Luận án Đóng góp của nhà thơ Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học trình bày về các nội dung: quan niệm về văn học và phƣơng pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu, thành tựu của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học qua các chặng đƣờng cầm bút, phong cách phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS Nguyễn Đăng Mạnh
HÀ NỘI – 2002
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN 5
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC, VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU 25
1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về văn học, chủ yếu là quan niệm về thơ 27
1.2 Phương pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu: 40
CHƯƠNG 2: THÀNH TỰU TRONG LĨNH VỰC PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU QUA NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG 62
2 1 Nhìn lại một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kỳ 62
2.1.1 Thời Thơ Mới (1932- 1945) 62
2.1.2 Những năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954): Tiếng thơ 70
2.1.3 Từ 1955 đến 1985 73
2.2 Những mảng đề tài nổi bật 85
2.2.1 Xuân Diệu với sáng tác thơ ca dân gian: 85
2.2.2 Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển dân tộc: 89
2.2.3 Xuân Diệu với nền thơ Việt Nam hiện đại: 112
CHƯƠNG 3: PHONG CÁCH PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU CỦA XUÂN DIỆU 125 3.1 Nhà thơ trong nhà phê bình 126
3.2 Bình và giảng 144
3.3 " Và cây đời mãi mãi xanh tươi" 159
KẾT LUẬN 170
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những tác giả lớn của Văn học Việt Nam thế kỷ XX Ông không chỉ là nhà thơ hàng đầu mà còn là một nhà hoạt động kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực sáng tạo văn học
Ngay từ những năm tuổi trẻ, với hai tòa lâu đài thơ ca lộng lẫy: Thơ thơ (1938) và Gửi
hương cho gió (1945) Xuân Diệu đã "đem đến một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này" [144, tr 212] và khẳng định vị trí văn học sử của mình: "nhà thơ mới nhất", "đại biểu đầy đủ nhất" cho phong trào Thơ Mới (1932-1945) Đồng thời, ông còn là
tác giả hai tập văn xuôi Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945) và nhiều bài tranh luận văn học sôi nổi đăng trên các báo Ngày nay, Phong hóa, Tao đàn
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), hành trình sáng tác thơ ca của Xuân Diệu lại rạo
rực với một "nguồn thơ mới" Nếu kể từ hai bản tráng ca Ngọn Quốc kì (1945), Hội nghị non
sông (1946) đến tập Thanh ca cuối cùng (1982), Xuân Diệu đã có hơn 13 tập thơ được xuất
bản trong lòng xã hội mới, đó là chưa kể đến nhiễu tập văn xuôi, thư dịch và hàng trăm buổi nói chuyện thơ trước công chúng; Tất cả, đều chứng tỏ cho ta thấy một Xuân Diệu - nhà thơ,
với một bút lực không hề vơi cạn, như "cây đời mãi mãi vanh tươi" như "sự sống chẳng bao
giờ chán nản"
Nhưng, có lẽ, nói như nhà thơ Tế Hanh, hoặc Trần Đăng Khoa "Về cơ bản, văn tài
Xuân Diệu ở giai đoạn này phát triển chủ yếu theo ngả tiểu luận nghiên cứu, phê bình, chứ không phải là thơ" [71, tr 7 | Hơn ba nghìn trang sách với gần hai chục công trình , kể từ Tiếng thơ (1951) đến bài viết cuối cùng: S ự uyên bác với việc làm thơ (1985) chỉ tính riêng các tác phẩm lí luận, phê bình đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia" [128, tr 136] Đặc biệt
những tác phẩm
Trang 5Xuân Diệu bàn về "công việc làm thơ" tìm hiểu về "các nhà thơ cổ điển Việt Nam" là những
công trình tầm cỡ chỉ có những nhà phê bình lớn, nhà văn hóa thực sự uyên bác tài hoa mới vươn tới được
Chính vì vậy, đã đến lúc muốn tìm hiểu một cách toàn diện và sâu sắc sự nghiệp văn học của Xuân Diệu, cũng như những đóng góp lớn lao, đặc sắc của ông đối với nền văn học hiện đại nước nhà, rất cần có những công trình nghiên cứu chuyên biệt từng tác phẩm, từng chặng đường, từng phương diện sáng tạo của ông Và, tất nhiên, không thể không có những công trình chuyên sâu, khám phá vẻ đẹp và đóng góp của văn tài Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học
1.2 V.G Bi-ê-linxki, nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng thế kỉ XIX, đã CÓ lần bàn
về mối quan hệ giữa phê bình và sáng tác như sau: "Ở đây không phải nghệ thuật tạo ra phê
bình, cũng không phải phê bình tạo ra nghệ thuật, mà cả hai đều xuất phát từ tinh thần của thời đại, có điều phê bình là ý thức triết học, còn nghệ thuật là ý thức trực tiếp" [66, tr 239]
Từ sự phân biệt này có thể nhận thức được rằng, nếu đi sâu tìm hiểu sáng tác thơ ca của Xuân
Diệu, người đọc có thể tiếp cận với con - người - ý - thức- trực - tiếp của nhà thơ, thì đi sâu
tìm hiểu các tác phẩm tiểu luận, phê bình sẽ là dịp tiếp cận với con người ý thức triết học của tác giả Tuy nhiên, đối với Xuân Diệu , con người""sống toàn tim, toàn hồn, sống
-toàn tâm" cho thơ, thì cả nghệ thuật và phê bình đều là nỗi niềm thổn thức, rạo rực của một Mái tim thơ luôn "khát khao giao cảm với đời", luôn gắn bó hết mình với con người và cuộc sống; hay nói cách khác, cả "ý thức trực tiếp" và "ý thức triết học" đều đã hòa quyện, giao
thoa trong tâm hồn một nghệ sĩ bậc thầy để làm nảy sinh ra tài năng sáng tạo đa dạng trên nhiều lĩnh vực Vì thế, tìm hiểu đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học chỉ là công việc đi sâu tách bạch một cách tương đối sự giao thoa ấy nhưng lại có ý
nghĩa mở ra thêm một hướng tiếp cận với thế giới nghệ thụât thi ca đầy "cảm xúc” và "huyền
diệu" của chính ông
Trang 61.3 Mặt khác ở nước ta, cho dù nền văn học dân tộc vốn hình thành, phát triển từ sớm, nhưng phê bình, nghiên cứu văn học hiểu theo nghĩa như một hoạt động chuyên nghiệp thì lại ra đời khá muộn Suốt mười thế kỉ, văn học trung đại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm; với tính chất bác học, sùng cổ, với quan niệm "văn dĩ tải đạo", lực lượng sáng tác và công chúng thưởng thức thường rất hạn hẹp Mãi đến những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ XX, khi văn học Việt Nam thực sự bước vào quá trình hiện đại hóa, mới xuất hiện một số tác phẩm của các nhà phê bình, nghiên cứu chuyên nghiệp Có thể kể đến, như "Phê bình và cảo luận" (1933) của Thiếu-Sơn, "Thi nhân Việt Nam" (1941) của Hoài Thanh và Hoài Chân; "Việt Nam văn học sử yếu" (1941) của Dương Quảng Hàm, "Nhà văn hiện đại" (1942) của Vũ Ngọc Phan.v v
Vẫn biết, phê bình là hoạt động chuyên môn không thể thiếu được trong đời sống văn học đương đại, song mấy chục năm qua, nhìn lại thành tựu chung của văn học nước nhà, so với các thể loại khác, phê bình vẫn phát triển chậm chạp, nếu không nói là yếu kém Lực lượng phê bình chuyên nghiệp rất ít ỏi; những nhà phê bình thực sự có uy tín được giới sáng tác và cổng chúng thừa nhận lại càng hiếm hoi Tác phẩm phê bình phần lớn là những bài đọc sách vô thưởng, vô phạt được tập hợp lại, ít có những tiểu luận, những công trình dài hơi, tâm huyết Nhiều người chỉ coi phê bình văn học là nghề tay trái, thậm chí còn lãng; tránh vì ngại đụng chạm, phiền hà Trong bối cảnh ấy cần ghi nhận những đóng góp thực sự của một số nhà giáo ở các trường đại học, các viện, công trình của họ vừa phục vụ cho giang dạy nghiên cứu, vừa góp phần thúc đẩy nền phê bình văn học Đồng thời cũng cần kể đến thành tựu của một số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng vừa có tác phẩm văn thơ với phong cách nghệ thuật độc đáo, vừa thể hiện tiếng nói đầy bản lĩnh qua những nghiên cứu phê bình Ở thập niên sáu mươi, bảy mươi, tám mươi, đó là Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi , và gần đây là một số cây bút trẻ khác Tuy nhiên, trong số nhà văn, nhà thơ đã kể trên, chưa ai để nhiều tâm sức, dành nhiều thời gian viết nhiều, viết say sưa có hệ thống và để lại nhiều tác phẩm xuất sắc trong lĩnh vực
Trang 7phê bình, nghiên cứu văn học như Xuân Diệu Ông thật xứng đáng là nhà thơ lớn, nhà phê bình tài danh của nền văn học nước ta trong thế kỉ XX Tìm hiểu, nghiên cứu Xuân Diệu ở lĩnh vực sáng tạo này một cách toàn diện và sâu sắc, nhất định sẽ rút ra được những bài học
bổ ích, những kinh nghiệm quí báu cho sự phát triển của nền phê bình văn học hôm nay, góp phần bổ sung vào mảng nghiên cứu lịch sử hình thành nhà văn và quan niệm văn học của nền văn học hiện đại chúng ta khi bước vào thiên niên kỉ mới
1.4 Giảng dạy và học tập văn chương trong nhà trường tuy có những nét đặc thù, riêng biệt, nhưng nhìn ở một phương diện nào đấy, nó cũng chính là một cách đưa văn học trở về với công chúng Những tập sách giới thiệu, phê bình nghiên cứu văn học đầy sức hấp dẫn của Xuân Diệu vừa là một kho kiến thức, tư liệu văn học đồ sộ, vừa là những bài học có
ý nghĩa "cẩm nang‖ cho những ai muốn thực sự đi vào con đường sáng tác cũng như học tập, giảng dạy, nghiên cứu văn học
Với chương trình cải cách giáo dục, Xuân Diệu là một trong những tác giả trọng tâm được giảng dạy ở Phổ thông và Đại học Tìm hiểu đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình văn học, như trên đã nói, không chỉ là cơ sở để hiểu sâu hơn vẻ đẹp trong các tác phẩm thi ca của ông; mà còn giúp cho giáo viên phổ thông có thêm cơ sở phương pháp luận
để nhận thức và đánh giá toàn diện về cuộc đời,sự nghiệp của một tác giả lớn trong chương trình Đó cũng chính là việc làm thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn - một vấn đề thời sự đang được xây dựng và nhà trường quan tâm
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Từ góc nhìn văn học sử, luận án tập hợp và khảo sát một cách có hệ thống những tác phẩm tiểu luận phê bình văn học của Xuân Diệu, nhằm phát hiện, tìm hiểu toàn diện những đóng góp lớn lao của nhà thơ ở lĩnh vực này, qua đó khẳng định tài năng phong phú đa dạng của Xuân Diệu, một nhà thơ kiệt xuất , một nhà
Trang 8phê bình văn học đặc sắc, một gương mặt văn hóa tiêu biểu của dân tộc ta trong thế kỉ XX
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Tìm hiểu quan niệm về văn học (chủ yếu là quan niệm về thơ), quan niệm về phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu, coi đây là cơ sở nhận thức luận tạo nên phương pháp phê bình văn học của ông Tất nhiên, trong quá trình tìm hiểu hệ thống quan niệm ấy qua các tác phẩm phê bình, tiểu luận - phần "ý thức triết học", không thể không liên hệ tới phần "ý thức trực tiếp" - thế giới hình tượng nghệ thuật thi ca của nhà thơ
2.2.2 Đánh giá thành tựu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học của Xuân Diệu qua từng chặng dường, điểm lại những tác phẩm, công trình tiêu biểu, những mảng đề tài nổi bật, như một quá trình vận động phát triển có qui luật, gắn với hành trình sáng tác của nhà thơ, và tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại
2.2.3 Trong mối quan hệ so sánh vói một số nhà phê bình văn học tiêu biểu cùng thời, bước đầu phát hiện những nét nổi bật của phong cách nghệ thuật phê bình Xuân Diệu
Từ đó, khẳng định vị trí và đóng góp lớn lao của ông trong lĩnh vực sáng tạo này nói riêng và trong nền văn học nước ta nói chung
TỔNG QUAN
1 Tình hình nghiên cứu vần đề
Sau bài thơ đầu tiên Với bàn tay ấy được in trên báo Phong Hóa (1935), bên cạnh
sáng tác thơ Xuân Diệu còn viết nhiều tiểu luận gửi đăng các báo Như đã được chuẩn bị rạo rực, dồn nén từ thuở thiếu thời, bước vào tuổi 20, tài năng văn học của Xuân Diệu cùng lúc bừng nở ở nhiều phương diện; thơ, văn xuôi, phê bình cảo luận Tất cả đều tuôn chảy từ một hồn thơ mới lạ, vừa gần gũi, vừa bồng bột, vừa xôn xao mà quyến rũ đến vô cùng! Nhà thơ
Tế Hanh cho rằng, với
Trang 9Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu đã hoàn tất dòng thơ đạt tới giá trị cổ điển, sức thơ của anh đã phát triển tới cùng, đỉnh điểm [71, tr.7] Có lẽ vì thế, ngay từ đầu và cả cho đến
hôm nay, mỗi lần nhắc Xuân Diệu, hầu như độc giả và đại bộ phận các nhà nghiên cứu, phê bình đều bị cuốn hút bởi tài thơ của ông Nếu phải lập một thư mục nghiên cứu về Xuân Diệu thật đầy đủ, thì đa phần các công trình, bài viết đều tập trung khám phá vẻ đẹp thơ ca Xuân Diệu, từ nhiều bình diện, nhiều góc độ khác nhau
Những bài viết, những công trình có liên quan đến đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học còn ít, chưa tương xứng với tầm vóc các trước tác của ông
để lại cho đời Nhìn chung có thể phân thành ba loại:
Loại thứ nhất, chủ yếu tìm hiểu giá trị thơ Xuân Diệu, thảng hoặc có đề cập tới hoạt
động phê bình văn học của Xuân Diệu và coi đó như một hoạt động cho thơ
Loại thứ hai, đối tượng nghiên cứu chính là cuộc dời và sự nghiệp văn học của Xuân
Diệu; hoạt động phê bình được coi như một phương diện để hiểu thêm tài năng của nhà thơ
và để khẳng định thêm đóng góp của Xuân Diệu đối với đời sống văn học
Loại thứ ba, là những bài viết trực tiếp lấy đối tượng tìm hiểu là những tác phẩm tiểu
luận, phê bình của Xuân Diệu Loại này còn ít hơn cả
Dưới đây là diễn biến cụ thể của tình hình nghiên cứu vấn đề qua từng thời kì
Trang 10"Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi, Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam Câu văn tuồng bỡ ngỡ Nhưng cái dáng
bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay" [144, tr 120]
Năm 1942, khép lại bài viết về Xuân Diệu trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan
khái quái: "Người ta thấy dù ở văn xuôi hay ở văn vần, bao giờ Xuân Diệu cũng là một thi sĩ,
một thi sĩ giàu lòng yêu dấu" [ 131, tr.274]
Có thể coi mấy nhận xét trên dây, dù chưa có gì trực tiếp, nhưng phải chăng đó là những ý kiến sớm nhất của giới nghiên cứu phê bình có đả động đến văn Xuân Diệu
1.2 Từ năm 1955 đến 1985
Sau hơn mười năm đi cùng Cách mạng và kháng chiến, Xuân Diệu hòa mình vào đại
chúng, cùng "chia với nhân dân cay đắng, ngọt bùi, như gỗ thuyền ăn chịu cùng muối biển" (Lệ); vốn là "một người của đời", khác với nhiều bạn bè cùng thế hệ, hồn thơ Xuân Diệu sớm
bắt nhịp với cuộc sống mới Cũng có lúc Xuân Diệu tâm sự, khi không làm được thơ thì người ta viết phê bình, nhưng vẫn đều đặn, cứ hai, ba năm ông lại có một tập thơ ra mắt bạn
đọc Từ Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) đến Một khối hồng (1964), từ
Hai đợt sóng (1967) Tôi giàu đôi mắt (l970) đến Hồn tôi đôi cánh (1976); từ Thanh ca
(1982) đến Tuyển tập Xuân Diệu - tập I, thơ (1983), ở những mức độ khác nhau, thi phẩm
nào của Xuân Diệu cũng mang được dấu ấn trăn trở sáng tạo của tâm hồn một nhà thơ lớn, cũng được đông đảo chúng và giới nghiên cứu phê bình, chờ đợi, đón nhận
Khó có thể nói, những tập thơ vừa kể trên đây là "sản phẩm phụ" (chữ dùng của Trần
Đăng Khoa) của Xuân Diệu Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng trong khỏang ba mươi năm cuối đời, bên cạnh dòng thơ vẫn tuôn trào, Xuân Diệu
Trang 11còn có một sự nghiệp thầm lặng mà lớn lao hơn, một khối lượng trang viết đồ sộ và hấp dẫn hơn, ấy là hàng loạt những công trình tiểu luận, phê bình của ông lần lượt đến với bạn dọc Năm 1983, Xuân Diệu được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức Đó không chỉ là vinh dự của riêng nhà thơ, mà còn là một niềm vui của văn hóa, văn học Việt Nam Trong bối cảnh ấy, độc giả nói chung, giới sáng tác và nghiên cứu
phê bình nói riêng, đã bắt đầu chú ý hơn đến nhũng đóng góp của Xuân Diệu "ở các hoạt
động khác cho thơ", nhất là lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học
Năm 1958, nhân đọc Những bước đường tư tưởng của Xuân Diệu Chế Lan Viên đã phát biểu cảm nghĩ: " Xuân Diệu là một nhà thơ có lí", rồi giải thích rõ hơn:
"Cái lí của Xuân Diệu là cái lí do sự cọ xát đấu tranh mà bật ra, không phải là cái lí nằm sẵn trên một trang sách in, có người bê vào một trang sách viết Tôi yêu nó là cái lí
động chứ không phải là lí tĩnh nằm ngủ cứng đờ Đọc Xuân Diệu, người ta vẫn thấy anh dẫn
chứng sách nọ, sách kia, nhưng anh không mắc bệnh sách vở, từ chương, không ăn tươi nuốt sống những điều anh đọc Đọc anh, người ta không thoát li thực tế văn học Việt Nam, mà trái lại càng gắn mình vào" [158, tr 6]
Nhà thơ trí tuệ Chế Lan Viên, đã nêu được một nét nổi bật trong cách viết tiểu luận phê bình của Xuân Diệu
Năm 1970, trên tuần báo Văn nghệ số 373, cuối bài viết về "Tâm hồn thơ Xuân Diệu", nhà giáo Nguyên Duy Bình đã đề cập đến việc Xuân Điệu "Giới thiệu thơ cổ điển" (Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương) nghiên cứu ca dao cổ, thơ quần chúng hiện nay, viết về các
nhà thơ hiện đại, dịch và bàn về các nhà thơ thế giới v.v Từ đó tác giả cho rằng: "Nhà phê
bình Xuân Diệu đã được mến yêu và có tín nhiệm Ngòi bút viết phê bình tiểu luận của anh
linh hoạt, tinh tế, sâu sắc Tác phẩm xưa và nay qua những lời phê bình và giới thiệu của anh
sáng đẹp hơn lên Chất lượng của các bài viết cũng chưa đều Nhưng nói chung
Trang 12những phát hiện, khám phá của anh khá thú vị, bổ ích Anh đã đem được khiếu nhạy cảm của người nghệ sĩ giúp cho bạn đọc đi sâu vào cái hay cái đẹp của thơ; giúp cho thơ phát huy tác dụng tích cực vào đời sống" [149,tr 63]
Những ý kiến vừa dẫn, tuy chưa nằm trong một luận lí chặt chẽ, song phần nào cũng đưa ra dược một vài nhận xét về mặt mạnh, mặt yếu của ngòi bút phê bình Xuân Diệu
Đi sâu vào một số tác phẩm cụ thể của Xuân Diệu ở lĩnh vực này, phải kể đến bài viết
"Xuân Diệu qua "Thi hào dân tộc 'Nguyễn Du" của Mai Quốc Liên Là người đã từng nhiều
năm nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, tác giả cảm thông với Xuân Diệu khi phải đối diện với Nguyễn Du và Truyện Kiều là nơi đã thử thách khá nhiều ngọn bút, khi phải
ngồi trước một đầu đề "hạn vận" như đọc Văn chiêu hồn Mai Quốc Liên thấy được "cái linh
hoạt của ngòi bút Xuân Diệu", khi "kết hợp sự suy nghĩ, nhiệt tình, cảm xúc, vốn sống" trên
từng trang viết để "làm cho người đọc xích lại gần hơn với tấm lòng nhân đạo lớn rộng của
Nguyễn Du" [ 149, tr 238]
Cũng trong bài viết này, Mai Quốc Liên cho rằng, Xuân Diệu hấp dẫn người đọc
không phải "trên những nét lớn của vấn đề" mà chính là "những phát hiện thú vị trên từng
chi tiết"; Xuân Diệu tin "có cách nói mới" "một cách viết thật thoái mái" với "mạch văn lôi cuốn, sôi nổi" Xuân Diệu "say sưa theo đuổi những ý nghĩ của mình, phát triển nó, và nói liền một mạch, nói đến tận cùng vấn đề, và chỉ đến lúc đó, anh mới buông tha nó" [149,tr
239]
Theo, Mai Quốc Liên, nhược điểm của tập sách là ở chỗ: "Xuân Diệu đã để bộc lộ
quá nhiều nhiệt tình của mình ra ngoài, và do đó đôi khi anh nói nhiều quá, trong khi đáng lẽ anh nên thâm trầm hơn, ẩn kín hơn, anh chỉ cần gợi ra mà người ta hiểu, ít lời mà hàm xúc sâu xa" [149, tr239]
Năm 1973, giáo sư Lê Đình Kỵ đăng tiểu luận ―Xuân Diệu và những áng thơ hay‖ trên tập Tác phẩm mới, số 2-1 (sau đó được in lại trong cuốn Thơ với
Trang 13Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nhà xuất bản Cửu Long - 1983) Có thể nói đây là
bài viết đầu tiên khá kỹ lưỡng về công việc bình thơ của Xuân Diệu Tác giả vừa thấu hiểu, vừa nhiệt tình phát hiện, phân tích những nét đặc sắc về tư tưởng thẩm mĩ và phong cách nghệ thuật Xuân Diệu khi bình luận, giới thiệu những bài thơ hay Giáo sư Lê Đình Kỵ cũng chỉ ra những mặt mạnh, mặt hạn chế của Xuân Diệu khi giới thiệu thơ ca cổ điển, thơ ca cách mạng hiện đại trong nước, thơ của các thi sĩ nước ngoài để đi đến khái quát:
"Thành công của Xuân Diệu trước hết là ở lòng say mê trân trọng di sản thơ ca dân tộc, ở khả năng cảm thụ sắc sảo, tinh nhạy, lại có sự am hiểu tinh tế ngôn ngữ Việt Nam, từ
đó có nhữnq bài viết xuất sắc, với nhiều khám phá độc đáo Đó là về chất lượng Còn khôi lượng các bài tiểu luận phê bình cũng rất lớn, hiện nay chưa có cây bút nào sánh kịp" [91, tr
66]
Công trình Nhà văn Việt Nam (1945-1975) hai tập của giáo sư Phan Cự Đệ và giáo sư
Hà Minh Đức ra đời năm 1979 (tập 1) và năm 1981 (tập 2) mang tính chất tổng kết đánh giá thành tựu của ba mươi năm xây dựng nền văn học mới, tất nhiên theo quan điểm của ý thức
văn học hồi bấy giờ Ở chương: "Về một nền lí luận, phê bình nghiên cứu văn học theo quan
điểm mác-xít ba mươi năm 1945-1975", giáo sư Phan Cự Đệ khi nhắc đến đội ngũ lí luận phê
bình, ngoài lực lượng chuyên nghiệp, đã nói đến sự đóng góp rất quan trọng của các nhà sáng tác như Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên vào lĩnh vực phê bình văn học; và có đoạn so sánh:
"Cùng đi vào công việc bếp núc của nghề thơ, nhưng Chế Lan Viên thì thông minh, độc đáo, tập trung gây ấn tượng bằng một lối diễn đạt mới mẻ hấp dẫn còn Xuân Diệu thì cởi
mở, chân tình, trò chuyện thu hút thế hệ trẻ bằng tìm tòi, khám phá và tấm lòng nâng niu, của một nghệ sĩ đối với di sản văn hóa của cha ôm;" [66, tr 295]
Cũng trong công trình này, ở phần giới thiệu các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu, giáo sư
Hà Minh Đức đã khắc họa: "Xuân Diệu là nhà thơ, và cũng là nhà nghiên cứu và phê bình,
người có nhiều hoạt động sôi nổi và đóng
Trang 14góp trong công việc giới thiệu, dịch thơ và nói chuyện thơ" [166, tr 614] Đồng thời tác giả
công trình còn dành hơn 6 trang để nhìn lại hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học của
Xuân Diệu và chỉ ra một số đặc điểm nổi bật nhƣ "toàn bộ hoạt động của Xuân Diệu đều hút
vào và xoay quanh cái trục của thơ", "thiên hướng của Xuân Diệu là biểu dương cái hay, chọn những sáng tác hay nhất của từng tác giả để khai thác bình luận", "luôn tỏ ra tinh tế và cảm thụ chính xác" nhưng"khi chủ quan thì cũng dễ bình luận một cách ồ ạt"
Sau này ở bài viết "Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ" [68, tr 75] cũng
nhƣ một số bài viết khác, giáo sƣ Hà Minh Đức tiếp tục phân tích làm sáng rõ những dặc điểm ấy và khẳng định ngợi ca những đóng góp của Xuân Diệu không chỉ trong lĩnh vực sáng tạo thơ mà còn cả trong hoạt động phê bình nghiên cứu văn học
Năm 1983 Tuyển tập Xuân Diệu tập I (thơ) đã ra mắt bạn đọc Lời giới thiệu tuyển tập
là một bài tiểu luận rất công phu của nhà thơ Hoàng Trung Thông, chủ yếu dành để phân tích,
lí giải quá trình hình thành, phát triển và những dóng góp đặc sắc của Xuân Diệu trong lĩnh vực sáng tác thơ Tuy vậy Hoàng Trung Thông vẫn không quen nhắc đến một Xuân Diệu có
"hàng bao nhiêu bài tiểu luận và phê bình để khẳng định cái mới trong văn học" bằng một
"bút lực thật là mạnh mẽ, phong phú, uyển chuyển" Với Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu là
nhà thơ đầy tài năng "đi từ thế giới cũ đến thế giới mới đi từ sáng tạo này đến sáng tạo khác,
tinh thông văn học trong nước và văn học thế giới một người có công với nền văn học mới, một người đáng bậc thầy cho các nhà thơ trẻ" [28, tr37]
Năm 1984, Nhà thơ Việt Nam hiện đại- một công trình tập thể của nhiều tác giả, do
Viện Văn học tổ chức biên soạn, đƣợc xuất bản Viết về Xuân Diệu sau khi phân tích những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật sáng tạo thi ca, nhà phê bình Mã Giang Lân đã nhấn
mạnh: "Xuân Diệu có ưu thế và có những đóng góp trong những hoạt động phê bình, giới
thiệu, thơ, dịch thơ Phải
Trang 15thừa nhận rằng, qua những phát hiện của ảnh, các tác phẩm càng lộ cái đẹp đẽ, cái sâu sắc
Và kì (liệu là, với các hài viết của anh, các hài {hớ, các nhà thơ như được xuân hóa, trẻ thêm, vô cùng sinh động Anh gây ấn tượng và cuốn hút hấp dẫn người đọc bằng những khám phá bất ngờ, bằng những suy nghĩ sâu sắc, tâm đắc, bằng hành văn sinh động, bằng những liên tưởng so sánh độc đáo theo cách riêng của mình" [95, tr.121]
Trong mạch ý tưởng ấy, ở nhiều bài viết khác, Mã Giang Lân đã làm nổi bật "sự đa dạng của Xuân Diệu" trong suốt cuộc đời lao động nghệ thuật
Nguyễn Văn Long trong "Từ điển Văn học" tập II, ghi những dòng cô đọng về cuộc
đời và sự nghiệp của Xuân Diệu, vẫn không quên "đóng góp của Xuân Diệu vào việc tìm
hiểu, học tập truyền thống thư ca dân tộc bằng một loạt công trình có giá trị", và nhận xét:
"Bằng một vốn hiểu biết phong phú và một sự tinh nhạy của nhà thơ, với lối viết luôn tràn đầy nhiệt tình, cảm xúc, những tác phẩm phê bình tiểu luận, bút kí của Xuân Diệu có một tiếng nói riêng đáng chú ý" [100, tr 605]
Ngày 18/12/1985, lúc 19h 45 phút, do một cơn đau tim đột ngột, nhà thơ Xuân Diệu
đã trút hơi thở cuối cùng tại phòng cấp cứu bệnh viện Việt - Xô trong niềm đau đớn tiếc thương vô hạn của bạn bè văn nghệ và đông đảo công chúng bạn đọc trong và ngoài nước Điếu văn của Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ truy diệu ngày 21 tháng 12 năm 1985 đã nhìn lại một cách khái quát cuộc đời,
sự nghiệp Xuân Diệu và khẳng định: Xuân Diệu là "nhà thơ lớn, nhà phê bình văn học xuất
sắc nhà hoạt động văn hóa và xã hội tích cực, người đồng cảm sâu sắc của các thế hệ thanh niên Việt Nam trong suốt chặng; đường nửa thế kỉ qua" "Những di sản tinh thần mà Xuân Diệu để lại cho chúng ta là những di sản đẹp đẽ và là những di sản lâu bền, có thể truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, di sản không chỉ có giá trị trong nước lúc mà còn có giá trị quốc tế" Xuân Diệu ra đi như "một cây lớn nằm xuống làm cho cả khoảng trời trống vắng [133,
tr 137]
Trang 16Tuy nhiên với một người như Xuân Diệu "Chết không phải là hạ màn của một cuộc
đời; chết là bắt đầu một cuộc sống khác của tác phẩm một nhà văn, nhà thơ" [41, tr-206]
1.3 Từ 1986 đến nay:
Hơn mười năm sau chiến tranh, muốn vượt qua tình trạng kinh tế bao cấp nghèo nàn lạc hậu, đất nước không thể không đổi mới để phù họp với qui luật phát triển của lịch sử và hội nhập với nhân loại Trước vận hội ấy, ý thức văn học của thời đại nói chung và tư duy lí luận phê bình nói riêng, từng bước đã có những chuyển biến rõ rệt Nhiều hiện tượng văn học trong quá khứ như Phong trào Thơ Mới (1932-1945), tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn, Vũ Trọng Phụng được nhìn nhận và đánh giá lại một cách cởi mở, toàn diện hơn Giới phê bình nghiên cứu văn học có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn tư liệu Công việc tìm hiểu, phân tích,
lí giải về tác giả tác phẩm có thêm những góc nhìn mới, và ngày càng có nhiều phát hiện mới
mẻ hơn
Trong tình hình ấy, việc đi sâu nghiên cứu nhiều phương diện của sự nghiệp văn học Xuân Diệu đã có những bước tiến đáng kể Dưới đây chỉ điểm lại những công trình, những bài viết có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học của Xuân Diệu:
Năm 19X6, Vũ Đức Phúc khi nhìn lại tình hình lí luận phê bình trong Văn học Việt
Nam kháng chiến chống Pháp 1945-1954 không quên nói đến Tiếng thơ:
"Xuân Diệu với tập Tiếng thơ (1951) đã chăm chỉ theo dõi thơ ca kháng chiến và
phân tích đánh giá mọi sáng tác thơ ca một cách xác đáng Lí luận về thơ ca của anh có nhiều sáng tạo, dựa trên kinh nghiệm bản thân và dựa trên một vốn hiểu biết sâu sắc về thơ
ca châu Âu và cả thơ ca Việt Nam, Trung Quốc cổ Kinh nghiệm của anh có thể giúp cho những nhà thơ trẻ" [128 ,tr 70]
Năm 1987, công trình Xuân Diệu con người và tác phẩm do Hữu Nhuận biên soạn,
nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành đã tập hợp một số bài viết tiêu biểu, những cảm nghĩ của nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình bạn bè trong
Trang 17ngoài nước về cuộc đời, sự nghiệp của Xuân Diệu Tất cả đều nói lên tình cảm mến yêu và khẳng định những cống hiến lớn lao của Xuân Diệu cho nền văn học nước nhà Nam Chi
(một Việt kiều ở Pháp) đã ví cuộc đời Xuân Diệu như "một chuỗi cườm, đồ trang sức của các
bà mẹ quê, mà mồ hôi thời gian làm sáng long lanh từng hạt một"; và Nam Chi đã chia chuỗi
hạt huyền ấy làm ba giai đoạn: Trước năm 1945, Xuân Diệu "là người tạo sinh lực cho Thơ
Mới" - hiểu theo nghĩa một trào lưu trong lịch sử văn học, "những đóng góp có tính cách tự nhiên, như một qui luật của bản năng sáng tạo, của con chim "ngứa cổ hát chơi" Giai đoạn
hai, từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1954, "những cống hiến ở giai đoạn này là một cố
gắng vượt bậc về ý thức, tình cảm, một hy sinh của con người cho một lý tưởng: giải phóng đất nước và phục vụ nhân dân Giai đoạn ba, sau 1951 về Hà Nội, Xuân Diệu vẫn tiếp tục làm thơ như trước, nhưng lại dành nhiều thời gian nghiên cứu theo hai hướng chính: thơ văn Việt Nam cổ điển và văn học dân gian, bên cạnh một số bài về thơ hiện đợi và thơ nước ngoài" [ 133, tr 90]
Suy nghĩ trên đây của Nam Chi về "trường hợp Xuân Diệu" chưa hẳn đã thống nhất
với một số người vốn quen tìm hiểu, đánh giá đường đời, đường thơ Xuân Diệu theo kiểu giản đơn, một chiều, nhưng lại có cơ sở hợp lí từ chính cuộc đời hoạt động phong phú sôi nổi
và thực tiễn sáng tác của Xuân Diệu qua tìm từng chặng đường Điều đáng nói là Nam Chi, cũng như Tế Hanh và Trần Đăng Khoa sau đó, đã thấy rõ hoạt động phê bình nghiên cứu có một vị trí không kém phần nổi bật, chiếm một quãng thời gian rất có ý nghĩa trong cuộc đời
và sự nghiệp của Xuân Diệu
Hòa nhịp với những chuyển hiến chung của tình hình phê bình, nghiên cứu văn học, chương trình và sách giáo khoa ở trường Đại học và Phổ thông cũng được cải cách Xuân Diệu là một trong những tác giả lớn được biên soạn khá kĩ lưỡng trong giáo trình Đại học và sách giáo khoa phổ thông
Trang 18Giáo sư Nguyễn Trác, trong giáo trình "Văn học Việt Nam 1945-1975" tập II, ở
chương ở Xuân Diệu, sau khi giới thiệu tiểu sử, con người sự nghiệp của nhà thơ, đã dành
riêng một mục tìm hiểu về "Xuân Diệu, nhà viết bút kí, tiểu luận và phê bình văn học", để từ
đó nêu lên một số nhận định khái quát
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trên Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
đã dành nhiều bài viết công phu và sâu sắc về Xuân Diệu, tập trung vào hướng tìm hiểu, phát hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ Từ Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời
(Văn nghệ, số 29, ngày 20/7/1985), "Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu" [113], đến Tư
tưởng và phong cách một nhà thơ lớn [114], tác giả đã giúp cho người đọc nhận diện "đặc
điểm độc đáo của thi pháp Xuân Diệu", mối quan hệ mật thiết giữa các loại hình sáng tạo trong sự nghiệp văn học của ông; đồng thời gợi ý bước đầu sự khác nhau trong phong cách phê bình nghệ sĩ của một số nhà văn, nhà thơ như: Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Tôi không muốn tách biệt văn Xuân Diệu với thơ
Xuân Diệu Văn hay thơ thì vẫn là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say
sự sống, mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu"[113.tr61] Và "phê bình cũng là sự giao cảm tri âm tri kỉ giữa người làm thơ và người đọc thơ" là sự "muốn gặp tất cả và tỏ lòng với tất cả những cảm nghĩ tin yêu của mình" để "đón nhận những giao cảm của mọi người ", ấy cũng
là lí do để giải thích lại sao ở lĩnh vực này, nhà thơ Xuân Diệu đã "viết nhiều, viết say sưa
hơn bất cứ nhà nghiên cứu nào"
Cũng trong gian thời gian này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn "những mong
tìm ra những khía cạnh mà chưa ai nói tới", đã sưu tầm, giới thiệu bài tiểu luận của Xuân
Diệu trước Cách mạng tháng Tám: "Tính cách An Nam trong văn chương" đăng trên báo Ngày nay năm 1939 để cho người đọc thấy được Xuân Diệu sớm có "quan điểm cởi mở về
tính dân tộc" [149 tr 257] - một vấn đề có ý nghĩ thời sự, hiện đang được nhiều người quan
tâm Theo hướng đi
Trang 19sâu vào tác phẩm và con người tác giả, Vương Trí Nhàn còn có bài viết về công trình của
Xuân Diệu nghiên cứu "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam"; qua đó nói lên "cái công của Xuân
Diệu trong việc trở về cội nguồn thơ dân tộc" và khẳng định " Xuân Diệu đã đi đầu trong việc: tìm hiểu gia tài văn học cổ điển" [149, tr 238] Vương Trí Nhím còn tạo ra những cuộc
phỏng vấn tưởng tượng với Xuân Diệu nhằm giúp cho người đọc hiểu thêm về tác giả và có
cơ sở cảm nhận tác phẩm sâu sắc hơn
Giáo sư Hoàng Như Mai, trong sách giáo khoa Văn 11, phần Văn học Việt Nam, khi
nhận định về sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu cũng đề cập đến: "Ngòi bút nghiên cứu phê bình
của Xuân Diệu phát hiện, khám phá nhiều điều độc đáo, sâu sắc (trong các bài nghiên cứu thơ văn cổ điển về Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến ) và có những nhận xét chính xác, tinh tế (tập Tiếng thơ, Phê bình giới thiệu thơ, Dao có mài mới sắc )
Tháng 8/1993, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Trần Đăng Khoa trong mội bài bút kí chân dung văn học đã đánh giá rất cao sự nghịêp phê bình nghiên cứu thơ ca của Xuân Diệu:
"Tôi trộm nghĩ, sự đóng góp lớn lao của Xuân Diệu sau Cách mạng vẫn không phải là thư ca, mặc dù thơ ông vẫn hay, cũng không phải ở mảng dịch thuật, mặc dù mảng dịch thơ, giới thiệu thơ này cũng đủ thành một sự nghiệp mà nhiều người không dám mơ tưởng Tài năng Xuân Diệu sau thời 'Thơ thơ", "Gửi hương cho gió" một lần nữa rực chói lên ở lĩnh vực phê bình, nghiên cứu thơ ca "
"Xuân Diệu đã viết hầu hết các danh nhân văn học Việt Nam Viết hay đến mức không ai có thể sánh được Mặc dù trước Xuân Diệu chúng ta đã có Hoài Thanh, nhà phê bình thiên tài của thời Thơ Mới" "Nếu Hoài Thanh có biệt tài tiên cảm văn chương, thì Xuân Diệu lại rất giỏi đi vào kỹ xảo, đi vào thực tiễn cụ thể của bếp núc nhà nghề” [85,tr 53,54]
Trang 20Và, Trần Đăng Khoa đã coi hai tập Nhà thơ cổ điển của Xuân Diệu cùng với Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh là hai bộ sách quí, "là bảo bối, là sách học nghề"
Ở thập niên chín mươi, cuộc đời và sự nghiệp văn học của Xuân Diệu đã là đề tài của nhiều luận án thạc, tiến sĩ chuyên ngành khoa học ngữ văn Song, phần lớn các luận án đều tập trung nghiên cứu, phát hiện thêm những giá trị phong phú của thơ ca Xuân Diệu; nhất là
tìm hiểu khẳng định vẻ đẹp của Thơ thơ và Gửi hương cho gió với cái nhìn nhiều chiều, nhiều
góc độ của lí thuyết phê bình mới Một số công trình có dề cập trực tiếp đến hoạt động phê bình, nghiên cứu của Xuân Diệu nhưng cũng-chỉ đi sâu vào một số tác phẩm, một mảng đề tài như: Xuân Diệu với các nhà thơ cổ điển Việt Nam V V , hoặc tiếp cận theo một hướng
khác Gần đây tập sách Xuân Diệu - tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật (Nhà xuất
bản Giáo dục - Hà Nội 1999) do Lưu Khánh Thơ sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, có thể coi là Tuyển tập Xuân Diệu, tập III, và cũng là công trình đầu tiên sưu tập một cách có hệ thống giới thiệu và tìm hiểu khái quát đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học Nhưng trong tập sách này, Lưu Khánh Thơ chưa bao quát mảng hoạt động khá sổi nổi với nhiều bài tranh luận văn học của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Tóm lại, từ tình hình nghiên cứu vấn đề như trên, có thể thấy rằng cùng với sự nghiệp sáng tạo thơ ca nổi tiếng của Xuân Diệu, sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học của ông
cũng ngày càng dược giới lí luận, phê bình nghiên cứu quan tâm, và vẫn "đang là một lĩnh
vực hấp dẫn chờ đợi khám phá." [140, tr 333] Đã đến lúc cần có nhiều công trình nghiên cứu
ở nhiêu cấp độ và hình chọn khác nhau mới có thể xứng đáng với tầm vóc của những di sản văn học vô giá mà Xuân Diệu đã dể lại cho chúng ta Điều đó, một lần nữa nói lên tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 21Tiếp thu thành tựu của người đi trước, luận án này cố gắng tập hợp tư liệu, phân tích,
lí giải một cách hệ thống để dưa ra được một cái nhìn tổng quan, một toàn cảnh về sự nghiệp phê bình văn học lớn lao của Xuân Diệu bên cạnh sự nghiệp thơ ca đã từng rạng rỡ của ông
2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu và cái mới của luận án
2.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Xuân Diệu là người say thơ, yêu thơ và dường như sinh ra là để làm thơ, chăm chút
cho thơ Những lập thơ đầu tay: Thơ thơ, Gửi hương cho gió đã làm nên một Xuân Diệu tài
danh rạng rỡ Xuân Diệu viết văn xuôi, làm phê bình, dịch thơ, đi nói chuyện thơ trước công chúng cũng chính là biểu hiện "tình yêu đầy rẫy" của một trái tim thơ giàu có chân thật, ham sống, ham yêu luôn tìm mọi cách để có được giao cảm với đời, với người Chính vì vậy, trong sáng tác của Xuân Diệu, các thể loại thường hòa quyện vào nhau Không ít những bài thơ, câu thơ của Xuân Diệu mang vẻ đẹp hồn nhiên như lời văn nói, ngược lại trong các tập văn của Xuân Diệu đã xuất bản thường có sự đan xen của truyện ngắn, bút kí, tùy bút, tiểu luận và phê bình Tất cả như để cùng tắm gội trong thơ, thấm đẫm chất thơ Luận án này chỉ chọn những bài viết, những tác phẩm giàu chất phê bình văn học của Xuân Diệu làm đối tượng tìm hiểu, nghiên cứu
Xuân Diệu không chỉ giới thiệu, phê bình thơ trong nước, mà còn dịch và giới thiệu nhiều nhà thơ lớn ở nước ngoài Song, do chưa đủ điều kiện, tư liệu để đối chiếu giữa nguyên văn với bản dịch, luận án này chủ yếu chỉ tập trung khảo sát những tác phẩm tiểu luận của Xuân Diệu viết về Văn học Việt Nam
Với tính chất văn học sử của đề tài, luận án này không đi sâu biện giải những khái niệm nạng về lí thuyết văn chương như đặc trưng của văn học, phân biệt các loại thể, loại hình văn học, phong cách nghệ thuật mà chỉ vận dụng một dung lượng kiến thức vừa đủ để làm cơ sở cho lập luận và phân tích triển khai vấn đề Ở đây, từ thực tiễn tiếp cận một khối lượng không nhỏ các tác phẩm tiểu
Trang 22luận phê bình của Xuân Diệu, chúng tôi thấy cần giới hạn thống nhất cách hiểu phê bình văn
học, nghiên cứu văn học và mối quan hệ giữa hai khái niệm ấy như sau:
Theo quan điểm truyền thống, khoa học nghiên cứu văn chương bao gồm ba ngành
lịch sử văn học, lí luận văn học về phê bình văn học Nếu lịch sử văn học "khao khát" tái hiện
những quá trình hình thành và phát triển của nền văn học các dân tộc qua từng thời đại, lí luận văn học chuyên chú say mê với những khái niệm, phạm trù thuộc về bản chất và qui luật chung nhất của văn chương, thì phê bình văn học là sự vận dụng văn học sử và lí luận văn học dể hướng vào đối tượng chủ yếu là những hiện tượng văn học đang diễn ra trước mắt Có
nhà phê bình đã xác định:"Đối tượng thật sự của phê bình, là toàn bộ quá trình văn học
đương đại với tất cả các đặc điểm, diện mạo, vấn đề của nó" còn "đối tượng thường thấy của phê hình là sáng tác, là các tác phẩm văn học, hoặc nói rõ hơn, là những sáng tác mới ra mắt, những tác phẩm đương đại" [4, tr 173]
Tuy nhiên, cuộc sống vốn rất phong phú đa dạng và như một dòng chảy liên tục, trong những cái đang diễn ra hôm nay vẫn có những giá trị của ngày hôm qua tiếp tục nảy nở, sinh
sôi Mặt khác, không mấy ai tìm hiểu di sản văn học quá khứ, tìm về những "người muôn
năm cũ" mà không xuất phát từ một nỗi niềm trước hiện tại Có lẽ thế , phê bình văn học còn
được hiểu ở nghĩa rộng hơn, nó có thể "đề cập đến những hiện tượng văn học quá khứ, nhưng
không phải là nhằm tái hiện lại quá trình phát triển toàn diện của nó, mà chính là để qua nó hoặc từ nó góp phần làm sáng tỏ một vấn đề hiện tại Tính hiện đại của phê bình do đó, không chỉ ở đối tượng, ở đề tài, mà còn ở chủ đề, ở cách xử lý "chế ngự đối tượng" [92, tr 9]
Phê bình văn học theo Bi -ê-lin-xki là "mĩ học vận động" chứ không phải là "khoa học trong
trạng thái tĩnh" cần phải được hiểu một cách linh hoạt và toàn diện trong sự gắn bó mật thiết
với thực tiễn
Giới thuyết trên đây đã chứng tỏ rằng hoạt động phê bình và nghiên cứu Văn học, tác phẩm phê hình và tác phẩm nghiên cứu có mối quan hệ mật thiết hết
Trang 23sức gần gũi Dù muốn hay không, cả phê bình và nghiên cứu đều phải bắt đầu từ tác phẩm văn học, phê bình muốn sâu sắc thì phải có sự hỗ trợ đắc lực của nhiều nguồn tư liệu, nhiều góc nhìn lí thuyết dựa trên các thành tựu nghiên cứu; ngược lại nghiên cứu muốn thực sự sinh động, hữu ích lại không thể thiếu cái nhìn nhạy cảm, "con mắt xanh" của người làm phê bình
Sự phân biệt giữa phê bình và nghiên cứu chính là ở chỗ phê bình cũng là khoa học về văn chương nhưng không phải là khoa học lí thuyết mà là khoa học ứng dụng Vì vậy, phê bình đòi hỏi phải năng động hơn, gần với thực tiễn sáng tác hơn So với nghiên cứu, phê bình văn học có nhiều thể văn, và cùng như trong sáng tác ranh giới giữa chúng không phải bao giờ cũng phân định rõ ràng Từ những thể văn phê bình thường gặp như: tiểu luận, điểm bình, tùy bút, lời tựa, lời bạt, chân dung, đối thoại, phỏng vấn đến các khuynh hướng (phê bình lí luận, phê bình xã hội - lịch sử, phê bình thẩm mĩ, phê bình tâm lí, phê bình ngôn ngữ ) các phong cách (phê bình hàn lâm, phê bình tài tử, phê bình nhà trường, phê bình tình cảm ) càng chứng tỏ trong các ngành của khoa học văn chương thì phê bình là người lính xung kích, phải có mặt và ứng phó linh hoạt, kịp thời với đời sống muôn màu, muôn vẻ của văn học Và, nhà phê bình không thể thiếu đức tính của nhà nghiên cứu, nhà khoa học nhưng ở những khía cạnh nào đó lại cũng rất cần phải có những phẩm chất của người nghệ sĩ vì phê bình phải chăng vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Còn hơn thế , đối với những nhà phê bình thực sự có tài năng thì tác phẩm của họ không chí nhận định đánh giá chính xác một hiện tượng văn học còn là một "văn bản nghệ thuật thứ hai" một công trình sáng tạo đầy tính thẩm mĩ có sức rung động sâu xa tâm hồn, tình cảm người đọc
Tìm hiểu những hoạt động của Xuân Diệu ở lĩnh vực này, chúng tôi có thể thấy rằng, hầu hết tác phẩm tiểu luận - phê bình của ông, bao gồm nhiều thể loại, đều gắn với thời sự văn học nước ta, nhất là thời sự nền thơ Việt Nam hiện dại trong nửa thể kỉ vừa qua (từ 1935 đến 1985).Những công trình tìm hiểu về các nhà thơ cổ điển của dân tộc từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn v v… đều chủ yếu
Trang 24góp phần phát hiện từ quá khứ những khía cạnh mới mẻ làm phong phú thêm đời sống văn học hiện tại, là cách đọc sách xưa cho người hôm nay; hay nói như Kim Thánh Thán đã từng
chân thành thú nhận khi phê bình "Mái tây", có thể Xuân Diệu còn có mục đích "ông không
vì ai hết, muốn vì chính mình, muốn làm duyên với người đời sau, buộc người đời sau phải nhớ tới tên tuổi của mình" (125, tr 104) Cách "chế ngự đối tượng" như thế khiến cho hai tập
"Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" cũng thiên về phê bình giới thiệu thơ
Mặt khác, cũng ít ai làm phê bình lại dày công đọc đi đọc lại, tìm hiểu một cách có hệ thống và dành nhiều tâm huyết như Xuân Diệu Có lẽ vì thế mà nhà thơ Chế Lan Viên đã có
lí khi nói rằng: "năng suất của Xuân Diệu bằng cả một Viện văn chương, mà Diệu vừa là viện
trưởng, vừa là viện phó, vừa là loong toong, bởi vì chỉ một mình Diệu đã viết hầu hết các danh nhân văn học! Viết hay khó ai thay được" [133, tr 146] Đó là lý do để luận án này
không tách rời phê bình và nghiên cứu trong đóng góp của Xuân Diệu ở lĩnh vực này
2.2 Cái mới của luận án:
Luận án là công trình đầu tiên từ góc nhìn văn học sử đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện, có hệ thống hoạt động phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu cả trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 gắn với từng chặng đường sáng tác thơ ca của ông và quá trình phát triển của nền Văn học Việt Nam hiện đại từ 1935 đến 1985
Luận án còn phát hiện, phân tích, so sánh để làm nổi bật những đóng góp của Xuân Diệu cho nên văn học dân tộc trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu: từ quan niệm về văn học,
về phê bình và phương pháp phê bình đến những công trình tiêu biểu, những những đề tài nổi bật; những đặc trưng phong cách nghệ thuật
Đồng thời, qua việc nhìn lại sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học với những thành tựu rực rỡ của nhà thơ Xuân Diệu, qua tấm gương lao động trung
Trang 25thực đầy tài năng của một nghệ sĩ bậc thầy, luận án còn muốn góp thêm những suy nghĩ, rút
ra những bài học bổ ích, thiết thực cho hoạt động phê bình, nghiên cứu và giảng dạy văn học hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu của luận án:
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu và tính chất của đề tài, trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi kết hợp vận dụng những phương pháp cơ bản sau đây:
3.1 Phương pháp tập hợp, thông kê, phân loại:
Cùng với sự nghiệp sáng tác thơ ca, sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu cũng hết sức phong phú, đa dạng Phương pháp tập hợp thống kê, phân loại sẽ giúp cho việc sưu tập sắp xếp các tác phẩm phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu theo trật tự thời gian,
và phân loại theo từng thể tài, từng vấn dề cần giải quyết để tăng cường chính xác trong nghiên cứu
3.2 Phương pháp lịch sử:
Là đề tài văn học sử, phương pháp này nhằm miêu tả, tái tạo quá trình hoạt động của nhà thơ Xuân Diệu trên lĩnh vực phê bình nghiên cứu qua những chặng đường cầm bút gắn với lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói riêng và nền văn học hiện đại của dân tộc nói chung
3.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống:
Theo định nghĩa của N Xtêpanôp, hệ thống là "một tập hợp phong phú với nhiều xác
định và liên hệ" Trong nghiên cứu khoa học, tri thức về đối tượng muốn có giá trị bao giờ
cũng mang tính cụ thể và tính hệ thống Phương pháp này giúp chúng tôi vừa đi sâu khảo sát từng tác phẩm cụ thể của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình văn học, vừa đặt tác phẩm ấy trong mối quan hệ với các tác phẩm khác gắn với từng chặng dường hoạt động sáng tác và phê bình của nhà thơ, đồng thời xác định định vị trí của hoạt động ấy trong sự phát triển chung của nền văn học hiện đại nước nhà
Trang 263.4 Phương pháp so sánh văn học:
So sánh dể làm nổi bài tính da dạng và thống nhất trong sự nghiệp văn học của Xuân Diệu, mặt khác, so sánh (đồng đại và lịch đại) giữa Xuân Diệu và các cây bút phê bình văn học khác nhằm nhận diện phong cách nghệ thuật phê bình của Xuân Diệu và khẳng định thành tựu đóng góp của ông ở lĩnh vực này
Tất nhiên, trong quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu và triển khai vấn đề, luận án còn vận dụng phối hợp những phương pháp bổ trợ khác
4 Giới thiệu sơ lược cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan và kết luận, nội dung luận án được cấu trúc thành các chương, mục chính như sau:
Chương 1: Quan niệm về văn học và phương phán phê bình nghiên cứu văn học của
Xuân Diệu
1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về văn học chủ yếu là quan niệm về thơ
1.1.1 Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống nơi trần thế, trần tục này
1.1.2 Thơ là trái tim chân thật, là quy luật tình cảm
1.1.3 Thơ còn là thơ nữa
1 2 Phương pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu
1.2.1 Phương pháp "mắt xanh điểm huyệt vào chất văn"
1.2.2 Phương pháp thể nghiệm đồng sáng tạo
1.2.3 Phương pháp huy động triệt để vốn tri thức văn hóa, đời sống vào trường liên tưởng thẩm mỹ
1.2.4 Phương pháp phân tích tác phẩm như một cơ thể sống một chỉnh thể nghệ thuật sinh động
Chương 2: Thành tựu của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học qua
các chặng đường cầm bút
2.1 Nhìn lại một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kì
2.1.1 Từ 1932-1945: Những bài tranh luận văn học thời "Thơ Mới" và "Thanh niên
với quốc văn"
Trang 272.1.2 Từ 1946-1954: "Tiếng thơ"
2.13 Từ 1955-1985: Với một số tác phẩm tiêu biểu:
- "Những bước đường tư tưởng của tôi"
- "Phê bình giới thiệu thơ"
- "Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ"
- "Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồm ấy "
- "Dao có mài mới sắc"
- "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" tập I, tập-II
- "Công việc làm thơ"
2.2 Những mảng đề tài phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu 2.2 1 Xuân Diệu với sáng tác thơ ca của quần chúng
2.2.2 Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển của dân tộc 2.2.3 Xuân Diệu với nền thơ Việt Nam hiện đại
Chương 3: Phong cách phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu
3.1 Nhà thơ trong nhà phê bình
3.2 Bình và giảng
3.3 "Và cây đời mãi mãi xanh tươi"
Trang 28CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC, VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH
NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU
Khi bàn về đặc trưng "lao động dưới hình thái riêng của người" Các Mác đã diễn đạt
một triết lý nổi tiếng bằng hình ảnh như sau: Con nhện làm những động tác của người thợ dệt, con ong vói những ngăn tổ sáp của mình còn khéo hơn nhiều một nhà kiến trúc Thế nhưng, điều phân biệt trước tiên giữa một nhà kiến trúc tồi nhất và con ong giỏi nhất là nhà kiến trúc trước khi xây dựng tường ngăn trong tổ ong, thì đã xây dựng tường ngăn đó trong
óc mình rồi Nghĩa là, kết quả cuối cùng lao động đạt dược, trí tưởng tượng của người lao động đã quan niệm ra trước rồi
Như vậy, quan niệm là sự hình dung trước của con người về một công việc nào đó, hoặc nói rộng hơn là về một vấn đề, một đối tượng khách quan, một sự kiện nào đó; quan niệm vừa là sự nhận thức, đồng thời cũng là một hoạt động nhận thức biểu hiện năng lực tư duy của chủ thể sáng tạo Quan niệm có thể được bổ sung, điều chỉnh thậm chí có khi phải thay đổi do hoàn cảnh cụ thể trong quá trình tiếp xúc với đối tượng, nhưng nó chính là cơ sở nhận thức luận có ý nghĩa quyết định thái độ ứng xử và phương pháp tiến hành công việc nhằm đạt tới mục đích Khi con người lao dộng cải tạo thiên nhiên, để tạo ra một "thiên nhiên thứ hai" phục vụ cho chính mình, cũng có nghĩa là "thiên nhiên thứ hai " ấy bao giờ cũng soi bóng con người và mang dấu ấn của những quan niệm Bởi vậy, "sự thấy trước ấy" đúng hay sai, rõ ràng; hay mập mờ đều góp phần quyết định thành, bại của kết quả công việc
Nói riêng trong lĩnh vực sáng tạo văn học, nhà văn nào trước khi đặt bút cũng hình dung về "đứa con tinh thần " của mình và hình dung trước cả thái độ
Trang 29của "bạn đọc giả định" khi "đứa con" ấy ra đời Bởi thế nhiều người đã nói, trong bản thân
mỗi nhà văn, nhà thơ bao giờ cũng có một nhà phê bình; trước hết là dể làm công việc biên tập tác phẩm của chính họ: Nhà văn, nhà thơ càng lớn thì nhà phê bình ấy càng nghiêm khắc
Là một nghệ sĩ bậc thầy Xuân Diệu ý thức sâu sắc và thường trực vai trò của tư tưởng, quan niệm trong quá trình lao động văn chương Nhiều lần, trong nhiều trường hợp khác nhau, Xuân Diệu đã nói đến vấn đề này
Nhận xét về Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1954, xuất bản lần đầu (5/1957) Xuân Diệu cho rằng: "Vì thiếu một lí luận nền tảng, một đường lối rõ rệt, nên Tuyển tập thơ Việt Nam
thiếu một xương sống, đến cả việc đặt tên cho mình cũng mơ hồ", và theo ý ông: "Ở giữa khối thơ bề bộn đó, nếu ta chủ động có lí luận chắc chắn, có một phương hướng rõ rệt, thì ta vẫn làm nổi được những đường nét căn bản" [34, tr" 102] Lần khác, đọc và cảm nhận thơ Cao
Bá Quát, Xuân Diệu giải thích: "một lí do làm cho chất thơ Chu Thần hay, theo ý tôi cũng ở
nơi quan niệm đúng đắn của ông về thơ" [44, tr 142] Và, khi "thêm lời trò chuyện" với các
bạn làm thơ trẻ, Xuân Diệu lại vẫn xác định: "nếu không nói được nhiều, thì cái cần nói đầu
tiên, vẫn nặng về vấn đề tư tưởng, vấn đề quan niệm" [36, tr 22]
Rõ ràng, "vấn đề tư tưởng, vấn đề quan niệm" đối với người biên tập, phê bình và
sáng tạo văn học, luôn được Xuân Diệu nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu Ông coi đó như 1à
"một đường lối", "một lí luận nền tảng", "một phương hướng" để tạo nên "xương sống"cho
tác phẩm, cho công trình Chẳng thế mà, lúc nhìn lại "mười lăm năm lao động thơ" của chính mình, Xuân Diệu cũng tự thấy và khẳng định: "có trình độ tư tưởng nào, thì có thơ ấy" [ 36, tr
99]
Mặt khác, thành tựu phê bình nghiên cứu văn học lớn về khối lượng và xuất sắc về chất lượng của Xuân Diệu, cũng nói rằng ông đã sử dụng một hệ phương pháp có hiệu quả
Trang 30Vậy, phương pháp đó là gì?
Chúng ta vẫn biết, phương pháp nghiên cứu một đối tượng nào đấy bao giờ cũng tương ứng với quan niệm của người sử dụng về chính đối tượng ấy Tuy theo quan niệm về đối tượng khác nhau mà người ta có những phương pháp khác nhau Từ mối tương quan ấy, việc xác định quan niệm về văn học của Xuân Diệu trước khi di vào khảo sát phương pháp phê bình nghiên cứu của ông là hết sức cần thiết
1.1 Quan niệm của Xuân Diệu về văn học, chủ yếu là quan niệm về thơ
Sở dĩ nói quan niệm về văn học của Xuân Diệu trước hết và chủ yếu là quan niệm về thơ, vì thơ là đối lượng chính, xuyên suốt của hoạt động phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu
Vừa là nhà sáng tác, vừa là nhà phê bình, tất nhiên hệ thống quan niệm ấy đã được biểu hiện trong toàn bộ thế giới nghệ thuật thi ca của ông trước và sau Cách mạng tháng Tám Tuy vậy, do dặc trưng của thể loại, các tác phẩm tiểu luận - phê bình, mới chính là nơi bộc lộ
trực tiếp " ý thức triết học" của nhà thơ qua việc cảm nhận, đánh giá các hiện tượng văn học,
hoặc nhìn lại sáng tác của bản thân mình Quan niệm về văn học của Xuân Diệu cũng không
nằm ngoài quy luật vận động, chuyển biến của một thế hệ văn nghệ sĩ vốn từ "chân trời của
một người" đến với "chân trời của tất cả" từ "thung lũng đau thương" đến với "cánh đồng vui" Ban đầu, cũng có lúc Xuân Diệu tỏ ra quyết tâm không "vướng" bởi "nghiệp xưa",
nhưng càng ngày ông càng nhận thức được đó là quá trình đấu tranh giữa cái "mình sau" và cái "mình trước", "vừa phủ nhận, vừa kế thừa" đầy phức tạp, tinh vi Nét khác biệt so với các
nhà văn cùng thế hệ, đó là Xuân Diệu không có thái độ đối lập hoàn loàn giữa hai thời kỳ sáng tác trước và sau cách mạng; ông biết tự phân tích và điều chỉnh; vì vậy quan niệm của Xuân Diệu về văn học vừa vận động phát triển bổ sung, vừa đa dạng và thống nhất Xuân
Diệu đã nhiều lần nói lên điều ấy qua "một tâm sự thi sĩ"
Trang 31"Cái tôi là đáng ghét", nhưng nếu tôi không nói cụ thể xuất phát từ trường hợp cá nhân tôi, thì tôi làm sao nói được một cái gì sâu sắc, nghĩa là thành thật về thơ? Ý tôi muốn nói rằng tôi là CŨ và là NAY, và hai phương pháp sáng tác, hai "hồn thơ", hai "bút pháp", hai thời kì lịch sử của nước tôi hòa nhập làm một ở trong tôi"
“Trong thời tuổi trẻ tôi đã biết cái thú vị của buồn mơ, đã thưởng thức cái êm ái của
sự cô lẻ; trong những bài thơ lúc trước, tôi đã có những dạt dào lãng mạn và những giọng
điệu tượng trưng tôi không phủ nhận những sáng tạo của tôi khi trước, nhưng tôi nói như
Pôn Eluya (Paul Elua):"Từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người", tôi tìm
thấy một hạnh phúc giàu có hơn, trọn vẹn hơn, đầy sáng tạo hơn Tôi là một người hành
động và người mơ mộng bằng thơ" [46, tr-49]
Chúng tôi cho rằng muốn tìm hiểu và đánh giá đúng quan niệm về nghệ thuật và sáng tác của Xuân Diệu, không thể không đặt trong mạch suy cảm ấy
1.1.1 Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống nơi trần thế, trần tục này
Xuân Diệu vẫn thường phát biểu: ―Trong một tác phẩm văn học, cái mà người ta yêu trước hết là cuộc sống, chân lý cuối cùng và cao nhất của nghệ thuật là cuộc sống Nghệ thuật
không thể là một thế giới riêng ở ngoài đời" [51 ,tr.31] Cái chân lý dường như hiển nhiên và giản dị ấy, với thế hệ những nhà thơ như Xuân Diệu có được là cả một quá trình nhận thức rất tinh vi, dần dà và nhẫn nại Phân tích được một quá trình như vậy, theo Xuân Diệu là cả một việc lý thú, bổ ích vì nó diễn ra vừa có quy luật, vừa nhiều vẻ gắn với hoàn cảnh riêng của mỗi người
Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đã có những lời thơ:
"Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây
(Cảm xúc)
Trang 32"Tôi là con chim đến từ núi lạ Ngứa cổ hát chơi "
(Lời thơ vào tập Gửi hương)
Một thời, không ít nhà phê bình nghiên cứu dã cho rằng các nhà thơ lãng mạn trong phong trào thư mới đều theo khuynh hướng thoát ly, và những câu thơ như trên chính là tuyên ngôn cho quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật
Thực ra, kết luận ấy cũng không phải không có ít nhiều cơ sở Sống những ngày tháng
u uất, tù hãm trong "lồng con" của một "lồng to" xã hội thực dân, nửa phong kiến hồi bấy giờ, Xuân Diệu cũng đã từng nói, phàm ai có đầu óc, có lương tâm đều muốn thoát ly, chỉ có điều không thoát li nổi Khi cái tôi (induvidu) - cá nhân, thể hiện được thức tỉnh mà chưa tìm được hướng đời, một số nhà thơ lãng mạn đã quay lưng với thực tại bằng nhiều cách như tác giả
―Thi nhân Việt Nam" đã từng tổng kết Xuân Diệu với cái tôi rạo rực, ham sống, ham yêu cũng đã chọn cho mình một cách "thoát ly" riêng, ấy là cứ bám riết lấy cuộc đời trần thế :
Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần Thân hóa rễ để hút mùa dưới đất "
(Thanh niên) Ngay cùng thời điểm ấy, trên báo Ngày nay, trong bài tiểu luận ―Thơ của người"; ở một dạng diễn đạt khác, tư tưởng và tâm hồn Xuân Diệu vẫn gắn với "nhân sinh" đắm đuối xiết hao:
"Thoát ra ngoài cuộc đời, Ồ! Mộng tưởng cao quí; nhưng cứ ở trong cuộc đời, sự cao quí lại càng cao hơn Công việc việc dễ dàng là đuổi một người tình nhân phụ ta, nhưng ở với họ và còn yêu họ luôn, điều ấy chỉ ai thi sĩ mới làm nổi Sao
Trang 33những người tự xưng là thi sĩ lại không làm được cái công việc ngang tàng một cách sâu sắc:
ở với đời và còn luôn luôn yêu đời, dầu đời phụ ta" [29, tr 102]
Giọng văn tranh luận có thể đang còn cái "xúc tác" (chữ dùng của Xuân Diệu) của tuổi trẻ, nhưng chúng ta một lần nữa thấy dược quan niệm sống và quan niệm nghệ thuật nhất
quán của Xuân Diệu Ông phê phán quyết liệt vì không chịu dược thứ thơ "làm duyên làm
dáng đến buồn cười", thứ thơ "làm tiên", "làm ma" mà không "làm người"; và ông đùa cợt:
"nếu tôi phải làm tiên, tôi sẽ làm tiên một ngày thôi và sẽ có một giọng nói ngọt ngào hơn suối đào: tôi chỉ cần đủ thời giờ để rủ tiên bà, tiên cô cùng tiên ông xuống trần phạm tội"
[29, tr 103] Cái nhìn ở đây chưa hẳn đã toàn diện, song vẫn toát lên nhiệt tình khẳng định
quan niệm thơ là của người, là của đời và phải "ở trong cuộc đời”; nhà thơ phải là những người yêu cuộc đời nồng nàn thiết tha nhất, chỉ vậy mới xứng đáng với "sự lớn mênh mông"
và "niềm bao dung quảng đại" của thơ Quả là, Thế Lữ đã vô cùng thấu hiểu và chí lí khi nêu nhận xét trong lời đề tựa Thơ thơ xuất bản lần dầu (1938): "Xuân Diệu là một người của đời,
một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian"
[133, tr 29] Tưởng như cho đến nay, chưa ai có thể khái quát đúng bản chất con - người-thơ-
Xuân Diệu và con - người - quan - niệm - nghệ - thuật của Xuân Diệu gọn và đủ đến như vậy
Ngẫm lại, mấy vần thơ mở đầu bài Cảm xúc và Lời thơ vào tập Gửi hương đã nhắc ở trên,
chúng ta thấy rằng có khi chưa hẳn đó là "tuyên ngôn" nghệ thuật mà phải chăng chỉ là một cách bộc lộ chân thành, hồn nhiên về "cái nghiệp" thi nhân và cũng nói lên phần nào đặc
trưng bản năng lao động, sáng tạo nghệ thuật của thi sĩ Bởi vì là nhà thơ ai mà chẳng có lúc
"vơ vẩn" đắm mình vào nhiên nhiên, vàohạnh phúc sáng tạo đối với họ, nói như văn hào Nga
vĩ đại - Tuốc-ghê-nhi-ép, có khi không phải là quá khứ, không phải là hiện tại, cũng không
phải là tương lai, mà đó là những "khoảnh khắc" lạ lùng, khoảnh khắc "ngứa cổ hát chơi" ấy! Nhớ lại "nỗi chua cay của một thời thơ", Xuân Diệu kể lại rằng:
Trang 34"Trong đời làm thơ của tôi trước Cách mạng, tôi chưa hề nói đến cảnh tiên một lần nào, chỉ có một lần viết: "Chớ nên tiết kiệm, hỡi nàng tiên", thì đây là cách gọi một người ở trần thế " [47, tr 584]
Cố nhiên, cuộc đời và hiện thực trong quan niệm cũng như trong thơ Xuân Diệu trước
Cách mạng chỉ dừng ở mức chủ yếu là tâm tư của cái tôi - cá nhân cá thể, "chỉ tự quay nhìn
vào trong" Cái "vũ trụ riêng tư" ấy được nghe rất tinh diệu và rất đáng trân trọng, nhưng
không thể nào "giàu sức mạnh" bằng "cái tôi kiểu mới" sau này Mỗi khi nhìn lại mình, chính Xuân Diệu vẫn tự hằng suy nghĩ: "Thế nào mà một tâm hồn thi sĩ cảm thương đã chuyển
thành một tâm hồn thi sĩ tham gia cải tạo thế giới!" [ 38, tr 59] Đó là cả một quá trình phấn
đấu của người cầm bút dưới ánh sáng lí tưởng cách mạng Trải qua "những đêm hành quân",
Xuân Diệu thấm thía, tự hào:
" Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
Tôi sống với cuộc đời chiến dấu Của triệu người yêu dấu gian lao."
Khi đã nhận thức bằng cả con tim và trí tuệ như vậy thì cảm quan của nhà thơ về đời sống và văn học ngày càng phong phú và nhạy bén hơn
Thơ trước tiên là cuộc đời, là hiện thực vì theo Xuân Diệu nghĩ suy và sắp xếp thì
"trong sự sáng tạo của nhà thơ, thứ nhất là sáng tạo chất sống, thứ nhì là sáng tạo chất sống, thứ ba, thứ tứ mới đến sáng tạo ngôn ngữ" Và ông cho rằng "loại thơ sáng tạo ngôn ngữ tài giỏi cũng chỉ mới là thơ loại nhì" [51 tr 56]
Mỗi tác phẩm, mỗi bài thơ là một sinh thể, một tâm hồn Người ta vẫn thường nói, cuộc sống dược tái tạo thêm nhiều lần qua cái nhìn và tài năng thể hiện của người nghệ sĩ Người viết văn làm thơ không phải chỉ phản ánh đời sống mà còn truyền thêm chất sống, sáng tạo thêm sự sống Chẳng là, không ít những
Trang 35hình tượng nhân vật, những lời thơ đã từ tác phẩm bước ra cuộc đời, và cùng đi lại, sống mãi trong lòng người đọc đó sao!
Giải thích lý do văn nghệ phải dùng tư duy hình tượng, Xuân Diệu cũng lập luận; dùng hình tượng chính là để lấy sự sống tác động vào sự sống, như thế sức hấp dẫn mới mạnh, sức lôi cuốn mới lớn Vì vậy, tư tưởng ở trong thơ chỉ nên để một phần dưới dạng châm ngôn, nói trực tiếp bằng ý, còn phần lớn phải được biểu hiện qua thế giới hình tượng, tức là đổi ra thành máu thịt cuộc đời
"Thơ khó", ấy cũng là do bản thân đời sống có những điều dễ nói, những điều khó nói,
có những ý thông thường hễ nói ra ai cũng hiểu được, có những ý sâu sắc thì không phải ai cũng hiểu, ví như những bông hoa, có hoa vừa tầm tay hái, có những hoa phải vươn cả mình lên mới ngắt được và có cả những bông hoa phải qua đèo, leo núi khó nhọc lắm mới mang được về Hơn nữa, muốn thực là thơ thì bản thân nó phải có một cuộc sống riêng, nhà thi sĩ
phải biết "thu góp những cái tinh hoa, những cái cốt yếu, cốt lõi của sự vật" đem kết đọng lại làm nên những câu thơ đậm đà "Tài liệu thì vẫn lấy trong đời thường, trong cuộc sống hàng
ngày, trong những rung động của trái tim, của xương thịt; nhưng khi đã đem vào thơ thì tài liệu biến đi thành ngọc châu" "Thơ khó" vì thơ khác văn xuôi, thơ ở trong một thế giới riêng;
thơ vẫn là sự sống, nhưng là sự sống đọng lại, kết tinh biến thành cái dẹp
Trong mạch ý niệm ấy, càng quan tâm đến vấn đề chất sống, chất đời trong thơ bao nhiêu, Xuân Diệu càng coi trọng tính chân thật của thơ bấy nhiêu Xuân Diệu vẫn hằng nhắc một yêu cầu thường trực:
Thơ phải chân, chân, chân!
thật, thật, thật!
Và ông giảng giải: "thật là sự có thật ở trong đời, ở trong sự sống; chân là tính có
thật ở trong lòng người, tâm hồn người [51 Tr 48]
Trang 361.1.2 Thơ là trái tim chân thật, là quy luật tình cảm
Theo Xuân Diệu nhà thơ lớn là nhà thơ nắm bắt được sâu sắc nhất quy luật của trái tim; con đường ngắn nhất để thơ đến với người đọc là con đường thẳng trực tiếp từ trái tim
đến trái tim Cho nên, "đức tính" trước tiên của tác phẩm thơ (cũng như nhiều tác phẩm nghệ thuật khác) là "sự cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng
tạo" [51 Tr35] Tất cả chất liệu trong cuộc sống đều có khả năng hoa thành thơ, nhưng
không phải cái gì cũng otomatich ra thơ cả Phân biệt các thể loại văn học: là ký, là truyện, là
kịch, hay là thơ chính là ở mức độ "sự cộng thêm vào" ấy cùng với bản lĩnh của người cầm
bút khi đứng trước thực tế bề bộn quyết định lựa chọn chất liệu nào
Là tiếng hát của trái tim chân thật, thơ là quy luật tình cảm Ngày xưa Lê Quý Đôn bàn về thơ cũng đã sắp xếp theo thứ tự TÌNH, rồi mới đến CẢNH, và SỰ Ngô Thì Nhậm, trò chuyện về thơ với Phan Huy Ích cũng khẳng định một ý tương tự:
"Mây gió có hoa xinh tươi kỳ diệu đến đâu, hết thảy cũng đều tự trong lòng nảy ra, gửi vào sự vật mà hiện lên ngôn ngữ
Hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần" [141 Tr75]
Kế thừa và phát huy nhưng quan niệm truyền thống ấy Xuân Diệu hết sức coi trọng
và đề cao vai trò tình cảm trong thơ Ông xác định:
"Các tác phẩm văn thơ hay, tác động đến tình cảm của con người có một địa vị rất quan trọng trong đời sống tình cảm xã hội; văn học mang tư tưởng xuyên qua tình cảm, xúc cảm, đó là đặc trưng của nó" [51, Tr29]
Là trái tim chân thật, Xuân Diệu luôn đòi hỏi văn học nghệ thuật phải không được giả đối một tí nào Đối với thơ, ông lại càng yêu cầu một cách triết róng, quyết liệt Xuân Diệu chấp nhận có thư hay, thơ khá, thơ thường, thơ kém, thơ - dở thơ thành công nhiều, ít hoặc không ít thành công chứ nhất định đừng có
Trang 37thơ giả, cũng như "là vàng, là bạc, là đồng, là thiếc hay là chì, chứ nhất định đừng là vàng giả" [36 Tr 61] Trò chuyện vói các bạn làm thơ trẻ, Xuân Diệu coi đó là điều căn bản phải
dặn dò nhau trước nhất, ông nhắc họ "phải ghét cái giả như ghét rắn độc, thấy nó là phải
triệt Còn thơ non kém thì ta dần dần rèn luyện mà nâng lên" [36, Tr 24] Quả là với Xuân
Diệu "cái giả" trái với quy luật con tim, là một thứ hiểm họa, cần phải tuyên chiến với nó như
tuyên chiến với cái xấu, cái ác Ở đây quan niệm văn chương gắn với quan niệm về con người, và cả nhân cách người cầm bút Người làm saosẽ viết văn làm vậy, xem văn sẽ biết
tính tình người viết ra nó Thơ lại là trái tim, là "người ở phần tinh vi nhất" nên càng không
chịu được sự giả tạo Có lần, sau khi dẫn lời một nhà thơ nước ngoài: Thơ là con đẻ của lòng thành thật, vì thiếu cái đó thì thi phẩm không còn sức sống; là lời kêu gọi của trái tim và lương tâm" Xuân Diệu như nhìn vời vợi vào xa xăm thời gian đổ cái lên ý nghĩa của trái tim chân thật đối với lẽ sống còn của người nghệ sĩ:
“Trong những xã hội có giai cấp, từ những ngàn năm, những trăm năm về trước, những thi sĩ xứng đáng của nhân loại đã gửi cái chân chất của tâm trí và tài năng mình như một cái phao nổi trên dòng thời gian, đặng vươn tới những mai hậu xa xăm và rạng rỡ" [51,
Tr- 265]
Xuân Diệu cũng lấy sự chân thật của trái tim, của tình cảm để phân biệt "thứ thơ lớn"
và "thứ thơ bé"; đồng thời cũng coi đó là nền tảng của phong cách lớn, bút pháp lớn "Thứ
thơ lớn "theo quan niệm của ônglà thứ thơ có chất, nó cũng đầy đủ kỹ thuật, nhưng không phai là thứ thơ "khôn vặt", "kỹ thuật vặt" dùng cái khéo léo của câu chữ dể lòe người, mà nó
trọng chất hơn hình Chính nhờ cái chất chân thật mà thơ trơ nên gần gũi với người đọc,
"thức tỉnh", làm cho tâm hồn con người nhạy cảm hơn và phong phú hơn Xuân Diệu mượn
câu Kiều: "Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông" để nói
đến ngọn nguồn sâu thảm của sáng tạo thi ca là tình yêu, một tình yêu mãnh liệt không; cùng Ông nhấn mạnh, cái mà người ta đòi hỏi hơn cả ở nhà thơ là dù
Trang 38nói đến người đến vật, đến việc cũng phải tràn trề tình cảm, "phải nói bằng tất cả trái tim,
linh hồn của mình, càng dào dạt càng hay" Có như vậy, thơ mới mong đem lại một cái gì đó
như A-ra-gông nói: "một đồng xu rơi trên đường nhựa nảy một tiếng vang chứ không phải im
lìm; tức là cái duyên trên một nét mặt, tức đôi mắt có chiều sâu" [36, Tr 63]
Không phủ nhận thơ là một nghề, hiểu rất rõ "nghề thơ cũng lắm công phu", phải có
chuyên môn, phải có kỹ thuật, có chuyện bếp núc cụ thể nhưng không bao giờ Xuân Diệt coi
tài, khéo là quyết định cả Cần phải "có hồn để sai khiến kỹ xảo", cần phải có mạch đập trái
tim sau từng con chữ thì thơ mới đi được vào cõi lớn rộng, dài lâu Muốn vậy, người làm thơ phải sống thật, yêu thật, phải hiểu việc đời, việc người vô cùng sâu sắc Đọc hai câu thơ của Nguyễn Trãi:
"Phơ phơ đầu bạc ông câu cá Leo lẻo duềnh xanh con mắt mèo"
Xuân Diệu cho rằng, chỉ có một thi sĩ rung động thực sự, cứ chân thật xuất phát từ sự vật mới nói được cái mầu này, làm được hai câu thơ này Hoặc mỗi lần suy ngẫm về sức sống
"mãi mãi trong đời" của Truyện Kiều, Xuân Diệu như vẫn nghe nhịp đập trái tim của nhà thơ
thiên tài Nguyễn Du và lý giải, thán phục:
"Tính cách nhân dân, tính cách quần chúng của thơ Kiều còn do sự hiểu biết việc đời, việc người sâu sắc của Nguyễn Du Sao thơ Nguyễn Du chân thế, thật thế" [143, Tr 150]
1.1.3 Thơ còn là thơ nữa
Xuất phát từ đặc trưng của văn học là tư duy hình tượng, tư duy cảm xúc Xuân Diệu phân biệt hai viện bảo tàng: bảo tàng lịch sử và bảo tàng văn học Viện bảo tàng lịch sử quan trọng hơn hết, quan trọng vì lịch sử là sống chết của một dân tộc; còn viện bảo tàng văn học
là một ngôi nhà con của ngôi nhà lớn lớn; nhưng thơ văn hay đã từng văn hay đã từng tâm hồn con người, cho nên hồn con người, cho nên
Trang 39nhiều khi viện bảo tàng đó đặt ở trong tim của hàng triệu người làm ra lịch sử Do đó mà
người ta nhớ đến Tô Đông Pha hơn là nhớ đến Vương An Thạch Xuân Diệu đòi hỏi "phạm
trù nào ra phạm trù ấy" vào coi đó là chân lí khách quan
Phân biệt văn học với triết lí đạo đức, thái độ của Xuân Diệu là không đối lập, nhưng không hề đồng nhất
Đọc "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi gồm 254 bài và "Bạch Vân quốc ngữ thi" của
Nguyễn Bỉnh Khiêm (sinh sau Nguyễn Trãi 11 năm) gồm 100 bài, Xuân Diệu xem xét kĩ lưỡng 20 bài trùng nhau của hai tập thơ, phần lớn là những lời giáo huấn đạo đức, luân lí -
một đặc điểm thường gặp nổi bật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẫn biết "có những câu nên
khắc chữ vàng, đặt ở chỗ cao trong phạm trù quí báu" nhưng Xuân Diệu cho rằng, như vậy là
"xa phạm trù văn học", và lấy đó làm căn cứ so sánh để khẳng định: Trong làng thơ tiếng Nôm thì bản lĩnh nhất là Hồ Xuân Hương và Nguyễn Trãi
Nói về sự khác nhau giữa báo chí với văn học, giữa người làm báo với nhà thơ -
những "kĩ sư tâm hồn", Xuân Diệu chỉ rõ nhà báo chỉ cần đưa tin, cung cấp "lượng thông tin", còn nhà văn, nhà thơ là nhận những "lượng thông tin" của sự vật, lấy nó làm cái cớ mà phát
hiện những phản ánh và sáng tạo kì diệu trong tâm hồn người Xuân Diệu dẫn chứng một hiện tượng trong đời sống để diễn giải:
"Tờ báo vô hạn quan trọng, nhưng sang ngày hôm sau, một tuần lễ sau, tin mới đã đuổi tin cũ, sách văn học dở quá thì người ta xé mà đút nút chai tương chứ bình thường, không ai xé sách văn học gói kẹo; tờ báo thì người ta chỉ cất những tờ báo in những tin tức đặc biệt nhất, cần giữ làm kỉ niệm, còn thì qua ngày rồi người ta lấy báo gói hàng là chuyện thường Bởi "lượng thông tin" thì hồn vía của nó là cái tin, cái tin thì không có văn chương gì
cả, người ta dùng cái tin và người ta bỏ số báo " [42 t r9]
Trang 40Cùng với qui luật tình cảm, Xuân Diệu luôn có ý thức khẳng định qui luật thẩm mĩ
như một phẩm chất dặc trưng của "đức tính thơ": "Không có giá trị thẩm mĩ, thì bất thành tác
phẩm nghệ thuật" [34, tr 98]
Đặt quan điểm vừa nêu trong hoàn cảnh ra đời của nó mới thấy hết tính chất tiên phong và ý nghĩa đóng góp của tư tưởng nghệ thuật Xuân Diệu Lúc bấy giờ, những năm giữa thập niên năm mươi đến đầu thập niên sáu mươi của thế kỉ, sau kháng chiến chống Pháp (1946-1954) thắng lợi, cách mạng nước ta bước sang một giai đoạn mới; miền Bắc bước vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và lừng bước di
vào thời kì quá độ Một nền văn học xây dựng theo ba phương châm "dân tộc, khoa học, đại
chúng" vừa đi qua chiến tranh, đứng trước hiện thực mới phải trải qua một cuộc đấu tranh
"nhận đường" lần thứ hai Trong mặt trận đấu tranh hồi ấy, chỉ trừ một số rất ít những kẻ tà
tâm, còn phần lớn văn nghệ sĩ - những người đã từng tôi luyện qua ngọn lửa kháng chiến vẫn thủy chung với con đường lí tưởng Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, ý thức nghệ thuật của một thời còn không ít những nhận thức máy móc, ấu trỹ; bệnh phê bình xã hội học dung tục, cái nhìn sơ lược giáo diều còn khá phổ biến; những qui luật nội tại của tác phẩm nghệ thuật
và đặc trưng lao động nhà văn chưa được coi trọng Bản thân Xuân Diệu trong tình hình ấy
cũng có lúc không tránh khỏi "ngây thơ" hoặc phải diễn phaỉ theo lối "phên dậu rào đón",
nhưng trước sau vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến của mình, đề cao đặc trưng thẩm mỹ của văn học
Ông luôn nhấn mạnh, "những quy luật của tác phẩm là có thật" nhà văn là "kỹ sư tâm hồn" chứ không phải kĩ sư thực tế ; cái thắt lại cuối cùng là " ai cũng thích văn thơ phải thật hay"; tác phẩm thơ phải đem lại cho người đọc "những khoái cảm, những lạc thú về cái đẹp đẽ cái
diễm lệ " Muốn vậy, người làm thơ phải làm sao "biến cái vật cái ngoài đời thành vật ở trong lòng, lấy vật ở ngoài "đời mà tạo ra một thế giới mê say, thậm chí là kỳ diệu nữa" [30,
tr 223]