1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực (1930-1945) qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao

225 176 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh được thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, để từ đó làm sáng rõ cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh; trên cơ sở đó tiếp tục nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm văn học hiện thực ở một phương diện mới. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM MẠNH HÙNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA

NGÔ TẤT TỐ, VŨ TRỌNG PHỤNG, NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH :LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ : 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ

HÀ NỘI 2001

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM MẠNH HÙNG

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA

NGÔ TẤT TỐ,VŨ TRỌNG PHUNG, NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ :5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ

HÀ NỘI 2001

Trang 3

trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả PHẠM MẠNH HÙNG

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG NGHỆ THUẬT CỦA KHÁI NIỆM HOÀN CẢNH VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC 14

1.1.Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh và sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học hiện thực 14

1.2 Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh 26

1.3.Cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học 40

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỆ HOÀN CẢNH TRONG TẮT ĐÈN CỦA NGÔ TẤT TỐ 54

2.1 Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn 55

2.2 Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn 61

2.3 Cơ chế trấn áp bạo lực 71

2.4 Không khí náo loạn, căng thẳng 75

CHƯƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG GIỐNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 92

3.1 Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh 93

3.2 Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố 110

3.3 Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền 118

3.4 Không khí điên loạn, bão giông 126

CHƯƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG SỐNG MÒN VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO 139

4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao 140

4.2 Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh 157

4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn 164

4.4 Không khí ngột ngạt, bế tắc 175

KẾT LUẬN 195

DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ 200

THƯ MỤC THAM KHẢO 201

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI

Trào lưu văn học hiện thực là một trong ba trào lưu văn học hình thành và phát triển trên văn đàn Việt Nam thời kỳ 1930-1945 Nghiên cứu trào lưu văn học này, một trong những vấn đề không thể bỏ qua là mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh Bàn về chủ nghĩa hiện thực, trong thư gửi Mácgarít Háccơnetxơ năm 1888, Angglien cũng đã khẳng định vấn đề này Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khái niệm hoàn cảnh, có khi vẫn được hiểu thiên về góc độ hoàn cảnh xã hội, mà chưa được nhìn nhận như một cấu trúc nghệ thuật Cho nên, vấn đề cần đặt ra là phải nghiên cứu hoàn cảnh từ phương diện thẩm mỹ, nghĩa là cần phải nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh Trên cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh, luận án sẽ

mở rộng phạm vi nghiên cứu trên một bình diện mới với cấp độ mới Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực thời kỳ này là một cách tiếp cận hoàn cảnh

từ phương diện đó Giải quyết được vấn đề này, qua ba tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, luận án sẽ bổ sung cụ thể hóa thêm lý thuyết nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh, từ đó góp phần nâng cao việc nghiên cứu văn học hiện thực Những kết quả của luận án sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học hiện thực ở các cấp học từ phổ thông đến đại học

Trang 6

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nào lưu văn học hiện thực 1930-1945 trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Chỉ riêng những bài nghiên cứu

về ba tác giả: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao cũng đã có hàng trăm Trong những công trình nghiên cứu ấy, cũng đã có những ý kiến bàn tới vấn đề hoàn cảnh, nhưng ý thức về vấn đề này ở mỗi bài viết khác nhau về từng nhà văn khác nhau, cũng có sự khác nhau

2.1 Về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố, chúng tôi chỉ tập trung

khảo sát một tác phẩm nổi tiếng thành công nhất của ông: tiểu thuyết Tắt đèn Vì vậy ở đây,

chúng tôi chỉ nói tới lịch sử vấn đề nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết này

Trên tờ báo Mới số 4, ngày 15/6/1939 Trần Minh Tước đã đánh giá cao giá trị nội

dung của tiểu thuyết Tắt đèn: "trong văn phẩm ấy, Ngô Tất Tố đã dùng được đắc sách cái

phương pháp khách quan để tỏ ra cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tượng nơi hương ẩm,

là một chỗ mà người ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hư nát", Về phương diện

nghệ thuật, Trần Minh Tước khẳng định những gì đặt ra trong Tắt đèn "không còn là những

điều biện giải khô khan của lý luận, mà nó đã gắn liền vào được cái nghệ thuật uyển chuyển

của tiểu thuyết gia" Từ đó, ông khẳng định, với Tắt đèn "nhà nho ấy đã vượt khỏi cả thế hệ

của mình"

Trên báo Đông Phương số 10, ngày 1/9/1939, Phú Hương cũng nhấn mạnh, trong khi

"sau lũy tre xanh, những sự tàn bạo ghê gớm, những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói nghèo tai hại là những trò cơm bữa các tiểu thuyết gia nào có mấy ai chú ý" thì "vừa rồi ông Ngô Tất Tố đã làm một điều phần đông văn sĩ xứ ta không ai để mắt tới Ông đã làm

trong cuốn Tắt đèn của ông và ông đã thành công vẻ vang hết sức"

Như vậy nước 1945, bàn về Tắt đèn của Ngô Tất Tố người ta mới chỉ chú ý tới khẳng

định đề tài mà chưa chú ý tới vấn đề hoàn cảnh Vấn đề hoàn

Trang 7

anh chỉ được đề cập tới từ những năm hòa bình lập lại Dưới chế độ xã hội mới, tiểu thuyết

Tắt đèn vẫn tiếp tục được đề cao Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã thống nhất

khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của kiệt tác văn xuôi này

Trong lời giới thiệu cuốn Tắt đèn do NXB Văn hóa ấn hành năm 1962, nhà văn Nguyễn Tuân đã khẳng định: " Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn vẫn còn phải sống lâu, thọ

hơn cả một số văn gia đương kim hôm nay"

Đã gần bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày Nguyễn Tuân "tiên tri" và ta thấy lời tiên tri

đó là đúng Tắt đèn của Ngô Tất Tố sẽ còn trường tồn cùng năm tháng Thật khó có thể hình dung rằng nói tới văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 mà không nhắc tới tác phẩm Tắt đèn của Ngô tất Tố (cũng như không nhắc tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo của

Nam Cao )

Kể từ khi ra đời đến nay Tắt đèn không chí hấp dẫn nhiều thế hệ độc giả mà nó còn

được sự chú ý của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học Những giá trị nội dung và nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này đã được các nhà nghiên cứu nhiều thế hệ khai thác trên nhiều phương diện Tiêu biểu là các công trình, bài viết của: Nguyền Tuân (Lời giới thiệu truyện

Tắt đèn NXB Văn hóa - Viện văn học, II., 1962); Nguyên Đức Đàn - Phan Cự-Đệ (Ngô Tất

Tố - NXB Văn hóa, H., 1962 ; NXB Hội nhà văn tái bản 1999 với nhan đề Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố)- Phan Cự Đệ (Ngô Tất Tố - Văn học Việt Nam (1900 - 1945) NXB Giáo dục tái bản lần thứ 1 năm 1997); Phong Lê (Những đóng góp của

Ngô Tất Tố trong Tắt đèn Tạp chí Văn Học số 3.1963 ; Ngô Tất Tố một chân dung lớn một

sự nghiệp lớn Tạp chí văn học số 1.1994), Nguyễn Đăng Mạnh (Ngô Tất Tố Lịch sử văn học Việt Nam tập 5, 1930 - 1945 NXB Giáo dục H., 1973) Nguyễn Hoành Khung (Ngô Tất Tố

Từ điển văn học tập 2 NXB KHXI H., 1964), Trương Chính (Lời giới thiệu tuyển tập Ngô

Tất Tố, tập 1, NXB Văn học H., 1994), Hà Minh Đức (Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn của

Ngô Tất Tố - Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Hà Nội 1999)

Trang 8

Trong những công trình nghiên cứu về Tắt đèn, các tác giả đã khẳng định sự thành

công về cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Cũng đã có những ý kiến đề cập đến vấn đề hoàn cảnh của tác phẩm Trong đó, có khi hoàn cảnh được nhìn nhận ở góc độ xã

hội Chẳng hạn: "Tắt đèn không mở rộng hoàn cảnh môi trường, không nói chuyện nông dân

bị cướp đoạt ruộng đất, bị bóc lột địa tô, bị vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém rồi bỏ làng ra mỏ,

đi đồn điền cao su Tắt đèn tập trung tố cáo cái thứ thuế bất nhân của bọn thực dân đánh vào đầu người hàng năm " (Phan Cự Đệ) [199.303] Hoặc: "Tắt đèn đưa ta thẳng vào một hoàn

cảnh náo động, căng thẳng nhất ở làng Đông Xá trong vụ thuế ( ) thực ra, quanh năm không lúc nào ở nông thôn Việt Nam không diễn ra cuộc xung đột gay gắt giữa bọn quan lại, bọn cường hào địa chủ-với nông dân lao động Nhưng cuộc xung đột đó trở nên tập trưng nhất và bộc lộ một cách tàn bạo nhất trong vụ thuế" (Nguyễn Đăng Mạnh) [199.262] Bên cạnh đó,

cũng đã có ý kiến nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phương diện thẩm mỹ - nghệ thuật Tiêu

biểu nhất là ý kiến của Nguyễn Tuân (mà chúng tôi sẽ dẫn ở phần phân tích cấu trúc nghệ

thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn) Hoặc ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh khi ông đánh giá

tài năng của Ngô Tất Tố trong việc miêu tả "những bức tranh sinh hoạt, những con người trong hoạt động": "Tất cả đều diễn ra trước mắt người đọc chân thật, cụ thể, sinh động, có sức truyền cảm mãnh liệt Ngòi bút Ngô Tất Tố nhiều khi còn đạt tới chỗ truyền được cả "không khí" của đời sống nông thôn vào trong tác phẩm của mình "[199.273]

Phan Cự Đệ khi bàn về vấn đề hoàn cảnh điển hình trong Tắt đèn cũng đã đề cặp tới

một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Ngô Tất Tố đã đặt các nhân ,vật của mình vào một hoàn cảnh rất điển hình, một không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão, người nông dân trong làng cứ như kiến bò trong chảo nóng" [192.402] và "không khí đó tạo nên

một ấn tượng hết sức căng thẳng về một vùng nông thôn trong thời kỳ báo động " [48.T2.365] Tuy nhiên ở đây, tác giả chưa minh chứng bằng những hệ thống tín hiệu nghệ thuật cụ thể

Trang 9

Trên tạp chí Văn học số 3.1990 Đỗ Kim Hồi cũng khẳng định: " Ngô Tất Tố vẫn là nhà văn chưa ai có thể vượt hơn trong việc làm sống lại cái không khí kinh hoàng, loạn lạc của nạn "cướp ngày" hàng năm vẫn ập xuống thôn quê mỗi dịp đổ sưu Chưa ai có thể vượt hơn Ngô Tất Tố trong việc làm lòng người nghẹn uất trước cái luật lệ dã man "

Nhà văn Vũ Tú Nam trên báo Văn nghệ số l, ngày 1/1/1994 cũng nhận xét: " Ngô Tất

Tố đã sử dụng bút pháp " dồn nén", ông tập hợp lại một số cảnh mắt thấy tai nghe về hiện trạng đời sống nông thôn vào trong một khung thời gian và không gian nhất định để làm nổi bật những mặt tương phản trong tâm lý và hành động nhân vật, tạo nên một không khí căng thẳng, ngột ngạt, thôi thúc ở người đọc cái ý thức, ý nguyện phải làm một cái gì"

Khi các nhà nghiên cứu khẳng định hiệu quả "tạo không khí của đời sống", "không

khí kinh hoàng loạn lạc", "không khí căng thẳng ngột ngạt" trong tác phẩm Tắt đèn cũng có nghĩa là họ đã nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phương diện nghệ thuật, đã chú ý tới nghệ thuật xây dựng hoàn cảnh của nhà văn Nhưng những ý kiến về hoàn cảnh Tắt đèn ở cả góc

độ hoàn cảnh xã hội và phương diện hoàn cảnh nghệ thuật chủ yếu vẫn là những nhận xét đơn

lẻ, những cảm nhận chủ quan mà ít có sự minh chứng Hoàn cảnh trong Tắt đèn chưa thật sự

được nhìn nhận ở cấu trúc nghệ thuật Từ đó quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của Ngô Tất Tố chưa được chú ý làm sáng rõ

và kéo dài như "ca" Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn học thế kỷ này" (Phong Lê) [194 54]

Kể từ khi tác phẩm đầu uy của Vũ Trọng Phụng ra mắt công chúng vở kịch Không một tiếng vang (1931), cho đến nay đã tròn 70 năm Trong

Trang 10

khoảng thời gian hai phần ba thế kỷ ấy, đã có nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của ông Theo thống kê của chúng tôi, số lượng những bài nghiên cứu, tiểu luận đã công bố về ông có tới trên hai trăm, chưa kể những luận án tiến sĩ, những luận văn thạc sĩ đã và đang tiến hành Trên cơ sở tư liệu các công trình nghiên cứu về

Vũ Trọng Phụng có được, chúng tôi-nhận thấy lịch sử nghiên cứu vấn đề hoàn cảnh trong tác

phẩm của Giống tố nhà văn như sau:

2.2.1 Đã có những ý kiến bàn về vấn đề hoàn cảnh trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng, khẳng định ý thức của nhà văn về quan niệm tính cách là sản phẩm của hoàn cảnh

Chẳng hạn, ý kiến của Nguyễn Hoành Khung về hoàn cảnh trong Giống tố: "Sự biến chất của

Long và Mịch đã được Vũ Trọng Phụng cắt nghĩa bằng quan niệm riêng.Theo Ông, chính hoàn cảnh cụ thể là cái bả vật chất đã có sự cám dỗ ghê gớm làm biến chất con người, không

ai đủ sức cưỡng lại" [195.447] ; hay ý kiến của Vũ Ngọc Phan về tác phẩm trên: "Quyển tiểu

thuyết Giống tố của Vũ Trọng Phụng làm cho ta thấy ảnh hưởng của hoàn cảnh là dường nào

! vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, hai kẻ vốn tính hiền lành và ngay thẳng như Mịch

và Long rút cuộc đã trở thành một người đàn bà hư hỏng và một thiếu niên hư hỏng" [195.173]; hoặc ý kiến của Dương Nghiễm Mậu cũng về cuốn tiểu thuyết đó: "ông đồ Uẩn chính là cái hạng thuộc về thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh lôi cuốn đến không còn được nhân cách" [195.309]

2.2.2 Cũng đã có những ý kiến đề cập tới những khía cạnh thuộc về phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Chẳng hạn ý kiến bàn về nhịp

diệu trong tác phẩm Giống tố: "Nhịp độ vận động trong Giống tố rất khẩn trương, gấp gấp,

sự việc diễn biến bất ngờ, đầy kịch tích, gợi ấn tượng sâu về cuộc đời điên đảo, thế sự thăng trầm Đó chính là dặc điểm trong cảm quan hiện thực, trở thành ý thức nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng"(Nguyễn Hoành Khung) [196.253] ; "Chưa thể nói nhà văn đã có được cảm quan chính xác về sự vận động biến chứng của hiện thực, nhưng

Trang 11

quả là ông nhạy cảm với cái nhịp điệu hối hả, dữ đội của đời sống Nguyễn Hoành Khung) [190.131] Hoặc ý kiến bàn về vấn đề không khí rong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:

"Đọc Giống tố phải cảm nhận cái không khí chung, cái âm hưởng chung, cái linh hồn chung

của thế giới hình tượng của cuốn tiểu thuyết Ấy là một xã hội quay cuồng, đảo điên đến chóng mặt, biết bao tình huống trớ trêu, biết bao cuộc đời lên voi xuống chó, xuống chó rồi lại lên voi, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông " (Nguyễn Đăng Mạnh) [196.262] hay ý kiến bàn về những xung đột giấu kịch tính (một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh) trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng: "Tiểu thuyết của ông đầy những xung đột căng thẳng, giàu kịch tính" Trương Chính) [190.154] ; "tác phẩm Vũ Trọng Phụng bố cục thường chặt chẽ chứa nhiều ưu điểm của kịch tính" (Văn Tâm)[195.218] ; cũng có ý kiến bàn về vấn đề hệ thống nhân vật - một hệ thống yếu tố tạo hoàn cảnh: "Thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng khá đông và thuộc nhiều giới khác nhau Một khi được nâng lên đến mức điển hình, một số người trong họ là tài liệu quý giúp đỡ đắc lực cho những ai muốn nghiên cứu về xã hội hoặc tìm hiểu tài nghệ ngòi bút Vũ Trọng Phụng Nhưng còn như để hiểu tâm sự người viết, cái phức tạp đa đoan của chính tác giả, thì có những nhân vật chỉ đóng vai phụ hoặc có vẻ không tiêu biểu gì thật ra lại là một thứ chìa khoa khá tốt mà người nghiên cứu không có quyền xao nhãng" (Vương Trí Nhàn) [195.407],

2.2.3 Như vậy, nghiên cứu tác phẩm Giống tố của Vũ Trọng Phụng, vấn đề hoàn

cảnh không phải là vấn đề chưa từng được quan tâm Về vấn đề này, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của Văn Tâm, Trương Chính, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Hoàng Thiếu Sơn, nhưng việc nhìn nhận hoàn cảnh ấy như một hoàn cảnh nghệ thuật chưa được đặt ra và giải quyết một cách hệ thống Mặc dù đã có ít nhiều ý kiến bàn về hoàn cảnh trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng từ cái nhìn cấu trúc nghệ thuật, nhưng cũng vẫn chỉ là những nhận định chung ở một khía cạnh nào đó và cũng chưa có

sự minh chứng cụ thể Vấn đề thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chưa thật sự được đặt ra và giải quyết

Trang 12

2.3 Về tác phẩm Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao

Có thể nói, trong nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao từ trước tới nay, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh

Nhìn lại ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau

đây:

2.3.1 Nhiều ý kiến đã khẳng định sự thành công của Nam Cao trong việc xây dựng hoàn cảnh, coi đây là một nét đặc sắc góp phần xác định vị trí xứng đáng của Nam Cao trong đội ngũ các nhà văn hiện thực, mà bài viết về Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao của Hà Minh Đức là một ví dụ tiêu biểu Và cũng phải nói thêm rằng, trong các công trình nghiên cứu về Nam Cao, nếu có một bài viết nào tập trung vào phân tích lý giải khá sâu sắc vấn đề hoàn cảnh thì đó chính là bài viết này của Hà Minh Đức [63.311]

2.3.2 Có những nhà nghiên cứu đã chỉ ra mốt số đặc điểm của hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao Chẳng hạn: "Đọc truyện Nam Cao không thấy những hoàn cảnh điển hình với những xung đột điển hình kiểu như nông dân và địa chủ, tư bản và dân nghèo" (Phạm Xuân Nguyên) [193.150]; " Trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo của ông đã thấu hiểu những hoàn cảnh thiếu nhân tính làm cho con người bị tha hóa" (Trần Đăng Xuyên) [193.159]; " để những dạng nhân vật đặc biệt của mình xuất hiện, Nam Cao ráo riết chuẩn bị một môi trường đậm đặc tính chất trái chiều" (Nguyễn Quang Trung)[193.211]; "đọc văn Nam Cao ở truyện nào ta cũng có thể gặp những hoàn cảnh, những tình huống trái ngược, những sự tương phản giữa thực tại và ước mơ" (Phan Trọng Thưởng) [193.474 ] Nhưng những nhận định trên chủ yếu vẫn dừng ở những nhận xét đơn lẻ và ít có sự minh chứng cụ thể, bởi những ý kiến bàn về hoàn cảnh trên đây được đề cập tới trong những bài viết không lấy vấn đề hoàn cảnh làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu

Trang 13

2.3.3 Đề cập tới vấn đề hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao, nhiều nhà nghiên cứu

đã chỉ ra được tác động của hoàn cảnh tới nhân cách, sự tha hóa của con người Chẳng hạn: " Nam Cao đã diễn tả với một sức mạnh lạ thường quá trình lưu manh hóa của một số quần chúng cơ bản trong hoàn cảnh bị đè nén áp bức bóc lột của xã hội cũ" (Lê Đình Kỵ)[l93.59];

" Trong tác phẩm Nam Cao, con người sống trong một xã hội dữ dằn cay nghiệt, hoàn cảnh như muốn nghiền nát con người" (Nguyễn Văn Hạnh)[193.131]; "Sự kiện của hiện thực được chú trọng không đủ trên bình diện phản ánh mà còn là, và chủ yếu là, trên lĩnh vực tác động của nó tới nhân cách con người" (Phạm Xuân Nguyên)[193.147]; Hoàn cảnh không chỉ tác động tới nhân cách con người mà nó còn tác động tới tâm lý, tới quá trình tự ý thức của nhân

vật: "Hiện lên trong tiểu thuyết Sống mòn những biến thái của tâm trạng các nhân vật này

sinh trong những hoàn cảnh với những va đập, khắc khoải, những bộc bạch kiểu tư vấn" (Nguyễn Ngọc Thiện) [193.330]

2.3.4 Một số nhà nghiên cứu khẳng định sức ám ảnh, sự truyền cảm mạnh mẽ từ

những hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao Chẳng hạn, bàn về tác phẩm Sống mòn, Phong

Lê nhận xét: "Bối cảnh truyện chỉ là sinh hoạt của mấy thầy giáo dạy tư nhưng sao lại có sức gắn đến thế với cả cuộc đời rộng lớn, cái tiếng thì thầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến thế với nhiều lớp người trong hành trình cuộc đời, giữa bao thăng trầm của lịch sử" [193.111] Đọc truyện ngắn của Nam Cao, nhà văn Nguyên Hồng có cảm giác: " ta thấy tâm trí ta nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy như ánh sáng chỉ chờ bắt cháy được thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bùng lên" [193.82] Và khi phân tích chất nghịch dị trong tác phẩm Nam Cao Vương" Trí Nhàn cũng khẳng định Nam Cao đã "tạo nên một hiệu quả ngột ngạt tức thở gợi ra cảm tưởng một thứ lưới vô hình bao quanh người ta Lưới chỉ mỏng manh nhẹ nhàng nhưng ngày một thít chặt hơn," không ai thoát ra nổi" [193.456]

Trang 14

2.3.5 Không khí trong tác phẩm Nam Cao cũng là vấn đề đã được một số công trình nghiên cứu đề cập tới Đó là không khí "có cái gì kinh dị lạ thường" (Nguyễn Đức Đàn)

[193.67], " rùng rợn đến ngỡ như ma quái" (Quỳnh Nga) [193.443] trong Nửa đêm, "không khí ma sống lẫn với người " (Hà Minh Đức) [193.257] trong Ma đưa và bao trùm lên phần

lớn các tác phẩm là không khí "tù đọng ngột ngạt đến mức không chịu nổi" (Trần Đăng Xuyền) [193.403] Nhận xét về nghệ thuật tạo không khí của Nam Cao, Hà Minh Đức khẳng định Nam Cao đã "nắm bắt được nhiều chi tiết chân thực và sinh động, tạo không khí giỏi" [63.204]

Như vậy, nhìn lại những công trình nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi nhận thấy vấn

đề hoàn cảnh đã từng được quan tâm Nhưng những kiến giải về nó vẫn chủ yếu dừng ở những nhận xét, cảm nhận, ít có những minh chứng cụ thể Nó vẫn chủ yếu được nhìn nhận ở góc độ hoàn cảnh xã hội Cách nhìn ấy là đúng và cần thiết, nhưng có lẽ chưa đủ Bởi vì hoàn cảnh chưa thực sự được nhìn nhận như một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc tác phẩm Nam Cao Bàn về vấn đề này, có lẽ bài viết về "Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao" [63.311 ] của Hà Minh Đức là đáng chú ý hơn cả Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích hoàn cảnh, chỉ ra một số đặc điểm của hoàn cảnh ấy, vị trí vai trò quan trọng

của nó và khẳng định "tài năng tạo dựng hoàn cảnh" là "thành công lớn của Nam Cao và ấn

tượng sâu sắc nhất có thể nhận thấy" ở Nam Cao so với các nhà văn hiện thực khác [63.320]

Khi nói rằng, đọc tác phẩm Nam Cao, người ta cảm nhận rất rõ một không khí ngột ngạt, tù túng, trì trệ, bế tắc, mỏi mòn thậm chí, một không khí ma quái, là người ta đã nhìn nhận hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao ở phương diện nghệ thuật ; đã thừa nhận hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao được xây dựng một cách nghệ thuật Bởi vì hoàn cảnh nghệ thuật là hoàn cảnh tạo được không khí, nó phải toát lên một không khí và tạo nên sức truyền cảm, ám ảnh mạnh mẽ tới người đọc

Tuy nhiên, sự nhìn nhận hoàn cảnh nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao cũng vẫn chỉ dùng ở những ý kiến nhận xét, cảm nhận, chưa hệ thống, các yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh chưa được đề cập tới trong một hệ thống

Trang 15

3 NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ của luận án là đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh được thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, để từ đó làm sáng rõ cơ sở lý thuyết thi pháp hoàn cảnh Trên cơ sở đó tiếp tục nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm văn học hiện thực ở một phương diện mới

- Để có thể thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án phải xác định nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học (tức là cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh) tạo tiền

đề lý luận cho việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn

- Từ quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của ba nhà văn tiêu biểu, đề tài phải chỉ ra được sự phong phú của những quan niệm nghệ thuật ấy và chứng minh những quan niệm ấy không phải là những khái niệm trừu tượng mà nó được thể hiện qua hệ thống những yếu tố nghệ thuật

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực nhưng đề tài chỉ nghiên cứu ba tác giả tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao

- Tác phẩm của các nhà văn trên có một số lượng rất lớn bởi vậy đề tài cũng chỉ tập trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đó

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Căn cứ vào mục tiêu đối tượng đã được xác định, để hoàn thành những nhiệm vụ đã đặt ra, đề tài này sẽ phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 16

4.1 Phương pháp hệ thống: Quan niệm nghệ thuật bộc lộ qua hệ thống các tín hiệu nghệ thuật, qua sự lặp lại, tần số xuất hiện của các chi tiết nghệ thuật Bởi vậy phương pháp

hệ thống là phương pháp không thể không sử dụng để đạt được những mục đích, yêu cầu đã đặt ra trong luận án: nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh văn xuôi hiện thực

4.2 Phương pháp so sánh, lịch sử: Một trong những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài là chỉ ra được sự khác biệt, đa dạng, phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực Không thể thấy được sự khác biệt, đa dạng, phong phú đó nếu không sử dụng phương pháp này Đây là phương pháp được chúng tôi đặc biệt chú ý

4.3 Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này là cần thiết bởi từ những kết quả của nó, các luận điểm, kết luận sẽ có những luận cứ cụ thể, thuyết phục

4.4 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Phương pháp này được sử dụng nhằm minh chứng cho những kết luận lý thuyết, sáng tỏ những vấn đề lý luận

5 NHỮNG KẾT LUẬN MỚI VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

5.1 Những kết luận mới

- Đề tài khẳng định có một quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong trào lưu văn học hiện thực thời kỳ 1930 - 1945 Quan niệm đó bộc lộ qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong một số tác phẩm xuất sắc của các tác giả tiêu biểu Lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn cảnh được đặt ra và thi pháp hoàn cảnh của văn học hiện thực được nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống, có ý thức hơn Đề tài góp thêm một hướng tiếp cận mới về vấn đề hoàn cảnh

- Đồng thời luận án còn chỉ ra sự phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong trào lưu văn học này, khẳng định đóng góp của các nhà văn hiện thực về phương diện xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật - đổi mới một phương diện hình thức trong tác phẩm văn chương Việt Nam

Trang 17

5.2 Cấu trúc của luận án:

Mở đầu

Nội dung: Gồm 4 chương

Chương 1: Xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh và qua niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố

Chương 3: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Giống tố của Vũ Trọng Phụng Chương 4: Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong Sống mòn và một số truyện

ngắn tiêu biểu của Nam Cao

Kết luận

Một số công trình, bài báo liên quan đến đề tài luận án của tác giả đã công bố

Thư mục

Trang 18

1.1.1 Về vấn đề khái niệm hoàn cảnh

Chủ nghĩa hiện thực là một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung cụ thể, xác định trên cơ sở một số nguyên tắc mỹ học: Lấy hiện thực trực tiếp là đối tượng của nghệ thuật, coi trọng các chi tiết chân thực, cụ thể, chính xác trong quá trình miêu tả con người và cuộc sống ; tái hiện khách quan các mối quan hệ của con người với hoàn cảnh, chú trọng mối quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trên cơ sở thừa nhận sự tác động qua lại giữa con người và mồi trường sống, giữa tính cách và hoàn cảnh; phản ánh cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống, đảm bảo tính khuynh hướng

xã hội nhưng không biến nhân vật thành người phát ngôn lộ liễu

Vấn đề chủ nghĩa hiện thực là một trong những vấn đề lớn của lý luận văn học bởi sự phong phú, phức tạp và ý nghĩa của nó Còn có nhiều vấn đề phải bàn cãi xung quanh chủ nghĩa hiện thực Chỉ riêng việc xác định thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực, cho đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau: "Một số người cho rằng, những nguyên tắc phản ánh hiện thực chủ nghĩa hình thành từ cổ đại và trải qua các giai đoạn lịch sử như Cổ đại, Phục hưng, Ánh sáng, thế kỷ XIX một số khác thì cho là từ thời Phục hưng ; một số khác nữa thì cho là từ thế kỷ XVIII khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời Nhiều người thì lại cho rằng, chủ nghĩa hiện thực như

Trang 19

một phương pháp, một khuynh hướng nghệ thuật hình thành vào những năm 30 của thế kỷ XIX, khi trong văn học châu Âu nguyên tắc mô tả chân thực cuộc sống được khẳng định một cách đầy đủ nhất, trong những hình thức phân tích xã hội phát triển nhất" [185.55]

Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở trào lưu văn học hiện thực phương Tây thế kỷ XIX, bởi vì: "Dù các ý kiến còn khác nhau đến đâu thì mọi người đều phải thừa nhận là từ những năm 40 thế kỷ XIX trở di, chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã bước sang một giai đoạn mới phát triển hoàn chỉnh và rực rỡ nhất cả về mặt lý luận lẫn thực

tế sáng tác" [185.55] Và trong thực tế, trào lưu văn học hiện thực thế kỷ XIX đã trở thành nền tảng cho sự phát triển lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực

Tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực, các nhà nghiên cứu thường nhắc đến định nghĩa nổi tiếng của Ăngghen trong bức thư gửi M Háccơnecxơ về đặc trưng của việc phản ánh đời sống theo lối hiện thực chủ nghĩa: "Theo ý tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình" [152.384] Ở đây, Ăngghen đã đặc biệt nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách điển hình

và hoàn cảnh điển hình Đây là mối quan hệ không ai có thể phủ nhận Nhưng cũng cần phải thấy rằng, tư tưởng về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh là tư tưởng chung của nhiều thời đại Giữa thế kỷ XIX, giới phê bình dân chủ cách mạng Nga từ những quan niệm có tính duy vật về bản chất của con người đã đề cập tới tư tưởng về sự phụ thuộc của tính cách vào các hoàn cảnh xã hội - lịch sử khách quan Đó là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn nguyên tắc phản ánh cuộc sống của chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực có nhu cầu giải thích tính cách số phận bằng hoàn cảnh Các nhà văn hiện thực nhận thấy môi trường hoàn cảnh quyết định số phận, tính cách con người Trong truyện ngắn Sao lại thế này ? nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao đã từng khẳng định: "Chỉ có những hoàn cảnh là khác Hoàn cảnh đổi, thế là người đổi tâm tính đổi " Trong chủ nghĩa hiện thực, con người luôn luôn là đại diện của một môi trường lịch sử xã hội nhất định Nó phụ thuộc vào chính môi trường ấy Môi trường ấy là bao trùm rộng lớn chứ không chỉ là một vài cá nhân xoay

Trang 20

quanh nhân vật Có thể nói, nguyên lý mối quan hệ tính cách và hoàn cảnh là một nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa hiện thực Bởi vậy, phải thừa nhận nguyên lý về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh được coi là nền tảng của chủ nghĩa hiện thực lâu nay là đúng

Vấn đề hoàn cảnh đã được đặt ra từ Hêghen (1770-1831) - nhà biện chứng, đồng thời

là nhà triết học duy tâm khách quan thế kỷ XVIII Mặc dù triết học của ông đầy mâu thuẫn, nhưng một đóng góp to lớn của Hêghen vào lý luận mỹ học là đã xây dựng được những phạm trù mỹ học tình huống, xung" đột,- hành động và tính cách, đồng thời cấp cho chúng một cách lý giải thực sự sâu sắc

Thực ra, trước Hêghen, Arixtốt, Létxinh đã dùng khái niệm này để nói về kịch Hêghen nâng chúng lên thành những phạm trù của mỹ học và đưa ra được cách lý giải gắn với bản chất của cái đẹp Phạm trù tình huống (die Situation) của Hêghen, rất gần với phạm trù " hoàn cảnh điển hình" và phạm trù tính cách của ông cũng rất gần với phạm trù " tính cách điển hình" của mỹ học hiện thực Hêghen cũng đã đưa ra khái niệm "tình trạng chung thế giới" và cho rằng "So với từng cá nhân, thì tình trạng chung của thế giới chỉ làm thành miếng đất trên đó các cá nhân tồn tại và tự biểu lộ với những đặc điểm riêng biệt của từng hoàn cảnh" [68.T1-336] Như vậy khái niệm "tình trạng chung thế giới" ở đây có thể hiểu là hoàn cảnh lịch sử khách quan Hoàn cảnh lịch sử khách quan ấy được cụ thể hóa ở cá nhân thành tình huống: "Tình huống làm thành một tiền đề riêng biệt hơn khiến cho mọi cái gì trong tình trạng chung của thế giới vẫn còn nằm ở trong hình thức chưa phát triển thì nay bộc lộc ra ngoài và hoạt động tích cực" [68.T1-338] Hêghen cho rằng: "Nói chung tình huống là một trạng thái có tính chất nông biệt và trở thành được qui định Ở trong thuộc tính này của

nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có được một sự tồn lại bên ngoài bằng

sự biểu hiện nghệ thuật " [68.T1-338] Và Hêghen cũng đã khẳng định tầm quan trọng của tình huống: " Tình huống cấp cho ta một thao trường rộng lớn để tìm hiểu bởi vì từ lâu nhiệm

vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị, tức là những tình huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và

Trang 21

sâu sắc cũng như cái nội dung chân thực của tâm hồn" [68.TI-338] Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Hêghen, tình trạng chung của thế giới (hoàn cảnh lịch sử khách quan) là đối tượng của khoa học, muốn trở thành đối tượng của nghệ thuật nó phải được bộc lộ dưới hình hình thức tình huống (hoàn cảnh điển hình), ở đây ta thấy có sự gần gũi giữa quan niệm của Hêghen và mĩ học hiện thực Nhưng cũng chưa thể sử dụng khái niệm "hoàn cảnh" ấy để khám phá nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học nói chung và trong văn học hiện thực nói riêng

Mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh cũng là một trong những nguyên

lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là một mặt của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Trong Luận cương về Phơ Bách, Mác đã khẳng định: " Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa của tất

cả những mối quan hệ xã hội" [152.148] Triết học Mác cũng đã khẳng định vai trò quyết định của hoàn cảnh Quan niệm đó thể hiện ở nguyên lý: " Ý thức không bao giờ lại có thể là cái gì khác hơn là bản thể có ý thức cả (das bewusste Sein), mà bản thể của con người lại là quá trình sinh hoạt thực tế của họ Và nếu trong toàn bộ hệ tư tưởng, chúng ta thấy con người

và những mối quan hệ của họ lộn ngược đầu xuống dưới, như trong một buồng tối, thì hiện tượng đó là do quá lành sinh "hoạt lịch" sử của họ ma ra, hoàn toàn giống như hình ảnh lộn ngược của các vật trên võng mạc của con mắt là do quá trình sinh hoạt rõ ràng về mặt thể chất mà ra " [152.43-44]

Xuất phát từ những quan niệm triết học ấy, bàn về văn học Mác -Ăngghen cũng rất chú ý tới vấn đề hoàn cảnh Trong " Thư gửi Látxan ngày 18/5/1895", Ăngghen có viết: " Theo quan niệm về kịch của tôi, là quan điểm đòi hỏi người ta không được vì chạy theo những cái có tính chất lý tưởng mà quên mất hiện thực, không vì chạy theo Sinle mà quên

mất Sechxpia, thì việc sử dụng thành phần bình dân hết sức đa dạng trong xã hội lúc bấy giờ

có lẽ sẽ đem lại những chất liệu hoàn toàn mới về cho vở kịch sinh động tạo ra được một cái nền vô cùng có giá trị (chúng tôi nhấn mạnh - PMH) cho phong

Trang 22

trào dân tộc của giai cấp quí tộc đang diễn ra trên sâu khấu, và có lẽ sẽ lần đầu tiên làm cho người ta nhìn thấy rõ bộ mặt thật của chính phong trào này" [152.376] Ở đây, có thể nói Ăngghen cũng đã đề cập tới một phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh đó là hệ thống nhân vật trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh Cũng trong bức thư này, bàn về vở kịch Xíchkinghen, Ăngghen nhận xét: " Cách đặt vấn đề được nêu lên đúng đắn: Các nhân vật chính thì thực sự là dại biểu cho những giai cấp và những trào lưu nhất định, do dó tiêu biểu cho các tư tưởng nhất định của thời đại họ, và động cơ hành động của họ không phải là những ham thích vụn vặt cá nhân, mà là cái trào lưu lịch sử lôi cuốn họ" [152.373J Vấn đề hoàn cảnh cũng lại được Ăngghen đề cập đến trong " Thư gửi M Háccơnecxơ đầu tháng

4.1888" Trong bức thư này, bàn về tác phẩm Cô gái thành thị, Ăngghen đã đưa ra một

nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện thực là "Sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình" Đồng thời ông nhận xét: " Các tính cách của cô khá điển hình trong những giới hạn, trong đó những tính cách ấy hành động, nhưng về các hoàn cảnh bao quanh họ và bắt họ hành động, thì người ta có thể nói là không được điển hình đầy đủ" Để

làm rõ hơn nhận xét đó ông viết tiếp: "Trong Cô gái thành thị, giai cấp công nhân xuất hiện

với tính cách một quần chúng thụ động không thể tự giúp mình được, thậm chí không có một

sự cố gắng và một mưu toan nào về mặt đó Mọi mưu toan kéo nó ra khỏi cái cảnh nghèo khổ làm người ta đần độn đều xuất phát từ bên ngoài, từ bên trên Nhưng nếu như điều này là đúng đối với năm 1800 hay 1810 tức là vào thời của Xanhximông và của Rôbe Ôoen, thì vào năm 1897 vấn đề không phải như vậy nữa đối với một người gần 50 năm nay đã vinh dự tham dự vào phần lớn các trận chiến dấu của giai cấp vô sản" [152.384]

Qua những ý kiến trên, có thể thấy rằng, quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh, nhưng Ăngghen chú ý tới tính chân thực của hoàn cảnh nhiều hơn là tính nghệ thuật của hoàn cảnh

Vì vậy, những ý kiến của Ăngghen về chủ nghĩa hiện thực khiến người ta hướng tới phương diện xã hội nhiều hơn là phương diện nghệ thuật khi nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm văn học

Trang 23

Các nhà lý luận, nhà nghiên cứu, nhà văn trong và ngoài nước cũng đã có nhiều ý kiến bàn về vấn đề hoàn cảnh, nhất là khi nói tới những vấn đề xung quanh chủ nghĩa hiện thực

Cùng với việc khẳng định: "Bất cứ tính cách nào cũng là một đại diện trong chừng mực này hay chừng mực khác của một hoàn cảnh nhất định", L I Timôfêep đã thể hiện quan niệm về hoàn cảnh: "Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ môi trường xã hội xung quanh con người đó Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là những mối quan hệ nhất định giữa người

và người, thể hiện trong những biến cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác điển hình đối với nó, tức là những biến cố xung đột trong đó bộc lộ rõ thái độ của con người tiểu biểu đối với hoàn cảnh ấy" [235.297] Khái niệm hoàn cảnh ở đây đã được nhà lý luận hiểu

là "toàn bộ môi trường xã hội xung quanh con người đó" Và theo ông đó là "hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng" Nhưng nếu hiểu hoàn cảnh theo nghĩa rộng như vậy vẫn chưa đủ Hoàn cảnh không chỉ là " toàn bộ môi trường xã hội" mà còn là toàn bộ môi trường tự nhiên Tất nhiên, cốt lõi của hoàn cảnh vẫn là "những mối quan hệ nhất định giữa người và người"

Trong cách định nghĩa của L I Timôpêep, ta vẫn chưa thấy hoàn cảnh được nhìn nhận ở phương diện thẩm mỹ - nghệ thuật

Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N Pospelov đã đặt ra vấn đề phải xác định khái niệm hoàn cảnh khi nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực: " Trước khi đi đến một công thức khoa học về chủ nghĩa hiện thực tư duy lý luận cần phải đặt ra và giải quyết vấn đề thế nào là "những hoàn cảnh" mà chúng có ảnh hưởng đến các tính cách được miêu tả và vì sao

sự phát triển các tính cách phụ thuộc vào các hoàn cảnh là đặc điểm tư bản của chủ nghĩa hiện thực" [201 - 247] và theo G.N Pospelov "Ngay tư tưởng lý luận văn học dân chủ đã

khám phá bản chất xã hội của các hoàn cảnh tạo nên tính cách và đó là chìa khóa có tính

chất phương pháp luận quan trọng để hiểu văn học hiện thực Các hoàn cảnh đã được hiểu

như các đặc điểm bên ngoài của môi trường, hoàn cảnh tương tự mà như những quan hệ xã hội và cuộc đấu tranh xã-hội

Trang 24

qui định sự vận động lịch sử của xã hội và do đấy quy định cả từng cá nhân riêng lẻ" [201.248].Về những ý kiến khẳng định mối quan hệ giữa các tính cách nghệ thuật và hoàn cảnh xã hội, G N Pospeelov nhận xét: "nếu như các nhà phê bình đã nhận xét rằng, nhà văn nhận thức được mối quan hệ của các nhân vật nghệ thuật do mình tạo ra với những hoàn cảnh của đất nước và thời đại sâu sắc hơn so với những người đi trước và đã khám phá sâu sắc hơn những tác động qua lại giữa chúng thì trong đó họ đã thấy sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực, sự hoàn thiện của nguyên tắc phản ánh đời sống hiện thực chủ nghĩa" [201.248] Đặt ra vấn đề phải xác định khái niệm hoàn cảnh và cũng đã bàn về vấn dề hoàn cảnh trong văn học,

G N Pospelov chủ yếu vẫn nhấn mạnh bản chất xã hội của hoàn cảnh

M B Khraplrenko khi nghiên cứu Các hình thức khái quát hóa hiện thực chủ nghĩa

đã nhấn mạnh: Một trong những thành tựu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán là sự phản ánh những mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với môi trường xã hội, sự tái hiện tác động của những điều kiện, hoàn cảnh sống đối với việc hình thành tính cách con người Những mối liên hệ của con người với thế giới xung quanh cũng là đối tượng chú ý đặc biệt của văn học hiện thực trong giai đoạn phát triển trước của nó - trong thời kỳ Phục Hưng, và sau đó trong thời đại Khai sáng Tuy nhiên, trong chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã nay sinh những đặc điểm căn bản mới mẻ về mặt này" [110.61] Giải thích nguyên lý về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, M.B Khraptrenko viết:" Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát triển những tính cách con người, các mối liên

hệ của những tính cách đó đối với môi trường xã hội, những khám phá đó sở dĩ có được là do trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động của hoàn cảnh sống đối với thế giới nội tâm con người và cũng là do tư duy sáng tạo của các nghệ sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu các khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của con người với môi trường xã hội, của cá nhân với xã hội" [110.88] Nhận xét một số tác phẩm tiêu biểu của Bandắc về phương diện hoàn cảnh, M B Khraptrenko cho rằng " việc miêu tả cảnh sinh hoạt, nhà cửa,

Trang 25

địa điểm, xảy ra hành động cũng chiếm vị trí quan trọng trong Ơgiêni Grăngđê, Nông dân, Đi tìm cái tuyệt đối, Bêalơrix Hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không chỉ

là sự dẫn chuyện, mà còn như một nhân vật văn học độc đáo, bình đẳng về nhiều mặt với các nhân vật chính của tác phẩm" [110.91] Khi cho rằng hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm

Bandắc "như một nhân vật văn học độc đáo", có nghĩa là M.B Khraplrenko đã coi hoàn cảnh như một hình tượng nghệ thuật, nó không chỉ còn được coi là cái nền, cái bối cảnh cho nhân

vật hoạt động Từ quan niệm " hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không chỉ là sự dẫn chuyện", M B Khraptrenko nhận thấy "Khi xác định hoàn cảnh sinh hoạt vật chất của các nhân vật, ảnh hưởng của hoàn cảnh đó đối với con người, Ban dắc không tách rời cái môi trường theo nghĩa hẹp của từ này, với cái môi trường được hiểu một cách rộng rãi như là một tập hợp mâu thuẫn của những nguyên tắc thống trị đời sống Cái này đan quyện với cái kia" [110.92] Ở đây, hoàn cảnh đã được nhìn nhận ở phương diện cấu trúc nghệ thuật của nó

Ở Việt Nam, các nhà lý luận khi bàn về chủ nghĩa hiện thực cũng đã nói tới vấn đề hoàn cảnh Nhưng các tác giả chủ yếu chỉ nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa tính cách điển hình

và hoàn cảnh điển hình Và cũng có tác giả đưa ra nội dung khái niệm hoàn cảnh điển hình Còn nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh thì chưa được đề cập tới

Trong công trình nghiên cứu về Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1974) Phan Cự Đệ cũng đã bàn về vấn đề hoàn cảnh điển hình khi nói tới "Vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết hiện thực phê phán" Tác giả

đã nhấn mạnh tới sự phân biệt giữa hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Hoàn

cảnh điển hình trong tiểu thuyết không phải là sự sao chép một cách tầm thường hoàn cảnh trong cuộc sống Hoàn cảnh điển hình phản ánh bối cảnh lịch sử nhưng khái niệm hoàn cành điển hình không đồng nhất với khái niệm hoàn cảnh lịch sử Hoàn cảnh điển hình là một phạm trù thẩm mỹ (chúng tôi nhấn mạnh - PMH)

Trang 26

Hoàn cảnh điển hình khái quát và nêu lên ý nghĩa bản chất của cuộc đấu tranh xã hội bằng hình thức thẩm mỹ cá biệt hóa Hoàn cảnh điển hình do nhà văn Xây dựng trên cơ sở tưởng tượng hư cấu và nhờ vậy họ làm cho sự xung đột giữa các mâu thuẫn xã hội cơ bản trở nên gay gắt hơn, sự phát triển của hành động trở nên dồn dập căng thẳng hơn" [40.305] Ở đây có

thể nói Phan Cự Đệ đã chú ý tới hoàn cảnh với tư cách là một hình tượng nghệ thuật chứ không chỉ là hoàn cành xã hội Nhà nghiên cứu đã khẳng định giá trị thẩm mỹ của hoàn

cảnh và hoàn cảnh là kết quả sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Xuất phát từ quan niệm hoàn cảnh là một phạm trù thẩm mĩ, Phan Cự Đệ cũng đã đề cập tới một yếu tố cốt lõi trong cấn trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Hoàn cảnh điển hình chỉ có tính cách hiện thực và sinh

động nếu nó được biểu hiện thông qua các tính cách, được coi là sự tác động lẫn nhau giữa các "tính cách [84 T2 368]

Trong công trình nghiên cứu "Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa " (Nxb Khoa học xã hội, ấn hành năm 1980), khi bàn về "Nhân vật trung tâm của văn xuôi: con người mới", Phong Lê đã đề cập tới vấn đề "con người và hoàn cảnh " và nhấn mạnh: "phải đến chủ nghĩa hiện thực và đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực xã hôi chủ nghĩa, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác, hoàn cảnh mới được quan niệm một cách đúng đắn" [1.29.155] Nhưng nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, sự cách tân của hoàn cảnh trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa so với văn học hiện thực mà chưa bàn tới cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học Cũng phải

nói thêm rằng, ở đây Phong Lê đã có những nhận xét khái quát rất đúng, chẳng hạn: "Bất cứ

sự miêu tả nghệ thuật nào về cuộc sống con người cũng đều phải gắn bó con người với hoàn cảnh Nhưng theo sự phát triển của lịch sử, và trong đấu tranh giữa các trường phái văn học, quan niệm của nhà văn về hoàn cảnh có khác nhau" [ 129 155]

Trang 27

Trong cuốn Lý luận văn học của bộ môn lý luận văn học, khoa Ngữ văn, trường Đại học tổng hợp Hà Nội (xuất bản lần 1 năm 1993, tái bản lần thứ 4 năm 1997) các tác giả đã chỉ

ra một trong bốn nguyên tắc sáng tác của phương pháp hiện thực phê phán là: "Chú trọng mối quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình" [58.280] Nhưng, như

lời nói đầu của Hà Minh Đức" các tác giả có ý thức trình bày các vấn đề lý luận một cách tập trung ngắn gọn, không mở rộng và quá đi sâu vào các khía cạnh phức tạp" nên nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh cũng chưa được xác định Tuy nhiên, tác giả cũng đã lưu ý phân biệt hoàn cảnh ngoài đời và hoàn cảnh trong tác phẩm: "Trong đời sống thực tế, khái niệm

"hoàn cảnh" bao gồm: địa điểm hoạt động cụ thể của con người ; những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của gia đình, địa phương, xã hội, thời đại ; những mối quan hệ cụ thể của

cá nhân với mọi người, với cuộc sống xung quanh Tuy nhiên, hoàn cảnh trong tác phẩm văn học không phải là sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó cũng chịu tác động của qui luật sáng tạo văn học (chúng tôi nhấn mạnh - PMH), nghĩa là nó cũng

được nhà văn tiến hành khái quát hóa và cá biệt hóa khi đưa vào tác phẩm"[58.131] Về tính khái quát và tính cá biệt của hoàn cảnh, tác giả giải thích: "Tính khái quát là ý nghĩa tiêu biểu của hoàn cảnh trong tác phẩm cho nhiều hoàn cảnh khác cùng một xã hội, cùng một thời đại với nó ( ) cùng với tính khái quát, hoàn cảnh trong tác phẩm phải có tính cá biệt Đó chính là những đặc điểm riêng biệt độc đáo những chi tiết cụ thể, sinh động về địa điểm hoạt động và

mối quan hệ của con người sống liên địa điểm ấy" [58.131-132] Ở đấy, tác giả cũng đã đề cập tới phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh Mặc dù vậy, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh vẫn chưa được xác định

Trong giáo trình Lý luận văn học (tập 3) do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1988, bàn về chủ nghĩa hiện thực, tác giả có viết:" Với nguyên tắc lịch sử - cụ thể, với quan niệm

"con người xã hội" ,chủ nghĩa hiện thực phê

Trang 28

phán xây dựng được những hoàn cảnh điển hình Đó là những hoàn cảnh của nhân vật được tái hiện vào trong tác phẩm, phản ánh được bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong

những tình thế xã hội với một quan hệ giai cấp nhất định" [149.98-99] Khi dùng chữ "tái hiện" nghĩa là tác giả đã không đồng nhất hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh trong tác phẩm, đã chú ý tới phương diện nghệ thuật của hoàn cảnh Nêu lên vấn đề hoàn cảnh điển hình, tác giả cũng đã có những ý kiến khá thoả đáng về phương diện nghệ thuật của khái niệm này: "Tất nhiên cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu khái quát của hoàn cảnh điển hình phải thông qua tính chất cụ thể, riêng biệt của nó Cái hiện lên trước mắt người đọc chính là những hoàn cảnh cụ thể riêng biệt này Có điều, qua những nét cụ thể riêng biệt đó, người đọc cảm thấy được những vấn đề xã hội rộng lớn Thảng hoặc, trong tác phẩm, nhà văn có trực tiếp giới thiệu những vấn đề xã hội bao trùm, nhưng đó chỉ là đường viền, là bối cảnh có tác dụng khơi gợi, chứ không phải là thành phần chủ yếu của hoàn cảnh điển hình có mối quan hệ biện

chứng hữu cơ với tính cách điển hình Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện, những quan hệ do chính những tính cách tạo nên ( chúng tôi nhấn mạnh - PMH)" [149.98-

99] Chỉ ra tính chung và tính riềng, "ý nghĩa tiêu biểu khái quái" và "tính chất cụ thể riêng biệt" của hoàn cảnh điển hình, tác giả đã nhìn nhận hoàn cảnh điển hình như một phạm trù nghệ thuật Và khi khẳng định "Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện, những quan hệ do chính những tính cách tạo nên", tác giả đã đề cập tới một yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh (mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần sau: 1.2), đó là hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh

Hoàng ngọc Hiến, khi bàn về "Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện Chí Phèo" cũng đã đề cập tới khái niệm hoàn cảnh điển hình: "Nói đến hoàn cảnh điển hình, cần

phân biệt hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh lớn Hoàn cảnh nhỏ là hoàn cảnh sống trực tiếp của nhân vật, những quan hệ gia đình,

Trang 29

bạn bè, xóm giềng Hoàn cảnh lớn là tình hình và xu thế chung của cả xã hội" Từ đó, phân

tích tác phẩm Chí Phèo, nhà nghiên cứu nhận thấy "trong Chí Phèo qua cuộc sống của làng

Vũ Đại, tác giả đã làm nổi bật được một số nét cơ bản trong hoàn cảnh lớn của nông thôn Việt Nam thời bấy giờ Bọn thống trị cũng như những người lao động đều bị tha hóa, "những chất độc ở ngay trong sự sống" thấm vào máu từng người, vùi dập những gì tốt đẹp và kích thích những gì nhỏ nhen, xấu xa trong con người Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lớn của truyện

Chí Phèo thiếu hẳn âm vang của bão táp cách mạng, tác giả không thấy được khả năng đổi

đời và vươn lên của người nông dân" [77-196] Nhận định trên của Hoàng Ngọc Hiến về tác

phẩm Chí Phèo gợi nhớ tới nhận định của Ăngghen về tác phẩm Cô gái thành thị của

Háccơnétxơ: "Các tính cách của cô khá điển hình trong những giới hạn, trong đó những tính cách ấy hành động, nhưng về các hoàn cảnh bao quanh họ và bắt họ hành động, thì người ta

có thể nói là không được điển hình đầy đủ" [152-384] Thực ra, khi phân hiệt hoàn cảnh lớn

và hoàn cảnh nhỏ, Hoàng Ngọc Hiến đã tiếp thu tư tưởng của các nhà lý luận văn học Nga

"Nhưng sự phân biệt ấy vẫn chưa chỉ ra bản chất nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học

Nhận định của Hoàng Ngọc Hiến là hoàn toàn chính xác về nội dung tư tưởng của tác phẩm

Chí Phèo, nhưng người ta vẫn có thể tìm thấy ở một số nguồn tài liệu khác viết trong thời kỳ

này " một số nét cơ bản" đó nghĩa là nếu nói như vậy, tác giả vẫn chưa thực sự nhìn nhận hoàn cảnh ở phương diện thẩm mỹ Vấn đề đặt ra là Nam Cao có đóng góp gì về phương diện nghệ thuật khi tái hiện hoàn cảnh ấy

Điểm lại một số ý kiến về vấn đề hoàn cảnh trong văn học của các nhà lý luận trong

và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy, lâu nay vấn đề hoàn cảnh nghệ thuật ít nhiều cũng đã được bàn đến những chủ yếu dừng ở những nhận định đơn lẻ, không hệ thống Vấn đề cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh thực chất vẫn chưa được đặt ra và giải quyết

Trang 30

1.1.2 Sự cần thiết của việc xác định nội dung nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh trong văn học

Trước hết cần phải thấy rằng, nhìn nhận vấn đề hoàn cảnh ở phương diện xã hội như lâu nay là cách nhìn đúng Bởi vì trong thực tiễn nghiên cứu văn học, tiếp nhận văn học ở góc

độ xã hội học vẫn là một phương hướng tiếp cận có giá trị khoa học Từ cách tiếp cận ấy, các nhà nghiên cứu đã có được những thành tựu trong quá trình nghiên cứu, khám phá các tác phẩm văn học Có thể nói, việc vận dụng nguyên lý mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh

để nghiên cứu tác phẩm văn học hiện thực là rất đúng đắn Nhưng muốn hiểu tác phẩm văn

học với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật, ta cần phải đi sâu thêm một bước nữa Đó là tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của tính cách, cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh và ảnh hưởng của

nó tới tính cách Có một hiện lượng rất dễ nhận thấy: trong các tác phẩm cùng viết về một thời kỳ lịch sử, trong một hoàn cảnh xã hội như nhau, nhưng hình ảnh về hoàn cảnh xã hội ấy lại khác nhau, quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của các nhà văn lại không giống nhau Bởi

vì hoàn cảnh trong văn học được cấu tạo như một phương diện của thế giới nghệ thuật có những yêu cầu cấu trúc nhất định, chứ không không phải là sự sao chép đơn giản hoàn cảnh

xã hội bên ngoài

Tìm hiểu hoàn cảnh với cấu trúc nghệ thuật của nó là dựa trên một cơ sở lý thuyết để khám phá giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học ở phương diện hoàn cảnh, từ đó chúng ta sẽ thấy được quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn

1.2 Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh

1.2.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật

Trong bài Vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con người" trong nghiên cứu văn học Xô Viết (Tạp chí văn học số 1, 1991), in lại trong cuốn Lý luận phê bình văn học [226], Trần

Đình Sử cho rằng:" Có thể xem quan niệm nghệ thuật là khái niệm lý luận quan trọng bậc nhất trong mấy thập niên

Trang 31

qua, có ý trả về cho văn học bản chất nhân học"[226.93] Mặc dù vậy, theo ông "Cho đến nay

khái niệm này vẫn chưa có cách hiểu thống nhất" và cho biết: "viện sĩ Khraplrenko trong một

bài báo về phân tích hệ thống (1976) nhận xét rằng: "Khái niệm quan niệm nghệ thuật là một

khái niệm hợp qui luật về thực chất, song lại lắm lúc mang một tính cách hết sức mơ hồ Đường nét của các mối quan hệ, tương quan của quan niệm nghệ thuật với cấu trúc của tác phẩm riêng biệt với các yếu tố cấu thành, với các tác phẩm khác của nhà văn chưa vạch đủ rõ"" [226.97] Tuy nhiên, Trần Đình Sử cũng đưa ra cách hiểu của mình về ý nghĩa cách tân

của khái niệm quan niệm nghệ thuật, mà trước hết là khái niệm quan niệm: "quan niệm

không phải là khái niệm về đối tượng, về hiện thực mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với

đối tượng và hiện thực ( ) "quan niệm" xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái

niệm về hệ qui chiếu, thể hiện tầm lý giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình lượng nghệ thuật ." [226.98] Về quan niệm nghệ thuật, tác giả viết: "Trong nghệ thuật, thế giới được quan niệm hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một thế giới, thoả mãn nhu cầu tồn tại của nó Nghệ thuật nâng sự cảm thụ thế giới lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật Với ý nghĩa này quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các chính thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện lượng nghệ thuật như những chỉnh thể" [226.99-100] Có thể nói quan niệm nghệ thuật là giới hạn của tư duy nghệ thuật, bởi vậy nó

là "cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng tác nghệ thuật cũng như sự tiến bộ nghệ thuật" |226-100| Vậy quan niệm nghệ thuật sẽ được nghiên cứu từ những cơ sở nào? Nó được nghiên cứu khám phá qua hệ thống thí pháp Nói cách khác, hệ thống thi pháp

là biểu hiện của quan niệm nghệ thuật

Trang 32

Cần phải thấy rằng, quan niệm nghệ thuật khác với quan niệm triết học, xã hội học, thế giới quan Đây là một phạm trù nghệ thuật học, có quan hệ gắn bó với những quan niệm trên " nhưng tự bản thân nó đã là một "ý thức hệ" đặc biệt gắn liền với nhiêm vụ miêu tả nghệ thuật Đó là ý thức hệ nhân bản mà mục đích là khám phá ngày càng sâu sắc con người như

nó tự cảm thấy trong tự nhiên, xã hội và lịch sử với tất cả sự phong phú tinh tế" 104]

[226.103-1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn

Hoàn cảnh trong văn học là hoàn cảnh nghệ thuật Nó có cấu trúc, có ý nghĩa riêng và chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả Hoàn cảnh trong văn học không chỉ là

sự phản ánh hoàn cảnh ngoài đời mà còn là quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật về hoàn cảnh

ấy Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh là nguyên tắc cắt nghĩa lý giải gắn liền với sự cảm nhận hoàn cảnh của nhà văn Quan niệm ấy sẽ chi phối tới việc sử dụng các hệ thống phương tiện nghệ thuật trong tác phẩm Nó thể hiện trong việc xác lập cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong tác phẩm của nhà văn Quan niệm nghệ thuật cũng; là một trong những yếu tố phản ánh khả, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của tác giả Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh ở mỗi nhà văn có sự khác nhau, từ đó họ có khả năng tạo nên những thế giới nghệ thuật riêng

Hoàn cảnh trong tác phẩm văn học được đan dệt nên bơi những mối quan hệ giữa các nhân vật, nhưng hoàn cảnh không đơn thuần chỉ là những mối quan hệ Nó là toàn bộ thế giới xung quanh con người, từ những gì gần gũi bình thường cụ thể (đồ vật, vật dụng) đến những

gì xa xôi trừu tượng (thời gian, không gian ); từ môi trường xã hội đến môi trường thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, màu sắc, âm thanh Tất cả những yếu tố đó đều có khả năng tác động vào tâm lý, sinh lý, ý nghĩ, tình cảm, tư tưởng, hành động của con người, tác động tới

sự hình thành tính cách và ảnh hưởng tới số phận con người Bởi vậy, chúng đều là những

yếu tố thuộc về hoàn cảnh Chẳng hạn, hoàn cảnh trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố

không chỉ là những mối quan hệ đối kháng giữa chị Dậu với lý trưởng, Nghị Quế, tri phủ Tư

Ân

Trang 33

không chỉ là mối quan hệ giữa chị Dậu với anh Dậu, cái Tý, thằng Dần, mà nó còn được tạo dệt nên bởi những hệ thống tín hiệu nghệ thuật khác, thế giới đồ đạc (nghèo nan, tàn tạ, cũ nát của gia đình chị Dậu và giàu có, lừng lững oai phong của gia đình Nghị Quế); thiên nhiên thời tiết (ánh nắng tháng năm gay gắt, không ngừng thiêu đốt); thế giới âm thanh (tiếng trống,

mõ, tù và, hiệu ốc, hiệu sừng, tiếng chửi bới, quát, thét, la hét củ bọn cường hào chức dịch, tiếng chó sủa ừng đàn khắp ngõ ngách gần xa) Tất cả những hệ thống tín hiệu nghệ thuật ấy đều góp phần đan dệt nên hoàn cảnh nghệ thuật vật và tác động tới hình tượng nhân vật chính - nhân vật chị Dậu Nó làm bật tình cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của chị Dậu trước sự truy bức, dồn đuổi của bọn đầu trâu mặt ngựa Và cũng trong hoàn cảnh ngột ngạt, căng thẳng đó, nhiều phẩm chất tốt đẹp của chị Dậu được bộc lộ Hình tượng nhân vật chị Dậu không tách rời ngoại cảnh, trái lại nó luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh, môi trường xung quanh Những yếu tố ngoại cảnh cũng được Ngô Tất Tố chú ý khắc họa, bởi vì trong hình thức tự sự: "Môi tường, hoàn cảnh là một đối tượng được miêu tả cụ thể, chi tiết hơn bất cứ loại văn học nào" [22] Trong quá trình sáng tạo, xây dựng các hình tượng nhân vật, nhà văn không thể không hình dung ra hoàn cảnh tạo nên nhân vạt và môi trường hoạt động của nhân vật đó với những mối quan hệ cùng những yếu tố ngoại cảnh khác Ở đây, có vai trò của vốn sống, kinh nghiệm sống và đặc biệt là của cá tính sáng tạo Cùng đứng trước một hoàn cảnh

xã hội, nhưng mỗi nhà văn lại có những cảm nhật, khám phá riêng, nghe được những tiếng nói riêng từ âm vang cuộc sống; thấy những màu sắc, vấn đề riêng nổi lên từ hoàn cảnh hiện thực, từ đó lựa chọn những phương diện, góc độ riêng để khám phá và thể hiện Không phải

vô cớ mà cùng đứng trước hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945, các nhà văn hiện thực lạ phản ánh những mảng đời sống khác nhau, tái tạo những hoàn cảnh xã hội không giống nhau chỉ cần điểm lại một vài gương mặt tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực thời

kỳ này là cũng thấy rất rõ điều đó

Trang 34

Ngô Tất Tố là một nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về những phong, tục tập quán ở nông thôn Việt Nam, bởi vậy: "Dường như chẳng ai có thể vẽ cho chúng ta một bức tranh sinh động về phong tục tập quán bằng tác giả này" [199-154] "Bức tranh sinh động" mà G.Buđaren nói tới ở đây là xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Có được điều đó bởi vì Ngô Tất Tố đã gắn bó với làng quê từ nhỏ, lớn lên ông đã từng

đi dạy chữ nho, chữ quốc ngữ ở Đông Trù, Gia Thượng Sau này, tuy làm báo, viết văn ở Hà Nội ông vẫn thường xuyên về thăm làng (Lộc Hà, Phủ Từ Sơn, tính Bắc Ninh) Tác phẩm

Tắt đèn được viết ngay trong cái không gian làng quê này và nhiều nguyên mẫu nhân vật

của tác phẩm được lấy từ chính những con người trong cái làng quê bé nhỏ ấy

Khác với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng lại là một nhà văn ít có điều kiện gần gũi, gắn

bó với cuộc sống của những người dân lao động, đặc biệt là những người nông dân Ông chủ yếu sống ở Hà Nội và lại ở đúng nơi trung tâm của những tệ nạn xã hội: tiệm ăn, tiệm hút, nhà thổ, nhà săm Không gian thường nhật của ông là không gian quanh mấy phố Hàng Bạc, Hàng Buồm, Mã Mây, Sầm Công Bởi vậy hàng ngày ông phải tai nghe, mắt thấy biết bao chuyện xấu xa, bẩn thỉu của cái xã hội tư sản thành thị và hiện lên trong tác phẩm của nhà văn chủ yếu là những mảng đời đen tối đó Các nhân vật trong tác phẩm của ông cũng được

lấy từ những nguyên mẫu đang tồn tại ngoài đời Đọc Số đỏ, nhà văn Nguyên Hồng nhận xét:

"đối chiếu với cuộc sống thành thị lúc bấy giờ, tôi tìm thấy rất nhiều nhân vậy ấy trong thực tế: những Xuân Tóc Đỏ, những bà Phó Đoan, những thầy Min Đơ, Min Toa nhan nhản trên

hè phố trong tiệm nhảy và trong những chỗ sâu kín, tối tắm nhất của xã hội thuộc địa phong kiến" [195.83]

Nếu như Ngô Tất Tố có vốn hiểu biết sâu, rộng về nông thôn Việt Nam và Vũ Trọng Phụng rất "thuộc" cái xã hội tư sản thành thị "chó đểu" đương thời, thì Nam Cao, do hoàn cảnh sống riêng của mình, lại có những hiểu biết, vốn sống dồi dào về cả xã hội nông thôn và

xã hội thành thị Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Tất nhiên, ở phạm vi xã hội thành thị, Nam Cao, do môi trường hoạt động, nghề nghiệp của mình, chủ yếu chỉ thông thạo mảng

Trang 35

đời sống của những người trí thức nghèo Bởi vậy, trong tác phẩm Nam Cao ta lại thấy hiện lên hai mảng hiện thực xã hội được phản ánh khá sâu sắc: mảng đời sống của những người nông dân và mảng đời sống của những người trí thức nghèo trong xã hội Cả hai mảng đời sống ấy đều được tái tạo qua những hoàn cảnh nghệ thuật với những tính cách nghệ thuật

Quá trình sáng tạo hoàn cảnh không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm hiểu biết của nhà văn mà còn phụ thuộc vào cá tính sáng tạo của từng tác giả, tức là phụ thuộc vào cái nhìn nghệ thuật độc đáo, vào cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, thể hiện ở những nguyên tắc biện pháp nghệ thuật nhằm biểu hiện những hoàn cảnh nghệ thuật

Rõ ràng là cùng trước một hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945, nhưng Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao lại có những cảm nhận, cách nhìn khác nhau về hoàn cảnh, từ đó xây dựng những cấu trúc nghệ thuật hoàn cảnh với những

hệ thống tín hiệu nghệ thuật không giống nhau, những kiểu loại cơ chế, mâu thuẫn xung đột, nhân vật không giống nhau Ngô Tất Tố cảm nhạn ở mảng đời sống hiện thực ấy một cơ chế

bạo lực, trấn áp, dồn đuổi (Tắt đèn); Nguyễn Công Hoan cảm nhận ở đó một cơ chế xui nguyên giục bị (Bước đường cùng) ; Nam Cao lại thấy ở đó cơ chế lạnh lùng, tàn nhẫn (Sống mòn) Xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật, Ngô Tất Tố chú ý tới những yếu tố bên ngoài nhân-

vật, Nam Cao lại thường chú ý tới yếu tố tinh thần bên trong; Ngô Tất Tố nhấn mạnh yếu tố

xã hội của hoàn cảnh,Nam Cao cũng không coi nhẹ yếu tố đó Nhưng nhà văn hiện thực xuất sắc này còn chú ý tới yếu tố tâm lý, sinh lý, bản năng Tái tạo hệ thống nhân vật đan dệt hoàn cảnh, tác phẩm của Ngô Tất Tố có những nhân vật có tên, không tên, nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp tạo không khí cho hoàn cảnh Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng còn có loại ''nhân vật đám đông", "nhân vật dư luận " Vũ Trọng Phụng cảm nhận cái-nhịp độ hối hả, dồn dập quay cuồng, đảo điên với những bất ngờ liên tiếp của một mảng đời sống xã hội thành thị tư sản, Nam Cao lại cảm nhận cái nhịp điệu trì trệ, mỏi mòn đơn điệu, tẻ nhạt của một mảng đời sống khác, cũng trong cái xã hội đó Tất cả sự những sự khác nhau đó từ cá tính sáng tạo của nhà văn và cội nguồn là quan niệm nghệ thuật của tác giả

Trang 36

1.2.3 Vài nét về hoàn cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học

Hoàn cảnh trong văn học không chỉ chịu sự chi phối bởi quan niệm nghệ thuật của nhà văn mà còn chịu sự quy định bởi ý thức nghệ thuật của thời đại; chịu sự chi phối của loại hình văn học, giai đoạn văn học, trào lưu, trường phái sáng tác Việc điểm lại vài nét về hoàn cảnh nghệ thuật trong lịch sử văn học sẽ giúp chúng ta thấy được điều đó

Trong một số thể loại của văn học thời gian, chẳng hạn trong truyện cổ tích, ta cũng bắt đầu thấy yếu tố hoàn cảnh Nhưng hoàn cảnh ở đây vẫn chỉ , mang tính chất rất sơ lược,

có khi nó chỉ là cái bối cảnh để nhân vật hoạt động Những biểu hiện cụ thể của hoàn cảnh, như không gian, thời gian, địa điểm nhiều khi chỉ mang tính chất ước lệ rất mơ hồ: "ngày xửa ngày xưa ", "ở một làng nọ" Một trong những chức năng của hoàn cảnh là giải thích hành động, nhưng hoan canh trong truyện cổ tích chưa hoàn toàn thực hiện được chức năng

đó Nó chỉ góp phần giải thích phần nào tính cách và hành động của nhân vật Bởi trong nhiều truyện cổ lích, có những lính cách, hành động có thổ lý giải bằng yếu lố hoàn canh

nhưng phán lớn, dường như nhân vật nằm ngoài hoàn cảnh Chẳng hạn truyện Tấm Cám có

hoàn cảnh cụ thể là hoàn cảnh một gia đình có dì ghẻ con chồng với những mối quan hệ không lấy gì làm tốt đẹp như dân gian đã từng tổng kết Trong những mối quan hệ ấy, có thể coi nhân vật này là hoàn cảnh của nhân vật kia kia Tấm là hoàn cảnh của Cám, dì ghẻ là hoàn cảnh của Tấm Trong truyện cổ tích này, có những hành động của nhân vật có thể giải thích bằng hoàn cảnh: Tấm trả thù, giết Cám bởi mẹ con Cám đã nhiều lần hãm hại Tấm Nhưng tại sao Cám ác ? Tại sao Tấm hiền lành, nhân hậu, mặc dù cả Tấm và Cám cùng sống chung trong một gia đình ? Đó là điều tác giả dân gian không quan tâm giải thích bằng hoàn

cảnh Trong Tấm Cám nói riêng và truyện cổ tích nói chung, nhân vật thiện hay ác là do tự

nó Không có vai trò của hoàn cảnh trong việc lý giải những tính cách đó Mặt khác, hoàn cảnh trong truyện cổ tích nhiều khi bị lấn át bởi những yếu tố siêu nhân thần bí Bởi vậy, có thể nói, các tác giả văn học dân gian chưa ý thức về hoàn cảnh, chưa có quan niệm nghệ thuật

về hoàn cảnh

Trang 37

Trong văn học trung đại, yếu tố môi trường hoàn cảnh đã bắt đầu được chú ý khai thác biểu hiện Số phận, tính cách, hành-động của các nhân vật đã được giải thích bằng hoàn cảnh Nói cách khác, hoàn cảnh đã trở thành yếu tố tác động mạnh mẽ tới tính cách và hành

động của các nhân vật Chẳng hạn, trong bộ tiểu thuyết Thủy Hử, một bộ tiểu thuyết vĩ đại,

sừng sững trong tịch sử văn học Trung Quốc, tính cách các nhân vật anh hùng: Tống Giang, Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ đã được miêu tả trong mối quan hệ với hoàn cảnh Sự phát triển, thay đổi tính cách của các nhân vật này đã được lý giải bằng hoàn cảnh Xin lấy ví

dụ hình tượng nhân vật Lâm Xung Tác giả đã khắc họa tỉ mỉ quá trình phát triển tính cách của nhân vật này, từ chỗ cam chịu nhẫn nhục trước những hành động bỉ ổi, độc ác của cha con Cao Cầu đến chỗ phản kháng quyết liệt Quá trình ấy được thể hiện, tuân theo lô gíc cuộc sống, do tác động của hoàn cảnh Quá trình lên Lương Sơn Bạc tụ nghĩa chống lại triều đình của Lâm Xung, Lý Quỳ, Lỗ Trí Thâm và những người anh hùng khác, phản ánh một qui luật tất yếu "quan bức dân phản", nghĩa là do tác động tất yếu của hoàn cảnh Tất nhiên, mỗi người anh hùng ấy lên Lương Sơn Bạc bằng những con đường khác nhau, ở những cảnh ngộ khác nhau Miêu tả một số chi tiết để biểu hiện tính cách phát triển do sự thay đổi của hoàn

cảnh là một đặc điểm của việc miêu tả nhân vật trong Thuỷ hử Hoàn cảnh trong Thủy Hử

không chỉ tác động đến số phận mà còn hình thành cá tính nhân vật Các nhân vật có thể cùng xuất thân trong một tầng lớp nhưng do hoàn cảnh sống khác nhau nên tính cách cũng khác nhau Ở đây hoàn cảnh đã góp phần giải thích cá tính Điều đó chứng tỏ tác giả đã ý thức khá

rõ về vai trò của hoàn cảnh Trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, các nhận vật Giả Bảo

Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Phượng Thư, Giả Chính, Táp Nhân cũng đều được xây dựng trong mối quan hệ với hoàn cảnh Tiêu biểu là nhân vật Giả Bảo Ngọc Tác giả đã thể hiện tính cách phản nghịch của nhân vật này trong mối liên hệ mật thiết và phức tạp với các nhân vật và các ý thức xã hội

Trang 38

bao quanh Tư tưởng, hành động phản nghịch của nhân vật này phát triển đến đỉnh điểm được

lý giải trong một quá trình, mà tác động mạnh mẽ nhất là khi tình yêu của Giả Bảo Ngọc và

Lâm Đại Ngọc bị thế lực phong kiến phá hoại Trong Hồng lâu mộng, hoàn cảnh nhiều khi

được miêu tả khá cụ thể, chi tiết Cuộc sống xa hoa phú quý của giai cấp thống trị phong kiến được hiện lên rất chân thực cụ thể qua nhiều chi tiết, như đoạn kể chuyện già Lưu đi xem vườn Đại Quan, đoạn tả tỉ mỉ từng đồ ăn thức uống trong phủ Vinh quốc hoàn cảnh ở đây không chỉ mang ý nghĩa khái quát mà còn mang ý nghĩa cá biệt

Trong văn học trung đại Việt Nam, môi trường hoàn cảnh cũng đã có vai trò trong việc tái hiện bức tranh hiện thực và lý giải tính cách, số phận nhân vật Chẳng hạn, trong

Hoàng Lê nhất thống chí, khi xâv dựng hình tượng nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân

vật được xây dựng thành công nhất trong tác phẩm, các tác giả đã đặt nó trong tương quan với hoàn cảnh, và "với cách miêu tả bối cảnh thiên về mặt thối nát của giai cấp thống trị như

Hoàng Lê nhất thống chí thì sự ra đời của một con người như những Nguyễn Hữu Chỉnh là

một tất yếu" [148.256"] Trong tác phẩm này, hoàn cảnh đã hiện khá sinh động, củ thể, truyền cảm, bởi " tác giả không phải chỉ kể lại những gì đã xảy ra, mà kết hợp việc kể với việc miêu

tả cái không khí xảy ra sự việc ấy " [148.252]

Trong thể loại truyện Nôm, tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, yếu tố

hoàn cảnh cũng đã có vai trò nhất định trong quá trình Hình thành tính cách nhân vật Trong tác phẩm này, có những nhân vật được xây dựng theo lối lý tưởng hóa và có nhân vật được xây dựng theo lối điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực Ở loại nhân vật thứ nhất, không có

sự tác động qua lại giữa tính cách và hoàn cảnh, không thể lý giải tính cách bằng hoàn cảnh Tính cách nhân vật mang tính chất bẩm sinh, tự nó Tiêu biểu như nhân vật Kim Trọng, Từ Hải Loại nhân vật thứ hai được xây dựng trong mối

Trang 39

tương quan với hoàn cảnh, tiêu biểu là nhân vật Tú Bà Mã Giám Sinh, Sở Khanh Hình tượng nhân vật trung tâm Thúy Kiều đã được xây dựng trên "cơ sở "chịu sự tác động của cuộc sống, tính chất lý tưởng hóa của nhân vật bị phá vỡ để dần dần chuyển sang quỹ đạo của lối điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa" [148.414] Hình tượng nhân vật này đã chịu sự tác động của hoàn cảnh và phát triển theo lô gích khách quan: "chí riêng việc nàng thai hứa với Kim Trọng, thực sự bán mình cũng là điều xa lạ với mỹ học truyền truyền thống, và đấy chính là dấu hiệu đầu tiên biểu hiện sự quyết định của hoàn cảnh đối với tính cách nhân vật"

[148.414] Tất nhiên, cũng phải thấy rằng, hoàn cảnh trong Truyện Kiều nói riêng và truyện

Nôm nói chung còn chưa được thể hiện một cách cụ thể, chi tiết như trong các tác phẩm hiện thực sau này "hoàn cảnh nào cũng chỉ được phác họa trong vài nét, và không vượt qua phạm trù tình tiết, có giá trị như những khâu, những giai đoạn khác nhau của cốt truyện Môi trường

chưa có giá trị thẩm mỹ độc lập trong Truyện Kiều" : [106.424] Hoàn cảnh trong Truyện Kiều còn sơ lược (tất nhiên điều này còn do đặc trưng thể loại truyện thơ) Chẳng hạn, miêu

tả gia cảnh Thúy Kiều, nhà thơ không mô tả chi tiết thế giới đồ vật, nhà cửa, bài trí nội thất, nhà cửa, bài trí nội thất -những hình ảnh dễ thấy trong các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa; như hình ảnh đồ vật trong quán trọ của bà Vô ke (Lão Gôriô - Bandắc), ngôi nhà ở Xômuya của

lão Grăngđê (ơzêni Grăngđê - Bandắc), đồ đạc nhà nghị Quế (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), căn buồng của nghị Hách (Giống tố của Vũ Trọng Phụng), những chiếc ấm, chén, bộ bàn ghế của gia đình ông Học (Sống mòn của Nam Cao) Mặt khác trong Truyện Kiều còn có yếu tố

định mệnh, bởi vậy mức, chân thực của hoàn cảnh trong tác phẩm còn hạn chế Hoàn cảnh vừa là yếu tố xã hội, vừa là định mệnh Nhân vật và hành động và số phận của nó có khi đo những nguyên nhân bí ẩn chi phối, khái niệm vận mệnh lấn át khái niệm hoàn cảnh, "tính cách trong" ý thức văn học này được xem là sản phẩm tiên nhiên lịch sử "vốn sẵn tính" trời", một phẩm chất tự nhiên trời phú" [231.432]

Trang 40

Trong văn học lãng mạn cũng có yếu tố của hoàn cảnh nhưng nhìn chung còn mờ nhạt Tất nhiên trong một số tác phẩm cụ thể, ở một vài cảnh ngộ cụ thể, yếu tố hoàn cảnh cũng góp phần giải thích được tính cách, hành động của nhân vật Chẳng hạn hành động ăn

cắp bánh mì của Giăng Van Giăng (Những người khốn khổ - V Huygô) xuất phát từ hoàn

cảnh đói khát của đàn cháu Nhưng tính cách của các nhân vật này càng về sau càng trở nên thiếu thuyết phục bởi nó được đặt trong những hoàn cảnh chân thực Điều này xuất phát từ nguyên nhân là tác giả của nó đã vì lý tưởng mù quên mất hiện thực: "Tâm hồn của con người hiện nay đặt nhiều ở hy vọng ở lý tưởng hơn thực tại" (Tựa kịch Crômoen - V Huygô) Bởi vậy tính cách của các nhân vật trong văn học lãng mạn thường mang nặng dấu ấn chủ quan của tác giả

Một số nhà văn thuộc trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945) cũng có ý thức về vai trò của hoàn cảnh tới việc hình thành tính cách, số phận con người Tiêu biểu là Thạch Lam với ý kiến sau trong tiểu luận : "người ta bao giờ cũng chịu rất sâu xa ảnh hưởng của hoàn cảnh và người ta trước hết là được tạo nên để sống với hoàn cảnh" Bởi vậy, có một

số tác phẩm của trào lưu văn học lãng mạn đã có sự thể hiện vai trò của hoàn cảnh (Thừa tự, Nửa chừng xuân ) Những tác phẩm này ở một phương diện nào đó rất gần với chủ nghĩa hiện thực Tuy nhiên, hoàn cảnh trong một số tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn in đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn (Hồn bướm mơ tiên, Trống mái, Con đường sáng ) Tất nhiên, hoàn cảnh trong văn học hiện thực cũng gắn với chủ quan của nhà văn Nhưng đây là cái chủ quan trên cơ sở nhận thức khái quát Còn trong văn học lãng mạn là cái chủ quan trên cơ sở lý tưởng hóa hiện thực Bởi vậy, trong văn học lãng mạn không thể có những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tất nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nhận xét về đặc điểm của hoàn cảnh trong văn học lãng mạn, chứ như vậy không có nghĩa là đánh giá thấp giá trị của trào lưu văn học này Bởi vì trong thực tế, nhiều tác phẩm văn học lãng mạn vẫn trường tồn cùng năm tháng, những nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn như Giăng Van Giăng, Côdét, Phăngtin, Exmêranđa, Cadimôđô vẫn để lại những dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí

Ngày đăng: 18/01/2020, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w