1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án phó Tiến sĩ Khoa học ngữ văn: Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam

194 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam trình bày về các nội dung: lịch sử việc dịch thơ Đường ở Việt Nam, truyền thống dịch thơ Đường, những phát sinh do quan hệ giao tiếp văn hóa nhiều đời giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc dịch thơ Đường, nghệ thuật dịch thơ Đường, nghệ thuật dịch thơ Đường. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TUYẾT HẠNH

VẤN ĐỀ DỊCH THƠ ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

DẪN NHẬP

I Lý do chọn đề tài

Đường là thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc mà khuynh hướng sáng tác đa dạng, nghệ thuật độc đáo Ảnh hưởng của thơ Đường đối với Việt Nam rất quan trọng, ở nước ta, Đường thi là khuôn mẫu tư tưởng, dụng ngữ cho các thi sĩ thời xưa Ông cha ta đã ứng dụng thể Đường luật trong việc làm thơ, đưa thơ vào trong các kỳ thi tuyển chọn nhân tài, biến thơ Đường thành thể thơ quen thuộc để diễn tả tình cảm, tư tưởng Việt Nam Người Việt Nam thích dịch thơ Đường hơn bất cứ thứ thơ nào của Trung Quốc và hơn bất cứ thứ thơ của nước nào khác Hiện tượng dịch thơ Đường đã diễn ra từ khi chữ Nôm được sử dụng rộng rãi và còn kéo dài đến tận ngày nay Trong con người có một khuynh hướng bắt nguồn

từ bản năng tự vệ, khiến cho người ta vẫn luôn luôn trong khi bước tới, có tâm trạng luyến tiếc quá khứ, như một người luôn luôn tiếc tuổi thơ của mình Trong sự rung cảm của mỗi con người, bao giờ cũng có một phần rung cảm về quá khứ và thơ Đường đã đáp ứng được cái phần rung cảm đó của nhân loại vì không đâu và không có nền thi ca nào lại nói nhiều đến quá khứ như thơ Đường bằng nghệ thuật độc đáo, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng nhất

Không chỉ Đông phương mà cả Tây phương cũng rất yêu chuộng thơ Đường Đối với Việt Nam, nghiên cứu thơ Đường là đi đến với nền thi ca của nhân loại và đồng thời cũng là

đi về với nền thi ca dân tộc

Ngày nay, chúng ta, những người bị cắt lìa khỏi nền Hán học cũ muốn tiếp cận với nền thi ca vĩ đại, rực rỡ ấy đành phải thông qua bản dịch Như thế thì việc nhận diện ra bản dịch nào còn giữ được nhiều sắc thái Đường thi nhất là hết sức cần thiết Cùng với việc Việt Nam có một lịch sử dịch thơ Đường lâu dài và những ảnh hưởng đáng ngạc nhiên như thế thì việc hệ thống lại các dữ kiện để đưa ra một cái nhìn tổng quát lịch sử của nền dịch thuật nầy cùng với lý do tồn tại và phát triển của nó sẽ rất hữu ích cho công việc giảng dạy và nghiên cứu thơ Đường ở Việt Nam và cho cả thơ Việt nữa Vì như Trần Thanh Đạm trong "Lời

Trang 4

bạt thơ Đường Tản Đà" có nhận xét là trên thế giới có lẽ hiếm có quan hệ văn chương nào đặc biệt thiết thân như quan hệ giữa thơ Đường và thơ Việt

Đó là những lý do khiến chúng tôi chọn đề tài VẤN ĐỀ DỊCH THƠ ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM

một tài liệu quý cho việc tìm hiểu lịch sử dịch thơ Đường trong buổi đầu còn sót lại

- Trần Nghĩa ''Những vấn đề đặt ra trong việc dịch từ Hán sang Việt hôm nay" và Mai Quốc Liên "Mấy vấn đề về lịch sử và lý thuyết dịch cho việc dịch Hán Việt" trong "Dịch

từ Hán sang Việt, một khoa học, một nghệ thuật" đề cập tới quá trình dịch thuật lâu dài của

Việt Nam và kết quả đã đạt được

Các tài liệu được công bố về vấn đề này rất mỏng và rời rạc, chúng tôi thu thập thêm rất nhiều, hệ thống lại để có một cái nhìn thoáng về lịch sử dịch thơ Đường từ buổi đầu đến thế kỷ 20

2 Về thể loại chuyển dịch

Hầu hết các bài viết trong "Dịch từ Hán sang Việt, một khoa học, một nghệ thuật" có

đề cập đến vấn đề này, đều cho rằng nên dịch theo nguyên thể

Trang 5

nhưng nếu không thể được thì nên dịch theo thể loại phù hợp nhất với nguyên tác

Bàng Bá Lân trong "Thế nào là một bản dịch hay" trên Văn hóa nguyệt san số

19-1970, Nguyễn Hiến Lê trong "Phép dịch thơ" trên Bách khoa số 8-1957, xem ra có phần

nghiêm khắc hơn trong khi bảo vệ việc dịch theo nguyên thể

Chúng tôi rất đồng ý với việc dịch thơ Đường theo nguyên thể nhưng lại quan tâm hơn đến việc dịch thơ Đường theo thể loại sở trường của dịch giả với những tuân thủ nhất định Bản dịch hay là tự nhiên, không để lộ công phu Trái với sở trường thì tất phải cố gắng thì làm sao khỏi để lộ công phu?

3 Về phần ngữ nghĩa

Bài "Đọc Đường thi của Ngô Tất Tố" của Từ Châu trên Tri tân số 103.1943 nêu lên

những nhầm lẫn của tác giả Ngô Tất Tố Nguyễn Hiến Lê nêu lên những nhầm lẫn của Trần

Trọng Kim trong "Bàn về vấn đề dịch sách cổ của ta" Bách khoa số 36 1.7.1958 Nguyễn Quảng Tuân nói về sự lơ đễnh của Tản Đà trong "Từ hiểu sai, hiểu chưa hết đến lơ đễnh dịch sai" trong Tạp chí Hán Nôm 1985 trang 74 Ngô Linh Ngọc trong "Đôi điều tâm đắc về việc dịch thơ chữ Hán" (Dịch từ Hán sang Việt một khoa học, một nghệ thuật) cũng nêu lên sự nhầm lẫn của Trần Trọng Kim khi dịch "Khiển hoài" của Đỗ Mục

Luận án tập hợp và đưa ra thêm những sai lầm khác Dĩ nhiên với dung lượng hạn chế, luận án không thể nêu hết những, nhầm lẫn trong khi dịch thơ Đường của các dịch giả Một số nhầm lẫn của các dịch giả tinh thông Hán học được nêu là một cảnh báo cho những ai chủ quan đối với sự giản dị của thơ Đường

4 Về nghệ thuật dịch thơ Đường

Nói về nghệ thuật dịch, người ta luôn luôn đưa ra những tiêu chuẩn: tín, đạt, nhã (Hội nghị dịch thuật do Hội nhà văn 1957) hay cuộc tranh luận dịch tác phẩm văn học trên Tạp chí Văn học 1960 hay theo Cao Xuân Hạo thì tiêu chuẩn

Trang 6

tín, đạt, nhã thật ra chỉ có tín mà thôi (Về công việc dịch các tác phẩm văn học nước ngoài thời gian qua - Tạp chí khoa học xã hội số 7 1991) vì từ lâu các chuyên gia về dịch trên thế giới đã nhất trí rằng đối với bản dịch chỉ có một lý tưởng là hoàn toàn trung thành (tín) với mọi nội dung và hình thức

Nhiều bài trong "Dịch từ Hán sang Việt một cách khoa học, một nghệ thuật", trong ''Cuộc tranh luận dịch tác phẩm văn học", trên Tạp chí Văn học 1960 đều nhắc đến cái ''thần", cái "hồn" của bài thơ dịch như Ngô Linh Ngọc đã đề nghị trong "Cái Thần và cái Nhã trong việc dịch thơ chữ Hán" trên Tạp chí Hán Nôm số 1 1988 Khương Hữu Dụng trong bài Tham luận nhân ngày kỷ niệm 800 năm bài ca Igor do Hội nhà văn Liên Xô tổ chức tại Matxcơva tháng 1.1985 lại lưu ý những người dịch thơ đừng quá tập trung vào cái thần của nguyên tác mà coi nhẹ câu chữ, vì cái thần của bài thơ không phải là bóng ma lang thang mà được gửi gấm trong những tập hợp chữ nhất định

Tín, Đạt, Nhã hay rút lại chỉ là "Tín" thôi và "Thần" và "Hồn" đều là tiêu chuẩn lý tưởng rất chung cho việc dịch mọi tác phẩm văn học của mọi thời đại Ai cũng hiểu được điều đó và thấy được yêu cầu đó là hoàn toàn đúng nhưng có lẽ phải có thêm những căn cứ

cụ thể hơn

Mỗi loại thi ca đều được hình thành theo một cách thế riêng, thủ pháp nghệ thuật riêng của nó mà hiểu được cách thức đó người dịch sẽ dịch được tốt hơn và người đọc sẽ thưởng thức được trọn vẹn hơn

Phan Ngọc trong "Dịch thơ chữ Hán ra thơ chữ Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học" (Dịch từ Hán sang Việt một khoa học, một nghệ thuật) có nhận định về sự thống nhất các mặt mâu thuẫn trong hầu hết các bài thơ Đường có số câu dưới 16, cho chúng tôi nhiều gợi ý để phát triển phần dịch thơ Đường theo thủ pháp nghệ thuật của thơ Đường Chúng tôi cho rằng dịch theo thủ pháp nghệ thuật là cách đi gần nguyên tác nhất Dĩ nhiên ngoài việc dịch theo thủ pháp nghệ thuật, dịch giả còn phải phát huy tài năng ở lĩnh vực ngôn ngữ, vần điệu, thanh âm để chiếm lĩnh được nguyên tác nhiều nhất

Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam là một lĩnh vực lớn, tiềm ẩn trong nó

Trang 7

còn biết bao điều thú vị, hữu ích mà chúng tôi mới chỉ khai thác một phần rất nhỏ trong luận

án này Chúng tôi hy vọng trở lại với vấn đề này một cách rộng hơn và sâu hơn

Ở đây chúng tôi hạn chế phạm vi nghiên cứu của mình ở lĩnh vực: dịch thơ Đường theo thủ pháp nghệ thuật thơ Đường Thực ra, từ thủ pháp chỉ là tạm dùng vì thực chất cái nội dung mà luận án gửi vào trong từ thủ pháp cao hơn cái danh thủ pháp

Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến những bài thơ có số câu dưới 16 khi bàn về việc dịch theo thủ pháp Ở những phần khác, chúng tôi cũng mở ra đến những bài thơ có độ dài hơn và khi chọn những bản dịch để phân tích thì chúng tôi không để ý đến bản dịch đó đã được dịch hay không được dịch theo thủ pháp thơ Đường

Và cuối cùng từ "vấn đề" trong "Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam" được dùng theo nghĩa hẹp của từ là "việc" chứ không dùng từ "vấn đề" với nghĩa thông thường của nó

III Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện qua các phương pháp hệ thống hóa, lịch sử, thể loại, phân tích và đối chiếu

Dùng phương pháp hệ thống hóa để gắn liền và làm dày thêm các dữ kiện còn mỏng

và rời rạc Vận dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu sự vận động và phát triển của việc dịch thơ Đường qua các giai đoạn lịch sử

Luận án vận dụng phương pháp lịch sử và loại hình để nghiên cứu sự vận động của thể loại chuyển dịch từ buổi ban đầu đến nay

Phương pháp phân tích và đối chiếu được sử dụng xuyên suốt chương III

Trước tiên tuyển chọn những nguyên tác thơ Đường vừa tiêu biểu vừa có nhiều bản dịch Những bài thơ Đường được tuyển chọn thường là những bài thơ ngắn vì sự tập trung thủ pháp nghệ thuật ở chúng dễ nhận thấy hơn trong hình thức thơ dài Kế đến là phân tích bài thơ nguyên tác, tìm hiểu cách sử dụng thủ

Trang 8

pháp nghệ thuật, rồi đối chiếu bản dịch với nguyên tác để xem bản dịch có thể hiện được thủ pháp nghệ thuật của nguyên tác không và hiệu quả của việc dịch dược những thủ pháp đó

IV Kết cấu luận án

Đề tài dịch thơ Đường ở Việt Nam không thể thiếu một chương về lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam

Đối với một quốc gia có quan hệ mật thiết với Trung Quốc như Việt Nam, thì khi dịch thơ Đường của Trung Quốc tất sẽ có những phát sinh đặc biệt Lisevich nhận định đặc trưng của thi ca Trung Quốc có thể dễ dàng cảm thông được ngay trong sự tiếp xúc đầu tiên nhưng không thể hiểu nó đến tận cùng nếu như không hiểu khuôn tư duy truyền thống của

Việt Nam có vốn hiểu biết sâu sắc về văn hóa và tư tưởng Trung Quốc nên có ưu thế đặc biệt trong khi dịch thơ Đường Chữ Hán Việt ngày nay vẫn phát âm theo âm Đường Tống vì vậy cách đọc âm Hán Việt của ta là cách đọc gần với cách đọc nguyên tác nhất

Ta đọc thơ Đường bằng chính âm đời Đường, âm đó cũng là âm Hán Việt của Việt Nam, cộng thêm sự giao lưu văn hóa nhiều đời đã làm cho người Việt Nam yêu thích dịch thơ Đường, có nhiều thuận lợi trong khi dịch thơ Đường Đó cũng là một trong những lý giải

vì sao lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam lại có một sinh mệnh dài lâu như thế

Trang 9

Chịu ảnh hưởng Trung quốc từ rất lâu đời, lại có ngôn ngữ đơn lập như Trung Quốc nên Việt Nam cũng làm thơ chữ Hán và chữ Nôm theo thể cách của Trung Quốc Chính vì thế mà ngoài các thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát ta còn hoàn toàn có thể dịch theo thể loại của nguyên tác Từ đó phát sinh ra vấn đề chọn thể loại chuyển dịch

Nghệ thuật dịch bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu trong khi bàn về vấn đề dịch thuật Và nói đến nghệ thuật dịch là đề cập đến nhiều vấn đề tinh tế Ở đây luận văn giới hạn trong vài điểm đặc trưng cho nghệ thuật dịch thơ Đường

Mỗi nhà thơ đều có một giọng điệu riêng toát ra từ ý tú, lời lẽ Người dịch trước hết phải là một độc giả tri âm để lòng mình rung động theo nỗi lòng của tác giả Dịch thứ thơ nào cũng cần có sự đồng cảm giữa dịch giả và tác giả , nhưng ở thơ Đường thì sự đồng cảm đó càng đặc biệt có ý nghĩa vì thơ Đường thường rất ngắn, nó chứa đựng phút xuất thần của nhà thơ Cực kỳ sâu sắc nhưng ẩn dưới cái vẻ cực kỳ giản dị Khêu gợi hơn là mô tả, ý tại ngôn ngoại nên không thể chỉ dựa vào xác lời mà hiểu được bài thơ Đường, mà nhiều khi phải biết quên lời Do đó sự đồng cảm sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong khi dịch thơ Đường

Con người của mỗi đất nước, mỗi thời kỳ đều có thị hiếu riêng Nhà thơ nào cũng

dùng đến các từ buồn, nhớ, thương, sầu, mơ nhưng cái chất chứa trong từ ngữ đó cũng biến

đổi theo toàn thể cơ cấu của bài thơ mà ngôn ngữ thi ca là toàn bộ cơ cấu đó

Phải hiểu được ngôn ngữ thi ca đời Đường mới dịch được tinh xác và giữ được "vị Đường"

Nói đến thơ Đường thì phải nói đến thể Đường luật vì hình thức này định hình và hết sức phát triển dưới đời Đường Mỗi thể loại đều có chứa một thông báo riêng về mỹ học Thông báo của thể thơ Đường luật là nêu lên cái bất biến trong sự biến đổi, cái vĩnh cửu trong sự lưu chuyển không ngừng Cái then chốt của thể thơ Đường luật chính là tính cân đối, thể hiện rõ nhất trong câu đối Do kiến trúc đối xứng mà dịch giả nhiều khi phải dựa vào phép đối mới phục hiện

Trang 10

được ý nghĩa của bài thơ

Thơ Đường đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thi ca nhờ đã tìm được hình thức biểu hiện tốt nhất, phù hợp với nội dung diễn tả Tư tuông Phật, Lão, Nho được lồng trong một cái khung Âm Dương và những thủ pháp nghệ thuật bắt nguồn từ triết học và hôi họa

Dịch bất cứ thứ thơ nào thì cùng phải dịch được hàm ý mà nhà thơ muốn diễn tả bằng thứ ngôn ngữ tinh lọc, âm điệu tiết tấu phù hợp với nguyên tác mà không xa lạ với tập truyền thẩm mỹ của dân tộc Đó là mẫu số chung của các bản dịch thơ Ở đây luận án hạn chế phạm

vi nghiên cứu ở điểm dịch thơ Đường theo thủ pháp nghệ thuật thơ Đường vì thơ Đường tập trung áp dụng một số thủ pháp đặc trưng để có được sự hàm súc, cô đọng, tinh tế, sự độc đáo

hài hòa các tương phản, sự có họa trong thơ

Cái "đức" vẫn được ca ngợi xưa nay của thơ Đường là "ngôn ngoại chi ý, huyền ngoại chi âm cam dư chi vị "(ý ở ngoài lời, thanh âm ngoài giây đàn, vị ngọt còn lưu lại) tức là hiệu quả tuyệt vời thơ Đường đã tạo được bằng khuôn khổ thơ ngắn, ít lời Để làm được điều đó

các thi nhân đời Đường không được nói nhiều, mô tả rõ mà dùng thủ pháp phác diễn, phác

một vài đường nét tiêu biểu nhất, mang đậm tinh thần của cảnh vật, tâm tình rồi cô đọng

chúng lại trong cái khung thơ nhỏ Rồi cái cô đọng, mờ ảo đó được thi nhân dùng thủ pháp đối lập để gợi nó ra Sự cô đọng và hàm ý của câu thơ được gợi mở nhờ sự hô ứng, đối chiếu

Đem đối lập hai mặt hiện tại và quá khứ của cùng một cảnh vật, cảnh mộng với cảnh thực của cùng một con người, cái lớn lao dài lâu của vũ trụ với cái nhỏ bé ngắn ngủi của cuộc đời, thì tự thân những đối lập đó sẽ đi đến chỗ thống nhất, sẽ khơi dậy biết bao liên tưởng trong lòng độc giả mà không cần phải nói dài lời Mỗi người đọc sẽ đắm mình trong niềm suy tưởng mênh mang phù hợp với cảnh ngộ, tâm tình của riêng mình Cảnh giới của câu thơ nhờ

đó nhiều khi được mở rộng hơn cả ý đồ của tác giả

Hai thủ pháp phác diễn và đối lập hỗ trợ, chiếu ứng nhau làm cho thơ Đường thành cực kỳ cô đọng, hàm súc mà vẫn có thể hiểu được Cái cảm thụ đó tùy theo kiến thức và kinh nghiêm sống của từng người, vì tác giả chỉ gợi chứ

Trang 11

không nói rõ Và chính vì thế mà thơ Đường vẫn cứ mới nguyên, xanh tươi dù đã trải hơn ngàn năm lịch sử

Dịch thơ Đường theo thủ pháp nghệ thuật sẽ cho một bản dịch không sai lệch với hàm

ý của nguyên tác mà còn đọng nhiều ý vị Đường nhất

Dĩ nhiên người dịch còn phải đem tài hoa ra mà tinh lọc ngôn ngữ, nắn dây thanh âm

và hát ca vần điệu Đó lại là vấn đề khác nữa

2 Kết cấu luận án

Dẫn nhập

Chương I: Lịch sử việc dịch thơ Đường ở Việt Nam

I Truyền thống dịch thuật ở Việt Nam

ban đầu đến bản dịch "Chinh phụ ngâm"

3.4 Tình hình dịch văn xuôi

II Truyền thống dịch thơ Đường

1 Truyền thống diễn ca thơ Đường từ khi chữ Nôm thịnh hành

2 Các bản dịch thơ Đường trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập, ở thế kỷ 15

4 Thơ Đường trong truyện Kiều

5 Một vài dịch giả của thế kỷ 19

Trang 12

6 Thổng thơ Đường

6.1 Thổng thơ Đường theo lối tập cổ 6.2 Thổng thơ Đường theo lối sáng tác

7 Thơ Đường trên các tạp chí

8 Thơ Đường trong các tuyển tập

9 Thơ Đường trong các bộ Văn học sử

Chương II Những phát sinh do quan hệ giao tiếp văn hóa nhiều đời giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc dịch thơ Đường

I Những thuận lợi của các dịch giả Việt Nam trong khi dịch thơ Đường

2 Sở trường của dịch giả trong thể loại chuyển dịch

Chương III Nghệ thuật dịch thơ Đường

I Sự đồng cảm giữa dịch giả và tác giả

II Ngôn ngữ thơ Đường trên góc độ dịch

1 Ngôn ngữ nói chung

2 Điển

3 Ngữ nghĩa

4 Giọng điệu

III Nghệ thuật dịch thơ Đường

1 Sự đồng bộ của thể thơ Đường luật với thủ pháp nghệ thuật thơ Đường

2 Hiệu quả của việc dịch được thủ pháp nghệ thuật thơ Đường

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG I: LỊCH SỬ VIỆC DỊCH THƠ ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM

I Truyền thống dịch thuật ở Việt Nam

1 Dịch nói

Nước ta có truyền thống dịch thuật từ rất lâu đời, có mối giao hảo với Trung Quốc từ

trước thời Bắc thuộc Lĩnh Nam chích quái có ghi, vào đời Thành Vương nhà Chu, Hùng

Vương sai bề tôi là họ Việt Thường, đem bạch trĩ sang tiến cống Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần thông dịch mới hiểu được nhau [115:61]

Sách Sử ký của Tư Mã Thiên cũng chép, năm Tân Mùi thứ 6 (1110 trước Công

nguyên) đời vua Thành Vương nhà Chu, phía Nam bộ Giao chỉ có họ Việt Thường qua ba lần sử dịch dâng chim trĩ trắng [115:61] Dĩ nhiên việc dịch lúc đó là dịch nói

2 Dịch Phạn sang Hán

Vào thế kỷ thứ 2, ta đã có trung tâm dịch thuật Luy Lâu ở Giao Châu Đây là một trong ba trung tâm dịch kinh Phật giáo quan trọng và có sớm nhất thời nội thuộc Trung Quốc,

so với Lạc Dương và Bành Thành [142:21]

Thiền Uyển tập anh ngữ lục có chép Thông Biện quốc sư tức Thiền sư Trí Không

dẫn lời sư" Đàm Thiện người Trung Quốc nói: Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy (tức Giao Châu) đã xây ở Liên Lâu hơn hai mươi bảo tháp, độ được hơn năm trăm vị tăng và dịch hơn mười lăm bộ kinh rồi [140:11] Có nhiều bộ kinh ở ta dịch

trước cả Trung Quốc như Khương tăng Hội đã dịch Bát thiên tụng bát nhã ra chữ Hán và

được các nhà Phật học đánh giá như là bộ kinh Bát nhã xuất hiện xưa nhất trong toàn bộ văn

hệ bát nhã

Trang 14

[142:23] Còn kinh Pháp hoa tam muội, có bảy bản dịch khác nhau từ đời Ngô đến đời Tùy,

trong số này bản dịch của Chi Cương Lương Lâu và Đạo Thanh ở Giao Châu là xưa nhất [142:27]

Như thế ở ta không những biết dịch sớm mà còn dịch rất nhiều và ảnh hưởng cũng rất sâu rộng Đời nào cũng có nhiều tăng sĩ tài giỏi dịch kinh sách để hoằng dương đạo pháp

Phương cho thấy khả năng sử dụng ngôn ngữ điêu luyện của người Việt từ rất sớm trong thời

kỳ Bắc thuộc Và khi đã sử dụng hết sức thành thạo nhuần nhuyễn một ngôn ngữ thì việc dịch nó sang tiếng Việt là một điều không khó khăn gì

Theo Văn Đa cư sĩ, một học giả đời Tự Đức, tác giả sách "Đại Nam quốc ngữ" và bài tựa sách "Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa" thì Sĩ Vương (187 - 226) bắt đầu dùng tiếng Hán

dịch sang tiếng ta, khi dịch đến chữ "thư cưu" không biết gọi là chim gì, khi dịch đến "dương đào" không biết gọi là quả gì Tuy nói như vậy nhưng Văn Đa cư sĩ không cho biết rõ ông căn cứ vào sách nào [5:347-355] Thế nhưng dù là truyền thuyết thì việc đó cũng nói lên một điều là việc dịch thuật đã sớm xuất hiện ở nước ta và được giới lãnh đạo quan tâm

Trong giai đoạn đầu việc dịch thuật kinh Phật ở trung tâm Luy Lâu là giai đoạn dịch

từ Phạn ra Hán Khi nước nhà độc lập tự chủ thì bên cạnh chữ Hán là công cụ ghi chép chính thức, chữ nôm dần dần được sử dụng rộng rãi

Chữ nôm có tự bao giờ là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi, thế nhưng khi chữ Nôm được

sử dụng rộng rãi thì có nhiều bản dịch Hán sang Nôm

Từ trung tâm Luy Lâu, truyền thống dịch thuật của nước ta vẫn được tiếp

Trang 15

tục qua các triều đại Thế nhưng sự phát triển tiếp theo kém rực rỡ hơn giai đoạn dịch từ Phạn sang Hán và giai đoạn sau khi chữ quốc ngữ được truyền bá rộng rãi, tức giai đoạn đầu thế kỷ 20 Điều đó cũng dễ hiểu vì chữ Phạn là thứ chữ chép kinh sách Phật, không phải thứ chữ mà trí thức Giao Châu thời đó tinh thông ngay cả phần đông tu sĩ Do đó muốn quảng bá

tư tưởng Phật giáo thì việc dịch Phạn sang Hán là hết sức cần thiết

Giai đoạn dịch từ Hán sang Nôm mờ nhạt hơn giai đoạn đầu vì đặc trưng của chữ Nôm Chữ Nôm do một hoặc nhiều chữ Hán hợp thành, do đó phải giỏi chữ Hán mới tinh thông được chữ Nôm Người đọc được bản dịch Hán ra Nôm tất đã thừa khả năng để đọc nguyên tác bằng chữ Hán, vì thế họ không thấy sự cần thiết của bản dịch Dịch thuật trong tình hình đó chỉ phát huy hết cái khả năng của mình trong một số lĩnh vực phù hợp

3.1 Sự xuất hiện của chữ Nôm

Vấn đề dịch Hán sang Nôm có liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện của chữ Nôm Thế nhưng thời kỳ xuất hiện của chữ Nôm là một vấn đề còn tranh luận

1) Nhóm cho rằng chữ Nôm xuất hiện từ thời Hồng Bàng có Phạm Huy Hổ

2) Nhóm chủ trương chữ Nôm xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp có Nguyễn Văn San (Văn

Đa cư sĩ) học giả thời Tự Đức, tác giả Đại Nam quốc ngữ; bài tựa sách "Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa" của sư Pháp Tính in khoảng sau thế kỷ 16, Trương Vĩnh Ký, Sở Cuồng Lê Dư

3) Nhóm chủ trương chữ Nôm xuất hiện từ thời Phùng Hưng, thế kỷ thứ 8 có Nguyễn Văn Tố, Dương Quảng Hàm

4) Nhóm chủ trương chủ Nôm xuất hiện từ thế kỷ 13 vào thời Nguyễn Thuyên có P.Pelliot, Henry Maspero, Hoa Bằng

5) Nhóm căn cứ vào thời kỳ hình thành hoàn chỉnh của âm Hán Việt để đánh dấu sự xuất hiện của chữ Nôm có Đào Duy Anh, Nguyễn Sĩ Đạo, Nguyễn

Trang 16

Tài Cẩn, Lê Văn Quán Như thế thì chữ Nôm chỉ có thể xuất hiện sau khi nước Việt giành được độc lập

6) Liên Giang thì chủ trương chữ Nôm hình thành do nhu cầu của tầng lớp dân chúng bình dân Khi Phật giáo lan truyền ra dân gian, tu sĩ đi thuyết pháp và cúng độ cho chúng sinh, thường có lá điệp lá sớ hay những bài phát nguyện, cần phải ghi tên họ tín chủ, quê quán Trong tầng lớp bình dân, tên họ hầu hết là âm thuần Việt, cả địa danh cũng thế nên các tăng đồ phải tìm cách ghi lại Chữ Nôm đã phát sinh theo một đang cách như thế lúc mới hình thành, như cách hình thành chữ quốc ngữ ngày nay là do các nhà truyền giáo Thiên Chúa

Nghiêm Toàn cũng chủ trương chữ Nôm phát sinh do nhu cầu của giới bình dân 7) Bửu Cầm và Phạm Văn Diêu cho rằng chữ Nôm xuất hiện sau Sĩ Nhiếp mà trước Nguyễn Thuyên

Về sự xuất hiện của chữ Nôm, trừ Pelliot, Maspero, Hoa Bằng, cho rằng chữ Nôm xuất hiện ở thời Nguyễn Thuyên, còn tất cả các tác giả khác đều thống nhất cho rằng chữ

Nôm phải xuất hiện trước thời đó Ngô Thời Nhiệm trong sách "Hải Đông chí lược" có viết

"ngã quốc văn tự đa dụng quốc ngữ tự Thuyên thủy (văn tự nước ta dùng nhiều quốc ngữ bắt đầu từ Nguyễn Thuyên)

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên làm thơ quốc âm thì chữ Nôm tới thời Nguyễn Thuyên đã phải có qui củ nề nếp Không thể sử dụng một thứ chữ mới hình thành để làm thơ phú được vì thơ là trình độ cao nhất của một thứ tiếng

3.2 Dịch Hán sang Nôm

Từ khi chữ Nôm được sử dụng rộng rãi, được dùng để sáng tác thi ca thì chắc chắn cũng xuất hiện nhiều bản dịch Hán sang Nôm

Theo Sở Cuồng thì Hồ Quý Ly nhà Trần bắt đầu dùng quốc ngữ dịch nghĩa kinh Thi,

gọi là "Quốc ngữ thi nghĩa" (1394), dịch thiên "Vô dật" trong kinh Thi (1395) để dạy cho vua…Phùng Khắc Khoan cũng có bộ Chu dịch diễn nghĩa Vũ

Trang 17

Thành dạy học trò đều lấy kinh tịch dịch thành quốc âm Đặng Thái Phương lấy chữ Nôm

dịch kinh Dịch gọi là Chu dịch quốc âm dịch nghĩa Nguyễn Bá Lân dịch kinh Thư ra quốc

âm gọi là "Thư kinh diễn nghĩa" Đời Tây Sơn có đặt ra Sùng Chính viện cử ông Nguyễn Lạp

Phong làm viện trưởng chủ trương dịch các kinh ra quốc âm, dịch sách tiểu học để dạy học trò [30:197]

Theo Khâm định Việt Sử thông giám cương mục quyển 11, thì năm 1387 đời vua Trần

Đế Nghiển, Thượng hoàng Nghệ Tông ban cho Quý Ly một thanh gươm trên có ghi "Văn vũ toàn tài, quân thần đồng đức" Ông có làm thơ quốc ngữ tạ ơn Quý Ly là người đầu tiên dùng quốc âm dịch kinh tịch mà giảng học

Chữ Nôm không những được dịch ra để dạy học mà chữ Nôm còn đi vào các kỳ Thi

và các dụ chỉ ở đầu thế kỷ 18, Theo "Lịch triều tạp kỷ" của Ngô Cao Lãng thì vào năm 1715,

một bài văn sách khoa thi Sĩ Vọng được cho làm bằng chữ Nôm

"Ngày 4 tháng 7 mùa thu, thi Sĩ Vọng Đầu bài "Tiêu tương bát cảnh" thi lấy vần

"kiêm" dùng thể thất ngôn luật Bài "Tam hoàng ngũ đế" biện Bài Văn sách "Sát quan lại năng phủ phóng dân gian tật khổ, như hà khả dĩ phục chúng chí"

Bài này cho làm bằng chữ Nôm (kỳ văn thể thích dụng quốc âm) [70:224]

An Vương Trịnh Cương đích thân làm bài dụ chỉ, sai dịch bài "dụ chỉ" này ra quốc

âm rồi triệu các quan văn võ vào cung hiểu dụ một cách ân cần [70:8]

3.3 Tình hình dịch thi ca: từ nỗ lực Việt hóa từ Hán Việt trong thơ Nôm buổi đầu đến bản dịch "Chinh phụ ngâm"

Trong những thơ Nôm buổi đầu như thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoàng

Sĩ Khải, Đào Duy Từ ngoài số từ Hán Việt không thể thay thế được còn có những từ Việt dịch từ những từ Hán trong nỗ lực Việt hóa

Nguyễn Trãi là một khuôn mặt văn học lớn, rất yêu nước, có nhiều nỗ lực trong việc Nôm hóa các từ Hán Việt Trong chiều hướng đó Nguyễn Trãi đã dịch

Trang 18

rất sát, chuyển rất thẳng các từ ngữ Hán Việt thành từ Việt Ngày nay chúng ta thấy chúng còn cứng nhắc, kém uyển chuyển, nhưng giá trị thực của chúng là ý hướng muốn vượt thoát

ra khỏi sự ràng buộc của từ Hán Việt để đóng góp vào vốn từ Nôm đang còn rất thiếu thốn

Chất liệu Hán trong thơ Nguyễn Trãi được biểu hiện bằng cách dịch mô phỏng nội dung trong tiếng Hán bằng hình thức và ngữ pháp tiếng Việt

Các khái niệm "hành chỉ" được dịch thành "đi nghỉ" "xuất xứ" thành "gánh lui";

"chiến thi" thành "đánh thơ", "cố lão" thành "già cũ"

Nhiều câu, nhiều phần dịch thẳng từ các thành ngữ, các từ Hán Việt theo lối áp dịch

là lối dịch thông dụng buổi đầu của nền dịch thuật Hán sang Việt

Như từ câu "Quân tử cố cùng", trong sách Luận ngữ:

Trang 19

thành câu: Cùng một ngày càng ngặt đến xương

Từ câu thơ của Hàn Dũ "Thu lan doanh cửu ngôn" và "Tam kính cúc" Trong bài

"Qui khứ lai từ" của Đào Uyên Minh, Nguyễn Trãi gộp lại dịch thành

"Lan còn chín khúc, cúc ba đường"

Từ câu "Khổng Tử chú Nhan Uyên" trong sách Pháp ngôn của Dương Hùng, Nguyễn

Trãi dịch thành

"Đúc nên Nhan Tử, tiếc chi vàng"

Từ "Thư hàm vị nhất điều băng" và "thất như huyền khánh" thành: Quan thanh bằng nước, nhà bằng khánh

Phương thức dùng chất liệu hình thức Việt để tiếp nhận chất liệu nội dung Hán có một vai trò quan trọng trong một thời gian dài sau Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt và văn học

cổ điển Việt Nam [155:9] Trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Tứ thời khúc vịnh" của Hoàng Sĩ Khải "Tư dung vãn" của Đào Duy Từ cũng còn lối trực dịch ấy

Như "hữu dụng" dịch thành "có dùng" trong câu "Có dùng người trọng vì tài"; "tử mạch" dịch thành "đường tía" trong "Đường tía đã qua bước ngại chân"; "đắc sũng" thành

"được sũng" "Được sũng xin chớ thờ lơ", trong những câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

"Cầu đã sao thì cây lại lửa" dịch từ "tinh kiều, hỏa thụ'' "Bếp bằng tờ nhà nhà ăn nguội" dịch từ "hàn thực" Hay "nguyện cầm báu cả cho bền" dịch từ "đại báu", trong "Tứ thời khúc vịnh" của Hoàng Sĩ Khải, hay "hổ khiếu phong sinh" thành "hùm ngâm gió thổi" - "Hùm ngâm gió thổi tự nhiên" trong "Tư dung vãn" của Đào Duy Từ

Cũng không thiếu những thí dụ như thế trong giai đoạn đầu của nền văn học chữ Nôm

Từ cách dịch thẳng còn cứng nhắc của các tác phẩm Nôm buổi đầu đã dần dần hình thành tư duy dịch thuật

Thế kỷ 18 là thế kỷ lớn của nền văn học dân tộc Cùng với sự lớn mạnh và giành được vị trí chủ đạo trong nền văn học dân tộc của văn học chữ Nôm thì

Trang 20

lịch sử dịch thuật cũng ghi dược những thành tựu mới

Với liên tiếp bốn bản dịch "Chinh phụ ngâm" nhất là "bản hiện hành", lịch sử dịch

thuật đã ghi nhận sự trưởng thành của tư duy dịch thuật Đây không phải là sự ngẫu nhiên

mà là cả một quá trình nhập thân của tư duy Việt và tư duy Hán ngữ quá trình thể nghiệm để dần dần nâng cao được sức diễn đạt của tiếng Việt, để trở thành một phương tiện diễn đạt được mọi sắc thái của tình cảm, tư tưởng và quá trình kế thừa lẫn nhau của các bản dịch, kinh nghiệm dịch

Chinh phụ ngâm khúc viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn sau khi ra đời đã được

nhiều người đem diễn ra thơ quốc âm Năm 1953 trong công trình nghiên cứu công phu, Hoàng Xuân Hãn đưa ra giới thiệu bốn bản dịch khác nhau, trong đó có bản vẫn lưu truyền rộng rãi xưa nay và ba bài chưa thấy khắc in "Bản hiện hành" từ lâu vẫn truyền tụng là của

nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người cùng thời với Đặng Trần Côn Nhưng mấy mươi năm gần đây, Hoàng Xuân Hãn và một số nhà nghiên cứu để xuất và chứng minh, cho đó là bản dịch của Phan Huy Ích

Bản nguyên tác bằng Hán văn làm theo lối trường đoản cú của Đặng Trần Côn được nhiều danh sĩ tán thưởng, nhưng khúc ngâm lại càng được ca ngợi hơn trong suốt mấy thế kỷ qua Bản dịch Chinh phụ ngâm "bản hiện hành" là tiêu biểu cho câu "thanh xuất ư lam nhi thanh ư lam" So với nguyên tác, bản dịch gọn gàng hơn từ nguyên tác 478 câu thơ cô đúc lại còn 408 câu Ít hơn 70 câu mà nội dung ý tưởng vẫn được duy trì đầy đủ, nếu không nói là nguyên tác đã được bản dịch làm cho phong phú thêm lên, đẹp đẽ hơn lên Nhiều câu thơ sinh động hơn nguyên tác, nhờ biết khéo léo tận dụng ưu thế của ngôn ngữ dân tộc Nguyên tác không thuần nhất khi thì điển nhã, lúc lại mộc mạc, vì do vay mượn đó đây trong cổ nhạc phủ Trung Quốc và Đường thi của Lý Bạch Bản dịch đã cố gắng làm cho phong cách ngôn ngữ nhất quán để làm cho nỗi lòng của chinh phụ thực hơn, tinh tế hơn sống động hơn

Các bản dịch "Chinh phụ ngâm" khác xét về toàn thể không thể so sánh được với

"bản hiện hành", nhưng từng đoạn cũng có nhiều câu rất đẹp, rất hay chứng tỏ được khả năng dịch Thuật thi ca của người Việt Nam trong thể loại "song

Trang 21

thất lục bát" đặc biệt của dân tộc

3.4 Tình hình dịch văn xuôi

Ở nước ta việc dịch thơ rất phát triển mà dịch văn xuôi thì còn kém cỏi

Theo Vũ Phương Đề trong "Công dư tiệp ký" thì Nguyễn Thế Nghi có diễn giải

"Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ, văn chương thanh nhã Nguyễn Thế Nghi người làng

Mộ Trạch, đỗ tiến sĩ đời Mạc Đăng Doanh sống đồng thời với Nguyễn Dữ, thế kỷ 16 Bản

dịch Nôm "Truyền kỳ mạn lục" của ông theo Vũ Phương Đề "vẫn còn truyền tụng" tức vào khoảng thế kỷ 18, khi Vũ Phương Đề viết "Công Dư tiệp ký" Bản dịch này có văn xuôi, biền

ngẫu và thơ Phần dịch văn xuôi còn nhiều chữ Hán, lủng củng khó hiểu

"Chưng huyện Vĩnh Lại ở phủ Hạ Hồng xưa nhiều thủy tộc dõi bên sông mà lập miếu thờ, Chưng mười dư chốn năm năm chưng ở lâu, thuở ấy hoặc làm gì Nhưng cầu tạnh xin mưa chăng là chẳng lập ứng" [59:98]

Ông Hoa Bằng lại tìm được bộ "Truyền kỳ mạn lục" bằng mộc bản trùng san từ mùa

xuân năm Cảnh Hưng thứ 24, 1763 Trong sách nầy, mỗi câu chữ Hán có một câu dịch Nôm

và chú thích những điển tích Nhan đề sách Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú [3:3,4] Bản dịch có rất nhiều từ ngày nay không thấy dùng nữa Đó là những chữ Nôm thường thấy trong các áng văn Nôm thời kỳ phôi thai và xây dựng, gần như trong "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi Như "kỳ" dịch là "thửa", "chi" dịch là ""chưng"; "chi" dịch là "đó",

"dĩ nhi" dịch là "đã mà", "sở" dịch là "thửa", "ư" là "chưng" "giao tiếp" thành "giao bén",

"chuyển mật" thành "quanh nhặt", "tương phối" thành "cùng đôi", "quả" thành "ắt", "trưởng thành" thành "cả nên", "niên cập trưởng" thành "tuổi vừa đến cả nên", "tả hữu" thành "kẻ chiêu đăm" Hoa Bằng cho dịch "tả hữu" thành "kẻ chiêu đăm" rất khéo vì người ta vẫn thường nói "tay chiêu, tay đăm"

Bản dịch Nôm nhưng theo cú pháp Trung Quốc, lại hay dùng thể tĩnh văn, ẩn chữ

nghĩa và vị ngữ, vì thế câu văn trở nên tối nghĩa Ta thử đọc một đoạn văn dịch trong "Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm chú tập"

Trang 22

"Họ Nguyễn tên là Diễm, họ cả huyện Đông Sơn chưng em gái họ Chênh, hàng bên ngoại người Khát Chân vậy, cùng vợ "con buôn" ở huyện Cẩm Giàng họ Lý đôi mở phố phấn chưng ngoài thành Tây Đô Láng giềng gần giao bén, lòng yêu quanh nhặt, song điều chưa có con "

Nói gì đến văn dịch, ngay cả văn xuôi thời Nguyễn Sơ 1802-1819, khi văn vần đã đi được những bước tuyệt vời, mà trong tờ chỉ truyền bằng tản văn của Gia Long đưa cho ông Nguyễn Văn Thắng (Jean Baptiste Chaigneau) chánh quản tàu Long Phi năm 1802, văn dùng nửa chữ, nửa Nôm rất khó hiểu, tỏ ra trình độ văn xuôi ta còn rất ấu trĩ [26:599]

II Truyền thống dịch thơ Đường

Lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam đã phát triển theo tiến trình chung của việc thiết lập và phát triển nền văn học quốc âm Nó cũng đi từng bước dò dẫm lúc ban đầu trong cách chuyển thẳng từ Hán Việt thành từ Việt theo lối áp dịch, dùng chất liệu hình thức Việt để tiếp nhận chất liệu, nội dung Hán Cùng với sự lớn mạnh và giành được vị trí chủ đạo trong nền văn học dân tộc, thì lịch sử dịch thuật cũng ghi được những thành tựu mới

Có hai thời điểm đáng chú ý là thời toàn thịnh của nền văn học quốc âm và giai đoạn phát triển chữ quốc ngữ ở đầu thế kỷ 20 Chính trong những giai đoạn này, thơ Đường đã có những tác phẩm dịch xuất sắc, sáng tạo, phát huy được thi pháp và ngôn ngữ dân tộc nhất

1 Truyền thống diễn ca thơ Đường bắt đầu từ khi chữ Nôm thịnh hành

Một trong những lĩnh vực mà giai đoạn dịch Hán sang Nôm phát huy được hết khả năng của mình là lĩnh vực thi ca Theo Trần Nghĩa [92:19] thì cùng với sự hình thành của

chữ Nôm, những bản diễn âm thơ cũng xuất hiện Kinh Thi được diễn âm sang chữ Nôm (Mao thi ngâm vịnh thực lục; Thi kinh giải âm, Thi kinh diễn nghĩa, Thi kinh diễn âm ), Qui khứ lai từ (trong Chủ đề hợp tuyển, Qui khứ lai từ diễn ca) Tương tiến tửu (trong Ca điệu lược ký) Tỳ bà hành (trong Tỳ bà hành diễn âm ca, Tỳ bà hành thảo, Tỳ bà quốc âm truyện) Trường hận ca (trong Trường hận ca)

Trang 23

Các tập thơ Đường được tuyển chọn và dịch đi dịch lại nhiều lần: Đường thi quốc âm, Đường thi trích dịch, Đường thi tuyệt cú diễn ca, Đường thi hợp tuyển ngũ luật giải âm, Đường thi thất tuyệt diễn ca

Tại sao thơ Đường lại được diễn ca rất nhiều trong cái thời đại mà hầu như ai cũng đọc hiểu được nguyên tác một cách rất dễ dàng?

Nỗi khao khát được nghe âm điệu quê hương không phải là nỗi niềm riêng của dân tộc nào, cho nên dù tôn trọng chữ Hán, xem đó là thứ chữ cao quý, người Việt Nam vẫn mong muốn được nghe lại những ý tình đã được diễn tả trong những bài thơ Đường, bằng âm điệu của tiếng Việt thân thiết Mong muốn đó được cái căn bản Hán học vững chắc, được cái truyền thống dịch thuật lâu đời hỗ trợ tạo thuận lợi tối đa cho các dịch giả diễn ca thơ Đường

Vả lại, việc thưởng thức một bài thơ bằng nguyên tác có khác với cái hứng vị khi đọc một bản dịch hay Dịch một bài thơ hay, đọc được một bản dịch hay là tận hưởng được hai lần cái hay, cái đẹp của bài thơ

2 Các bản dịch thơ Đường trong Hồng Đức Quốc âm thi tập ở thế kỷ 15

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân [152:51,55] những bài thơ Đường dịch

sớm nhất hiện nay vẫn còn tìm thấy được là những bài được sưu tầm trong bộ Hồng Đức quốc âm thi tập thế kỷ 15: Bài Tân xuân lữ xá và chùm thơ Thiên thai của Tào Đường

Bài "Tân xuân lữ xá" nguyên văn bằng chữ Hán là bài "Xuân tịch lữ hoài" của Thôi

Đồ

Thủy lưu hoa tạ lưỡng vô tình Tống tận đông phong quá Sở thành

Hồ điệp mộng trung gia vạn lý

Tử qui chi thượng nguyệt tam canh

Cố viên thư động kinh niên tuyệt Hoa phát xuân thôi mãn kính sinh

Tự thị bất qui, qui cánh đắc Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh"

Trang 24

Bài quốc âm là

Hoa bay nước chảy cũng vô tình

Gió quyến xuân đưa đến Sở thành

Hồ điệp mơ màng nhà mấy dặm

Từ qui khắc khoải nguyệt ba canh

Thư nhàn dễ cách lòng nên bạc

Tóc tuyết khôn cầm thúc lại xanh

Nẻo ấy chẳng về, về ắt được

Năm hồ cảnh vang có ai tranh

[104:131]

Nguyên tác Nhập Thiên Thai

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân

Vân hòa thảo tĩnh quýnh vô trần

Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự

Thủy mộc không nghi mộng hậu thân

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt

Thời thời khuyển phệ động trung xuân

Bất tri thử địa qui hà xứ

Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân

Tào Đường

Dịch quốc âm Lưu Nguyễn nhập động

Cây rợp non tiên một nẻo phân

Đất chăng bụi bụi cỏ êm chân

Khói xanh bóng tiễn xem đương mặt

Nước biếc duyên ưa nọ có thân

Dải non cao, chăng khói nguyệt

Doanh sông thẳm, một đường xuân

Chẳng hay người ấy về đâu tá?

Niệm đến Đào nguyên hỏi chủ nhân

Hồng Đức quốc âm thi tập (tr 98)

Nguyên tác Động trung ngộ tiên nhân

Trang 25

Thiên hòa thụ sắc ái thương thương

Hà trọng nham thâm lộ diểu mang

Vân đậu man sơn vô điểu tước

Thủy tranh, duyên giản hữu sênh hoàng

Bích sa động lý càn khôn biệt

Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường

Nguyệt đắc hoa giãn hữu nhân xuất

Miền linh tiên khuyển phệ Lưu lang

Tào Đường

Dịch quốc âm Lưu Nguyễn động trung ngộ tiên tử

Cây khói xanh xanh thức biếc tương

Trước đông thuở dãi bóng trì đường

Mây che cửa chim bay hết

Suối thay cầm tiếng nhặt xoang

Sông có bích đào non nước dẫy

Cõi nhiều hồng hạnh tháng ngày trường

Cách hoa dầu chẳng người tiên rước

Chó sủa âu là hẳn ấy làng

Hồng Đức quốc âm thi tập (tr 99)

Nguyên tác Động trung hữu hoài

Bất tương thanh sắc lý nghê thường

Trần mộng na tri hạc mộng trường

Động lý hữu thiên xuân tịch tịch

Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang

Ngọc sa dao thảo duyên khê bích

Lưu thủy đào hoa mãn giản hương

Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc

Thử sinh vô xứ vấn Lưu lang

Tào Đường Dịch quốc âm Tiên tử hoài lưu Nguyễn

Chẳng còn nhớ đến khúc nghê thường

Một phút chiêm bao một phút thương

Trang 26

Thuở động ngày chầy xuân vắng vẻ Khi người dương cách nguyệt mơ màng

Đất nhiều cỏ ngọc qua ưa biếc Nước có hoa đào hết tấc hương Gió thổi đèn tàn thêm lạnh lẽo Thần này khôn chước hỏi Lưu lang

Hồng Đức quốc âm thi tập (tr 102)

Nguyên tác Tái đáo thiên thai

Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân Thương đài bạch thạch dĩ thành trần Sênh ca tịch mịch nhàn thâm động Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu tân Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc

Yên hà bất thụ vãng niên xuân Đào hoa lưu thủy y nhiên tai Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân

Tào Đường

Dịch quốc âm Lưu Nguyễn tái đáo, bất kiến tiên tử

Ngọc chân lại đến hỏi chưng đây

Rầy đã rêu rêu bụi bụi đầy

Ca khúc rền rền cách núi Làng doanh văng vẳng khóa mây

Thức cây chẳng phải xanh phen nọ

Điểm khói nào còn biếc bấy chầy Mặt nước hoa trôi lành lạnh đấy Người tiên mời rượu ở đâu rầy

Hồng Đức quốc âm thi tập (tr 104)

Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có đến mười hai bài thơ mang chủ đề "Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai" nhưng chỉ có bốn bài dịch từ bốn trong số năm bài thơ Thiên Thai của Tào

Đường, đời Đường

Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân, bốn bài thơ dịch thơ

Trang 27

Thiên Thai có khả năng cho là xuất hiện từ thế kỷ 15 vì:

- Có các câu thơ lục ngôn xen lẫn vào các câu thơ thất ngôn

- Có chữ cổ "làng doành" với nghĩa là làng xóm

Chúng tôi còn thấy thêm các bản dịch nầy có những từ láy đặc biệt của thế kỷ 15 Đó

là cách láy toàn phần và lặp lại như bụi bụi, xanh xanh, rêu rêu, rền rền

Như thế thì bốn bài Thiên Thai xuất hiện sớm hơn bài "Tân xuân lữ xá" vì bản dịch

nầy viết đúng theo thể thất ngôn bát cú mà không có chữ cổ nào

Các bản dịch thơ Đường trong Hồng Đức quốc âm thi tập như 4 bài Thiên Thai trong

chùm 10 bài, đuợc dịch từ 4 trong chùm thơ Thiên Thai 5 bài của Tào Đường, được xếp vào

"Nhân đạo môn", bài "Tân xuân lữ xá" dịch từ bài "Xuân tịch lữ hoài" của Thôi Đồ được đặt vào "Phong cảnh môn" và được xem như các sáng tác "Nhân đạo môn" có 46 bài thơ, phần

lớn là những bài vịnh nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam Có một số bài lấy đề tài là nhân vật trong tiểu thuyết và truyền thuyết Trung Quốc như Tô Vũ Chiêu Quân, Lưu Nguyền, Chức nữ, Ngưu lang Còn "Phong cảnh mòn" cũng có rất nhiều bài tả phong cảnh Trung Quốc

Chính vì thế mà các nhà sưu tầm đời sau hoặc không nhận ra đó là những bản dịch hoặc không quan tâm đến vấn đề phân loại thơ dịch và thơ sáng tác, đã để lẫn vào loạt thơ sáng tác

3 Các bản dịch Tỳ bà hành

Cùng với sự hưng thịnh của nền văn học quốc âm ở vào giai đoạn mà ngôn ngữ và thi pháp dân tộc được trau dồi nhất, thì cũng xuất hiện các bản dịch Tỳ bà hành mà bản dịch Tỳ

bà hành hiện hành được xem là một thành công lớn trong lĩnh vực dịch thuật thi ca

Tỳ bà hành là một bài hành rất nổi tiếng của Bạch Cư Dị, rất được ưa chuộng ở Việt Nam vì nước ta có nhiều sông nước, nên tất có nhiều cuộc chia ly diễn ra ở bến sông Các ca

nữ tài hoa thường được đặc biệt mến mộ Nhiều danh

Trang 28

sĩ tài hoa rất gắn bó với đào nương Chính vì thế mà mối đồng cảm với Tư mã Giang Châu càng sâu sắc

Từ trước vốn có rất nhiều bản dịch Tỳ bà hành mà đúng hơn là diễn âm (từ của thời đại đó), nhưng vì điều kiện bảo tồn có hạn chế nên hiện nay chỉ còn một vài bản

3.1 Vấn đề dịch giả của bản dịch Tỳ bà hiện hành

Bản dịch Tỳ bà nổi tiếng nhất là bản đào nương trước đây vẫn hát Họ thường hát mào đầu để gây không khí bằng bản dịch "Thu hứng" của Đỗ Phủ rồi mới hát đến bản "Tỳ bà hành"

Về dịch giả của bản dịch nầy, từ lâu đã hình thành bốn thuyết khác nhau

1 Hoa Bằng cho rằng đó là bản dịch của Nguyễn Văn Siêu

2 Lê Thước cho là của Nguyễn Công Trứ

3 Hoàng Xuân Hãn, Phạm Văn Diêu, Tạ Ngọc Liễn cho là của Phan Huy Thực

4 Dương Quảng Hàm, Trần Trung Viên và hầu hết các tài liệu văn học cho là của Phan Huy Vịnh

Thuyết của Hoa Bằng và Lê Thước chỉ là sự phỏng đoán vì các tác giả đó không đưa

ra một căn cứ khoa học nào Thuyết 3 cho là của Phan Huy Thực, thuyết 4 cho là của Phan Huy Vịnh, cả hai đều thuộc dòng họ Phan Huy mà Phan Huy Thực là cha của Phan Huy

Vinh Trong Phan gia thế phả phần chép về Phan Huy Thực viết trước tác của ông có "Hoa thiều tạp vịnh", "Khúc diễn âm Tỳ bà hành", bài "Nhân ảnh vấn đáp" Ngoài ra còn có các

bài tấu nghị về việc chế định điển lễ, nhạc khúc và văn chương thù ứng khá nhiều nhưng nay thất lạc không còn" , Phần chép về Phan Huy Vịnh ghi " tự Hàm Phủ, hiệu Sài Phong sinh

ngày 25 tháng giêng năm Tân Dậu Năm 1801 đỗ cử nhân Thơ có "Nhân trình tùy bút tập"

Trang 29

Cuốn "Phan gia thế phả" nầy do Phan Huy Dũng cháu nội Phan Huy Thực viết (tiếp nối cuốn "Phan tộc công phả" của Phan Huy Quýnh) Vì vậy cuốn Phan gia thế phả là một

tài liệu đáng tin cậy [76:243]

• Giáo sư Phan Huy Lê, thuộc dòng họ Phan Huy cho biết cả gia phả họ Phan Huy ở

Thạch Châu và Sài Sơn đều chép thống nhất là Phan Huy Thực đã diễn âm Tỳ bà hành Điều

đó cũng phù hợp với sự nghiệp văn chương của Phan Huy Thực, một người rất sở trường về thơ Nôm [76:164-166]

Phan Huy Thực là con trai thứ hai của Phan Huy Ích Ông vốn có xu hướng ẩn dật, không muốn đi thi Năm 1813, do sự tiến cử của cậu là Ngô Thì Vị, triều Nguyễn mời ông ra làm quan Con đường hoạn lộ rất thăng trầm, hai lần bị giáng chức, ba lần được thăng chức Phan Huy Thực rất tinh thông âm nhạc và diễn chế, có nhiều đóng góp vào việc chế tác nhạc khúc Ông mất năm 1846

Giáo sư Phan Huy Lê còn ghi rõ không những gia phả ghi chép rõ ràng và thống nhất như vậy mà trước đây con cháu trong dòng họ nhiều người còn thuộc lòng bản dịch Tỳ bà hành tương truyền là của Phan Huy Thực

Như vậy, nếu không có cứ liệu nào mới thì đã đến lúc có thể kết luận: dịch giả "Tỳ bà hành" là Phan Huy Thực

Hàng trăm năm qua bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực vẫn được xem là một trong hai đỉnh cao của nghệ thuật dịch thơ từ Hán sang Nôm trong Văn học Việt Nam Ngòi bút dịch thuật tài hoa của Phan Huy Thực đã dịch Tỳ bà hành đúng với cả số câu và số chữ của nguyên tác (88 câu với 616 chữ) lột được hết cái thần của nguyên tác bằng sức mạnh diệu kỳ của tiếng nói dân tộc, lại được truyền rộng, lan sâu bằng tiếng hát của các đào nương

Không có tác phẩm dịch nào được tôn vinh như thế trừ dịch phẩm "Chinh phụ ngâm khúc"

Trang 30

chép thì đây là bản dịch của Phạm Nguyễn Du, nhưng vì bản dịch được chép chung trong một tập gồm nhiều bài thơ, phú Nôm khác và trong đó có nhiều bài sau khi khảo sát được xác định không phải là của Phạm Nguyễn Du Do đó bản dịch nầy chưa chắc là của ông [130:106]

Bản dịch có những từ có ghi trong từ điển Taberd (xuất bản giữa thế kỷ 19), Genibrel (xuất bản cuối thế kỷ 19) và được dùng trong Chinh phụ ngâm bản E (theo Hoàng Xuân Hãn

ra đời vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn) Ngoài ra trong một số câu còn thấy hiện tượng dùng xen lẫn chữ Hán hoặc dịch ra từng tiếng một với nghệ thuật chưa tinh Đó là kiểu cách vụng

về của những tác phẩm xuất hiện nửa đầu thế kỷ 19 trở về trước [130: 107] Đây là một bản dịch khá sát nguyên tác và kém xa bản dịch của Phan Huy Thực nhưng có một số câu khiến cho người đọc có thể nghĩ đó là sự gợi ý cho bản dịch của Phan Huy Thực

Bến Tầm dương đêm thu tiễn khách Gió hiu hiu hoa địch lá phong

… Cửa không lại giữ thuyền không Quanh thuyền trăng sáng dưới sông nước hàn

3.3 Hai bản dịch của Phan Văn Ái

Tiếp theo sự phát hiện của bản Quốc âm diễn Tỳ bà hành chép trong "Thạch Động tiên sinh thi tập" của Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ phát hiện thêm hai bản dịch nữa Đó

là hai bản Tỳ bà diễn âm và Hựu diễn ca khúc của Phạm Văn Ái [52:159)

Phan văn Ái (1835 - ?) Người Đồng Tỉnh, Văn Giang đã đỗ phó bảng năm 1880 thời

Tự Đức Phan Văn Ái là một dịch giả đáng chú ý cuối thế kỷ 19 Ông từng dịch "Ly phụ hành" và 30 bài thơ tập cổ chép trong Phương Minh toàn tập

Ông đã dịch Tỳ bà hành thành hai bản:

- Tỳ bà hành diễn âm dịch theo thể thất ngôn trường thiên, chia ra từng khổ dài ngắn

khác nhau Khổ ngắn nhất hai câu, khổ dài nhất 18 câu, mỗi khổ có một vận khác nhau

Trang 31

- Hựu diễn ca tân khúc dịch theo thể song thất lục bát Dù cùng do một người dịch,

nhưng bản dịch theo thể song thất lục bát hay hơn, có nhiều ưu điểm hơn bản dịch theo nguyên thể mà âm điệu rất trúc trắc, không phù hợp với thẩm mỹ của người Việt Nam

3.4 Bản dịch khuyết danh trên Nam Phong tạp chí

Trên tạp chí Nam Phong có đăng tải những bài thơ Đường diễn Nôm cổ do Sở Cuồng

Lê Dư sưu tập, không biết xuất xứ và dịch giả, trong số đó bản dịch "Tỳ bà hành" [32:183,

184]

Bản dịch nầy theo thể song thất lục bát, còn để lại nhiều từ Hán Việt không dịch hay dịch thành một từ Hán Việt khác khó hiểu hơn, cả từ trong nguyên tác

- Đàn ai văng vẳng bên giang

- Một cung chưa biết, mấy vàn hồng tiêu

- Đem trâm lược thay chiều kích tiết

- Kiếp người thiếu, tráng dễ không

- Khách xe ngựa ai hầu trông lại

Chút xuân già gửi lại thương quân Khách nhàn du những sái giao châu

Gian thảo xá ở cùng thủy khúc

Cách dịch nầy xuất hiện trước thế kỷ 20 vì các dịch giả đầu thế kỷ 20 cũng đã tránh được khuyết điểm đó

Nhiều câu phảng phất bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực nhưng vì chưa biết

xuất xứ bản dịch nầy nên không thể có sự đánh giá đúng đắn về khả năng mô phỏng giữa hai bản dịch

- Bến Tầm dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu

- Bến Tầm dương đêm chầy đưa khách

Gió Kim phong hoa địch chồi bông

- Dây to dường đổ mưa rào

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

Trang 32

- Dây to như trận mưa rào

Nỉ non dây nhỏ như câu chuyện thầm

- Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông

- Thuyền khách đỗ đông tây lặng ngắt Một doành sông với mặt gương thâu

Không thể so sánh với bản dịch của Phan Huy Thực, nhưng bản dịch khuyết danh so với các bản của Phạm Nguyễn Du và của Phan Văn Ái thì có nhiều ưu điểm hơn về cách dùng từ, về âm điệu

- Như sầu như ngẩn như ngơ

Tứ riêng hay gấp tiếng tơ muôn phần

- Ngày xuân còn nhớ tơ giăng

Nỉ non phiếm trúc, nước ngưng lệ hồng

- Rằng trong một kiếp bình bồng Chẳng tương tri cũng tương phùng từ đây

- Nực cười có kẻ riêng sầu

Áo lam tư mã còn màu gì xanh

Ta còn biết thêm một bản dịch Tỳ bà hành nữa do Cao Tử Văn Nhi ở Cổ Đăng

Nguyệt Loan phiên dịch Pham Đình Hổ có chép "Mùa xuân năm Bính Tý, niên hiệu Gia

Long, Cao Tử Văn Nhi ở Cổ Đăng nguyệt loan có đem bản Tỳ bà hành cho tôi xem và yêu

cầu nhuận sắc " Ông nhận thấy bản dịch nầy thanh thoát, sống động, uyển chuyển có thể lọt tai người Cao Tử muốn bản dịch giản phác mà không rơi vào chỗ cứng nhắc, u lệ mà không rơi vào chỗ buông lung, cái chí của ông có thể nói là đáng ham chuộng Một ngày kia bản dịch nầy trở thành rực rỡ huy hoàng theo được thơ thời Thiệu Bình (Lê Nhân Tông) và

Quang Thuận (Lê Chánh Tông), bước kịp được khúc Đào Nguyên và Tứ thời [53:35-36]

Tiếc là chỉ thấy được bài tựa của Phạm Đình Hổ mà không thấy được bản dịch

4 Thơ Đường trong truyện Kiều

Trong văn học Việt Nam có một dạng dịch thơ Đường đặc biệt như Nguyễn Du

Trang 33

đổi từ cho phù hợp và tính ý, tâm lý nhân vật trong truyện, làm cho câu thơ thêm cô đọng, thêm vang dội

Nguyễn Du thường hay mượn từ thơ Đường để làm nút bật cho liên tưởng, mở một cánh cửa nhỏ mà làm hiện ra một cảnh quan rộng lớn đủ sắc màu

Đoạn Kiều khuyên Từ Hải ra hàng vì:

Gẫm từ dấy việc binh đao Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu

Nguyễn Du chọn bốn từ "đống xương Vô Định" trong bài Lũng Tây hành của Trần

Đào làm nút bật cho tư tưởng phản chiến toàn bài hiện ra trong liên tưởng của độc giả Đây là một trong những bài thơ phản chiến hay nhất, sâu sắc nhất của Trung Quốc

Thệ tảo Hung nô bất cố thân Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần Khả liên Vô định hà biên cốt

Do thị xuân khuê mộng lý nhân

(Thề diệt Hung nô chẳng tiếc thân Năm nghìn, chiến sĩ mặc áo bào da điêu chôn xác nơi cát bụi đất Hồ Thương thay! đống xương bên bờ sông Vô định đã tàn rũ tự lâu rồi mà vẫn còn là người trong mộng của các cô gái phòng khuê)

Việc chọn nút bật đúng dẫn đến liên tưởng đúng, từ đó gây được sức thuyết phục lớn Trong các lý Kiều đưa ra để thuyết phục Từ Hải chịu hàng thì đây là lý do đánh động Từ Hải

và người đọc nhất

Nguyễn Du còn khéo mượn từ để làm nhẹ đi, làm giảm bớt các hành động trần trụi

"Thôi rồi một đóa trà mi (đồ mi) Con ong đã tỏ đường đi lối về"

Mượn chữ từ

Khai đáo đồ mi hoa sự liễu (nở đến hoa đồ mi là việc hoa kết thúc)

hay

Trang 34

"Dập dìu lá gió cành chim"

mượn từ

Chi nghinh nam bắc điểu Diệp tống vãng lai phong (Cành đón chim nam bắc

Lá đưa gió lại qua)

để đúc thành "Lá gió cành chim" chỉ việc đón đưa khách làng chơi, vốn rất khó viết cho thanh nhã, để xứng hợp với Thúy Kiều, người con gái danh giá vì dớp nhà mà phải làm việc xấu xa Muốn thế thì không được nói trắng, nói toạc, nói rõ mà người xem vẫn hiểu, thì phải

sử dụng biện pháp mượn từ mới đạt được hiệu quả đó

Ngoài việc mượn từ Nguyễn Du thường hay dịch gộp Hai câu thơ tả "Dương quí Phi" trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị

"Ngọc dung tịch mịch lệ lan can

Lê hoa nhất chi xuân đới vũ"

(Mặt ngọc lặng lẽ lệ chứa chan Một cành hoa lê vẻ xuân đọng những giọt mưa)

Nguyễn Du gộp lại dịch thành một câu mà cùng diễn tả được hình ảnh một người đẹp đang khóc rất sinh động

"Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa"

Đặc biệt, Nguyễn Du thường dịch thoát để phù hợp với tâm trạng nhân vật

Bài thơ "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị có câu:

Thủ hận miên miên vô tuyệt kỳ"

(Hận này dằng dặc không bao giờ dứt)

Nguyễn Du dịch là:

"Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên"

Nguyên tác là "hận" vì Đường Minh Hoàng trên đường đi Ba Thục tránh loạn An Lộc Sơn, trước sức ép của quân sĩ đã phải sai người thắt cổ Dương Quí Phi ở Mã Ngôi pha Khi yên giặc trở về Trường An, Đường Minh Hoàng luôn luôn đau

Trang 35

khổ vì mối hận lòng đó

Nguyễn Du nếu dùng từ "hận'' như nguyên tác là quá, dùng từ "sầu" là vừa Tài cân từ của Nguyễn Du là ở chỗ đó

Bài thơ "Vô đề" của Lý thương Ẩn có câu:

Xuân tàm đáo tử ti phương tận"

(Con tằm mùa xuân đến chết mới hết tơ)

Nguyễn Du dịch là:

"Con tằm đến chết vẫn còn vương tơ"

Mối tình ở đây hẳn là sâu đậm hơn, dài lâu hơn vì tơ vẫn còn vương dù sự sống giả định là đã chấm dứt Câu dịch còn thể hiện ảnh hưởng Phật giáo nơi tư tưởng Nguyễn Du Mọi việc không kết thúc tại điểm chết mà vẫn còn kéo dài qua luân hồi nếu như tư tưởng vẫn còn giăng mắc những tơ vương

Ở trên, Nguyễn Du khi dịch Trường hận ca là làm nhạt bớt Ở đây, khi dịch Vô đề là

làm đậm thêm Cái thủ pháp đậm, nhạt hơn nguyên tác là để đảm bảo tính trung thực với nhân vật của truyện Kiều

Đoạn Vương Quan kể lại cái chết của Đạm Tiên cho hai chị nghe, Nguyễn Du mượn hai câu thơ Đường

Nhất phiến tình chu sơ đáo ngạn Bình trầm hoa chiết dĩ đa thời

(Một mảnh thuyền tình vừa đến bờ thì bình chìm hoa gãy đã lâu rồi)

Trang 36

là hoa gãy mà hoa hay trâm cũng đều chỉ người đẹp cả Thì ra trước đó ba câu, câu thơ thứ

66 đã có hình ảnh "cành hoa thơm của trời đã gãy rồi"

"Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương"

nên ở câu thơ 70 này Nguyễn Du không muốn lập lại cái hình ảnh đã dùng chỉ cách đó 3 câu Một Nguyễn Du tinh tế và bao biện chu đáo ngay cho một chi tiết nhỏ như thế!

Thơ Đường có câu:

Hầu môn nhất nhập thâm như hải

Tòng thử Tiêu lang thị lộ nhân (Cửa hầu vào đấy sâu như biển

Từ đấy chàng Tiêu là khách qua đường)

Nguyễn Du dịch:

"Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu"

thêm hai từ "hững hờ" câu dịch mang nhiều tâm sự hơn câu nguyên tác

Và câu thơ dịch được nhiều người biết đến nhất nhờ sự phân tích rất đạt của học giả Đào Duy Anh trong bài "Đề tích sở kiến xứ" của Thôi Hộ (1) đời Đường

Nhân diện bất tri hà xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Mặt người chẳng biết đi đâu mất, Hoa đào vẫn như cũ cười đùa với gió đông)

Nguyễn Du dịch

Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

"Câu thơ của Thôi Hộ nhận định một tình trạng dĩ nhiên như thế, còn câu của Nguyễn

Du với mấy từ trước, sau, nào gợi lên hình ảnh một người đang cố tìm trước tìm sau Câu dưới của Thôi Hộ nghĩa là hoa đào vẫn như cũ, cười với gió đông tức là tả cảnh đang trông thấy, còn Nguyễn Du với hai từ "năm ngoái" khiến cho thấy Kim Trọng nhìn hoa đào mà chỉ thấy hoa đào năm ngoái, là cái

Trang 37

hoa đào có Thúy Kiều đứng bên" [1 :1 77]

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã hơn hai mươi lần mượn từ, đúc từ, mượn ý hoặc

dịch thoát thơ Đường, chỉ có hơn mười lần mượn từ, dịch thơ Tây sương Kỷ, Tình sử và thơ

đời khác Như thế đủ nói lên sự đa dạng của thơ Đường trong việc diễn đạt tâm trạng, hành trạng và tình ý

Tài dịch thơ Đường của Nguyễn Du là chọn lọc rất tinh tế những từ ngữ, cân nhắc rất chặt chẽ những hình ảnh, âm thanh, thêm, bớt, đậm, nhạt để phục vụ cho những yêu cầu của những nhân vật truyện Kiều, đặc biệt là những nhân vật mà Nguyễn Du để lòng yêu quí Không thấy Nguyễn Du mượn từ hay dịch thơ Đường cho những đoạn miêu tả nhân vật phản diện Đó cũng là điều dễ hiểu vì thơ cổ Trung Quốc thường nói đến cảnh đẹp, người đẹp, nhân vật tài ba

Dù dịch thoát hay mượn từ, Nguyễn Du đều tỏ ra có bản lĩnh tài hoa, đôi khi còn vượt hơn cả nguyên tác nữa

5 Một vài dịch giả của thế kỷ 19

Đến thế kỷ 19, thơ Nôm đả hết sức phát triển nghệ thuật sử dụng từ đã điêu luyện nên tất nhiên cũng có nhiều bản dịch thơ Đường Thế nhưng ngày nay ta chỉ còn lại một số rất ít bài của một số dịch giả vốn là những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương

Bài "Thu hứng" mà các đào nương vẫn hát để gây không khí trước khi hát Tỳ bà hành

của Phan Huy Thực, tương truyền đó là bản dịch của Nguyễn Công Trứ

Lác đác rừng phong hạt móc sa Ngàn vu hiu hắt khí thu lòa Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa

Khóm cúc tuôn thêm hàng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước Thành quạnh dồn châm bóng ác tà

Trang 38

Nguyễn Công Trứ có nhiều bài hát nói dịch phỏng thơ Đường như bài "Vịnh Tỳ bà"

Cùng người hải giác thiên nha Cùng nhau gặp gỡ lọ là quen nhau Tầm Dương giang đầu dạ tống khách

Bóng trăng thu thấp thoáng trên thuyền Tiếng tỳ bà ai khéo gãy nên

Xui lòng khách thiên nhai luống những

Nguyễn Khuyến cũng có dịch thơ Đường Ta còn lưu lại được bản dịch "Há Chung Nam Sơn quá Hộc Tư sơn nhân, túc trí hữu" của Lý Bạch Nguyên tác là thể ngũ ngôn cổ

phong 14 câu, Nguyễn Khuyến dịch Nôm thành thể song thất lục bát cũng 14 câu Đấy là thể thơ dịch sở trường của Nguyễn Khuyến Nguyễn Khuyến vẫn thường tự dịch những bài thơ chữ Hán của mình theo thể thơ nầy

Chiều hôm bước xuống chân đèo Bóng trăng trên núi cũng theo người về Ngảnh mặt lại dằm dìa nẻo tắt

Rặng non xa xanh ngắt một màu Nhà quê sẵn rủ rê nhau

Trẻ thơ lần mở cửa lau khuyên chào Khóm trúc biếc chen vào ngõ chật Ngọn la xanh sẻ phất áo người Mừng rằng được chốn thảnh thơi Rượu ngon chuốc chén đầy vơi ta cùng Tiếng hát lẫn gió thông lác đác

Khúc ca tàn xơ xác vẻ sao Mình say bác cũng lao đao Cho xong một cuộc biết bao chuyện đời

Trong Vị thành giai cú tập biên có phụ bản "Đường thị hợp tuyển ngũ âm luật giải âm" do Trần Tế Xương diễn dịch Đây là bản dịch Thập thất dạ đối nguyệt của Đỗ Phủ

Trang 39

Vành vạnh trăng thu chút chửa sai Xóm sông lụ khụ một mình ai Cuốn rèm trông thấy như chào lão Chống gậy ra chơi lại đón người Soi suốt rồng nằm dòng nước chảy Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi

Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời

Dịch giả ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 còn có Phan Mạnh Danh Khoảng năm 1883 thi Hương, được vào kỳ đệ tam nhưng không đỗ đạt Năm 1905 tại Hưng Yên tổng đốc Lê

Hoan có tổ chức cuộc thi thơ "Đề Thanh tâm tài nhân lục" Phan Mạnh Danh làm một bài tựa

chữ Hán, 21 bài thơ chữ hán, 21 bài thơ chữ Nôm được Tam Nguyên Yên Đổ và Giải nguyên Vân Đình tán thưởng nhiều câu [23:11]

Ông có tập Cổ thi trích dịch dịch thơ các đời Hán Đường, Ngũ đại, Tống, Nguyên,

Minh, Thanh Ông luôn luôn dịch theo nguyên thể, tôn trọng triệt để nguyên tác Sau đây là

bản dịch "Hoài Lưu Nguyễn" của Tào Đường

Trong khúc Nghê thường biếng lựa dây Trần kia với hạc, mộng nào say

Màu xuân vắng vẻ riêng giời động Bóng nguyệt mơ màng khuất lối mây

Cỏ tốt bên khe nhiều vẻ lạ Hoa trôi dòng nước ngát hương bay Thôi thôi đến gió sương gần sáng Gặp gỡ hay đâu ở kiếp nầy

Song Cối [21:6] và Nguyễn Duy Diễn [25:963] nhận định rằng Phan Mạnh Danh sử dụng lối dịch nhiều kỷ thuật, cầu kỳ lộ nhiều công phu, đối nghịch với lối dịch của Tản Đà

Trong “Thi pháp nhập môn" của Thế Tải Trương Minh Ký có 2 bài dịch "Văn lân gia

lý tranh" của Từ An Trinh; một bài vần trắc, một bài vần bằng

Vần trắc:

Trang 40

Sao bắc ngang trời đêm muốn sáng Người buồn dựa nguyệt lòng ngao ngán Tranh Tần bên các bỗng tai vang Gái Triệu gần nhà đờn tiếng rảng Khúc dứt, mày xanh, tưởng sắc phai Điêu mau, ngón ngọc, e sương dạn Thảm trông then bạc cửa còn gài Chi bằng chiêm bao may thấy hản

Vần bằng:

Sao bắc ngang trời muốn rạng đông Người buồn dựa nguyệt ý khôn cùng Tranh Tần tiếng vẳng nghe trên các Gái Triệu tay đờn rảng dưới cung Khúc dứt mày xanh thương mặt ủ Điệu mau ngón ngọc cầm sương lồng

Tư bề cửa các then còn đóng Mượn giấc chiêm bao họa thấy không [66:22]

Hai bản dịch nầy là tài liệu quý về thơ Đường dịch ở miền Nam với những từ địa phương: đờn, rảng, gài, chiêm bao , của Trương Minh Ký, một học giả miền Nam tinh thông cả Hán học lẫn Tây học

6 Thổng thơ Đường

6.7- Thổng thơ Đường theo kiểu tập cổ

Thổng thơ Ả Đào là một cách chơi tao nhã, sưu tập thơ hay của các thi sĩ Việt Nam để

dịch những bài thơ bằng chữ Hán của các thi sĩ Trung Quốc cho các đào nương hát Ở đây trong phạm vi nghiên cứu về thơ Đường, chúng tôi chỉ chú trọng đến các bản thổng thơ Đường

Thổng thơ Đường có nhiều cách Cách của Phan Mạnh Danh trong "Bút hoa" là chọn

một bài thơ Đường, dùng những câu trong Kiều để dịch bài thơ Đường ấy

Tống Lý thị lang của Giả Chí

Ngày đăng: 18/01/2020, 11:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Phạm Mạnh Danh, Bút hoa, thơ tập cổ, Hà Nội, Trí Đức thƣ xã, 1953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút hoa, thơ tập cổ
Tác giả: Phạm Mạnh Danh
Nhà XB: Trí Đức thƣ xã
Năm: 1953
25. Nguyễn Duy Diễn, Phan Mạnh Danh, một nghệ sĩ thuần túy, Luận đàm tạp chí bộ II, số 8, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Mạnh Danh, một nghệ sĩ thuần túy
Tác giả: Nguyễn Duy Diễn
Nhà XB: Luận đàm tạp chí bộ II
Năm: 1962
32. Tản Đà, Thơ Đường, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, TP. Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Quảng Tuân
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1989
33. Trần Thanh Đạm, Lời bạt thơ Đường Tản Đà (trong thơ Đường Tản Đà, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn), TP. Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời bạt thơ Đường Tản Đà
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1989
34. Trần Thanh Đạm, Chúa Hàn San với bài thư Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, tạp chí Vạn Hạnh số 12, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúa Hàn San với bài thư Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: tạp chí Vạn Hạnh
Năm: 1966
1. Đào Duy Anh , Tự điển truyện Kiều, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 1979 Khác
3. Hoa Bằng, Mới 179 năm nay văn xuôi của ta đã đổi khác nhiều, Tri Tân tạp chí, số 73, 1942 Khác
4. Hoa Bằng, Hán văn trích diễm, Tri Tân tạp chí, số 11, 1941 Khác
5. Bửu Cầm, Nguồn gốc chữ Nôm, Văn hóa nguyệt san, số 50, 1960 Khác
6. Nguyễn Duy Cần, Nhập môn triết học Đông phương, Sài Gòn, Thu Giang xuất bản, 1971 Khác
7. Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 1979 Khác
8. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp Tiếng Việt, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 1977 Khác
9. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, Hà Nội, NXB Đai học và Trung học Chuyên nghiệp, 1987 Khác
10. Trần Văn Chánh , Vấn đề chú giải và đọc kinh thi (trong Kinh Thi của Tản Đà, Nghiêm Thƣợng Văn, Đặng Đức Tô đích), NXB TP. Hồ Chí Minh, 1992 Khác
11. Trần Văn Chánh, Ngữ pháp Hán văn , NXB TP. Hồ Chí Minh, 1991 Khác
12. Đinh Văn Chấp, Dịclt thơ Lý - Trần, Nam Phong tạp chí, số 114, 1927 Khác
13. Từ Châu, Đọc thơ Đường của Ngô Tất Tố, Tri Tân tạp chí, số 103, 1943 Khác
14. Giản Chi, Vương Duy thi tuyển, Hà Nội, NXB Văn học, 1995 Khác
15. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đại cương triết học Trung Quốc, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1992 Khác
16. Trương Chính, Giáo trình Lịch sử Văn học Trung Quốc tập I, II, Hà Nội, NXB Giáo dục, 1961 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm