô nhiễm môi trường + + + -
3 Tác động của môi trường đến sinh vật và con người
- Khái niệm về sự tác động của môi trường đến các điều kiện
lao động, sản xuất và nghỉ ngơi của con người
Trang 35Bảng 3: Hệ thống các kỹ năng học tập, nghiên cứu về môi trường đã được đưa vào chương trình, sách giáo khoa địa lí các lớp 6, 7, 8, 9
- Quan sát, mô tả các biện pháp cải tạo
tự nhiên của nhân dân địa phương
Giải thích các kí hiệu: - Chưa đề cập (V)
- Đề cập mờ nhạt (-)
- Đề cập rõ nét (+)
Trang 36So sánh hệ thống kiến thức và kỹ năng đã được đưa vào các sách giáo khoa địa
lí ở cấp phổ thông cơ sở có thể thấy, các cuốn sách giáo khoa của cấp học này đã đề cập:
a) Về kiến thức:
- Các khái niệm cơ bản về các yếu tố thành phần của môi trường tự nhiên như các quyển của trái đất, các yếu tố của môi trường tự nhiên các châu lục và môi trường Việt Nam
- Các kiến thức về việc khai thác và sử dụng hợp lí các tài nguyên thiên nhiên Việc phục hồi và làm giàu các tài nguyên thiên nhiên cũng đã được đề cập trong các sách giáo khoa các lớp 6, 7, 8, riêng sách giáo khoa địa lí 9 mới nói nhiều đến việc sử dụng chứ chưa đề cập đến việc phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên này
- Các kiến thức về mối quan hệ giữa dân số và môi trường cũng đã được đề cập trong các cuốn sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 8 (sách giáo khoa địa lí 9 đáng lẽ có thể nói nhiều hơn đến vấn đề này song chỉ nêu một cách mờ nhạt)
- Các kiến thức về những tác động phá hoại và làm ô nhiễm môi trường (trong sách giáo khoa địa lí 9 cũng ít được đề cập, đặc biệt chưa nêu được ảnh hưởng của việc phân bố các trung tâm công nghiệp, việc xử lí các chất thải của công nghiệp, giao thông vận tải)
- Riêng các kiến thức về sự tác động của môi trường
Trang 37đến các điều kiện sống, lao động, sản xuất của con người thì đã được đề cập khá rõ nét trong tất cả các sách giáo khoa như ảnh hưởng của thời tiết đối với sản xuất nông nghiệp (địa lí 6): Những thuận lợi và khó khăn do khí hậu nhiệt đới của nước ta mang lại (địa lí 8): Sự thuận lợi của các nước trong vùng núi Anpơ trong việc phát triển du lịch (địa lí 7): Thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng ở nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của các vùng đó (địa lí 9)
lí 9 nội dung này còn ít được đề cập
Nhìn chung, các bài tập thực hành có nội dung giáo dục môi trường đã gắn với thực tế địa phương, phục vụ cho các bài giảng lí thuyết, phù hợp với trình độ học sinh Tuy nhiên, số lượng các bài tập thực hành trong sách giáo khoa vẫn còn ít Mặt khác, phần lớn các bài tập rèn luyện kỹ năng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết, tìm hiểu chứ chưa chú trọng đến việc rèn luyện các kỹ năng bảo vệ, cải thiện môi trường
Trang 38Từ những nhận xét trên cho thấy: Trong quá trình giảng dạy địa lí, giáo viên cần phải bổ sung các kiến thức và kỹ năng bảo vệ môi trường còn thiếu (mờ nhạt) hoặc chưa đề cập đúng mức trong các sách giáo khoa địa lí của cấp phổ thông cơ sở
IV ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG CƠ SỞ VỀ NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1 Những đặc điểm chung về tâm sinh lí của học sinh phổ thông cơ sở
Để việc giáo dục môi trường có hiệu quả, việc hiểu biết những đặc điểm về lứa tuổi, về quá trình phát triển tâm lý và thể chất của học sinh là cần thiết
Giới hạn của lứa tuổi thiếu niên ở cấp phổ thông cơ sở (cấp 2) thấp nhất là 11 tuổi, cao nhất là 15 tuổi Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm riêng về tâm sinh lí Để cho việc giáo dục có hiệu quả, cần có những hình thức và phương pháp giáo dục thích hợp
"Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi có óc tò mò, ham hiểu biết, có khát vọng nhận thức" (4) Dựa vào đặc điểm đó, trong quá trình giáo dục, giáo viên cần có những biện pháp lôi cuốn học sinh vào các hoạt động ưa thích có ý nghĩa giáo dục môi trường Đôi khi cũng vì tò mò, ham
Trang 39hiểu biết nhưng chưa nhận thức được đầy đủ về hậu quả các hành vi của mình đối với môi trường xung quanh, nên các em đã có những hành vi làm tổn hại đến môi trường một cách vô ý thức như bắt chim non, giết các loài vật có ích đối với môi trường Vì thế, cần cung cấp cho học sinh các tri thức cần thiết về môi trường và bảo vệ môi trường để giúp các em có những hiểu biết, thái độ và hành vi cư xử đúng đắn đối với môi trường xung quanh
Về mặt tình cảm, lứa tuổi thiếu niên rất dễ bị kích động, do đó cũng cần phải giúp các em điều chỉnh những xúc cảm của mình (37) Chẳng hạn, vì thích chim non
mà một số học sinh đã phá tổ chim, bắt chim non về chơi; vì thấy nhành hoa đẹp bên đường nên tiện tay cũng ngắt luôn v.v Giáo viên cần uốn nắn, khắc phục những tình cảm tiêu cực của học sinh
Thiếu niên còn hay chú ý đến những biểu hiện bên ngoài cho nên những hành vi của người xung quanh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đạo đức của các em Như nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ rõ (56, 60): hành vi bảo vệ môi trường là hành vi đạo đức Để giáo dục hành vi đạo đức, mỗi gia đình, mỗi tập thể thiếu niên tiền phong nếu được xây dựng thành một môi trường tâm lý đạo đức lành mạnh thì sẽ là trường học giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ em thường xuyên, mạnh mẽ nhất (38) Do đó, cần đẩy mạnh giáo dục gia đình và hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong về bảo vệ môi trường
Trang 40Tuy nhiên, chỉ có hoạt động lao động mới là nguồn chủ yếu tạo nên những tình cảm đạo đức bền vững cho con người (38) Vì vậy, các hình thức lao động công ích về bảo vệ môi trường ở trường học, gia đình, địa phương như trồng và chăm sóc cây, vệ sinh trường, lớp, làng, xóm, khu tập thể là những hình thức có khả năng tạo cảm xúc tích cực cho học sinh
Một trong những thiếu sót phổ biến về mặt tâm lý ở lứa tuổi học sinh (đặc biệt
là ở lứa tuổi thiếu niên) là tính bướng bỉnh, tính vô kỷ luật, tính tinh nghịch (4) Tính bướng bỉnh, thể hiện trong sự cố tình hành động trái với tất cả những lý do và ý kiến hợp lý, trong sự chống đối và sự đối lập vô căn cứ đối với những lời khuyên, sự chỉ bảo của thầy, cô giáo đã dẫn đến việc phá hoại, việc cư xử không đúng mực đối với môi trường như trèo cây, bẻ cây mặc dù nhà trường đã có những biện pháp ngăn chặn các hành động trên
Tính tích cực mãnh liệt, nghị lực sôi sục, óc sáng tạo của các cậu bé thiếu niên thường không tìm được lối thoát hợp lý và thường biểu hiện trong những trò tinh nghịch, trong sự phá phách (4)
Nhận rõ những điều đó, trong công tác giáo dục môi trường cần phải chú ý đến đặc điểm của quá trình hình thành nhân cách của học sinh, của kiểu hệ thần kinh của họ
để điều chỉnh, uốn nắn, phát triển những mặt tốt trong nhân cách của mỗi học sinh, sử dụng các biện pháp và