1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Nhân vật trung tâm từ tác phẩm Văn học đến tác phẩm điện ảnh

110 105 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Nhân vật trung tâm từ tác phẩm Văn học đến tác phẩm điện ảnh gồm có 3 chương, trong đó chương 1 - Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, chương 2 - Nhân vật trung tâm trong tác phẩm văn học và điện ảnh, chương 3 - Sáng tạo nhân vật trung tâm trong tác phẩm điện ảnh.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

Trang 2

DẪN LUẬN

I/ Lí do chọn đề tài –mục đích nghiên cứu:

Văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng là sự chắt lọc những gì tinh túy nhất, tế nhị nhất trong quan niệm sống, trong giao tiếp ứng xử của con người với thiên nhiên, với quá khứ, hiện tại và tương lai, cái hữu hình và cái vô hình, giữa con người với nhau, và ngay con người với chính bản thân mình Qua văn học nghệ thuật và đặc biệt qua điện ảnh, những nét đẹp truyền thống của dân tộc như tình tương thân tương ái, lòng yêu nước nồng nàn, những quan niệm nhân sinh: ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão… sẽ được thể hiện một cách sống động qua những hình ảnh cụ thể Khi đó, ý nghĩa giáo dục của chúng càng trở nên sâu sắc và đại chúng hơn gấp nhiều lần

Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các ngành nghệ thuật : Văn học, điêu khắc, tạo hình, sân khấu, âm nhạc, khiêu vũ, nên thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công của sự giao thoa hòan chỉnh và tuyệt vời giữa các ngành nghệ thuật Giải thưởng của một tác phẩm điện ảnh có thể ở kịch bản văn học, đạo diễn, quay phim, diễn viên, âm nhạc, thiết

kế mỹ thuật …Tất cả các nghệ thuật đã hợp sức để làm nên vẻ đẹp lộng lẫy cho nghệ thuật thứ bảy Kịch bản là biểu hiện cụ thể của tính văn học trong điện ảnh, đó là khâu đầu tiên trong thành phần sáng tạo của một bộ phim, trên generique phim bao giờ cũng là tên nhà biên kịch rồi mới đến

đạo diễn Yếu tố quan trọng nhất của kịch bản là xây dựng hình tượng nhân vật Vì vậy, điều ấn tượng và quan trọng nhất mà tác phẩm văn học đem lại cho điện ảnh là những hình tượng nhân vật

đã được định hình thành công từ văn học Người đọc đã từng say mê những nhân vật trên trang sách bao nhiêu, thì họ lại càng mong mỏi được tiếp xúc trực diện với nhân vật bấy nhiêu qua màn ảnh Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh đã trở thành quan hệ cộng sinh, khi mà thông qua nó, giá trị của các tác phẩm văn học và điện ảnh càng được nhân lên, khẳng định, và phát huy thế mạnh độc lập của riêng mình

Gần đây, trên màn ảnh thành phố trình chiếu ba bộ phim nhựa được chuyển thể từ ba tác phẩm văn học nổi tiếng, đã đem lại niềm phấn chấn cho những người làm công tác văn học nghệ thuật trong cả nước và đặc biệt công chúng - những người đã từng yêu mến các nhà văn Nguyễn

Tuân, Nguyễn Minh Châu và Lê Lựu Đó là phim Mê Thảo –thời vang bóng, phỏng theo tác phẩm

Chùa Đàn của Nguyễn Tuân do Việt Linh đạo diễn; Thời xa vắng dựa trên tiểu thuyết cùng tên của

Lê Lựu do Hồ Quang Minh đạo diễn; bộ phim Người đàn bà mộng du của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, được chuyển thể từ truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh

Châu

Chọn ba tác phẩm văn học nổi tiếng được chuyển thể thành ba bộ phim thành công, làm đề tài nghiên cứu của luận văn là cách thể hiện thiết thực những tình cảm, sự trân trọng đối với vốn văn hóa nghệ thuật của dân tộc, đồng thời đó cũng là một sự trao đổi, nhắn gửi những suy nghĩ trăn trở

về những vấn đề đang đặt ra cho văn học nghệ thuật nước nhà nói chung và điện ảnh nói riêng Đây

là những tác phẩm thành công cả trong văn học và điện ảnh, tạo được tiếng vang trong giới chuyên môn và được đông đảo người yêu nghệ thuật chào đón nồng nhiệt

Trang 3

Qua ba tác phẩm văn học và ba bộ phim, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách hệ thống về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh, trong quá trình xây dựng sáng tạo nhân vật trung tâm ở cả hai lọai hình nghệ thuật này Bởi nhân vật là “hồn cốt” của cả tác phẩm văn học và điện ảnh, tìm hiểu nhân vật trung tâm là tìm ra những vấn đề mấu chốt tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm Từ việc nghiên cứu những đặc trưng riêng biệt của văn học và điện ảnh, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách

hệ thống và sâu sắc hơn mối quan hệ qua lại của văn học và điện ảnh, góp phần tìm ra tiếng nói chung giữa nhà văn và các tác giả điện ảnh trong việc bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình sáng tác 2/ Lịch sử vấn đề:

Xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm văn học và điện ảnh là một vấn đề luôn được đề cập rất nhiều trong nghiên cứu văn học và điện ảnh và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đi sâu vào tìm hiểu nhân vật trung tâm trong văn học và điện ảnh ở nhiều

phương diện Theo GS Hoàng Ngọc Hiến :”…Nhân vật là yếu tố quan trọng nhất của tác phẩm

phim truyện (cũng như của các tác phẩm truyện) Chủ đề tư tưởng của các tác phẩm phim truyện được bộc lộ tập trung ở số phận, tính cách của nhân vật Nhân vật mờ nhạt thì truyện có li kỳ, hấp dẫn đến mấy cũng không bù lại được” (113- 67)

Từ nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung làm nổi bật những nét đặc trưng của hình tượng nhân vật và hiệu quả của hình tượng nhân vật trong văn xuôi nói chung và

trong truyện ngắn, tiểu thuyết nói riêng Nhà văn Nga M.Gorki cho rằng: ”…Bằng ngôn ngữ tiểu

thuyết nhà văn có thể tác động trực tiếp đến tri giác, thính giác, xúc giác của người đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất ”(21- 156)

Các công trình nghiên cứu, các bài viết hoặc đi sâu tìm hiểu những vấn đề cơ sở lí luận chung về: nhân vật và tính cách, thi pháp nhân vật hoặc đánh giá tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học cụ thể, hay những vấn đề có liên quan ít nhiều đến xây dựng tính cách nhân vật Theo GS

Lê Đình Ky: “Tác phẩm văn học là chuyện cuộc đời, thuật lại cuộc đời phiêu lưu của những tâm

hồn, phơi bày ra trước mọi người những bước thăng trầm của những hạng người khác nhau, giống như những kinh nghiệm sống cụ thể được tái hiện lại, gắn liền với những mẫu đời, mẫu người nhất định, họ không còn là của riêng ai mà như là của chung, liên quan đến tất cả mọi người.”(36 – 26)

Nhà nghiên cứu Lê Bá Hán cho rằng:”Nhắc đến tên một bộ tiểu thuyết, một truyện vừa, một

truyện ngắn hoặc một kịch bản văn học quen biết, chúng ta liền nghĩ đến câu chuyện và những con người được thể hiện trong đó…Vì chỉ bằng con đường đó, chúng ta mới có cơ sở thâm nhập nội dung cũng như hình thức của tác phẩm để đánh giá tác phẩm.” [17(I),74]

Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử “Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời và

con người, là tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả đối với con người” (82-26.)

Nói về tính văn học trong điện ảnh, nhà văn Nguyễn Quang Thân viết:“Phía sau tất cả vẻ

huy hòang trên màn bạc, người xem vẫn thấy rõ sức mạnh ngôn từ của kịch bản văn học tức là sự sáng tạo của nhà văn Đó là sức mạnh lôi cuốn của tính cách nhân vật, vẻ hấp dẫn của chi tiết và tình huống, cũng như chất nha phiến của những lời đối thọai”(85)

Trao đổi về sự cần thiết của hình tượng nhân vật trên màn ảnh, nhà văn Lê Ngọc Minh có bài

viết về : “Nhân vật và thể hiện nhân vật, nỗi hằng lo của phim truyện Việt Nam”(57); nhà văn Chu

Trang 4

Lai với bài viết “Hình hài nhân vật với thời gian”(38), đạo diễn Huy Thành nói về phương pháp diễn xuất của diễn viên trong bài :”Để có sức bền trong diễn xuất”(87)…

Tất cả đều khẳng định việc xây dựng hình tượng và tính cách nhân vật là yếu tố nghệ thuật hết sức quan trọng trong văn học cũng như trong điện ảnh

Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, ra đời và phát triển trên cơ sở của khoa học kỹ thuật tiên tiến, nó kế thừa tinh hoa của các nghệ thuật khác và đặc biệt là văn học, có ảnh hưởng rất đậm đặc đối với điện ảnh Ngay từ những ngày đầu phôi thai của điện ảnh, văn học đã cái nền để xây nên những kịch bản điện ảnh, từ cái nền ấy đã có được những bộ phim làm nức lòng người xem Hơn một thế kỷ qua, trên thế giới các tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng thường được các nhà điện ảnh chuyển thể thành những bộ phim nổi tiếng đến mức trở thành những tác phẩm điện ảnh kinh điển

thế giới: Cuốn theo chiều gió, Ngày tận thế (Mỹ ), Bác sĩ Zhivago (Y), Chiến tranh và hòa bình,

Sông Đông êm đềm, Khi đàn sếu bay qua, Người thứ 41 ( Nga), Hồng lâu Mộng, Cao lương đỏ

(Trung Quốc)…

Trong gần 50 năm của điện ảnh Việt Nam, lúc hoàng kim cũng như lúc khủng khỏang hầu như năm nào cũng có đến hơn nửa số phim truyện được thực hiện từ nguồn gốc văn học Những kinh nghiệm của các thế hệ đạo diễn khi đưa các tác phẩm văn học lên màn ảnh là rất phong phú và

có giá trị thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển của điện ảnh nước nhà Có thể kể tên một số

tác phẩm tiêu biểu được chuyển thể xuất sắc: Chim vành khuyên, Chị Tư Hậu (kháng chiến chống Pháp), Cánh đồng hoang, Người về đồng cói, Xa và gần ( kháng chiến chống Mỹ ), Thương nhớ

đồng quê, Đời cát ( thời kỳ 1986 - 2002)…

Hầu hết những bộ phim này đều phản ánh sinh động lịch sử đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc Cùng với văn học, điện ảnh đã góp phần xây dựng nên những mẫu nhân vật mang hơi thở của thời đại và để lại dấu ấn khó quên trong lòng những người yêu mến văn học và điện ảnh

Tiếp theo giai đọan đất nước thống nhất, một lọat phim có kịch bản chuyển thể từ những tiểu thuyết, truyện ngắn đặc sắc đã đem tới một tầm cao mới cho phim truyện Việt Nam, đặc biệt dòng phim “hiện thực – luận đề” và phim tâm lí xã hội, có thể kể tên các phim tương đối thành công :

Ngọai ô ( theo tiểu thuyết cùng tên của Tô Nhuận Vũ) Cỏ lau ( theo các truyện ngắn của Nguyễn

Minh Châu) Tướng về hưu, Thương Nhớ Đồng Quê, Những người thợ xẻ ( theo các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp) Giông tố ( theo tiểu thuyết cùng tên của Vũ Trọng Phụng) Người đi tìm dĩ

vãng ( theo tiểu thuyết của Chu Lai) Cây bạch đàn vô danh ( theo truyện ngắn của Nguyễn Quang

Thân)… Đặc biệt, bộ phim Đời cát ( theo truyện ngắn Ba người trên sân ga của Hữu Phương) đã rất

thành công, sâu sắc đằm thắm hơn cả nguyên tác Đây là bộ phim được coi là dẫn đầu trong giai đọan điện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ đổi mới :1986 – 2002 Các nhà điện ảnh đã có cố gắng làm sáng tỏ chủ đề câu chuyện, đặc biệt làm sáng tỏ phần sâu sắc của cốt truyện, đã cụ thể hóa hình tượng nhân vật tạo cho nó có sức sống thực thụ, họ đã thành công lần thứ hai khi đưa các nhân vật đến với công chúng

Nhưng bên cạnh những thành công đó, người xem không khỏi thất vọng nhận thấy: phim của

ta còn đầy khỏang trống Những bộ phim hiện nay nhàn nhạt với những đề tài về tình yêu, những

Trang 5

mất mát của chiến tranh … Những điều đó tuy cần nhưng chưa đủ để tạo nên tầm vóc lớn Trong khi đó những mặt tích cực của lịch sử, những sự kiện, những nhân cách lớn lao của lịch sử còn để trống Đặc biệt là cuộc sống kinh tế thị trường sôi động đang nảy sinh biết bao vấn đề cần hiểu biết, thâm nhập và thích ứng để tồn tại và phát triển

Trong số những bộ phim được chuyển thể, không phải bộ phim nào cũng thành công, những

phim chuyển thể không đạt, có thể kể Đất nước đứng lên (theo tiểu thuyết của Nguyên Ngọc) Ám

ảnh ( theo tác phẩm của Nguyễn Minh Châu) Con gái Thủy thần ( theo truyện ngắn của Nguyễn

Huy Thiệp) Không có đường chân trời ( theo truyện Trại bảy chú lùn của Bảo Ninh)…đều là

những bộ phim không sâu sắc, thấm thía bằng tác phẩm văn học

Các nhà nghiên cứu đều khẳng định kịch bản là yếu tố đầu tiên của bộ phim và không có kịch bản hay không có phim hay, bởi kịch bản mang trong lòng nó tất cả những yếu tố tạo nên bộ phim trong tương lai Mầm mống của mọi thất bại hay thành công đều có trong kịch bản Nhưng tại sao những bộ phim được chuyển thể trên nền của một tác phẩm văn học nổi tiếng cũng không đạt được hiệu quả ? Nhiều nhà văn, đạo diễn, giới chuyên môn đã có những bài viết về vấn đề này như :

“Cải biên tác phẩm văn học sang kịch bản điện ảnh”của Lê Cẩm Lượng (48), “Tác phẩm chuyển

thể: những mặt mạnh và yếu”của Huyền Thanh (86), “Cần tránh tùy tiện trong việc chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh”của Phạm Hồng Thinh(90),”Cần đánh giá đúng giá trị của kịch bản”của Ôn Quang Thiên(89) …Công bằng mà nói những bộ phim từ kịch bản chuyển thể thường

kém hiệu quả hơn so với tác phẩm văn học Vậy do đâu ? Do nhà biên kịch hay đạo diễn ? Hay lí do nào khác v.v ? Tại sao các tác giả điện ảnh không tận dụng được tối đa những tác phẩm văn học hay để có kịch bản hay ? Đó là vấn đề rất nan giải đang đặt ra cho điện ảnh hiện nay

Nhà văn Chu Lai, người có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đã được đưa lên màn ảnh: Nơi núi

rừng yên ả, Người đi tìm dĩ vãng…Và tiểu thuyết Ba lần và một lần được làm phim truyền hình, đã

khẳng định “ Văn học và điện ảnh - Cuộc nhân duyên này đã nằm ngay từ trong bản chất” và ông nhận định:” Một tác phẩm điện ảnh hay bao giờ cũng có một giá trị văn học…Văn học là cái nền,

điện ảnh bay lên từ cái nền vững chắc đó Hiện nay ta đang thiếu những nhà văn biết viết điện ảnh, nhưng ta lại thừa những nhà biên kịch không có năng lực văn chương” (101), nhưng đáng tiếc

là ”Văn học và điện ảnh mối nhân duyên chưa thành” (37),

Quả đúng như vậy, ”Điện ảnh cần nâng cao tính chuyên nghiệp”(64) Vì thiếu một đội ngũ

biên kịch chuyên nghiệp nên đã xảy ra những trường hợp: có kịch bản được về đề tài nhưng người viết non tay, thiếu kinh nghiệm để xây dựng một kịch bản điện ảnh; Có kịch bản được về ý tưởng nhưng thọai dở, nhân vật chưa sắc nét ; có kịch bản cả thọai và nhân vật đều được nhưng thiếu tầm bao quát ; kịch bản được ý tưởng nhưng hỏng đường dây, cốt truyện, phương pháp dẫn dắt không hay…Nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống đặt ra mà điện ảnh chưa khai thác hoặc thể hiện chưa tới trong tác phẩm Nhiều đòi hỏi ngặt nghèo về giá trị nhận thức và định hướng thẩm mỹ mà điện ảnh

ta chưa đạt đến Nhiều kịch bản là sự chắp vá, copy ý tưởng người khác để xây dựng, xào xáo lại một cách vội vàng, thiếu sự tìm tòi, sáng tạo Sự nghèo nàn, đơn điệu vây ráp lấy những nhà làm phim Điện ảnh cần thiết biết bao một sự đột phá trong tư duy nghệ thuật, trong thi pháp, trong tư tưởng

Trang 6

Nhà nghiên cứu Trịnh Mai Diêm cho rằng sở dĩ các nhà sáng tác điện ảnh chưa thành công

trong việc khắc họa hình tượng nhân vật là do tập trung thể hiện “hành động của nhân vật, ít chú ý

đến động cơ tư tưởng và cái cách mà nhân vật ấy hành động” (113-92)hoặc “…còn xơ cứng trong cách thể hiện hoặc minh họa cho những ý tưởng vốn dĩ đã nghèo nàn” theo ý kiến của nhà thơ

Nguyễn Thị Hồng Ngát (59) Mặt khác, lời thọai trong kịch bản là ngôn ngữ thông tin, thông tấn chứ chưa phải là lời của nghệ thuật, nên khó hấp dẫn đối với người xem, nhà văn Võ Thị Hảo cho

rằng:”Kịch bản phim Việt Nam còn quá dễ dãi về lời thọai” (26)

Trong một số phim, người xem thường gặp những nhân vật được mô tả qua vài nét chấm phá trong bức tranh tòan cảnh chung của quần chúng nhân dân, mang nét đại chúng, mà thiếu hẳn những

mảnh đời, số phận về cá nhân con người.”Tính cổ động khiến nhân vật hoặc khô khan, cứng nhắc

hoặc trở nên siêu phàm, ít nhiều giảm đi tính chân thực Điều đó cũng nhận thấy trong cả những phim được xem là có thành công về nghệ thuật, nhân vật nữ như chị Vân trong Nổi gió…, nhân vật nam như Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi…”(113- 99)

Nhiều bộ phim mới dừng lại ở việc dựa vào cốt chuyện mà không khai thác hết những vấn đề bằng suy nghĩ về con người, về xã hội ẩn đằng sau những hành động của nhân vật Sự giải quyết mẫu thuẫn giữa cái thiện và cái ác thường dễ dãi, đơn giản Trên thực tế, cái ác không bao giờ có thể tiêu diệt được cái thiện, nhưng cái ác vẫn lẩn quất đâu đó trong cuộc sống con người, đe dọa sự tồn tại của cái thiện Sự song song tồn tại này tạo nên những xung đột, những kịch tính mà nếu được

khai thác một hợp lí sẽ có sức hấp dẫn rất lớn.“Trong nghệ thuật những chuẩn mực Chân – Thiện –

Mỹ đã và đang còn lâu dài là định hướng và nội dung của sáng tạo nghệ thuật Nghệ sĩ dù có nói đến cái ác, cái thấp hèn cũng cốt để làm nổi ra cái Thiện, cái Đẹp; chúng chỉ là cái cớ, là phương tiện trong quá trình xây dựng nhân vật” (113-75)

Rất tiếc là nhiều bộ phim đã không dẫn dắt vấn đề vượt lên trên tầm suy nghĩ của người xem, không tác động khơi gợi được những cảm xúc của con người

Như vậy, điện ảnh cần biết bao sự tham gia của các nhà văn trong việc viết kịch bản, theo

nhà văn Nguyễn Khắc Phục : ”Nói đến kịch bản là dính đến văn xuôi Nền điện ảnh không thể hùng

mạnh được khi văn xuôi kém Chính nền văn xuôi sẽ cung cấp cho điện ảnh từ hình ảnh, ngôn ngữ, tạo dựng tâm lí, tính cách nhân vật, thúc đẩy hành động, tình huống trong phim ảnh Kịch bản hay thì phim làm sẽ hay, sẽ có giá trị (97)

Điện ảnh là một ngành nghệ thuật tổng hợp nên muốn phát triển, bên cạnh kịch bản, điện ảnh còn có những vấn đề về kỹ thuật và kinh tế đang được những nhà nghiên cứu chuyên môn trăn trở:

“ Tính chuyên nghiệp của Điện ảnh hiện nay” của Trịnh Đình Khôi (33), ”Thử bàn về một số phong

cách nghệ thuật trong điện ảnh Việt Nam” của đạo diễn Hải ninh (70) Thế nào là phim hay ? của

Từ Khôi (34)”Nghệ thuật là sự sáng tạo của tâm hồn” của Phương Lan.(41)…

Qua quá trình tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả về đề tài xây dựng nhân vật trong văn học và điện ảnh, chúng tôi nhận thấy các bài viết chủ yếu đi vào tìm hiểu những vấn

đề, khía cạnh có tính chất lí luận chung liên quan đến việc xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học và điện ảnh, hoặc những nhân vật cụ thể của từng tác phẩm… Nhìn chung chưa có một chuyên luận nghiên cứu một cách tòan diện và hệ thống về nhân vật từ văn học đến điện ảnh Chính vì vậy,

Trang 7

việc chọn ba tác phẩm văn học nổi tiếng: Chùa Đàn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và

Thời xa vắng được chuyển thể thành công sang điện ảnh để làm đề tài luận văn là cần thiết

Đây là những tác phẩm được giới chuyên môn đánh giá cao và đông đảo người yêu nghệ thuật chào đón nồng nhiệt ở cả trong văn học và điện ảnh Ba bộ phim chuyển thể từ văn học đã gây xôn xao dư luận không chỉ với những cảnh quay đẹp, được dàn dựng khá công phu, nghiêm túc, hấp dẫn ấn tượng, ngôn ngữ điện ảnh được xử lí nhuần nhuyễn, mà còn ở tính thời sự của từng bộ phim

Mê thảo - thời vang bóng, câu chuyện xảy ra ở ấp Mê Thảo, một vùng quê miền Bắc bình

yên xa xôi huyền bí, giàu cảnh sắc lãng mạn, vào những năm đầu thế kỷ XX, Nguyễn – người chủ

ấp vì mất vị hôn thê mà quên đi trách nhiệm của mình, dẫn đến sự tan rã của một xóm ấp vốn thanh bình, hạnh phúc Một câu chuyện về bi kịch của những cuộc tình được lồng trong không khí của một vùng quê có cảnh sắc đầy âm hưởng của văn hóa dân tộc một thời xa xưa, đã có sức lôi cuốn người xem

Thông qua thần thái của nhà văn Nguyễn Tuân trong văn học, tác giả điện ảnh đã phê phán, cảnh báo tác hại của tư tưởng duy ý chí, độc đóan Đặc biệt, nếu tư tưởng đó ở những người lãnh đạo có trọng trách, thì tai họa là vô phương cứu chữa, bởi nó không chỉ hủy họai bản thân họ mà còn phương hại đến cả cộng đồng Một ý nghĩa nhân sinh gần gũi hơn mà bộ phim muốn gửi đến người xem là con người sống phải có trách nhiệm, đừng vì không thỏa mãn được tham vọng cá nhân

mà làm tổn thương đến những người xung quanh, đến lợi ích chung của cả cộng đồng

Theo nhà văn Anh Đức: Nguyễn Tuân là nhà văn lớn mà“khi ta gọi là một bậc thầy của nghệ

thuật ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng mỗi chữ tuôn

Nhân vật Nguyễn trong Chùa Đàn của “Nguyễn Tuân đa dạng, phức điệu, biến hóa và tiến

triển nhưng bao giờ cũng nhất quán một cách sâu sắc: bao giờ ông cũng thủy chung, thắm đỏ với

sự nghiệp của nhân dân, đất nước mình cho dù đó không phải là một tình yêu đơn giản”( GS.TS

Mai Quốc Liên)2

Đạo diễn Việt Linh đã thành công khi “xây dựng được một nhân vật ấn tượng Có thể nói, đã

lâu lắm phim của chúng ta không có nhân vật nào để lại ấn tượng rõ nét như thế…Có thể coi Mê Thảo - thời vang bóng như một tia chớp trong điện ảnh Một sự lóe sáng trong bầu trời đêm” (80)

GS TSKH Lê Ngọc Trà đánh giá :phim Mê Thảo - thời vang bóng” Ít lời, hàm súc, nhiều

khỏang trống cho người xem suy nghĩ Phim dựng được không chỉ hình thức hay không khí xã hội

Thông qua cuộc đời của nhân vật Quỳ, bộ phim Người đàn bà mộng du miêu tả những kí ức

đau thương của chiến tranh, những di chứng của chiến tranh còn để lại không dễ gì xóa nhòa được trong tâm trí của những người đã từng trực tiếp tham gia Mặc dù vậy, con người vẫn mong muốn sống tốt và cố gắng sống tốt hơn, không chỉ cho bản thân, mà cho cả những người thân yêu, những người bạn “năm xưa” Sự chiêm nghiệm về niềm vui, nỗi buồn, về những gì được mất trong quá khứ, tính chất phức tạp trong tinh thần hướng đến sự hòan thiện của nhân vật Quỳ ở văn học, đã được các tác giả điện ảnh chú ý khai thác Bộ phim chứa đựng ý nghĩa nhân văn, nhân bản sâu sắc

Trang 8

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng:”Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành …xuất hiện như

Báo Văn nghệ, số 8, ngày 21/2/ 1987

mới trong tính cách của nhân vật Quỳ, mà nhà nghiên cứu Hùynh Như Phương phân tích là “Niềm

say mê đuổi bắt cái đẹp phi thường mang ít nhiều tính chất tiên nghiệm của Quỳ dần dần được thay thế bằng ý chí tạo dựng cái đẹp ngay trong chính cuộc đời bụi bặm này Trần thế, với chị đã trở thành nơi quy tụ của những con người bình thường mà vạn năng, những con người còn “đáng yêu” hơn cả thánh thần, nguyên do chỉ vì đó là người, và là con người được bú mớm từ bầu sữa trí tuệ

và tình cảm của nhân dân”(75-96 )

Từ nhân vật Quỳ trong văn học, các tác giả điện ảnh đã xây dựng nên Người đàn bà mộng du một bộ phim độc đáo với một số phận lạ thường Bằng cách“Khai thác một nhân vật có tính cách

“đặc biệt”được đặt trong bối cảnh trong và sau cuộc chiến, đạo diễn, đạo diễn Thanh Vân đã sáng tạo được một bộ phim hay khi kết hợp giữa cái chung- cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam đánh Mỹ - và cái riêng- góc nhìn chiến tranh qua cuộc đời của một người đàn bà mộng du”(63) + Thời xa vắng: miêu tả chân thực và thành công cuộc sống của những con người chỉ biết

sống theo khuôn mẫu đã định sẵn, không dám sống đúng như mình mong muốn, nhưng ở hòan cảnh

thời đó họ cũng không thể sống khác, bởi lối sống “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã trở thành nếp

nghĩ và hành động của họ Cách sống đó, đã biến con người trở thành “nạn nhân”ngay giữa những người thân yêu, ngoan ngõan nghe theo lời chỉ bảo, kể cả điều đó mang lại bất hạnh cho bản thân

Bộ phim tái hiện thành công những nét văn hóa gắn liền với vùng đất và con người Bắc bộ trong một giai lịch sử đầy biến động của đất nước Đặc biệt, hình tượng nhân vật Giang Minh Sài được xây dựng chân thực gần gũi với tâm hồn người Việt Nam thời bấy giờ, nên đã chinh phục được trái tim của đông đảo khán giả

Nói về cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của mình, nhà văn Lê Lựu viết:” Cả một thời kỳ dài từ

những năm đầu chiến tranh đến những năm đầu 80, người ta không nói đến cái bi kịch riêng Tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau, có cái được và cái mất.” (18- 451)

Theo nhà nghiên cứu Phong Lê: “Con người ở Thời xa vắng là thế Phải trải qua nó để từ

giã nó…Giang Minh Sài thất bại Nhưng cả xã hội thì thắng lợi Cả xã hội đang vật vã trong những chuẩn bị cho cái “thời xa vắng” ấy qua đi Cho không còn những bi kịch kiểu Giang Minh Sài Cho những Giang Minh Sài khác được sống là mình ngay từ đầu Cuộc chiến hẳn còn là vất vả, không

dễ tính bằng năm, mà hàng chục năm, nhiều chục năm, có lẽ!” (43- 415)

Nhà phê bình Thiên Sơn viết:” Thời xa vắng làm sóng dậy bức tranh quê hồn hậu với những

con người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống… Thời xa vắng trau

Trang 9

chuốt từ trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện.”(79)

“Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên 10 đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thật Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất.”(65)

Qua những đặc trưng ngôn từ và hình ảnh, văn học và điện ảnh đã trở thành nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ của con người, nơi giữ gìn cho tâm hồn con người không bị chai sạn đi mà luôn luôn mới mẻ, nhạy cảm với vẻ đẹp của từng cánh hoa, chiếc lá, tia nắng… Và do đó mà cũng không bao giờ nguội lạnh, thờ ơ với số phận con người, luôn luôn căm phẫn, đau đớn xót xa vì cái xấu cái

ác và thiết tha yêu thương, hướng về cái tốt, cái đẹp

Như vậy, việc xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm là một yếu tố không thể thiếu trong

tác phẩm văn học và điện ảnh Vì vậy, việc nghiên cứu hình tượng nhân vật từ trong văn học được chuyển thể sang điện ảnh một cách hệ thống, bài bản là điều thật sự cần thiết

3/ Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nhiên cứu:

Luận văn chọn đối tượng chính để nghiên cứu là “ Nhân vật trung tâm từ tác phẩm văn học

đến tác phẩm điện ảnh”để thấy được những đặc trưng nổi bật của hình tượng nhân vật trung tâm

trong văn học và điện ảnh Căn cứ vào tác phẩm văn học, điện ảnh cụ thể và những công trình nghiên cứu hình tượng nhân vật đã có trong văn học và điện ảnh, bước đầu hệ thống những đặc trưng giống và khác nhau trong việc xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học và điện ảnh

Phạm vi tư liệu chúng tôi dùng để khảo sát trong luận văn này là những tác phẩm văn học và điện ảnh Cụ thể là:

1/ Truyện vừa Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhà xuất bản Văn học, Hội nghiên cứu và giảng dạy

văn học TP Hồ Chí Minh, 1989

2/ Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu - Nhà xuất bản Hội nhà văn – 1998

3/ Truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu trong Nguyễn

Minh Châu tòan tập (tập 3), nhà xuất bản Văn học, 2001

4/ Phim và kịch bản điện ảnh :Mê Thảo –thời vang bóng

Biên kịch : Phạm Thùy Nhân, Việt Linh,

Đạo diễn : Việt Linh

5/ Phim và kịch bản điện ảnh : Thời xa vắng

Biên kịch và đạo diễn : Hồ Quang Minh

6/ Phim và kịch bản điện ảnh: Người đàn bà mộng du

Biên kịch: Nguyễn Quang Thiều

Biên tập : Nguyễn Quang Lập

Đạo diễn : Nguyễn Thanh Vân

Ngòai ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu :bao gồm các báo, tạp chí chuyên ngành văn học và điện ảnh có liên quan đến vấn đề xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm trong

Trang 10

văn học và điện ảnh, để bổ sung kiến thức và cập nhật tư liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu hình tượng nhân vật trong chuyên đề

4/ Phương pháp nghiên cứu:

Văn học và điện ảnh đều là những ngành nghệ thuật, nên việc nghiên cứu hình tượng nhân vật trung tâm trong văn học và điện ảnh để tìm ra vẻ đẹp đặc trưng của mỗi ngành nghệ thuật là điều

vô cùng cần thiết Hơn nữa, hình tượng nhân vật là “linh hồn” của mỗi tác phẩm nghệ thuật, nên có mối liên hệ với nhiều yếu tố về lịch sử, thời đại, văn hóa xã hội, tâm lí… Trong quá trình nghiên

cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để tìm hiểu hình tượng nhân vật trung

tâm một cách tòan diện sâu sắc

Phương pháp thống kê và so sánh rất cần thiết trong quá trình khảo sát các nhân vật trung

tâm trong ba tác phẩm văn học : Lãnh Út trong Chùa Đàn, Giang Minh Sài trong Thời xa vắng và

nữ y tá Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Sau đó lại so sánh chúng với nhau để

thấy vẻ đẹp riêng của từng nhân vật Cũng tương tự chúng tôi lại so sánh ba nhân vật trung tâm của

ba bộ phim : Nguyễn trong Mê Thảo –thời vang bóng, Sài trong Thời xa vắng và Quỳ trong Người

đàn bà mộng du Cuối cùng là so sánh nhân vật Lãnh Út trong văn học và Nguyễn trong phim, Sài

trong văn học và phim, Quỳ trong văn học và phim

Ở văn học nhà văn sử dụng chất liệu cơ bản là ngôn ngữ viết để miêu tả vẻ đẹp và chiều sâu thẳm của cuộc sống thông qua hình tượng nhân vật Còn trong phim, vẻ đẹp được thể hiện bằng ngôn ngữ của âm thanh và hình ảnh Chính vì vậy, nhân vật ở văn học và điện ảnh không thể có sự trùng khớp vì đó là hai bình diện hòan tòan khác, trong điện ảnh ý đồ của tác giả ẩn sâu trong từng công cụ nghệ thuật riêng biệt Từ chỗ hiểu rõ sự khác biệt giữa tác phẩm văn học và điện ảnh, sẽ tìm

ra hướng kết hợp hiệu quả nhất giữa hai ngành nghệ thuật Một khi sự kết hợp này thành công sẽ mang lại cho tác phẩm điện ảnh sự hòan mỹ, mà ở đó tính văn học sẽ là sự chắt lọc, mang đến cho điện ảnh sự tinh túy

Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc khảo sát cụ thể, chính xác và tòan diện, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phân lọai, miêu tả, đối chiếu…giữa văn học và điện ảnh nói chung, giữa văn học với kịch bản văn học và giữa kịch bản văn học với bộ phim đã hòan thành Từ đó sẽ tìm ra lời giải đáp chính xác cho những thắc mắc về thành công hay chưa thành công của những bộ phim được chuyển thể từ văn học

5/ Đóng góp mới của luận văn:

Phần nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong văn học và điện ảnh chủ yếu kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu văn học và điện ảnh Tuy nhiên, luận văn này cũng cố gắng tìm hiểu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu đề cập hoặc nghiên cứu chưa sâu như:

+ Góp phần thấy rõ bản chất mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh

+ Đặc trưng của hình tượng nhân vật trong văn học so với hình tượng nhân vật trong điện ảnh

+ Bước đầu hệ thống những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển thể tác phẩm từ văn học sang điện ảnh

Trang 11

6/ Kết cấu luận văn :

Do những đặc điểm về đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu đã nêu trên, luận văn dày 140 trang

Dẫn luận :(12 trang )

Chương I : Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh.( 35 trang)

Chương II: Nhân vật trung tâm trong tác phẩm văn học và điện ảnh (40 trang )

Chương III: Sáng tạo nhân vật trung tâm trong tác phẩm điện ảnh (40 trang )

Kết luận : (6 trang )

Ngòai ra, luận văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo gồm (7) trang

Trang 12

CHƯƠNG 1 : MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

============

I/ NHỮNG ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

1 Văn học và điện ảnh cùng là hình thái ý thức xã hội:

Nghệ thuật nói chung, ngay từ thời kì sơ khai của nó đã tồn tại và phát triển trong sự gắn bó mật thiết với đời sống Điều đó đã được minh chứng trong quá trình vận động phát triển của lịch sử lòai người, nghệ thuật ngày càng thỏa mãn những yêu cầu đa dạng của đời sống tinh thần con người,

và ngày càng khẳng định trước thực tiễn tính độc lập của nó Qua mỗi thời đại, nghệ thuật đã để lại những thành tựu lớn lao và tồn tại như một bộ phận cấu thành của văn minh nhân lọai

Văn học nghệ thuật nói chung và văn học, điện ảnh nói riêng là một hình thái ý thức xã hội,

là họat động tinh thần thực tiễn, thể hiện sâu sắc thái độ tư tưởng, tình cảm của con người đối với thế giới Vì vậy, mỗi tác phẩm văn học hoặc điện ảnh không thể không mang một tư tưởng, một thái

độ nhất định cho dù là tự giác hay không tự giác, trực tiếp hay gián tiếp Mỗi thời đại lịch sử có một

nền văn học nghệ thuật tương ứng, “xã hội thế nào văn nghệ thế ấy”( Hồ Chủ Tịch )

Tư tưởng trong tác phẩm văn học và điện ảnh là tư tưởng nghệ thuật mang tầm khái quát được người nghệ sĩ thể hiện bằng những hình thức, phương thức nghệ thuật đầy sáng tạo mang dấu

ấn của cá nhân và thời đại Tư tưởng nghệ thuật đó được đem lại từ một cơ cấu nghệ thuật – thẩm

mỹ độc đáo, đặc sắc, góp phần làm giàu thêm óc thẩm mỹ - nghệ thuật của con người Giá trị của những tác phẩm văn học và điện ảnh bao giờ cũng thể hiện qua tư tưởng đúng, phù hợp với sự vận động, sự tiến bộ của xã hội của thời đại Trong thế kỷ XX, khi khoa học và kỹ thuật phát triển, hàng lọat các tác phẩm văn học nổi tiếng từ cổ điển đến hiện đại đã được chuyển thể sang kịch bản điện

ảnh.Điện ảnh là nghệ thuật thứ bảy “sinh sau đẻ muộn”, có cùng chức năng phản ánh hiện thực như

văn học, đã nhanh chóng khai thác tiềm năng sẵn có của văn học để làm phong phú thêm cho mình Chỉ có tư tưởng đúng, hình tượng sâu sắc chân thực thì phim mới có nội dung phong phú và hấp dẫn Bắt mạch được những điểm gần gũi của hai ngành nghệ thuật: văn học và điện ảnh, những người làm công tác điện ảnh đã cố gắng tìm cách chuyển thể những tác phẩm văn học sang điện ảnh

Họ tin tưởng và hiểu rằng: chính sự hấp dẫn từ các tác phẩm văn học gốc sẽ làm cho điện ảnh có sự quyến rũ Điều đó cũng đồng nghĩa với sự đảm bảo thành công cho tác phẩm điện ảnh, bởi điện ảnh

là công nghệ kỹ thuật rất tốn kém Nói về sự gần gũi giữa văn học và điện ảnh, nhà nghiên cứu điện

ảnh Pháp Emmamuelle Toulet đã viết:“Điện ảnh cần sự tưởng tượng bởi vì trước khi trở thành sản

phẩm của bộ óc và khoa học, điện ảnh là sản phẩm tưởng tượng của các nhà tiểu thuyết”.(121)

Thật khó mà hình dung điện ảnh Trung Quốc sẽ ra sao nếu thiếu đi cả một kho tàng văn học

phong phú ? Hàng trăm các bộ phim truyện đã được làm từ các tác phẩm văn học như: Hồng Lâu

mộng, Thiên long bát bộ, Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí, Người tình của Tần Thủy Hòang, Tể tướng Lưu gù Đặc biệt gần đây có bộ tiểu thuyết Cao lương đỏ của nhà văn Mạc Ngôn được đạo

diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể thành công sang điện ảnh Nhà văn Mạc Ngôn được coi là

“Người khai phá thế kỷ” của văn đàn Trung Quốc, ông nổi tiếng với bộ tiểu thuyết Cao lương đỏ gồm 5 tập Câu chuyện trong Cao lương đỏ là bối cảnh xã hội ở nông thôn Trung Quốc vào thập

Trang 13

niên 80 với nhiều diễn biến phức tạp Điều mà tác phẩm văn học gây ấn tượng nhất cho đạo diễn là

‘Những miêu tả của Mạc Ngôn về màu sắc, đó là lọai cảm giác tả ý sâu sắc Tôi thích sự hào sảng,

khóang đạt của câu chuyện Hành động của các nhân vật đều rất mạnh mẽ, cốt chuyện cũng rất có sức mạnh, chúng đặc biệt hấp dẫn tôi.” (112)

Phim Cao lương đỏ, là bộ phim đầu tiên Trương Nghệ Mưu chuyển từ vai trò quay phim

sang làm đạo diễn và với bộ phim này tên tuổi Trương Nghệ Mưu đã vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc Bộ phim này được giải Gấu vàng tại liên hoan phim quốc tế Berlin năm 1988, đây cũng là bộ phim đầu tiên nữ diễn viên Củng Lợi tham gia và được người xem ngưỡng mộ Sau đó, đạo diễn Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi lại tiếp tục thành công qua một số tác phẩm được chuyển thể từ văn

học: Cúc đậu , Đèn lồng treo cao, Thu Cúc đi kiện Năm 1992, bộ phim Cúc đậu đạt giải Sư tử vàng tại liên hoan phim quốc tế Venise Đạo diễn Trương Nghệ Mưu tâm sự:“ Đến nay nhiều

người xem Trung Quốc vẫn cho rằng “Cao lương đỏ” là tác phẩm hay nhất của tôi, công này thuộc

về giá trị của tiểu thuyết, mặc dù tôi có thay đổi rất nhiều tình tiết, song thần vận trong phim và cảm giác về một sức sống mãnh liệt được thích phóng, hòan tòan do tiểu thuyết cung cấp.”

Qua lịch sử điện ảnh, chúng ta có thể khẳng định rằng: văn học là nguồn cung cấp đề tài, tư

tưởng vô tận cho điện ảnh Hầu hết các tác phẩm văn học hay và vĩ đại của Nga: Anna Karênina,

Phục sinh, đặc biệt Chiến tranh và hòa bình của Lep.Tônstôi; Tội ác và hình phạt, Anh em nhà Karamazốp của Dostôiepski; Con đường đau khổ của A.Tônstôi; Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp

đều được các nhà điện ảnh Nga và phương Tây chuyển thể sang những tác phẩm điện ảnh tầm cỡ,

làm nức lòng khán giả thế giới Đặc biệt Chiến tranh và hòa bình là bộ sử thi về cuộc chiến tranh vệ

quốc vĩ đại của nhân dân Nga đầu thế kỷ 19 với hơn 500 nhân vật, được chuyển thể sang điện ảnh đến ba lần ( Nga: hai lần, Mỹ: một lần) Bộ phim được đánh giá thành công nhất là của đạo diễn S.Bondartchúc, một trong những đạo diễn tài ba nhất của Liên xô cũ Đó là một bộ phim vô cùng tráng lệ trong điện ảnh Liên Xô và đoạt giải Oscar năm 1968

M.Gorki nhà văn vô sản vĩ đại, người có nhiều tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện

ảnh Tác phẩm Người mẹ được chuyển thể đến ba lần, Vát-xa Giê-lê-dơ-nô-va ; Ê-go Bu-lư-sốp và

những người khác hai lần …Đặc biệt Người mẹ do Puđốpkin làm đạo diễn, Darơkhi chuyển thể kịch

bản là mẫu mực về nghệ thuật cải biên tác phẩm văn học sang điện ảnh Sau này, Liên Xô đã chuyển thể gần 20 tác phẩm của M Gorki lên màn ảnh bao gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch

Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, của nhà văn – nhà thơ Nga vĩ đại Boris Pasternak, cuốn sách

được nhà văn ấp ủ và viết trong 10 năm (1946- 1956), tác phẩm được trao giải Nobel văn học năm

1958 Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago là câu chuyện tình yêu của một nhà thơ trải qua cơn bão táp của Cách mạng tháng Mười Nga Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago đã được nhà sản xuất người Ý, Carlo Ponti, đạo diễn người Anh David Lean - người đã hai lần đọat giải Oscar ( phim “Cầu sông Kwai” 1957 và

“Lawrence of Arabia”1962) chuyển sang điện ảnh Nhà biên kịch tài ba người Anh Robert Bolt,

chuyển từ một tiểu thuyết dài 700 trang thành một kịch bản vừa tầm 284 trang Sau một năm chuẩn

bị và một năm quay phim, bộ phim được hòan thành và 27/12/1965 được chính thức công chiếu Tại

giải Oscar năm 1966, bộ phim Bác sĩ Zhivago đã được đề cử 10 giải Oscar và đã đọat 5 giải (quay

phim, kịch bản chuyển thể, âm nhạc, thiết kế trang phục, thiết kế mỹ thuật)

Trang 14

Nói đến điện ảnh Pháp, sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến Victo Hugô, nhà văn kiệt xuất của văn học Pháp thế kỷ XIX Ông là nhà văn đã kết hợp được những tình cảm phổ biến nhất, những khát vọng bình dị và sâu xa nhất của con người trong một sự nghiệp đồ sộ gồm thơ và văn

xuôi Ông được các nhà nghiên cứu đánh giá như “nhà tiên tri của hòa bình trên tòan thế giới” Đến

cuối thế kỷ XX, người ta vẫn cho rằng nếu trong lịch sử văn học Pháp thiếu Hugô, sẽ mất đi chẳng những một đỉnh cao nhất mà còn thiếu cả một giải Trường Sơn đồ sộ nhất Trong lĩnh vực văn xuôi, Hugô có nhiều sáng tạo độc đáo, gần như tất cả các tác phẩm văn học nổi tiếng của ông đều được

dựng thành phim, đặc biệt hai tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pa ri, Những người khốn khổ

Tác phẩm Nhà thờ Đức bà Pa ri ra đời từ 1831, đã gặt hái được thành công ngay từ lần xuất

bản đầu tiên và được công chúng đón nhận nồng nhiệt Nhà văn đã miêu tả nền văn hóa nước Pháp với đầy đủ những phong tục tập quán, sinh họat, tín ngưỡng, nghệ thuật thời ấy Tác phẩm phản ánh tính nhân văn, triết học và lí tưởng thẩm mỹ của văn học châu Âu Tác phẩm được chuyển thể sang điện ảnh đến 6 lần trong khỏang thời gian từ 1911 -1996, trong đó phiên bản đen trắng do Mỹ sản xuất năm 1939 của đạo diễn William Dieterle và bản màu năm 1958 do Pháp sản xuất, của đạo diễn

Jean Delannoy là được yêu thích nhất

Như vậy, cùng là hình thái ý thức xã hội, có chức năng và mục đích là phản ánh cuộc sống hiện thực, văn học và điện ảnh đã tìm thấy tiếng nói chung trong phản ánh hiện thực Văn học đã cung cấp cho điện ảnh những nguyên liệu có sẵn để từ đó các nhà điện ảnh có cơ sở để tái sáng tạo

lại Tục ngữ có câu: “Có bột mới gột nên hồ ”, từ những tư tưởng, đề tài, tình huống đặc biệt là

hình tượng nhân vật trong văn học các nhà biên kịch, đạo diễn điện ảnh xây dựng thành kịch bản phim Họ không phải mất công đi tìm kiếm đề tài, tư tưởng, xây dựng cốt truyện, tính cách nhân vật

mà trên cơ sở có sẵn, chọn lọc và tìm ra con đường phù hợp nhất để chuyển lên màn ảnh những điều

mà đạo diễn điện ảnh tâm đắc cho tác phẩm của mình

Cũng như các nền văn học khác trên thế giới, văn học Việt Nam là kết tinh của nền văn hóa

và tâm hồn người Việt Nam Mỗi giai đọan, mỗi thời kỳ văn học đều có những nét riêng biệt tiêu biểu, nhưng bao trùm nhất vẫn là truyền thống yêu nước, gắn bó với quê cha đất tổ và với những con người cần cù một nắng hai sương Đặc biệt, sau hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, văn học đã ghi nhận và phản ánh một cách trung thực lịch sử cách mạng và truyền thống vẻ vang của dân tộc Văn học nghệ thuật của Việt Nam ra đời và phát triển trong hòan cảnh đất nước có chiến tranh, vì vậy hiện thực đó tất yếu phải có mặt trong nghệ thuật và được phản ánh khá thành công so với các mảng đề tài khác Hầu hết các tác phẩm văn học hay, phản ánh chân thực cuộc kháng chiến của dân tộc đã được chuyển thể sang điện ảnh Tiếng vang của điện ảnh cũng bắt đầu từ những phim đã được chuyển thể thành công

Nhà văn đầu tiên có duyên với điện ảnh là Tô Hòai, hai tác phẩm văn học: Vợ chồng A Phủ

và Kim Đồng của ông được chuyển thể sang điện ảnh đều là những phim hay, và do chính nhà văn

tự chuyển thể Cả hai phim cùng đạt giải bông sen bạc tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ II năm

1973

Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc, được giải nhất tiểu thuyết, giải

thưởng hội Văn nghệ Việt Nam 1954 -1955 Phim Vợ chồng A Phủ (sản xuất năm 1961), do đạo

Trang 15

diễn Mai Lộc, Hòang Thái dàn dựng A Phủ và cô Mỵ là đôi nam nữ thanh niên dân tộc Mèo bị tên thống lí gian ác cấu kết với Pháp áp bức bóc lột cùng cực Từ người dân nô lệ, được giác ngộ cách mạng, họ đã cùng bà con dân bản đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương và xây dựng cuộc sống mới

Phim Kim Đồng (sản xuất năm1964) do Nông Ích Đạt đạo diễn Bộ phim là chân dung của

người thiếu niên anh hùng dân tộc Nùng đã trở thành huyền thọai trong kháng chiến chống Pháp tại khu căn cứ Việt Bắc năm 1943

Phim Chị Tư Hậu (sản xuất năm 1963), dựa trên truyện dài của tác giả Bùi Đức Ái Một

chuyện chép ở bệnh viện, do nhà văn tự chuyển thể Từ một tác phẩm văn học dài gần 200 trang

được rút ngắn lại thành kịch bản 80 trang Phim được huy chương bạc tại liên hoan phim quốc tế Mátxcơva năm 1963 và giải bông sen vàng tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ II năm 1973 Phim

Chị Tư Hậu đã khẳng định chân lí ngàn đời: “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, cuộc sống áp

bức khổ nhục đã buộc mỗi người dân bình dị hiền hòa sẵn sàng sống mái với kẻ thù và trở thành

người chiến sĩ cách mạng ngoan cường Chị Tư Hậu là điển hình tiêu biểu cho hình ảnh người phụ

nữ trong những năm kháng chiến

Phim Chim vành khuyên dựa trên truyện ngắn Câu chuyện về một bài ca của Nguyễn Văn

Thông, phim cũng do tác giả cùng với Trần Vũ chuyển thể và đạo diễn Bộ phim được giải bông sen vàng liên hoan phim Việt Nam lần thứ II năm 1973, giải đặc biệt dành cho phim ngắn tại Tiệp Khắc năm 1962 Chuyện phim kể về cha con bé Nga - một cơ sở Cách mạng Trong một lần bị lộ, bé Nga

đã anh dũng hy sinh để bảo vệ cán bộ Bộ phim là một bài ca tuyệt đẹp về tính nhân văn cao cả và tính trữ tình sâu sắc, đến nay nó vẫn là bộ phim hay hiếm có trong lịch sử điện ảnh Việt Nam

Phim Nguyễn Văn Trỗi, dựa theo tác phẩm Sống như Anh của nhà văn Trần Đình Vân, sản

xuất 1966, phim được bông sen vàng tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ I năm 1970 Bộ phim do Bùi Đình Hạc đạo diễn Phim đã khắc họa thành công sự hy sinh anh dũng của người thợ điện

Nguyễn Văn Trỗi, ngay trên thành phố Sài gòn, giữa hang ổ của Mỹ ngụy, trong những năm sôi

động nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ Bộ phim như bức tranh minh họa sống động những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: Có những phút làm nên lịch sử

Có cái chết hóa thành bất tử

Có những lời hơn mọi bài ca

Có những con người như chân lí sinh ra

(Tố Hữu – Hãy nhớ lấy lời tôi) Phim Ngày lễ thánh dựa trên tác phẩm Bão biển của nhà văn Chu Văn, đạt giải bông sen bạc

tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV năm 1977 Nữ diễn viên Trà Giang được giải diễn viên khá nhất Phim do đạo diễn Bạch Diệp chuyển thể kịch bản từ văn học Tâm đắc với tác phẩm văn học

và đạo diễn kể lại: “Tôi mê đến mức làm ngày, làm đêm, phát ốm Sau khi ốm nhìn lại những trang

bản thảo run run chữ, hóa ra mình ốm lâu rồi mà không biết” Bộ phim liên quan đến nhiều vấn đề

lớn: tôn giáo, chính trị , thời đại Nó vừa gai góc lại vừa tinh tế Bộ phim đi sâu khai thác nhiều vấn đề của số phận con người, nhất là cuộc đời người phụ nữ công giáo Tất cả tỏa sáng và nóng bỏng những mong ước, khao khát những niềm tin trong sáng thánh thiện bị phủ lấp bởi những giáo

Trang 16

đìều, định kiến Rồi không khí của cuộc sống mới đã thúc đẩy họ tự làm chủ, tự đón nhận sự phán xét của lương tâm, sự quyết định của chính mình

Phim Cánh đồng hoang, do nhà văn Nguyễn Quang Sáng chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên

của ông do Hồng Sến đạo diễn Bộ phim được giải bông sen vàng tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ V năm 1980 và bốn giải xuất sắc nhất cho biên kịch Nguyễn Quang Sáng, đạo diễn Hồng Sến, quay phim Đường Tuấn Ba, diễn viên Lâm Tới Năm 1981, phim lại đạt giải vàng tại liên hoan phim quốc tế Mátxcơva Qua bộ phim này, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã

được khái quát một cách sinh động Cánh đồng hoang đã đặt cả gia đình người chiến sĩ giao liên

vào một hòan cảnh đầy khó khăn khốc liệt Họ vừa phải chinh phục thiên nhiên, tăng gia sản xuất để bảo tồn cuộc sống, vừa phải chiến đấu chống ngọai xâm để bảo vệ tự do độc lập Phim không chỉ lên án chiến tranh phi nghĩa, ca ngợi người lính chiến đấu hy sinh cho nền tự do độc lập của Tổ quốc mà còn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của người chiến thắng

Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát ba tác phẩm văn học :Chùa Đàn của Nguyễn Tuân,

Thời xa vắng của Lê Lựu và Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu Cả ba

tác phẩm văn học đều là những tác phẩm đã khẳng định vị trí trên văn đàn và được công chúng yêu mến vì những giá trị tư tưởng nhân văn và giáo dục

2 Văn học và điện ảnh cùng chung đối tượng mục đích và chức năng là phục vụ cuộc sống của con người

Phạm vi quan tâm của nghệ thuật rất rộng lớn nhưng nó được xác định bởi một tiêu chí: hiện thực trong mối quan hệ thẩm mỹ với con người Điều đó nói lên rằng con người là trung tâm chú ý ,

là đối tượng chủ yếu, nổi bật của nghệ thuật Lấy con người làm đối tựơng chủ yếu, nghệ thuật bao giờ cũng nhìn nhận hiện thực qua cái nhìn của con người Qua cái nhìn đó, nghệ thuật phát hiện ra bản chất của hiện thực, và mặt khác trở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người

Xã hội lòai người càng nảy sinh nhiều mối quan hệ thì đối tượng của nghệ thuật càng mở rộng Các tác phẩm nghệ thuật đi sâu mổ xẻ các mâu thuẫn xã hội cũng nhằm để ngợi ca và tôn vinh

con người, đúng như nhà triết học D.Diderot đã viết : “Con người là giá trị cao nhất, là kẻ sáng tạo

duy nhất tất cả mọi thành tựu văn hóa trên trái đất, là trung tâm, là điểm mà tất cả xuất phát từ đó

và phải quay về đó”

Các nhà văn luôn luôn khao khát được tìm hiểu khám phá những điều mới mẻ ở con người,

nhà văn vĩ đại Nga, Đôxtôiepxki từng nói : “Con người là một điều bí ẩn, cần phải khám phá con

người Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy vì tôi muốn trở thành con người” Nhưng con người không tồn tại

đơn độc, nó tồn tại và phát triển trong quan hệ với thiên nhiên, xã hội Mác đã đúc kết: “Trong tính

hiện thực trực tiếp của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” Do vậy, khi sáng

tạo ra các hình tượng nhân vật, nhà văn luôn đặt nhân vật vào hệ chuẩn giá trị về con người, bắt nhân vật phải bộc lộ hành vi trong các mối quan hệ xã hội, cụ thể hơn là trong mối quan hệ giữa

Trang 17

Hình tượng càng sâu sắc bao nhiêu, tác phẩm càng có giá trị bấy nhiêu, càng chứng tỏ tài năng của nhà văn Sự hấp dẫn của tác phẩm văn học và điện ảnh thường cuốn hút người xem ở hình tượng nhân vật Hình tượng nghệ thuật là vũ khí của nghệ sĩ trong cuộc đấu tranh cho lí tưởng Nghệ sĩ dùng hình tượng để bảo vệ cái đẹp, lên án cái xấu, tác động đến xúc cảm người đọc, giáo dục người đọc về mặt thẩm mỹ Bằng những sáng tác của mình, người nghệ sĩ khẳng định những tư tưởng tiến bộ, ngợi ca điều thiện và chính nghĩa Những giá trị nghệ thuật chân chính trong trong mỗi tác phẩm dù ở bất kỳ thể lọai nào, đề tài nào cũng đều có khả năng cảm hóa con người

Các nhà triết học Hilạp cổ đại đã khẳng định, văn học nghệ thuật nói chung giải phóng con người thóat khỏi những dục vọng tầm thường xấu xa, làm cho con người, tâm hồn con người trở nên thanh khiết Nghệ thuật khơi dậy những nguồn cảm xúc đạo đức tích cực, làm phong phú hơn đời sống tình cảm của con người Từ tiếng cười trong ca dao dân gian đến nỗi buồn trong những câu thơ

cổ, từ lời hịch đánh giặc vang vọng hào khí Đông A tới niềm vui xốn xang trong tình yêu Kim - Kiều, tất cả đều có thể làm tâm hồn người ta trong sáng hơn, nhắc nhở người ta yêu thương sự sống, trân trọng cái đẹp Văn học nghệ thuật không thuyết minh cho những nguyên tắc đạo đức, cũng không trực tiếp trưng bày những tấm gương đạo đức, nhưng góp phần cải tạo tâm hồn – cái nguồn mạch sâu xa và sinh động của đạo đức

Nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống nhưng không sao chép đời sống Từ những quan sát, thể nghiệm, khái quát từ cuộc sống, nghệ sĩ sáng tạo những hình tượng cụ thể sinh động phản ánh chân

lí đời sống Ở đây người nghệ sĩ có thể dùng một hình thức không có thực để phản ánh cái có thực

Từ vô số hiện tượng trong đời sống, từ hàng lọat các cuộc đời, số phận cá nhân riêng lẻ, từ muôn vàn những mối quan hệ, những sự kiện đan chéo nhau, chồng chất lên nhau trong đời sống xã hội, nhà văn phải tìm được cái cơ bản nhất, có tính quy luật và thể hiện nó trong một hình thức cá biệt, sinh động Đó là quá trình nhào nặn, tái tạo hiện thực rất công phu và giàu tính sáng tạo của nhà văn

để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật Đó là “con người, nhiều người, nhân vật – nhiều nhân vật”,

là “một người lạ quen biết”, nghĩa là “ mỗi nhân vật là biểu hiện của cả một thế giới riêng của nhiều nhân vật đồng thời lại chỉ là một nhân vật trọn vẹn” (Biêlinxki)

Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật Mục đích của tư duy nghệ thuật là tìm đến bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm bắt quy luật đời sống khách quan Từ những phát hiện về “cái phổ biến” trong “cái đặc thù”, “cái cá thể”, tư duy hình tượng giữ lại cảm giác và biểu tượng để xây dựng hình tượng – một phương tiện phản ánh hiện thực giàu tính thẩm mỹ Hình tượng nghệ thuật là phương tiện, là hình thức mang tính nội dung của văn học và điện ảnh Chính nhờ đặc điểm gần gũi nhau ở tư tưởng và hình tượng nghệ thuật, nên tác phẩm văn học đã trở thành nền tảng cốt lõi cho tác phẩm điện ảnh

Điều đó thể hiện rất rõ qua sức sống bền bỉ của những nhân vật trong các tác phẩm văn học bất hủ của nhân lọai, khi được sống cuộc sống thứ hai trên màn ảnh Đó là hình ảnh trong trắng,

lãng mạn của đôi tình nhân trong tác phẩm Rômêô và Giuliét Đó là lòng thù hận của nhân vật Hăm

Lét với câu nói đầy ý nghĩa của Hămlét khi giải thích với mẹ việc làm của mình: “Vì nhân nghĩa con phải trở nên bạo tàn” Đó là lòng ghen tuông mù quáng đã dẫn đến kết cục bi thảm của tướng

quân Ôtenlô và nàng Đexđêmôna xinh đẹp trong những tác phẩm của nhà văn vĩ đại người Anh

Trang 18

Secxpia Đó là một Mađơlen từ tâm thánh thiện, từ nghèo đói phải sống 19 năm trong bóng tối nhà

tù tư sản, đầy đau khổ vươn lên, muốn khẳng định quyền sống của con người bằng một lương tâm tốt đẹp; một cảnh sát trưởng Giave hiện thân cho pháp luật hung thần, thú dữ, hiện thân của luật

pháp tư sản khắc nghiệt trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victo Hugô Với cách miêu tả

hình tượng sống động nhất quán và chân thực, những hình ảnh nhân vật trên phim đã tạo được ấn tượng khó quên trong lòng người xem Bởi khán giả được cảm nhận trực diện với nhân vật bằng xương bằng thịt, nhìn nghe, thổn thức và trăn trở cùng nhân vật Điều đó càng làm cho nhân vật văn học trường tồn mãi cùng thời gian

Sự gắn bó với hiện thực đời sống của đất nước, của con người, sự rung động thực sự với hiện thực đã góp phần “mách bảo” người nghệ sĩ tìm ra hình thức thể hiện nghệ thuật thích hợp, tìm ra con đường đến với tư tưởng, trái tim của số đông quần chúng Mỗi người Việt Nam mấy ai trong đời không từng rung động trước buồn vui gian khổ, hy sinh của dân tộc, qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, không từng có trong mình hình ảnh anh bộ đội, cô thanh niên xung phong,

bà mẹ hậu phương Hoặc hình ảnh làng quê tươi đẹp đã trải qua bao thăng trầm của chiến tranh đang cải tạo, xây dựng cuộc sống mới, với những con người giản dị, chất phác, quen thuộc và gần gũi Cũng mấy ai không từng băn khoăn suy nghĩ hoặc khắc khỏai trước những vấn đề của xã hội hiện tại khi đất nước đang đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với biết bao biến động, xáo trộn, có xây dựng và đổ vỡ, có thành tựu và mất mát, có tin tưởng phấn khởi nhưng không phải không có lúc hòai nghi, bên cạnh những kỳ tích lớn lao có không ít những bi, hài kịch Tất cả những vấn đề đó đã được các nhà văn chuyển tải qua tác phẩm văn học và trở thành những nguyên liệu màu mỡ để khai thác, xây dựng nên những kịch bản hay, những bộ phim hay Hình tượng người chiến sĩ giao liên Ba Đô được diễn viên Lâm Tới thể hiện một cách sinh

động và chân thực trong phim Cánh đồng hoang của đạo diễn Hồng Sến, dựa theo truyện ngắn cùng

tên của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ V năm 1980, cố nghệ sĩ nhân dân Lâm Tới đã được trao giải nam diễn viên xuất sắc nhất

Nếu hình tượng Chim vành khuyên đậm đà chất thơ, chất trữ tình thì chị Tư Hậu nghiêng về

khai thác nội tâm, một trong những phương pháp có hiệu quả để xây dựng điển hình Quá trình phát triển tính cách của chị Tư Hậu là quá trình vượt qua hàng lọat các thử thách: từ một người vợ, một người mẹ, tới một chiến sĩ Từ khiếp sợ tới dũng cảm, từ non nớt đến giác ngộ, sự thể hiện chân thực, có sức thuyết phục

Từ ngôn ngữ văn học của nhà văn Bùi Đức Ái, đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã sáng tạo cho nghệ

thuật một điển hình người phụ nữ kháng chiến có tầm khái quá cao Hình ảnh của Chị Tư Hậu – từ

người phụ nữ hiền hòa lương thiện thành chiến sĩ họat động cách mạng ngoan cường trong lòng

địch Với diễn xuất chân thực của mình qua hình tượng Chị Tư Hậu, nghệ sĩ nhân dân Trà Giang đã

nhận được giải đặc biệt tại liên hoan phim quốc tế Mátxcơva năm 1963

Trong Vợ chồng A phủ của Tô Hòai, nhân vật Mỵ được đánh giá “là một nhân vật thành

công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đương đại Việt Nam “ (Trần Đình Sử) Một trong những bí

quyết thành công là nhà văn đã khắc họa quá trình tâm lí đầy biến hóa, ngẫu nhiên, bất ngờ, mà vẫn nằm trong vòng tình lí của cuộc sống Nhân vật trở nên đa diện, đầy mâu thuẫn nhưng lúc nào cũng

Trang 19

là nhân vật chứ không phải ai khác Mỵ là nhân vật trung tâm, linh hồn của truyện, hiện thân cho tuổi trẻ miền núi bị vùi dập và đã vùng lên giải thóat cho mình Ngòi bút của tác giả đã thâm nhập sâu sắc vào những biến hóa, đổi thay tinh vi của tình cảm nhân vật :từ cách uống rượu, cơn say đưa nhân vật vào quá khứ con người của hiện tại chợt tỉnh con người của tâm trạng xót thương mình, óan hờn Tấm lòng nhân đạo của tác giả sâu sắc không chỉ phơi bày thói tục phi nhân tính của giai cấp thống trị, mà còn thể hiện ở chỗ nhìn ra con người bên trong của Mỵ và đặt trọn niềm thương

yêu vào đó Cố nghệ sĩ ưu tú Đức Hòan, diễn viên đóng vai Mỵ nhận xét: “Nhân vật có số phận thật

sự, những kịch tính, nhất là kịch tính tâm lí được đẩy đến cao độ tạo được đất diễn cho diễn viên

Bộ phim dài gần hai tiếng nhưng nhân vật Mỵ chỉ nói 17 câu.” Thành công của phim Vợ chồng A phủ là đã diễn giải về cuộc giải phóng dân tộc mà không đao to búa lớn, chỉ bằng những hình tượng

màn ảnh sống động Các vai diễn tuy không phải là người Mèo (Hmông) nhưng vào vai rất thật, rất

“Hmông”

Một đặc điểm tạo nên sức hấp dẫn của của hình tượng nghệ thuật là điển hình hóa nghệ thuật

Đó là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa cái khái quát và cái cá biệt, là chất nhụy được kết tinh từ hiện thực Xuất phát từ sự phong phú của bản thân hiện thực và từ tính đặc thù của sự phản ánh nghệ thuật, hình tượng văn học và điện ảnh thường là một hiện tượng thẩm mỹ đa nghĩa Nhà văn Gorki khẳng định :văn học từ ngàn năm trước đã không đơn giản là thỏa mãn nhu cầu giải trí Nhà văn muốn thông qua những hình tượng nghệ thuật để khơi gợi những ước mơ, giúp con người được vui, buồn, yêu, ghét nhiều hơn, tạo ra những biến đổi trong tư tưởng tình cảm của con người, cổ vũ và tiếp sức cho con người trong cuộc sống

Như vậy, từ những tác phẩm nghệ thuật cụ thể, ý tưởng của các tác giả ẩn sâu trong từng công cụ kỹ thuật riêng biệt, chính sự chắt lọc từ văn học đã mang lại cho điện ảnh sự phong phú, tinh túy Đạo diễn Trương Nghệ Mưu, một đạo diễn Trung Quốc, từng có nhiều phim đọat giải quốc

tế được chuyển thể từ văn học cho biết bí quyết thành công của ông: “Các phim của tôi đều chuyển

thể từ tiểu thuyết tôi thường xem tiểu thuyết để tìm đề tài Điều khó nhất đối với tôi là ngồi trước trang giấy trắng hoặc ngồi trước máy vi tính, bắt tôi làm việc từ con số không Cho nên tôi rất khâm phục các nhà văn, sao họ có thể viết ra được lắm câu chuyện đến thế ?”(112)

3 Văn học và điện ảnh cùng là anh em trong “gia đình nghệ thuật”

Theo các nhà nghiên cứu, trong thời kỳ đầu của lịch sử, lọai hình nghệ thuật vũ đạo chiếm ưu thế Sang thời cổ đại, lọai hình điêu khắc chiếm vị trí tiên phong Đến thời đại Phục hưng và chủ nghĩa cổ điển, thì vai trò đó chuyển sang hội họa Và đến thế kỷ XIX, văn học đã vươn tới vị trí hàng đầu trong nghệ thuật

Mỗi lọai hình nghệ thuật phản ánh hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật đặc thù của nó Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với chất liệu cụ thể Mối quan hệ giữa hình tượng và chất liệu là mối quan hệ hữu cơ, xuyên thấm, thâm nhập vào nhau Chất liệu sẽ mất tính thẩm mỹ nếu rời bỏ hình tượng và ngược lại hình tượng chỉ có thể tồn tại qua chất liệu Đặc tính và chất lượng của các hình tượng gắn liền với các đặc tính nguyên liệu làm cơ sở cho nó

Hình tượng hội họa được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; hình tượng điêu khắc được xây dựng bằng đường nét, hình khối; hình tượng âm nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu;

Trang 20

hình tượng sân khấu tồn tại qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ của các diễn viên; hình tượng điện ảnh được xây dựng trên âm thanh và hình ảnh Văn học xây dựng hình tượng bằng ngôn từ Qua hình tượng nghệ thuật xây dựng từ chất liệu ngôn từ, văn học có thể sử dụng đa dạng, linh họat hình ảnh, sắc màu, đường nét do từ ngữ chứa đựng Nhà văn có thể vẽ nên những bức tranh ngôn từ tuyệt đẹp

về cảnh thiên nhiên, về con người và đời sống xã hội

Ai đã từng đọc truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, chắc chắn không thể quên được vẻ

đẹp kiều diễm của hai chị em Thúy Kiều: “ Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” Không những đẹp người, họ còn là những cô gái ‘Mai cốt cách, tuyết tinh thần” Nói đến nét đẹp của Thúy Vân,

nhà thơ gợi cho người đọc vẻ đẹp của vầng trăng, đóa hoa, áng mây, và màu tuyết Một vẻ đẹp như tranh vẽ

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Đến Thúy Kiều, vẻ đẹp rực rỡ “sắc sảo, mặn mà ” của nàng đã làm cỏ hoa phải “hờn , ghen ”

Nguyễn Du đã vận dụng tài tình tất cả nét đẹp của nghệ thuật vào thơ ca để tạc nên vẻ đẹp

người thiếu nữ Trong trường hợp này, nhận xét của nhà thơ Sóng Hồng thật chính xác:”Thơ là thơ,

đồng thời cũng là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng”

Mặt khác, từ ngữ còn chuyển tải qua âm thanh lời nói, khi chúng được sắp xếp trong một trật

tự nào đó chúng sẽ “vang lên những nhạc điệu khác thường” Vì vậy thơ ca rất gần gũi với phần lời

và phần nhạc trong các làn điệu dân ca gắn bó mật thiết trong quá trình biểu diễn Khi được nghe tiếng đàn của Kiều theo cách Nguyễn Du miêu tả, người nghe như được sống trong không gian thiên nhiên đầy âm sắc, vừa gần gũi vừa đẹp như một giấc mơ:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời Tiếng khoan như gió thỏang ngòai Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

Điều đó có thể lí giải vì sao, đầu thế kỷ XX, nhiều nhà mĩ học trên thế giới đã ngợi ca và

khẳng định vị trí tối cao của văn học Bêlinxki, nhà mĩ học Nga nổi tiếng lúc bấy giờ đã viết : “Thơ

văn là lọai hình cao cấp nhất… Thơ văn thể hiện trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa

là âm thanh, vừa là bức tranh, vừa là khái niệm Do vậy, thơ văn mang trong mình tất cả các yếu tố của các nghệ thuật khác, nó như đồng thời sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các lọai hình nghệ thuật riêng biệt Thơ văn chính là tòan bộ nghệ thuật” Chính trong ý nghĩa này, mà

Trang 21

người xưa thường nói: “trong thơ có họa”, “trong thơ có nhạc” Ngày nay, người thưởng thức văn học hay lưu y giá trị tạo hình của câu văn, câu thơ

Cùng với sự phát triển ngày càng cao của văn minh nhân lọai, các lọai hình nghệ thuật ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp Trong quá trình ấy, tồn tại song song hai xu hướng vừa mâu thuẫn vừa thống nhất là chia tách và giao thoa giữa các ngành nghệ thuật Tùy thuộc vào đặc trưng của từng lọai hình nghệ thuật và đặc trưng tâm lý - thẩm mỹ của từng thời đại mà vị trí của chúng có những đổi thay

Ở thời đại nào văn học cũng có thể vẽ nên những bức tranh ngôn từ tuyệt đẹp về cảnh thiên

nhiên, về con người, xã hội Qua đó, văn học đã thể hiện là một nghệ thuật mang tính tổng hợp,

gián tiếp và trở thành điểm giao thoa của nhiều lọai hình nghệ thuật khác Điều đó đã thể hiện rất rõ

trong lịch sử hình thành của nghệ thuật điện ảnh

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khoa học kỹ thuật phát triển, nghệ thuật điện ảnh ra đời đã thâm nhập ngày càng sâu rộng và chiếm ưu thế trong sinh họat nghệ thuật của lòai người Hàng lọat các tác phẩm văn học được chuyển thể sang sân khấu và điện ảnh, nhưng trước khi để có được vở

kịch, bộ phim cần phải có kịch bản văn học, vì thế mà danh từ văn học kịch ra đời

Như vậy, văn học ban đầu đã là cái nền vững chắc để điện ảnh cất cánh Một nền tảng văn học phong phú là một trong những nguyên nhân dẫn tới nền điện ảnh có nhiều tác phẩm hay do chuyển thể từ nguyên tác văn học Các nhà điện ảnh không chỉ lưu tâm đến những câu chuyện trong chính sử mà những câu chuỵện hoang đường, chuyện ngòai lịch sử cũng thu hút trí tò mò của họ không kém Nhiều bộ phim đã được phóng tác từ những câu chuyện mang tính giai thọai, thêu dệt

từ văn học, lịch sử và đạt tới kết quả mỹ mãn như: Võ Tắc Thiên, Người tình của Tần Thủy Hòang

Ngành nghệ thuật sát với điện ảnh nhất là nhiếp ảnh Ông tổ của điện ảnh là anh em nhà Louis và Augustr Lumiere Trong đại hội nhiếp ảnh ngày 28/12/1985, hai ông cho chiếu ra mắt công

chúng những bức ảnh động đầu tiên, và ngày đó được coi là ngày khai sinh ra nghệ thuật điện ảnh

Thứ đến là âm nhạc Từ những gõ, phách ban đầu trong những phường, gánh

hát nơi thôn dã đến những lọai nhạc mang tính cung đình, bác học đều có thể mang tới cho người nghe những cung bậc khác nhau của cái đẹp.Một làn điệu dạ cổ hòai lang khiến người xem lạc vào một không gian cách điệu nơi có những ông hòang bà chúa, với những bĩ cực sinh lai Một nét nhạc khỏe khoắn gợi đến sự hào hùng của một thời cả nước là tiền tuyến Âm nhạc vào phim đã từ bỏ

tính “độc xướng” của nó, hòa vào hình ảnh, có khi chỉ là một đọan ngắn không thành bài, nhằm

phục vụ cho một y đồ nghệ thuật nhất định Trong nhiều bộ phim, âm nhạc chính là nét gợi và nhắc

khán giả nhớ tới bộ phim: Tây du kí, Bao công

Hội họa cũng có vai trò rất quan trọng trong phim Một bức tranh đẹp, những trường phái hội họa khác nhau cũng đóng góp rất nhiều trong quan niệm về thẩm mỹ, cái gu hội họa đó cũng trở thành một phần trong thiết kế mỹ thuật của phim Để tái hiện lại những cảnh cung đình thời xưa, các họa sĩ thiết kế mỹ thuật không thể không tham khảo qua những bức tranh phản ánh về thời kỳ đó Một ngành nghệ thuật khác gắn bó thân thiết với hội họa là kiến trúc Nhiều khi chỉ cần nhìn vào một công trình kiến trúc là có thể nhận diện ra không gian và thời gian của bộ phim

Điện ảnh ra đời khi những ngành nghệ thuật khác đã phát triển đến độ chín, nên điện ảnh có

cơ hội kế thừa những tinh hoa của các ngành nghệ thuật khác để tỏa sáng cho mình Nó giống như

Trang 22

một đứa em út, “nghệ thuật thứ 7”, sinh sau đẻ muộn, đã tiếp thu tất cả các vẻ đẹp của anh chị mình

để tạo nên vẻ đẹp của mình mà không hề trộn lẫn Sự tiếp nhận, kế thừa này không phải bằng phép tính cộng, mà bằng cách hòa hợp tất cả một cách nhuần nhuyễn để làm nên một nghệ thuật mới mẻ, sống động, với những hình ảnh chân thực, gần gũi và cụ thể của cuộc sống được tái hiện lại Chính

vì vậy, điện ảnh còn được gọi là “hiện thực thứ hai” Về bản chất, điện ảnh đã hình thành và phát

triển như một lọai hình nghệ thuật, nhưng là một lọai hình nghệ thuật đặc biệt với nhiều dấu hiệu

chức năng : nghệ thuật, kinh tế và kỹ thuật

Trong“gia đình nghệ thuật”: văn học, sân khấu, điêu khắc, kiến trúc khi đến với điện ảnh

đã từ bỏ “cái ta” để hòa mình vào “cái chung” và điện ảnh trở thành một lọai hình nghệ thuật tổng

hợp trực quan sinh động

Như vậy, cả văn học và điện ảnh đều là lọai hình nghệ thuật tổng hợp nhưng ở văn học là

tổng hợp gián tiếp, điện ảnh là tổng hợp trực tiếp, nên văn học và điện ảnh là hai ngành nghệ thuật

gần gũi và có nhiều điểm chung

II/ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦAVĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH:

A/ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC:

1 Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học:

Tất cả các bộ môn nghệ thuật đều nhận thức, phản ánh cuộc sống của con người và biểu đạt nội dung của nó bằng hình tượng Mỗi bộ môn nghệ thuật sử dụng một chất liệu riêng để xây dựng hình tượng Chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu ; của hội họa là đường nét, màu sắc; của điêu khắc, kiến trúc là mảng khối Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng Không

thể có văn học nếu thiếu ngôn từ Nhấn mạnh tầm quan trọng đó, M.Gorki viết:” Ngôn ngữ là yếu tố

thứ nhất của văn học”

Nhưng không phải mọi tác phẩm bằng ngôn từ đều là văn học Một công trình khoa học, sách giáo khoa, một bài nói chuyện, thư từ tuy cũng diễn đạt bằng lời văn với mọi phương tiện biểu

hiện của lời nói như nghĩa, vần, nhịp, ngữ điệu…nhưng nó chưa phải là Văn học Khi các biện pháp

tu từ được kết hợp với những phương tiện biểu hiện của lời nói, để tạo ra những hình tượng nghệ

thuật mới gọi là Văn học, theo đúng ý nghĩa hiện đại của từ ấy Điều đó có nghĩa, cùng khai thác

chất liệu ở ngôn ngữ tòan dân, nhưng ngôn từ văn học không giống với ngôn từ hành chính, ngôn từ khoa học, càng không phải là lời nói tự nhiên trong giao tiếp hàng ngày

Ngôn ngữ nhân dân hết sức giàu có về vốn chữ, về hình ảnh, về cách nói vì nó bao gồm tất cả các từ của mọi người, mọi nghề phản ánh được những cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm khác nhau của nhiều thế hệ qua bao nhiêu giai đọan lịch sử của nhiều thế hệ Một nhà văn có tài thường tự phải trau dồi học tập nhiều vẻ phong phú của ngôn ngữ nhân dân Từ trong xa xưa của lịch sử lòai người, truyền thuyết, cổ tích, ca dao dân ca, tục ngữ là những hình thức sáng tác đầu tiên của văn học Trong nguồn văn hóa dân gian ban đầu ấy, ngôn ngữ nhân dân đã gửi gắm vào đó những tâm tư tình cảm, những suy nghĩ, cảm hứng về cuộc sống, về tình yêu của con người đối với con người, với thiên nhiên, với cuộc sống Vẻ đẹp của ngôn ngữ nhân dân đã được nhà văn chắt lọc, lựa chọn những từ ngữ đúng nhất, chính xác nhất, nhiều nghĩa nhất để tạo nên ngôn ngữ văn học

Trang 23

Đó là những nhà văn nhà thơ – những bậc thầy ngôn ngữ :Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan đã làm nên những tác phẩm làm lay động trái tim bao thế hệ người Việt Nam Tất cả những từ cổ mất hiệu lực, từ không phù hợp với tập quán ngôn ngữ, những

từ ngẫu nhiên, tùy tiện, sai ngữ pháp khi vào văn học đều bị tước bỏ Nói một cách hình ảnh, ngôn ngữ nhân dân là quặng vàng nhưng còn dính nhiều đất cát, qua bàn tay khéo léo của nhà văn quặng quí đó đã trở thành vàng mười óng ánh

Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ đã được tinh luyện mài giũa theo thời gian, nhà văn Maiacốpski đã đúc kết :

Phải tốn ngàn cân quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Những chữ ấy làm cho rung động Triệu trái tim trong triệu năm dài

Vậy ngôn từ văn học có những đặc điểm gì ? Việc sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng, văn học có ưu thế như thế nào?

2 /Những đặc điểm của ngôn từ văn học

2.1/ Văn học nhận thức đời sống, biểu đạt nội dung bằng hình tượng nên tính hình tượng là đặc điểm quan trọng nhất của ngôn từ văn học

Ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất Từ ngữ không chỉ là những khái niệm trừu

tượng mà còn là hình ảnh của thế giới khách quan, là “hiện thực trực tiếp của tư duy” (C.Mác) Từ

ngữ khi được sử dụng trong họat động ngôn ngữ bao giờ cũng hướng về những đối tượng cụ thể nhằm tái hiện về đối tượng đó Bản thân từ ngữ chưa nói lên bản chất cụ thể về sự vật và hiện tượng, nhưng nó có khả năng gợi lên trong tâm trí con người những liên tưởng về đối tượng cụ thể Vì vậy, xét trong bình diện họat động ngôn ngữ, từ ngữ vừa có tính cụ thể vừa có tính khái quát Nhờ đặc tính này mà từ ngữ là cơ sở tất yếu để xây dựng những hình tượng vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính khái quát

Tính hình tượng của ngôn từ được biểu hiện rất đa dạng, trên nhiều cấp độ khác nhau Ở cấp

độ từ vựng, tính hình tượng thể hiện rõ rệt qua những từ ngữ mang tính tượng hình tượng thanh; chẳng hạn các từ: rì rầm, leng keng, khấp khểnh, khúc khủyu Về mặt ngữ âm những từ này miêu

tả trực tiếp về đối tượng, gợi lên tính tạo hình trực tiếp của đối tượng

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây

(Hàn Mặc Tử)

Ở cấp độ cú pháp, những câu trần thuật được miêu tả có khả năng tái hiện những bức tranh khác nhau về hiện thực Đặc biệt là các phương thức chuyển nghĩa không những có khả năng biểu hiện nội dung của sự vật và hiện tượng mà còn làm cho chúng hiện lên với tính tạo hình cụ thể Biểu hiện của

tình yêu được “hiện hình” qua ngôn từ văn học với nhiều sắc thái hình tượng sinh động : khi là nước

dâng cao, là dải lụa đào, là thuyền, là biển Tình anh như nước dâng cao

Tình em như dải lụa đào tẩm hương

(Ca dao)

Trang 24

Chỉ có thuyền mới biết Biển mênh mông dường nào Chỉ có biển mới hiểu

Thuyền đi đâu về đâu

( Xuân Quỳnh)

Tính hình tượng của ngôn từ văn học còn có cơ sở từ trong nội dung của lời nói nghệ thuật Lời nói trong ngữ cảnh cụ thể không những chứa đựng nội dung vốn có của từ vựng mà còn chứa đựng những nội dung do ngữ cảnh gợi lên Từ những ngữ cảnh riêng, ngôn từ có thể tái hiện đối tượng một cách độc đáo, cá biệt mang tính nghệ thuật cao.Hiện thực khách quan mà văn học hướng tới để phản ánh bao giờ cũng được soi sáng qua con người Con người trong mối quan hệ xã hội là đối tượng chủ yếu của văn học Con người xuất hiện trong tác phẩm văn học hiện ra với tư cách

“người mang lời nói”và những người ấy một phần bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ và bản chất của mình

qua lời nói

Như vậy, lời nói không chỉ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học mà còn là đối tượng miêu tả của văn học Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể những lời phát ngôn của

kể chuyện, của cái tôi trữ tình của các nhân vật qua độc thọai hoặc đối thọai Ở đây khả năng nghệ

thuật của ngôn từ lại biểu hiện qua chủ thể phát ngôn Qua 20 chương của “Số Đỏ”, Vũ Trọng

Phụng đã khắc họa sinh động những chi tiết gây cười rõ nét và đạt đến trình độ trào phúng siêu đẳng Chất trào phúng tái hiện trên mọi phương diện: cốt truyện, tâm trạng, kết cấu, tình tiết, đặc biệt là qua ngôn ngữ đối thọai

Sau đây là đọan văn được Vũ Trọng Phụng miêu tả một cách khôi hài về “tài năng” của Xuân tóc đỏ Xuân đang đi với Tuyết là bạn tình, sau lưng có một thiếu niên thi sĩ theo Tuyết và ngâm

mấy câu thơ để ghẹo.” Trong óc Xuân lúc ấy có một luồng tư tưởng văn chương chạy qua Nó tự

thấy đáng hổ thẹn, nếu không đọc thơ như kẻ tình địch Mà muốn ngâm thơ thì nào có khó gì ? Nó nhớ ngay đến những bài thơ nó đã đọc làu làu mấy năm xưa khi còn làm nghề nói trước máy phóng thanh cho những nhà bán thuốc Nó bèn bảo Tuyết:

- Em muốn anh ứng khẩu một bài thơ cho gã ấy không?

Tuyết vỗ tay reo:

- Nếu được thế thì còn danh giá nào bằng!

Xuân tóc đỏ bèn chắp tay sau lưng tiến đến gần nhà thi sĩ, ngâm nga dõng dạc:

Dù già cả, dù ấu nhi, Sương hàn nắng gió bất kỳ - biết đâu ? Sinh ra cảm, sốt nhức đầu,

Da khô mình nóng, âu sầu, ủ ê

Vậy xin mách bảo đôi lời:

“Nhức đầu giải cảm” liệu đời dùng ngay!

Xuân tóc đỏ còn muốn đọc làu làu nữa, nhưng thiếu niên vội xua tay chịu hàng: - Xin lỗi ngài! Thế thôi cũng đủ là một bài học cho bỉ nhân khâm phục! ” Chỉ thuộc một bài quảng cáo bán thuốc,

Xuân tóc đỏ đã trở thành “nhà thi sĩ”, và bài rao bán thuốc thành bài thơ tình Thật khôi hài Vũ

Trang 25

Trọng Phụng đã thông qua ngôn ngữ nhân vật để bóc trần bản chất của một lớp người háo danh, dốt nát trong một xã hội xấu xa, bát nháo, nhố nhăng

Vừa tái hiện đời sống hiện thực bằng lời nói, vừa tái hiện bản thân lời nói trong họat động giao tiếp ngôn ngữ, văn học có khả năng to lớn trong việc phản ánh con người và đời sống xã hội Qua văn học, người đọc không những thấy được những bức tranh đời sống mà còn nghe thấy tiếng nói của mọi tầng lớp người trong các thời đại khác nhau với những giọng điệu khác nhau Cho nên, tính hình tượng không phải là thuộc tính hình thức bên ngòai, mà là đặc điểm có cơ sở từ trong nội dung của ngôn từ văn học và nằm sâu trong bản chất hình tượng của sáng tác

2.2/ Ngôn từ văn học mang tính tổ chức cao nhằm tạo nên hiệu quả nghệ thuật:

Lời văn lời thơ của một tác phẩm bao giờ cũng có câu đầu, câu cuối, được tổ chức theo một lớp lang trình tự hết sức chặt chẽ Một bài thơ có thể được chia thành nhiều khổ, nhiều đọan Tác

phẩm văn xuôi lại được chia thành các chương, hồi Tính tổ chức của ngôn từ văn học lại nhằm mục

đích cao nhất là tạo ra hiệu quả nghệ thuật Lời văn lời thơ là ngôn từ nghệ thuật được tổ chức

bằng những phương thức, phương tiện đặc biệt nhằm khắc phục kiểu diễn đạt thông thường của lời nói tự nhiên Từ tính tổ chức cao đã biến lời nói thông thường chỉ có ý nghĩa thông báo về cái cụ thể, nhất thời thành lời văn nghệ thuật có khả năng thể hiện cái vô cùng, vô tận của cuộc đời và thế giới tâm hồn đầy bí ẩn của con người một cách hình tượng

Tư duy và ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với nhau như hai mặt của một vấn đề Họat động lời nói bao giờ cũng gắn liền với họat động tư duy của con người Ngôn ngữ chính là hiện thực trực tiếp của tư duy Văn học có khả năng tái hiện quá trình tư duy của con người một cách cụ thể và trực tiếp Quá trình tư duy của con người được thể hiện qua những lời độc thọai, đối thọai của các nhân vật và lời trần thuật của tác giả Nhờ tái hiện được được quá trình tư duy, văn học có thể khắc họa được các luồng tư tưởng của con người Mỗi lời nói, ý nghĩ của nhân vật đều chứa đựng thái độ, quan điểm của tác giả đối với con người và cuộc sống

Đại thi hào Nguyễn Du đã từng trăn trở, triết lí về chữ tâm, chữ tài, về kiếp người qua tác phẩm truyện Kiều bất hủ Hồ Chí Minh, Sóng Hồng đã nói lên quan điểm nghệ thuật tiến bộ qua

những câu thơ sắc sảo của mình Tố Hữu, Lê Anh Xuân suy nghĩ và khẳng định tầm vóc dân tộc trong thời kỳ chống Mỹ Xuân Diệu suy tư về cội nguồn của sự sống sinh sôi Tất cả những suy nghĩ ấy đều biểu hiện trực tiếp qua các tác phẩm văn học.Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học có thể phản ánh bất kỳ phương diện nào của đời sống hiện thực, có khả năng thực hiện chức năng nhận thức, biểu biện tư tưởng một cách trực tiếp và tòan vẹn nhất Nhờ khả năng to lớn như vậy, văn học

đã trở thành ”bách khoa tòan thư” về cuộc sống, trở thành một phương tiện giao tiếp tình cảm, tư

tưởng thẩm mĩ thông dụng nhất của con người

2.3/ Ngôn ngữ văn học có những chuẩn mực riêng, chịu sự quy định của tính hình tượng và tính

tổ chức

Ngôn từ văn học không chỉ có tính hình tượng và tính tổ chức, mà còn có tính hệ thống, tính

biểu cảm, tính đa nghĩa, tính cụ thể hóa, cá thể hóa Các thuộc tính ấy không tồn tại độc lập mà

chịu sự chi phối sâu sắc của tính hình tượng và tính tổ chức Trong một tác phẩm văn học, những yêu cầu về chuẩn mực ngôn từ đều có nội dung đặc thù Trước hết, ngôn từ trong tác phẩm văn học

Trang 26

phải trong sáng, chính xác Ngôn từ trong sáng là diễn đạt phù hợp với chuẩn mực của ngôn ngữ

tòan dân, và chịu sự quy định của tính hình tượng.Tính chính xác của ngôn từ văn học đòi hỏi phải đúng cảnh, đúng người, đúng tình, đúng ý , làm cho người đọc chẳng những hiểu được mà còn cảm được, thấy được điều mà nhà văn muốn diễn tả nhiều khi hết sức tinh tế, mong manh

Nguyễn Du là nghệ sĩ bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ, nhà thơ đã sử dụng những từ phù hợp

nhất để gợi ra cái thần, cái hồn của cảnh vật và nhân vật trong Truyện Kiều Bằng cách dùng từ chính xác, Nguyễn Du đã giết chết Mã Giám Sinh, Sở Khanh , Hồ Tôn Hiến bằng các từ tót (Ghế

trên ngồi tót sỗ sàng), chữ lẻn (Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào), chữ ngây (Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình) Các từ ấy đã điểm đúng huyệt, lột tả được bản chất của nhân vật ở những nét thóang

qua, những biểu hiện mà dường như nhân vật muốn che giấu đi Như vây, sự chính xác trong văn

học còn có nghĩa là một phát hiện sâu sắc in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật

của nhà văn

Hàm súc, cô đọng cũng là yêu cầu quan trọng của ngôn từ văn học, và cũng chịu sự quy định

của tính hình tượng Hàm súc trong văn học có nghĩa là “lời ít, ý nhiều”, “lời chật, ý rộng”, “lời

đã hết mà ý không cùng” Ngôn ngữ hàm súc có nhiều tác dụng đa dạng và giàu sức khơi gợi: gợi cảnh, gợi tình, gợi hình, gợi suy nghĩ Chỉ với hai câu thơ mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cho

người đọc cảm nhận hai vẻ đẹp: vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp của tâm trạng con người

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Câu thơ phác họa một cảnh đẹp của trời đất ngày xuân, với vẻ trong lành, tinh khiết của tiết thanh minh Đó cũng là hình ảnh của Thúy Kiều lần đầu bỡ ngỡ bước ra cuộc đời, với bao ước mơ của một cô gái trong trắng, ngây thơ Phải chăng đó là cái yên lặng của trời đất trước cơn dông tố của một số phận tài hoa trước khi trở thành “bạc mệnh” Câu thơ tả cảnh vừa như khúc dạo đầu của một bi kịch, vừa như một vế của sự tương phản giữa hai nửa cuộc đời Kiều

Trong thơ văn Việt Nam hiện đại cũng có những câu thơ chứa sức khơi gợi như thế: Hình ảnh một đất nước Việt Nam anh dũng kiên cường trong kháng chiến chống ngọai xâm được nhà thơ Nguyễn Đình Thi khái quát:

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Với nhà thơ Hòang Cầm là hình ảnh hiền hòa của con sông Đuống:

Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Một hình tượng thành công nhất trong thơ Tố Hữu là hình ảnh về Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Tố Hữu đã có những câu thơ hết sức hàm súc, cô đọng nhưng lại bao chứa được sức mạnh vĩ đại, lớn lao của vị lãnh tụ vĩ đại

Người rực rỡ một mặt trời cách mạng

Mà đế quốc là lòai dơi hốt hỏang Đêm tàn bay chập chọang dưới chân Người

Trang 27

Hay:

Mong manh áo vải hồn muôn trượng Như tượng đồng phơi những lối mòn

3/Tính “phi vật thể” của hình tượng văn học:

Các lọai hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh sử dụng các chất liệunhư màu sắc, đường nét, hình khối, diễn viên để xây dựng nên hình tượng Những chất liệu ấy là những vật thể hữu hình có khả năng tác động trực tiếp đến thị giác của con người

Lấy ngôn từ làm chất liệu, hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tụê, gợi lên liên tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, người đọc không thể nhìn thấy, nghe thấy trực tiếp bằng thị giác, thính giác những gì mà nhà văn miêu tả Hình tượng văn học

là một thực thể tinh thần, nó “phi vật thể”.Hình tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng bù vào

sự khiếm khuyết đó, văn học lại có những ưu thế khác Do tác động vào thế giới tinh thần của con người, hình tượng văn học kích thích liên tưởng, tưởng tượng, tái hiện trong tâm trí con người những cảm nhận bằng thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác

Xuân Diệu, trong bài thơ Đây mùa thu tới đã tái tạo bức tranh mùa thu không những bằng

cảm nhận thị giác mà còn bằng cả xúc giác nữa:

Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Đọc hai câu thơ trên, chúng ta không những “nhìn thấy”những cành lá rung rinh trước gió mà còn cảm thấy cái rét mướt đang làm cho những chiếc lá run rẩy, những cành cây khô gầy, cạn vơi nhựa sống vì giá lạnh

Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn không những tái tạo được những cái hữu hình mà còn tái tạo được những cái vô hình, những cái mỏng manh, mơ hồ nhất mà các lọai hình nghệ thuật khác bất

lực Nhà thơ Đòan Phú Tứ trong bài thơ Màu thời gian đã tái hiện sinh động màu sắc và hương vị

của thời gian qua tâm trạng hòai niệm:

Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngắt

Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh

Nhờ liên tưởng và tưởng tượng, trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình, văn học có khả năng làm cho những cái vốn vô hình bỗng hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ Nguyễn Du từng giúp người đọc hình dung được cái bóng chập chờn hư thực của Đạm Tiên ẩn hiện trong giấc mộng của Thúy Kiều:

Sương in mặt, tuyết pha thân, Sen vàng lãng đãng như gần như xa

Thế giới màu sắc được tái hiện trong văn học thật đa dạng phong phú Đó không chỉ là màu sắc cụ thể nhìn thấy trong hiện thực mà còn là những màu sắc hư ảo tồn tại trong thế giới tinh thần Cái màu sắc hư ảo ấy, hội họa khó lòng tái hiện được nhưng văn học lại có khả năng tái hiện sinh

động và gợi lên được một cách trực quan Tố Hữu từng nói đến “màu xanh hy vọng”, “màu xanh tự

Trang 28

do”; Huy Cận nói đến “màu xanh tiếng ve”, còn Chế Lan Viên nói đến màu xanh ảm đạm, hư thực:”

Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên”

Sử dụng hình tượng “phi vật thể” các nhà văn không những có thể miêu tả hiện thực cuộc sống đa dạng mang tính tạo hình mà còn có thể đi sâu vào thế giới bên trong của hiện thực, mở ra chân trời tưởng tượng về thế giới tâm hồn tình cảm tư tưởng của con người

4/Đặc điểm thời gian và không gian trong văn học

Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học có khả năng phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong mọi kích thước, chiều hướng của không gian và thời gian Nhà văn có thể phản

ánh trong tác phẩm một phạm vi hiện thực kéo dài hàng trăm năm Sự vận động của thời gian trong

tác phẩm văn học phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống Có lúc trong một thời gian ngắn chứa chất biết bao sự kiện làm biến đổi nhanh chóng cuộc sống và đời người

Nhà văn Ngô Tất Tố đã dành hàng trăm trang trong tác phẩm Tắt đèn viết về các sự kiện ở

làng Đông Xá, trong vụ sưu thuế diễn ra trong bốn ngày năm đêm ngắn ngủi Nhà văn Nam Cao lại miêu tả dòng thời gian chậm rãi, trì trệ đang bào mòn những cuộc đời của những trí thức nghèo như

Thứ, như San trong Sống mòn Việc tái hiện thời gian trong văn học là thực chất là tái hiện quan

niệm của con người về sự tồn tại, là biểu hiện tâm lí của con người trước các biến có, sự kiện

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

Lúc nhớ nhung khắc khỏai, một phút chờ đợi có thể dài bằng mấy năm, khi được sống hạnh phúc bên nhau thì thời gian sao mà ngắn ngủi:

Ngày vui ngắn chẳng tầy gang Trông ra ác đã ngậm gương non đòai

( Nguyễn Du - Truyện Kiều ) Như vậy, thời gian trong văn học không chỉ là thời gian vật lí, thời gian vận động của cuộc sống mà còn là thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con người Nhà văn có thể “kéo căng” thời gian bằng cách miêu tả hàng lọat các sự kiện dồn dập trong một khỏanh khắc nhất định và “dồn nén” thời gian hàng ngàn năm trong một dòng trần thuật ngắn Mặt khác, văn học còn có khả năng miêu tả mối liên hệ thời gian đa dạng nhiều chiều, nhiều lớp Nhà văn có thể miêu tả thời gian thuận chiều, đồng dạng, đồng nhịp với thời gian tự nhiên, có khi nhà văn lại miêu tả thời gian ngược chiều

từ hiện tại trở về quá khứ, rồi từ quá khứ đi tới tương lai Đặc điểm này làm cho văn học có thể phản ánh đời sống trên một tầm sâu, rộng mà các môn nghệ thuật khác khó bề đạt tới

Trong văn học, không gian nghệ thuật có những nét đặc thù So với hội họa, điêu khắc thì

văn học vấp phải nhiều khó khăn trong việc tái hiện đồng thời tương quan của các sự vật trong không gian Nhưng bù lại, văn học có khả năng tái hiện không gian mang tính quan niệm của con người Hồ Chí Minh tái hiện sự xuất hiện của bình minh qua sự đổi thay của ánh sáng và màu sắc:

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng Bóng tối đêm tàn chốc sạch không

(Giải đi sớm)

Trang 29

Trong Hai đứa trẻ, Thạch Lam miêu tả rất sinh động không gian buổi hòang hôn ở phố huyện trong quá trình vận động của nó Ban đầu”phương tây đỏ rực như lửa cháy”, sau đó “dãy tre

làng trước mặt đen lại”, cuối cùng“các nhà đã lên đèn”

Với chất liệu ngôn từ, tác giả dễ dàng di chuyển từ không gian này tới không gian khác, từ đỉnh núi sang cánh đồng, từ thiên đường xuống trần gian, thậm chí cả tới địa ngục mà không gây sự hụt hẫng, gián cách trong tâm trí người đọc Nhờ các đường dây sự kiện, các tuyến nhân vật mà nhà văn có thể kết dính nhiều mảng không gian khác nhau

Trong bài Ta đi tới, Tố Hữu đã tái hiện một không gian rộng lớn của đất nước: từ “Mục Nam

quan đến bãi Cà Mau” Trong bài Vui thế hôm nay nhà thơ lại tái hiện một không gian nhiều tầng

nhiều lớp của đất trời giải phóng:

Tầng thấp, tầng cao, chiều dài, chiều rộng

Ôi Việt Nam yêu suốt một đời, Nay mới được ôm Người trọn vẹn Người ơi!

Không gian trong văn học không bị một hạn chế nào, nhờ vậy, văn học có thể phản ánh đời sống trong tính đầy đủ và tòan vẹn của nó Không gian trong văn học không chỉ là họat động tái hiện thế giới mà còn là họat động biểu hiện, bộc lộ tư tưởng tình cảm của con người Không gian trong ca dao dân ca Việt Nam ngày xưa là không gian làng quê gần gũi thân thuộc với những thôn Đòai, thôn Đông, với những bờ ao, giếng nước, sân đình Ngược lại, không gian trong thơ ca bác học của các nho sĩ là không gian vũ trụ xa vời, vô tận với những núi cao, rừng thẳm, suối sâu, với những mây ngàn hạc nội

Như vậy, không gian trong văn học vừa là hình ảnh của không gian vật lí vừa là sự hiện diện của không gian tâm tưởng Đó là một không gian nối liền bằng những sự vật, sự kiện liên quan đến tiêu điểm trung tâm là con người trong quá trình vận động của thời gian Qua không gian ấy, con người có được một hình thức biểu hiện tư tưởng thẩm mỹ, tình cảm, cảm xúc, một phương thức chiếm lĩnh hiện thực đời sống một cách đặc thù

Tóm lại: Văn học là một ngành nghệ thuật có những đặc điểm riêng biệt Văn học nhận thức

cuộc sống của con người trong mối liên hệ phong phú và đa dạng với thế giới hiện thực Máu thịt và linh hồn của văn học là ở hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn từ Nhờ có những đặc điểm ấy, văn học có khả năng thâm nhập sâu sắc vào mọi lĩnh vực của thế giới hiện thực để trở

thành bộ ”bách khoa tòan thư” về cuộc sống và văn học bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong

đời sống văn hóa của con người

B/ ĐẶC TRƯNG CỦA ĐIỆN ẢNH:

1/ Vài nét chính về lịch sử hình thành của điện ảnh:

Khi mới ra đời, điện ảnh mới chỉ thuần túy là một phát minh khoa học của ngành nghệ thuật nhiếp ảnh Trong đại hội nhiếp ảnh ngày 28/12/1985, anh em nhà Louis và Augustr Lumiere cho

chiếu ra mắt công chúng môn ảnh động đầu tiên và ngày đó được coi là ngày khai sinh ra nghệ thuật

điện ảnh

Đến năm 1911, Đavid Griffith nổi tiếng trong lịch sử điện ảnh, cho sản xuất phim Tiểu thư và

con chuột Lần đầu tiên nhà đạo diễn đã kết hợp công tác biên kịch, diễn viên, quay phim và nâng

Trang 30

các thủ pháp cận cảnh nhằm nhấn mạnh diễn xuất của diễn viên, đẩy mạnh kịch tính trong phim, nâng điện ảnh phim câm lên ngang tầm với các lọai hình nghệ thuật khác Năm 1914 Đavid Griffith

cải biên tiểu thuyết người ở bộ lạc Clan của dickson thành phim sự ra đời của một quốc gia vai trò

của kịch bản điện ảnh bắt đầu được khẳng định sau cách mạng tháng mười nga (1917), Lê-Nin

nhận định điện ảnh là nghệ thuật quan trọng nhất vì có tác dụng lớn lao trong việc giáo dục quần

chúng

Năm 1920, với sự phát triển của kỹ thuật phim nói chính thức ra đời Mở đầu là những phim

ca nhạc (bộ phim : Ca sĩ nhạc jazz của Mỹ năm 1927), nhưng thực tế là phim câm có một vài chi

tiết nói hoặc hát Trong khi đó nghệ thuật phim câm với những thành tựu lớn lao trong diễn xuất dùng cử chỉ, nét mặt thay lời nói trong nghệ thuật montage như Chaplin, King Vidor, Rene Clair, Eizenstein

Trong thập niên 1930, điện ảnh đã được bổ sung tiếng , lời thọai, âm nhạc, cộng với sự phát triển của máy quay, máy chiếu và trở thành một lọai hình nghệ thuật nghe – nhìn hòan chỉnh Cũng thời gian này, tuyển tập kịch bản điện ảnh đầu tiên được xuất bản tại Mátxcơva, khẳng định vững chắc vai trò của kịch bản như cơ sở tư tưởng và nghệ thuật của một tác phẩm điện ảnh, mở đầu cho những công trình nghiên cứu nghiêm túc về kịch học điện ảnh

Năm 1955, bộ phim của Mỹ, Becky Sharp lần đầu tiên được quay bằng kỹ thuật màu

(technicolor) Từ đây, quá trình sử dụng phim màu thực sự như một phương tiện biểu hiện của điện ảnh Giao lưu văn hóa quốc tế phát triển Hàng trăm liên hoan phim quốc tế được tổ chức trong đó

có những liên hoan lớn được xếp hạng A như Cannes, Matxơcva, Venise, liên hoan phim ngắn và tài liệu đã thúc đẩy tác động qua lại giữa các trường phái điện ảnh các nước.Thập niên 1960, đánh dấu sự ra đời của các nền điện ảnh trẻ nhiều nước Á, Phi, Mỹ la tinh Đề tài, thể lọai, phong cách phát triển đa dạng Nhiều khuôn sáo bị phá vỡ Bắt đầu phổ biến những thủ pháp biểu hiện mới: kết hợp trong một phim cả ngôn ngữ điện ảnh, diễn xuất, họat hình, tài liệu, phát triển độc thọai nội tâm, nhân vật hướng thẳng tới ngưới xem Sau phim màu, kỹ thuật phát triển dẫn tới phổ biến phim màu màn ảnh rộng, phim tòan cảnh, phim cỡ rộng 70 mm, phim nhiều màn ảnh, phim màn ảnh vòng tròn, phim có tiếng lập thể

Ngày nay đã thể nghiệm chiếu phim tia lade tạo ra những hình ảnh động nổi ba chiều Điện ảnh đã ứng dụng những thành quả khoa học kỹ thuật mới nhất, điện tử hóa, vi tính hóa để tạo nên những tác phẩm hòanh tráng, lạ mắt, hòan hảo về những cảnh hiệu quả âm thanh hoặc những phim đòi hỏi phải thấy được những nét tinh vi nhất trong diễn xuất của từng cử chỉ nhỏ, nét mặt, ánh mắt, từng hơi thở, tiếng gió xào xạc nếu không đến rạp thì không thể cảm thụ được hòan hảo, như các

phim :Oan hồn, Xác ướp Aicập Gần đây, trên màn ảnh Việt Nam đã thực sự sôi động với sự xuất

hiện của hai bộ phim là những câu chuyện cổ tích hiện đại được các nhà điện ảnh Mỹ xây dựng

bằng kỹ thuật tiên tiến hết sức hòanh tráng Đó là phim Những anh hùng thành Troy của đạo diễn

lừng danh Wolfgang Petersen, do nhà biên kịch Pavid Benioff dựa theo câu chuyện cổ xưa của thi sĩ

Hôme trong bộ sử thi Ilíat Phim King Arthur, do Antoine Fuqua đạo diễn, phim dựa theo tác phẩm

Le Morte D’Arthur của nhà văn Sir Thomas Malony Bộ phim King Arthur là một trong hơn 30 bộ

Trang 31

phim nhựa và truyền hình nói về truyền thuyết vua Arthur, sự ra đời của nước Anh và giáo lí Thiên chúa giáo thời Trung cổ Cả hai phim đều được sản xuất trong năm 2004

Như vậy, về bản chất, điện ảnh đã hình thành và phát triển như một lọai hình nghệ thuật,

nhưng là một lọai hình nghệ thuật đặc biệt với nhiều dấu hiệu chức năng : NGHỆ THUẬT, KINH TẾ

VÀ KỸ THUẬT

2 Đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh:

2.1 / Ngôn ngữ điện ảnh là ngôn ngữ nghe và nhìn

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông A - C, ngôn ngữ được định nghĩa: “Là công cụ biểu hiện y

chí, dùng để giao tiếp giữa người và người, nhờ ở hệ thống những phương tiện âm thanh, từ ngữ và ngữ pháp ”(119-171) Trong Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh định nghĩa:”Ngôn ngữ là nói năng” Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt một thông điệp thông qua một hệ thống kí hiệu biểu trưng

nhằm làm cho người khác hiểu mình Xã hội ngày một phát triển, ngôn ngữ cũng ngày một phong phú thêm Dân tộc nào càng văn minh thì ngôn ngữ của dân tộc ấy càng tinh tế Ngôn ngữ chính của lòai người là tiếng nói Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, để diễn đạt tư tưởng và thông hiểu lẫn nhau Phạm vi giao tiếp của ngôn ngữ thường bị hạn chế bởi ranh giới giữa các dân tộc: tiếng nói ở mỗi vùng lãnh thổ, ở mỗi quốc gia đều khác nhau

Trong mối giao lưu khắp địa cầu, để bổ sung cho tiếng nói, lòai người đã phát minh ra những

kí hiệu liên quan đến nghe và nhìn để làm công cụ tiếp xúc với nhau, nhiều khi vượt qua ranh giới các quốc gia Ví dụ về nghe, từ xa xưa nhiều cộng đồng dân tộc thông báo tin tức cho nhau bằng

những tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng mõ, tiếng tù và hiện nay, người ta biết nhiều cách báo tin bằng còi với ý nghĩa khác nhau : còi xe bình thường, còi xe cứu thương, còi xe cảnh sát, còi xe chữa

lửa, còi hụ báo động khi có chiến tranh Về nhìn, trên đường phố ở các ngã ba ngã tư đường có cột

đèn báo hiệu với ba màu đèn : xanh, đỏ , vàng để hạn chế lưu thông Những kí hiệu ở những tấm bảng trên lề đường để nhắc nhở luật giao thông quốc tế: hạn chế tốc độ, đường ngoặt nguy hiểm, chạy chậm nơi đông người, cấm bóp còi gần bệnh viện, cấm lưu thông các lọai xe, cấm đậu xe Người ta còn sử dụng những dấu hiệu khác vẽ trên các thùng hàng hóa được vận chuyển đường

xa :cái ly để ám chỉ vật dễ bể, cây dù để báo hàng sợ ẩm ướt, đồng thời những dấu hiệu ấy còn chỉ chiều hướng đứng thẳng của thùng hàng

Như vậy, trong đời sống công cụ giao tiếp giữa người và người, không chỉ đóng khung trong ”ngôn ngữ” theo nghĩa hẹp, mà còn dùng cả hình vẽ, âm thanh, cử chỉ, ánh sáng Ngôn ngữ nghệ thuật dùng tất cả những phương tiện diễn đạt, mà con người sáng tạo ra Mỗi lọai hình dùng một ngôn ngữ riêng, một tiếng nói riêng Nó có thể gồm một ha ý nhiều lọai “tín hiệu”, hoặc tổng

hợp các lọai Cử chỉ, điệu bộ, đường nét, hình ảnh, âm thanh có giá trị một ”ngôn ngữ quốc tế”

Qua đó, các dân tộc trên hành tinh có thể hiểu nhau ở mức độ nhất định Điện ảnh đã sử dụng ngôn ngữ hình ảnh chuyển động và kết hợp với âm thanh, những yếu tố ấy lại được kết cấu theo một phương pháp riêng biệt

2.2 / Ngôn ngữ điện ảnh là ngôn ngữ nghệ thuật

Mục đích chính của các ngành nghệ thuật là phản ánh đời sống, đồng thời phát huy những nét đẹp của con người và cuộc sống Mỗi lọai hình nghệ thuật sử dụng một thứ ngôn ngữ riêng để

Trang 32

truyền đạt biểu diễn vẻ đẹp của riêng mình Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong thưởng thức nghệ thuật bao giờ cũng phải có hai đối tượng người phát và người nhận tín hiệu Hiệu quả của tác phẩm nghệ thuật đem lại cho công chúng nói chung lệ thuộc vào trình độ hiểu biết không quá cách biệt nhau giữa người phát và người nhận Các nhà nghiên cứu đã đưa ra tính cách chung của các ngành nghệ thuật về ngôn ngữ, trong đó có điện ảnh :

Thứ nhất là tính dân tộc: mỗi tác phẩm nghệ thuật đều chứa đựng những nét riêng của dân

tộc mình

Thứ hai là tính quốc tế: Tuy không cùng chung một ngôn ngữ và cách nghĩ cũng không

giống nhau,nhưng khi thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật, mọi người dân trên thế giới đều có thể hiểu được y đồ chính của tác giả những nước khác

Thứ ba là tính cách thay đổi: qua thời gian, ngôn ngữ của mỗi ngành nghệ thuật có những

biến đổi tùy theo khả năng tìm tòi của tác giả, tùy theo thị hiếu đương thời và tiến triển của kỹ thuật Ngôn ngữ của một tác phẩm điện ảnh bao giờ cũng chứa đựng những tính cách trên Nhờ những tính cách chung đó mà những nổi tiếng trên thế giới được chiếu ở Việt Nam, dù có khác nhau

về ngôn ngữ nhưng vẫn làm say mê hàng triệu người Việt Nam qua nhiều thế hệ Ngược lại, hàng trăm bộ phim của Việt Nam đã được công nhận và khẳng định trong các liên hoan phim quốc tế và

khu vực như Cánh đồng hoang, Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên, Mối tình đầu, Đến hẹn lại lên, Em

bé Hà Nội, Bao giờ cho đến tháng Mười, Đường về quê mẹ, Cỏ lau, Thương nhớ đồng quê…

Phim Chim vành khuyên của nhà văn kiêm biên kịch Nguyễn Văn Thông là một ví dụ, các

tác giả điện ảnh đã khai thác tận dụng ngôn ngữ điện ảnh tối đa, để tạo nên một mỹ cảm mạnh mẽ Hình ảnh người con dâu ông lái đò mờ nhạt trong truyện ngắn đã biến thành một bé Nga hồn nhiên xinh tươi, trong trắng, nghịch ngợm và dũng cảm, điển hình của những em bé kháng chiến Việt Nam Cảnh cuối cùng của bộ phim cũng gây ấn tượng khó quên Ống kính từ trên cao với xuống thu lấy hình bé Nga trúng đạn ngẩng mặt, vươn hai tay lên trời cao gọi”cha” một tiếng rồi lảo đảo quay vòng, khụy xuống Nhạc phim bỗng ào lên, nước sông như cuộn lên, rợn sóng lấp lánh, làm tim ta thắt lại Bé Nga nằm xuống, im lặng, chỉ có tiếng chim vành khuyên trong túi em kêu chiêm chiếp,

em khẽ mở nắp túi cho con chim nhỏ bay đi, đây được coi là hình ảnh trữ tình, được xử lí rất hay trong điện ảnh Việt Nam Hình tượng nhân vật càng được tôn lên trong một không khí dân tộc đậm

đà :một dòng sông trắng, một nương dâu xanh, một khóm dừa tỏa bóng, một bụi tre la đà, một lão

du kích yêu nước cần cù chở đò quăng lưới, với cô con gái nhỏ hái dâu xinh xắn Tất cả được sử

dụng khéo léo, vừa đủ để khêu gợi cái “hồn Việt Nam” thấm đượm chất thơ mộc mạc như ca dao

2.3 /Những trưng cơ bản của ngôn ngữ điện ảnh:

Đặc trưng thứ nhất: Điện ảnh hướng tới một lọai ngôn ngữ tổng hợp – tinh hoa của các nghệ thuật khác

Khi xem phim khán giả được thưởng thức cùng một lúc nhiều ngành nghệ thuật:văn học, kịch nghệ, âm nhạc, khiêu vũ, hội họa, trang trí, điêu khắc, kiến trúc Các ngành nghệ thuật ấy khi

đến với điện ảnh đã từ bỏ tính độc diễn của chúng để hòa tan trong những hình ảnh và âm thanh sinh động, tạo ra một chất tổng hợp hòan tòan mới : chất điện ảnh

Trang 33

Những ngành nghệ thuật khác từ lâu cũng đã kết hợp với nghệ thuật bạn để tăng sức biểu hiện và khả năng hấp dẫn của mình Trong văn học, tranh tố nữ được mấy vần thơ đề bên cạnh trở

nên duyên dáng hơn Ngược lại, thi phẩm “Truyện Kiều” có thêm những nét minh họa, được tăng

thêm phần sinh động Trong nghệ thuật kiến trúc, những lâu đài, chùa chiền, lăng tẩm thường sử dụng hai lọai tác phẩm tạo hình quan trọng : tranh và tượng Sự kết bạn tay đôi, tay ba giữa các nghệ thuật đã tạo nên nét đẹp tổng hòa cho tác phẩm chính Ở đây, mỗi lọai nghệ thuật vẫn giữ nguyên chất riêng, giữ tính độc diễn của mình trong sự hòa hợp của cái chung

Trong điện ảnh lại khác, tính tổng hợp đạt tới đỉnh cao Có thể nói rằng tất cả

các ngành nghệ thuật đều góp phần tạo nên tác phẩm điện ảnh Hơn nữa, các ngành ấy đến với điện ảnh trong sự hòa tan nhuần nhuyễn, quyện lại với nhau như một hợp kim Chẳng hạn, phần âm nhạc trong phim phải dính liền với phim, nếu tách ra sẽ không thành một tác phẩm nhạc, các yếu tố còn lại của phim cũng không còn là một chỉnh thể thống nhất

Đặc trưng thứ hai: Điện ảnh vận dụng một lọai ngôn ngữ gần với cuộc sống nhất, có tính quần chúng mạnh mẽ nhất

Ở ngành nghệ thuật giải trí khác, như hát bội, sân khấu biểu diễn mang tính cách ước lệ, với không gian chật hẹp giữa những tấm màn vẽ những cảnh triều đình hoặc núi rừng, có khi không cần cảnh vẽ Những thứ đạo cụ diễn xuất tòan là những thứ giả Diễn viên dùng roi kết hợp với động tác chạy nhảy, giả ngựa chạy, chạy hết ba vòng là khán giả hiểu nhân vật đã vượt qua hàng trăm dặm đường trên lưng ngựa

Ở nghệ thuật thứ 7, những hình ảnh trên phim phải hiện lên như thật, với sinh khí nóng hổi của thiên nhiên, của cuộc sống Về tính gần gũi với với hiện thực, không một nghệ thuật nào có thể sánh với điện ảnh Tính chất này đòi hỏi trong phim từ diễn xuất tới bối cảnh, đạo cụ, phục trang,

hóa trang, từ lời thọai tới tiếng động, mọi thứ đều phải tạo cho khán giả cảm giác như thật Người

xem phim rất khó chịu khi thấy nhân vật có những hành động ngượng ngùng hoặc cường điệu, khi nhận ra những bối cảnh giả, những đạo cụ giả trên phim Chẳng hạn :thằng bé búp bê, con chị Vân

trong phim Nổi gió, hoặc chiếc vali trống rỗng của trung úy Phương, mà người xem có thể cảm thấy

qua cách ném và cách rơi (cùng trong phim trên)

Những chi tiết giả hoặc thật đến mức nào có thể chấp nhận được, đó là tùy thuộc theo tập quán và mức độ thụ cảm của đông đảo quần chúng thưởng thức mỗi lọai hình nghệ thuật.Điện ảnh

là nghệ thuật nên cần chọn lọc những gì tinh túy mang tính bản chất để có thể nâng cuộc sống lên cho có ý nghĩa, làm rung động được lòng người

Đặc trưng thứ ba: Ngôn ngữ điện ảnh gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật

Khi mới ra đời, điện ảnh chỉ là những hình ảnh chuyển động nối tiếp nhau Dần dần, điện ảnh chinh phục âm thanh, làm chủ màu sắc, mở rộng màn ảnh gấp đôi gấp ba, rồi tiến tới màn ảnh vòng cung, màn ảnh tòan diện Âm thanh phẳng trở thành âm thanh nổi của điện ảnh ba chiều, của phim nổi…Mỗi lần xuất hiện những bổ sung kỹ thuật mới như thế đều có ảnh hưởng đến ngôn ngữ điện ảnh, nảy sinh ra những cuộc tranh luận giữa những người làm làm phim, những nhà lí luận, quanh việc giữ gìn chất nghệ thuật cho điện ảnh

Trang 34

Việc đưa một tác phẩm văn học nổi tiếng lên màn ảnh không phải là chuyện đơn giản Hơn nữa đó lại là một kiệt tác văn học được nhiều độc giả hâm mộ thì lại càng khó đối với người đạo diễn Việc chuyển cảm xúc từ những lời văn giàu tưởng tượng sang ngôn ngữ hình ảnh là cả một vấn đề Trong lịch sử điện ảnh thế giới, những bộ phim khi ra đời đã đạt đến thành công sánh ngang với tầm vóc của tác phẩm văn học không nhiều

George Cukor (1899 – 1883), đạo diễn nổi tiếng người Mỹ, là người đã chuyển thể thành công nhiều tác phẩm văn học cổ điển được khán giả nhiều thế hệ trên tòan thế giới yêu thích Năm

1936 ông chuyển thể thành công phim Rômêô và Giulíet theo vở kịch nổi tiếng của nhà văn Siexpia Năm 1939, bộ phim Cuốn theo chiều gió theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Mỹ Magdrit Mitchel

đã được trao giải Oscar cho phim hay nhất trong lịch sử điện ảnh và được khán giả tòan thế giới yêu thích, đến nay vẫn là một trong những bộ phim kinh điển hàng đầu thế giới

Xưa nay, trong điện ảnh những bộ phim thành công, bao giờ cũng là tác phẩm sử dụng thành

công ngôn ngữ điện ảnh, chẳng hạn, việc chuyển thể tác phẩm văn học Nhà thờ đức bà Pari của Victo Hugô sang phim Thằng gù nhà thờ Đức bà Ở đây chỉ đề cập đến việc xây dựng một nhân vật

là thằng gù xấu xí Quasimodo trên màn ảnh Để tái hiện một nhân vật đúng như nhà văn miêu tả, các nhà điện ảnh đã phải bỏ ra rất nhiều công sức để nhân vật thật gần gũi với tác phẩm văn học, đồng thời lại cuốn hút người xem

Trong kiệt tác Nhà thờ đức bà Pari của Victo Hugô nhân vật Quasimodo được miêu tả dưới

một hình hài xấu đến mức kinh hãi, nhưng tâm hồn trong sáng và thánh thiện, thằng gù Quasimodo dám yêu cô gái xinh đẹp Esmeralda và sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ tình yêu

Từ văn học nhân vật thằng gù xấu xí Quasimodo đã hiện lên trong phim Thằng gù nhà thờ

Đức bà một cách tuyệt mỹ, được coi là một nhân vật màn ảnh điển hình, được xây dựng thành công

nhất trong lịch sử điện ảnh Đó là mẫu hình mô típ nhân vật không theo quan niệm thông thường là nhân vật tốt (chính diện) phải có ngọai hình đẹp, nhân vật xấu (phản diện) phải có ngọai hình xấu xí,

dữ dằn, gớm ghiếc.Ngay khi bộ phim còn trên giấy, hãng sản xuất MGM của Mỹ đã khẳng định: chỉ

có ngôi sao ngôi sao điện ảnh người Anh Charle Laughton mới có thể đảm đương vai thằng gù Quasimodo Sau năm năm chuẩn bị, Laughton đã mô phỏng nhân vật một cách hòan hảo, tác phẩm được chuyển thể đến 6 lần, nhưng nhân vật do Laughton thủ vai vẫn là xuất sắc nhất Để trang bị cho nhân vật thật chân thực, người ta phải bỏ một số tiền rất lớn để trả cho Westmore - người hóa trang cho nhân vật Quasimodo, ông phải chế tạo ra những dụng cụ đặc biệt: mắt giả, răng giả, mặt giả một cái nút bịt lỗ tai cho Laughton, để ông diễn xuất cảm giác bị điếc thật đúng như nhân vật Trong những ngày quay phim để hóa trang cho nhân vật đã mất từ 2- 5giờ, có hôm do thời tiết nóng

đã làm cho lớp hóa trang chảy ra như kem lạnh, diễn viên và nghệ sĩ hóa trang rất vất vả Trong suốt thời gian quay phim, không một ai được phép chụp hình Laughton, để tạo bất ngờ cho công chúng khi “thằng gù Quasimodo”xuất hiện Bộ phim ra mắt khán giả ngày 31/12/1939, khán giả đón nhận hết sức nồng nhiệt Hình tượng thằng gù Quasimodo do Charle Laughton hóa thân đã trở thành một trong những nhân vật điện ảnh gây kinh sợ nhất và cũng đáng yêu nhất từ xưa đến nay

III/ NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA ĐIỆN ẢNH VÀ VĂN HỌC:

1/Điện ảnh gần gũi với cuộc sống:

Trang 35

Điện ảnh phản ánh thiên nhiên và cuộc sống bằng những hình ảnh cụ thể quay ngay trong hiện thực, khiến cho người xem tưởng như mình đang hòa vào hơi thở nóng hổi của cuộc sống đang diễn biến trên màn bạc.Tất cả những hiện tượng trong thiên nhiên như mưa bão, sấm chớp Tất cả những cảnh vật, từ đỉnh núi cao chót vót tới đáy sâu của biển cả đều có thể đưa lên màn ảnh, đúng như thật Nó có thể dựng lại những sự kiện đã xảy ra trong cuộc sống, những sự kiện đã thuộc về dĩ

vãng Ngay cả những câu chuyện thần thọai biến hóa như “Ala đanh và cây đèn thần” và “Rútxlan

và Lútmila” điện ảnh cũng dựng nên như thật

Văn học nói chung sâu sắc và tinh tế hơn điện ảnh, nhưng đọc một cuốn truyện, nghe một bài thơ ta không thể thấy cảnh vật con người hiện ra một cách cụ thể như trên màn ảnh, mà chỉ có thể hình dung chúng qua trí tưởng tượng Sự hình dung đó đúng hay không đúng với sự vật được miêu

tả, còn tùy thuộc ở sự hiểu biết và từng trải của người đọc

Trong bài thơ Ta đi tới, nhà thơ Tố Hữu có câu:”Đường ta rộng thênh thang tám thước”

Lớp trẻ chưa từng kinh qua chiến tranh chống Pháp, chưa từng phải đi len lỏi suốt năm này qua năm khác trên những con đường mòn xuyên rừng , xuyên núi thì không thể hiểu và cảm nhận được niềm

sung sướng của thế hệ đàn anh khi họ được phóng bước trên những con đường quốc lộ ”đã quét

sạch đồn Tây”.Tuy nhiên, ta cần thấy màn ảnh chỉ là gần gũi với cuộc sống nhất, gần gũi không có

nghĩa là luôn luôn y hệt như cuộc sống Điều đó do hai nguyên nhân

+ Tính ước lệ của màn ảnh được giảm tới mức tối thiểu nhưng nó vẫn còn mang tính ước lệ

Màn ảnh dù là cỡ rộng, cũng chỉ có một khuôn khổ nhất định Nó không thể chứa đựng nổi cả một tiểu đòan triển khai trên thực địa hoặc cả một tuyến tên tên lửa dài hàng trăm cây số Tập trung người, tập trung pháo để quay là cần thiết vì màn ảnh tạo cho người xem trong giây lát một cảm giác tương đương với cảm giác của người chứng kiến trên thực địa

Chúng ta không thể quá câu nệ, đòi hỏi nhân vật khu 5 phải nói tiếng khu 5, cô gái Hoa Kiều

ở Hải Phòng phải ăn mặc như cô gái Việt Coi trọng sắc thái địa phương là cần thiết, nhưng có trường hợp phải hy sinh nó để đạt tính phổ biến của nghệ thuật Để nhân vật nói đúng tiếng khu 5 thì nhiều người nghe không rõ Để cô gái Hoa kiều ăn mặc giống người Việt thì người xem có thể khó nhận ra thành phần dân tộc của nhân vật Cũng vì tính phổ biến mà phim Liên Xô chiếu ở Việt Nam phải lồng tiếng Việt Ngược lại, phim Việt Nam đưa ra nước nào phải lồng tiếng nước đó

+ Một nguyên nhân khác: điện ảnh là một nghệ thuật và nghệ thuật thì không sao chép cuộc sống một cách nguyên xi Cảnh bé Nga trong phim Chim vành khuyên bị trúng một tràng đạn còn gượng dậy thả con chim nhỏ Cảnh Pa ven trong phim Người Mẹ la thét trên bờ đê và bỗng dòng sông tan

vỡ, hoặc cảnh quả bóng trong hiệp ba còn lăn mãi, mang theo tinh thần bất khuất của người tù binh Nga trên khắp đât nước XôViết là những cảnh thực đã được nâng lên mức tượng trưng, chứa đựng bên trong nhiều ý nghĩa xúc tích và sức xúc động lớn

Do gần gũi với cuộc sống nên điện ảnh phải đưa ra những chi tiết giống với cuộc sống thật, nhưng cũng có những trường hợp ta không thể đòi hỏi như vậy vì nó là một nghệ thuật và còn có những ước lệ nhất định

2/Tính tổng hợp cao độ của điện ảnh diễn ra đồng thời cùng một lúc :

Trang 36

Văn học cũng là những nghệ thuật tổng hợp nhưng tính tổng hợp ở điện ảnh cao hơn, phức tạp hơn, bao gồm nhiều bộ môn hơn Yêu cầu đối với điện ảnh là các bộ môn nghệ thuật phải kết hợp với nhau chặt chẽ, nhuyễn với nhau như một hợp kim Sự tổng hợp đó nhằm tạo nên một hiệu quả, có ý nghĩa nhất định về tư tưởng cũng như về thẩm mỹ

Trong phim Chung một dòng sông, cảnh Hòai nằm võng dưới ánh trăng vằng vặc xuyên qua

tàu lá chuối, dọi vào chiếc võng cô đơn kẽo kẹt trong gian nhà lạnh lẽo Hòai nằm trên võng, trằn trọc ưu tư, trong tâm tư nhân vật đang diễn ra sự giằng co giữa đi và ở Ở lại với mẹ ở bờ Nam, hay trốn sang bờ Bắc với người Ýêu? Bên lời khẩn khỏan như van xin của bà mẹ, lại nổi rõ mồn một tiếng đe dọa cưỡng hôn hung dữ của tên đồn trưởng hồi chiều Chiếc đàn bầu thanh thót buông từng tiếng tơ não nuột, xen lẫn ái ân, thương nhớ, lo âu Từ diễn xuất đến bối cảnh, từ nhạc tới tiếng động, ánh sáng và lời thọai phục hiện đều xoay quanh việc miêu tả sự nhớ nhung đến bồn chồn của

cô gái bờ Nam đối với mối tình bị chia cắt Những yếu tố đó nhuyễn vào nhau chặt chẽ, quyện lấy nhau và bổ sung lẫn nhau để tạo nên một hiệu quả tổng hợp khiến người xem bình thường không còn phân biệt được từng yếu tố

Điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp nhưng không có nghĩa là nó cao hơn các nghệ thuật khác hoặc có thể thay thế các nghệ thuật khác Điện ảnh có những ưu thế nhất định, nhưng có những nhược điểm so với các nghệ thuật khác Chẳng hạn: phim phải xem tập thể, có giờ có buổi, người xem không thể chủ động như đọc sách Phim dù sao cũng chỉ là bóng người không phải là diễn viên bằng xương bằng thịt như sân khấu Tiếng hát, tiếng nhạc ở phim qua nhiều lần máy móc nên không còn thật trung thực như trên sàn diễn Phim có nhiều cảnh đẹp nhưng không để lại gì như một bức tranh mà ta có thể tùy tiện ngắm nghía

3/.Điện ảnh có tính quần chúng rộng rãi nhất

Điện ảnh do đặc thù đại chúng nên có số lượng khán giả thường cao hơn từ 20 đến 30 lần số

người đọc sách Vì vậy, điện ảnh mang tính chất phổ thông, dễ xem dễ hiểu.Khác với văn học, điện

ảnh là nghệ thuật xem một lần Trừ những phim hay, có nghĩa sâu sắc, cần xem đi xem lại, còn

đông đảo khán giả thường chỉ xem một lần Và cũng chỉ được xem lướt đi một lượt chứ không thể chậm rãi hoặc coi lại những đọan hay như đọc sách

Vì vậy, yêu cầu đối với phim là câu chuyện phải đơn giản (không có nghĩa là sơ lược) và tư

tưởng chủ đề phải trong sáng Ngay cả hình thức thể hiện cũng cần phù hợp với trình độ thụ cảm của nhân dân trong nước Phim của Việt Nam đa số chuyển cảnh chậm, kết cấu chung của phim không quá phức tạp như phim của Phương Tây Tuy nhiên, do được tiếp xúc với nhiều bộ phim hòanh tráng, kỹ thuật cao của nước ngòai nên thị hiếu của đông đảo quần chúng đã thay đổi, mà không phải phim nào của Việt Nam cũng đáp ứng được

Điện ảnh còn được gọi là nghệ thuật một tiếng rưỡi (phim truyện thường dài khỏang một

tiếng rưỡi tới một tiếng 45 phút là vừa), người xem sẽ không thấy ngán Màn ảnh là một mặt phẳng, hình ảnh không có chiều sâu lại chuyển liên tục từ đầu tới cuối, nên người xem dễ mỏi mắt và căng đầu óc không giống như lúc đọc sách Đó là vấn đề thuộc về sinh lí cảm thụ, cho nên ngòai yêu cầu

đơn giản và trong sáng, phim cần ngắn gọn (khỏang 10 cuốn 35 ly trở lại – tức là trên dưới 3000 m

thì vừa) Vì vậy, đối với lọai phim dài, thường được chia ra nhiều tập

Trang 37

Điện ảnh gây xúc động tức khắc và dây chuyền: do tính cụ thể trực quan sinh động và tính

giàu hành động của hình tượng điện ảnh , phim đi thẳng vào trực giác của người xem và thường

đem lại những cảm xúc mạnh mẽ; những tiếng khóc; tiếng cười đột khởi (tiếng cười trong Nghêu,

Sò , Ốc, Hến; sự căm hờn, thương cảm trong Bạch Mao nữ)

Tính chất dây chuyền và sự cộng hưởng của những cảm xúc trong khán giả càng làm cho

phim tác động mạnh mẽ tới quần chúng Trong phim Ruồi Trâu, cảnh Ruồi Trâu đập cây thánh giá

biểu thị thái độ quyết li khai tôn giáo của nhân vật, làm cho một số bà con Công giáo không chịu nổi Hành động của nhân vật từ trang sách chuyển qua màn bạc, trở nên mãnh liệt hơn

4/ Tính kỹ thuật của điện ảnh:

Văn học là con đẻ của ngôn ngữ viết, còn điện ảnh là con đẻ của khoa học kỹ thuật Không

có khoa học kỹ thuật thì không có nghệ thuật thứ 7 Nói như vậy không có nghĩa là kỹ thuật quyết định tòan bộ chất lượng nghệ thuật, nhưng có phần đóng góp không nhỏ trong quá trình xây dựng, sản xuất phim và quá trình chiếu phim

Điện ảnh là nghệ thuật thị giác kiêm cả nghệ thuật thính giác, nên yêu cầu không chỉ xem rõ

mà còn phải nghe rõ, kể cả những hơi thở nhẹ

Chiếc máy quay phim được cải tiến không ngừng, giữ một vai trò đáng kể trong việc biểu hiện tính tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm Việc quay ở góc độ này hay góc độ khác, việc dùng những lọai cảnh gần xa, lấy ánh sáng đậm nhạt, chọn màu sắc đen tối hay tươi vui đều có liên quan đến biểu thị tư tưởng thái độ, khuynh hướng của tác giả đối với từng nhân vật (chính diện, phản diện), cũng như tới việc thể hiện tính chất của tác phẩm (bi kịch, hài kịch, trữ tình )

Dựng phim (montage) cũng đòi hỏi phải có kỹ thuật : việc xen kẽ những cảnh gần xa, cảnh động với cảnh tĩnh, việc kết hợp hình ảnh với âm thanh, không những phải ăn khớp mà còn phải phù hợp với quy luật cảm thụ, không thể tùy tiện Dựng phim còn là khâu quan trọng trong việc tạo

ra tính nhảy của điện ảnh về không gian và thời gian Chẳng hạn trong phim “Nguyễn Văn Trỗi”,

trường đọan quay cảnh chị Quyên đi tìm anh Trỗi ở khắp các nhà tù hết ngày này qua ngày khác Đọan này gồm nhiều mẩu phim ngắn ghép lại, chuyển rất nhanh từ thời gian này sang thời gian khác, từ điểm này sang điểm khác Do độ dài của phim có hạn, phải tiết kiệm hình ảnh, nhưng không vì thế mà làm phương hại đến tính mạch lạc trong sáng, nên cần tới kỹ thuật cắt và dựng trên bàn dựng

Như vậy, với kỹ thuật quay và dựng , điện ảnh đã tạo ra thời gian riêng, khác với thời gian

trong hiện thực (hoa nở trước mắt, người nhảy sào như bay, đó là do kỹ thuật quay chậm hay quay nhanh)

Điện ảnh còn có thể tạo ra không gian mới bằng cách ghép cảnh như đem lại cho người xem

cảm giác nhà hát lớn ở ngay cạnh Hồ Tây, hay tạo ra con người có bộ mặt đẹp, có tiếng hát hay lại

có cả những ngón tay búp măng lướt trên phím đàn

Ngòai ra, kỹ thuật quay và in tráng phim còn tạo nên những hiệu quả khác nhau như ánh trăng, sương mù Kỹ thuật thu thanh có thể điều hòa các lọai âm thanh (thọai, nhạc, tiếng động) Với kỹ thuật lồng tiếng phim nước này có thể nói tiếng nước khác mà vẫn không làm mất đi tính

Trang 38

nghệ thuật Khi phim đã hòan thành, chiếu phim để phục vụ công chúng thì kỹ thuật cũng vẫn giữ một vai trò quan trọng Máy móc tốt, ánh sáng tốt, âm thanh tốt thì chất lượng nghệ thuật được đảm bảo Chỉ cần một trong những yếu tố trên kém thì chất lượng nghệ thuật lập tức bị giảm sút

Vì thế, yếu tố kỹ thuật không quyết định tòan bộ chất lượng của phim, mà còn cần các yếu tố khác: kịch bản, đạo diễn, diễn viên, họa sĩ thiết kế nhưng rõ ràng kỹ thuật là một vai trò không thể xem nhẹ Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã có những tác động trực tiếp đến chất lượng hình ảnh và âm thanh của tác phẩm điện ảnh

5/Tính chất đa chức năng của điện ảnh :

Trong quá trình trưởng thành từ một trò giải trí tới một lọai hình nghệ thuật, địên ảnh đồng thời cũng thực hiện một số chức năng khác mà không có ở văn học:

Đó là một lọai ngôn ngữ ghi chép, lưu giữ những kiến thức, thông tin, tư liệu nghe nhìn được, một phương tiện giao tiếp của người nghệ sĩ với đông đảo công chúng, của thế hệ này với các thế hệ khác

Đó là một phương tiện thông tin đại chúng bằng hình ảnh cụ thể sinh động, nhanh nhạy, rộng khắp trong và ngòai nước, đặc biệt ngày nay khi nó được truyền tải qua truyền hình, qua vệ tinh hướng dẫn dư luận theo những chiều hướng nhất định

Đó là một phương tiện giáo dục, cổ vũ , động viên cực kỳ mạnh mẽ với tính quần chúng rất cao Giúp tập hợp, thúc đẩy xã hội cùng hợp tác hành động nhằm đạt tới những mục tiêu chung Đặc biệt, khi xã hội có biến động lớn như chiến tranh hoặc phong trào cải cách, cách mạng, điện ảnh thường được tập trung để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kể trên

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam một thời đã là một đề tài nóng hổi không chỉ đối với người dân Việt Nam mà cũng là vấn đề nhiều đạo diễn trên thế giới quan tâm, trong đó có cả các đạo diễn người Mỹ

Bộ phim Forest Gump của đạo diễn Mỹ Robert Zemekis, sản xuất năm 1994, dựa trên tác

phẩm văn học cùng tên được xuất bản năm 1985 Bộ phim không chỉ đạt doanh thu lớn, mà còn mang lại cho những người làm phim 6 giải Oscar, riêng diễn viên Tom Hans đóng vai nhân vật Forest Gump nhận được giải Oscar lần thứ hai ở phim này

Đối với điện ảnh Việt Nam, những đề tài của cuộc đấu tranh cách mạng qua hai cuộc kháng chiến được tác phẩm văn học cung cấp đã giúp cho điện ảnh cất cánh với những phim nổi tiếng :

Chim vành khuyên, Chị Tư Hậu, Cánh đồng hoang Và đến nay, những bộ phim này đã trở thành

kinh điển cho các thế hệ sinh viên học tập trong các trường nghệ thuật

Tiểu kết chương 1:

Điện ảnh là ngành nghệ thuật “sinh sau đẻ muộn”, chỉ mới ra đời hơn một thế kỷ nhưng đã thừa hưởng kinh nghiệm, thành quả của các ngành nghệ thuật khác : văn học, tạo hình, kiến trúc, sân khấu, âm nhạc và khiêu vũ Nhưng tất cả các ngành nghệ thuật khác khi bước vào điện ảnh đã

bỏ đi “cái tôi” của mình để làm nên một nghệ thuật mới – nghệ thuật điện ảnh, còn được gọi là nghệ thuật thứ bảy hay là nghệ thuật tổng hợp

Trong “gia đình nghệ thuật”, văn học là nghệ thuật ra đời sớm nhất và trở thành nghệ thuật nền tảng cho các nghệ thuật khác kế thừa Mỗi tác phẩm nghệ thuật dù ở ngành nào: tạo hình, kiến

Trang 39

trúc, sân khấu, âm nhạc, khiêu vũ hay điện ảnh, muốn “thăng hoa” đều phải thấm nhuần chất văn

học, bởi “văn học là nhân học”, mà nghệ thuật được sinh ra là để phục vụ con người

Do đó văn học và điện ảnh có quan hệ mật thiết là điều tất yếu, và những tác phẩm văn học thành công bao giờ cũng là mảnh đất màu mỡ để các nhà biên kịch chuyển thể sang điện ảnh Tuy nhiên, văn học và điện ảnh là hai ngành nghệ thuật độc lập, có những đặc trưng và phương pháp sáng tác riêng quy định, nên không phải tác phẩm văn học nào cũng có thể được chuyển thể và chuyển thể thành công

Nhà văn M.GórKi đã đúc kết : ” Các bạn có chú ý đến bí quyết thành công của phim ở chỗ nào không? Tôi nghĩ rằng thành công nảy ra từ tác phẩm hoặc từ phong cách kỳ diệu kết hợp với phương pháp đúng đắn của các đạo diễn với tác phẩm đó, hoặc hiểu biết quy luật của nghệ thuật và

tỏ ra biết áp dụng một cách khéo léo các quy luật này :” (21)

Một điểm khác biệt lớn giữa điện ảnh với văn học và các ngành nghệ thuật khác là điện ảnh mang tính chân thực cao và rất gần gũi với cuộc sống, vì vậy, điện ảnh thu hút được đông đảo quần

chúng và được họ dễ dàng tiếp nhận và yêu mến Lê Nin đã từng nhận định: “Điện ảnh là nghệ

thuật quan trọng vì nó là nghệ thuật của quần chúng” Chính từ đặc điểm này, văn học đã trở thành

điều kiện không thể thiếu đối với một tác phẩm điện ảnh thành công Bởi văn học là nền tảng, là cốt lõi của tất cả các ngành nghệ thuật, mà điện ảnh không phải là ngọai lệ

Một tác phẩm điện ảnh đến với công chúng bằng những hình ảnh lạ mắt, hòanh tráng, lộng lẫy nhưng đằng sau vẻ bề ngòai nguy nga rực rỡ ấy thì cái gì lắng đọng lại nơi người xem sau khi rời khỏi rạp chiếu phim? Một tác phẩm điện ảnh không có chất văn học thì nó chỉ đơn thuần là trò giải trí Điều đó khẳng định sự cần thiết của tính văn học trong điện ảnh để duy trì sự sống còn của một tác phẩm nghệ thuật điện ảnh đích thực

Trang 40

CHƯƠNG 2 : NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG TÁC PHẨM

VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

I/ NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC:

1/ Khái niệm chung về nhân vật:

Nhà văn M.Gorki đã đúc kết: “Văn học là nhân học” Con người là đối tượng miêu tả chủ

yếu của văn học, dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học đều miêu tả con người Nhân vật văn học là hình thức miêu tả con người một cách tập trung nhất, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhân vật là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống nghệ thuật, trong một thời kỳ lịch sử xã hội nhất định

Bởi vậy, mỗi khi nhớ đến những nhà văn nổi tiếng, độc giả thường nghĩ ngay đến những hình tượng nhân vật mà các nhà văn đã sáng tạo nên Chẳng thế mà khi nói đến XécvăngTex, người ta nghĩ ngay đến Đôn Kihôtê ; nói đến Lỗ Tấn, người ta nhớ đến A.Q, Khổng Ất Kỷ, Nhuận Phổ; nói đến L.Tônxtôi, người đọc biết rằng đó là cha đẻ của Anna Karênina, Natasa Rốtxtôva, Anđrây Bônxcônky…

Ở nước ta, nhớ tới nhà văn Nam Cao là nhớ Thứ, Lão Hạc, Chí Phèo; nhớ Nguyên Hồng là nhớ Tám Bính; nhớ Vũ Trọng Phụng là nhớ Xuân tóc đỏ, nhớ Lê Lựu là nhớ Giang Minh Sài… Vì

lẽ đó khi nói về kinh nghiệm viết văn hơn ba mươi năm của mình, nhà văn Anh Đức đã viết: ”Có

thể nói sự tồn tại của nhà văn đồng nghĩa với sự tồn tại của nhân vật mà họ tạo nên với ý nghĩa là những nhân vật đó đạt đến mức là những điển hình Sức chịu đựng và thử thách của một tác phẩm, lâu bền hay ngắn ngủi rõ ràng nhờ nhân vật là chính.” (110- 132)

Khái niệm về nhân vật văn học là một khái niệm tương đối phức tạp Sự phức tạp trước hết

do người đọc thường hay nhầm lẫn nhân vật với người thật, khai thác phần vắng mặt của nhân vật trong tác phẩm Đối với thi pháp học, nhân vật chỉ tồn tại ở trong trang viết - là một thực thể trên giấy, nó không tồn tại ngòai các dòng chữ Thi pháp học về nhân vật, quan tâm đến tác giả hàm ngôn, người trần thuật (người kể chuyện) Tác giả hàm ngôn là người ẩn, người sống trong tác phẩm, phát ngôn thay cho tác giả Đôi khi tác giả hàm ngôn trùng với người trần thuật và người trần thuật

có khi lại là một nhân vật trong tác phẩm Mặt khác,các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các lọai hình nhân vật rất đa dạng

1.1/Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm: có nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật

trung tâm

Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng

trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Trong tiểu thuyết Thời xa vắng

của Lê Lựu có nhiều nhân vật chính : đó là Giang Minh Sài, Hương – người yêu của Sài, Tuyết – vợ

cả của Sài, Châu – vợ hai của Sài, …Trong số những nhân vật chính ấy, nhân vật được nhà văn tập

trung thể hiện đặc biệt nổi bật, có nghĩa tư tưởng thẩm mỹ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm :

Giang Minh Sài

Ngày đăng: 18/01/2020, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm