1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế: Xây dựng định mức chi phí cấp nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt của hệ thống thủy lợi Nam Khánh Hòa

96 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô phù hợp với thực trạng tổ chức sản xuất, điều kiện trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý của doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của một hệ thống công trình.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà trường; em xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và nhà trường đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Quản lý cùng các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý, đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng

em những khó khăn, động viên và giúp đỡ cho em nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên thiếu xót và khiếm khuyết là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và đồng nghiệp

Đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà em mong muốn để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này

Em xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Người viết luận văn

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 3

: Quản lý thủy lợi : Tài sản cố định : Trách nhiệm hữu hạn : Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1: Bảng thống kê các trạm bơm do Công ty

2 Bảng 1.2: Bảng thống kê hiện trạng các hồ đập của hệ

thống thuộc Công ty KTCT TL Nam Khánh Hòa quản lý 20

7 Bảng 3.4: Bảng tổng hợp khấu hao năm TSCĐ phân bổ

8 Bảng 3.5: Bảng tổng hợp tính toán định mức cấp nước thô 73

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 7

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 7

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI: 9

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 10

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 11

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 11

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CẤP NƯỚC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI NAM KHÁNH HOÀ 13

1.1 Giới thiệu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Khánh Hoà 13

1.2 Thực trạng hệ thống công trình thuỷ lợi thuộc công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà quản lý

Error! Bookmark not defined 1.3 Tình hình xây dựng và áp dụng định mức cấp nước thô trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở Nam Khánh Hòa 28

1.4 Nghiên cứu đề xuất phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hòa 32

1.5 Kết luận chương 1 CHƯƠNG II: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CẤP NƯỚC THÔ PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP VÀ SINH HOẠT 38

2.1 Khái niệm về định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ công nghiệp và sinh hoạt 38 2.2 Sự cần thiết của công tác xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ

thống công trình thủy lợi Error! Bookmark not defined 2.3 Căn cứ xây dựng định mức Error! Bookmark not defined 2.4 Nội dung các khoản mục chi phí cấp nước

thô Error! Bookmark not defined.

Trang 6

2.5 Phương pháp xây dựng định

mức Error! Bookmark not defined.

2.6 Chi phí cấp nước thô phục vụ công nghiệp và sinh

hoạt Error! Bookmark not defined

2.7 Tổng hợp định mức chi phí cấp nước thô 60

2.8 Kết luận chương 2 Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ

CẤP NƯỚC THÔ ÁP DỤNG CHO CÔNG TY KHAI THÁC CÔNG

TRÌNH THỦY LỢI NAM KHÁNH HÒA Error! Bookmark not defined

3.1 Phương pháp tính toán xây dựng các định mứcError! Bookmark not

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương xã hội hóa nông nghiệp Tỉnh Khánh Hoà, thành phố Nha Trang và nhân dân đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để xây mới, cải tạo và nâng cấp sửa chữa các công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là cấp nước, ngăn mặn, tiêu thoát nước, … phục vụ sản xuất nông nghiệp Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và nhà nước, các công trình thuỷ lợi được đầu tư, điều chỉnh bổ sung ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp thì các công trình thủy lợi còn có nhiệm vụ cấp nước cho các nhà máy công nghiệp và nhà máy nước phục vụ sinh hoạt, du lịch, … Theo Pháp lệnh, Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thuỷ lợi để phục vụ cho các mục đích không phải sản xuất nông nghiệp phải nộp tiền nước Theo Pháp lệnh phí và lệ phí, phí sử dụng nước (tiền nước) là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi phục vụ cho mục đích phi nông nghiệp, như sản xuất nước sạch, nuôi trồng thuỷ sản, … Vì vậy, để đảm bảo cho việc vận hành công trình thuỷ lợi cho nhiệm vụ công ích này cần thiết phải xác định các chi phí theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước

Mặt khác do chưa có hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí trong hoạt động sản xuất, nên hiện nay vấn đề cân đối tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống thuỷ lợi gặp rất nhiều khó khăn và luôn rơi vào tình trạng khó khăn trong các quan hệ hợp đồng kinh tế mà không có căn cứ phân định đúng sai Thực tế này đã dẫn đến tình trạng, nguồn kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy lợi từ cấp nước nông

Trang 8

nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi không đủ để duy tu bảo dưỡng và vận hành các công trình của hệ thống cấp nước và các hệ thống thủy lợi dẫn nước tạo nguồn Do thiếu nguồn kinh phí trong hoạt động vận hành và duy tu cải tạo, nên các hệ thống thuỷ lợi hiện có ngày một xuống cấp, đời sống cán

bộ công nhân viên của các loại hình doanh nghiệp này ngày càng khó khăn

Để duy trì hoạt động cầm chừng của các hệ thống này, hàng năm nhà nước phải cấp bù một khoản ngân sách không nhỏ Nếu không có những định hướng đúng trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh, thì mãi mãi hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi vẫn ở trong vòng luẩn quẩn

Trải qua một thời kỳ dài của nền kinh tế nông nghiệp với cơ chế bao cấp, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thủy lợi ở nước ta là cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Hiện nay, trong điều kiện mới của nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống công trình thủy lợi đã có những thay đổi đa dạng và mang tính tổng hợp hơn Nhiều hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu hiện đang được đầu tư, nâng cấp để đảm

nhiệm thêm nhiệm vụ mới như: cấp nước thô (nước lấy từ nguồn nước sông

tự nhiên, chưa qua công đoạn làm sạch) phục vụ cho các nhà máy nước sạch

phục vụ công nghiệp và dân sinh; cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, du lịch, giao thông thuỷ, Do việc phải đảm trách thêm những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mới này, công tác quản lý, vận hành các công trình trở nên phức tạp hơn, và chi phí sản xuất cũng tăng cao hơn so với khi hệ thống chỉ có một nhiệm vụ phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp

Do công tác định giá sản phẩm và hoạt động dịch vụ chưa được quan tâm thích đáng, hay nói chính xác hơn, do chưa có hệ thống định mức kinh tế

kỹ thuật, định mức chi phí trong hoạt động sản xuất, nên hiện nay vấn đề cân đối tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống thuỷ lợi còn gặp rất nhiều khó khăn và luôn rơi vào tình trạng xung đột trong các quan

hệ hợp đồng kinh tế mà không có căn cứ phân định đúng sai Thực tế này đã dẫn đến tình trạng, nguồn kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy

Trang 9

lợi từ cấp nước nông nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi không đủ để duy tu bảo dưỡng và vận hành các công trình của hệ thống cấp nước và các hệ thống thủy lợi dẫn nước tạo nguồn Do thiếu kinh phí trong hoạt động vận hành và duy tu cải tạo, nên các hệ thống thuỷ lợi hiện có ngày một xuống cấp, đời sống cán bộ công nhân viên của các loại hình doanh nghiệp này ngày càng khó khăn Để duy trì hoạt động cầm chừng của các hệ thống này, hàng năm nhà nước phải cấp bù một khoản ngân sách không nhỏ Nếu không có những định hướng đúng trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh, thì mãi mãi hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi vẫn ở trong vòng luẩn quẩn

Đã đến lúc cần phải vận dụng các biện pháp pháp luật, hành chính, kinh

tế, kỹ thuật và tuyên truyền, giáo dục, để giải quyết những mâu thuẫn giữa cung và cầu và tình trạng tài nguyên nước không đủ so với nhu cầu dùng nước tăng trưởng tương đối nhanh, giải quyết mâu thuẫn giữa tình trạng môi trường

bị xấu đi, trong khi khả năng xử lí và khắc phục không đầy đủ, giải quyết mâu thuẫn giữa tình trạng giá nước vẫn còn thu tương đối thấp trong khi phải đầu

tư xây dựng công trình là lắp đặt các trang thiết bị quản lí vận hành công trình nước với chất lượng cao và kinh phí đầu tư lớn

Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn “Xây dựng định mức chi phí cấp nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt của hệ thống thủy lợi Nam Khánh Hòa” Việc nghiên cứu phương pháp xây dựng

định mức chi phí nói chung, định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp nói riêng, là một trong những công tác rất cần thiết và phải được triển khai ngay Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở quan trọng để các đơn vị có thể chủ động tổ chức xây dựng, rà soát điều chỉnh định mức cho đơn vị mình, đồng thời giúp các cơ quan quản lý có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra, thẩm định kết quả tính toán và quyết định ban hành áp dụng các chỉ tiêu định mức chi phí trong hoạt động quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Trang 10

2 Mục đích của đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp xây dựng định

mức chi phí cấp nước thô phù hợp với thực trạng tổ chức sản xuất, điều kiện

trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý của doanh nghiệp quản lý khai thác công

trình thuỷ lợi trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện tự

nhiên, kinh tế xã hội của một hệ thống công trình cụ thể

Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt là cơ sở

cho Công ty KTCT thuỷ lợi Nam Khánh Hòa tiến hành:

- Quản lý vận hành công trình theo đúng quy trình, quy phạm, quy chế

đảm bảo chất lượng nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt;

- Bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý, nâng cao năng suất lao

động Giao khoán cho các cụm thuỷ nông, gắn kết quả với trách nhiệm của

người lao động;

- Lập kế hoạch sản xuất, tài chính và chi phí hàng năm đảm bảo cấp

nước thô phục vụ công nghiệp, sinh hoạt;

- Thanh quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất

- Định mức còn làm cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước giám sát

quá trình quản lý vận hành công trình, đảm bảo chất lượng nước thô theo quy

định và thanh quyết toán chi phí cho doanh nghiệp theo sản lượng nước thô

cấp cho các nhà máy sử dụng nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng định mức

kinh tế kỹ thuật nói chung, phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước

thô ở các hệ thống công trình thuỷ lợi nói riêng

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý vận hành, sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho các đối tượng hưởng lợi từ hệ thống công trình thuỷ lợi Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động và chi phí phát sinh do hoạt động cấp nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi cho các hoạt động sản xuất nước sạch phục vụ công nghiệp và sinh hoạt

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nội dung, nhiệm vụ của đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp thống kê, kinh nghiệm; Phương pháp so sánh; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phân tích theo mô hình toán; Phương pháp tổng hợp; và một số phương pháp kết hợp khác

5 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu theo nhiệm vụ đã đề ra, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chính như sau:

- Nghiên cứu tổng quan về công tác xây dựng và áp dụng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp Tổng kết các kết quả định mức chi phí thực tế tại một số vùng, miền

- Nghiên cứu xây dựng quy trình và phương pháp lập một số định mức chi phí chủ yếu (gồm một số loại định mức chủ yếu: Chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm; Chi phí các khoản theo lương; Chi phí nạo vét kênh mương; chi phí dụng cụ, vật tư duy trì vệ sinh kênh mương; Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu bảo dưỡng thiết bị vận hành công trình; Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Chi phí khấu hao tài sản cố định; Một số chi phí khác)

- Áp dụng kết quả nghiên cứu phương pháp xây dựng định mức để tính toán chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp của một hệ thống thuỷ lợi cụ thể

Trang 12

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Tổng hợp đặc điểm hệ thống công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà do

công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà quản lý

- Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật, từ

đó xây dựng được định mức tổng hợp cho cấp nước phục vụ công nghiệp và sinh hoạt của Nam Khánh Hoà

Trang 13

CHƯƠNG I THỰC TRẠNG CẤP NƯỚC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THUỶ

LỢI NAM KHÁNH HO

1.1 Giới thiệu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Khánh Hoà

1.1.1 Vị trí địa lý

Khánh Hoà là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần

lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông Phía Bắc giáp tỉnh

Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh ĐăkLăk và Lâm

Đồng, phía Đông giáp với Biển Đông

Khánh Hoà nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt,

đường biển và đường hàng không Thành phố Nha Trang là trung tâm hành

chính kinh tế, văn hoá của tỉnh Khánh Hoà Việc giao lưu kinh tế văn hoá

giữa Khánh Hoà và các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc rất thuận lợi nhờ hệ thống

giao thông đường sắt xuyên Việt và quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh

Về đường hàng không Khánh Hoà có cảng hàng không quốc tế Cam Ranh

đặc biệt cảng Cam Ranh còn là một cảng thiên nhiên vào loại tốt nhất trong

nước và trên thế giới

1.1.2 Khí hậu

Khí hậu Khánh Hoà vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió

mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hoà Lượng

mưa trung bình trên dưới 2000mm/năm, và được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa

mưa từ tháng 9 đến tháng 12 tập trung 70 – 80% lượng mưa cả năm Những

tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2600 giờ nắng Riêng

Formatted: Left, Indent: First line: 0 cm

Trang 14

tại khu vực thành phố Nha Trang mùa mưa chỉ kéo dài trong 2 tháng còn lại là nắng ấm, rất thuận lợi cho ngành du lịch biển

1.1.3 Đặc điểm địa hình

Diện tích tự nhiên của Khánh Hoà, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo là 5197km2, xếp trung bình so với cả nước Địa hình của Khánh Hoà tương đối thấp dần từ Tây sang Đông với những dạng địa hình núi, đồi, đồng bằng ven biển và biển khơi Phần phía Tây là sườn đông dãy Trường Sơn, chủ yếu là núi thấp và đồi, độ dốc lớn và địa hình bị chia cắt mạnh Tiếp đến là dạng địa hình núi thấp, đồi thấp xen kẽ bình nguyên và thung lũng, thỉnh thoảng có núi đá chạy ra sát biển, chia cắt dải đồng bằng nhỏ hẹp, với chiều dài khoảng 200 km bờ biển khúc khuỷu có điều kiện thuận lợi để hình thành các cảng nước sâu, nhiều vùng đất rộng thuận lợi để lập khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung Những đặc điểm địa hình này của Khánh Hoà không chỉ tạo ra những cảnh quan phong phú và đa dạng vừa mang tính đặc thù của mỗi tiểu vùng, mang tính đan xen và hoà nhập mà còn có ý nghĩa chiến lược

về mặt quốc phòng, vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông

ra biển Đông

1.1.4 Dân số

Theo số liệu thống kê tháng 4/2011, tỉnh Khánh Hòa có 1,156 triệu người Với diện tích 5.271km2, mật độ dân số của Khánh Hoà là 222 người/km2, trong đó Nam giới có khoảng 572.412 người (49.48%) và Nữ giới

có khoảng 584.491 người (50.52%) tỷ lệ tăng dân số của tỉnh bình quân từ năm 1999 - 2011 là 1,3%

Hiện nay có 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc Kinh chiếm 95,3%, dân tộc Raglai chiếm 3,4%, dân tộc Hoa chiếm 0,86%, dân tộc Cơ-ho chiếm 0,34%, dân tộc Ê-đê chiếm 0,25% Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm Tại một số địa

Trang 15

phương trong tỉnh như Dốc Gạo, Xóm Cồn, đảo Hòn Tre đã tìm thấy dấu vết những cư dân đầu tiên sống cách đây khoảng từ 4.500 đến 5.000 năm

1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

Khánh Hoà có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên rừng

a Tài nguyên biển

Với cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu lý tưởng, nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá nên Nha Trang đã trở thành một trong mười trung tâm du lịch lớn của cả nước, đặc biệt là du lịch biển với rất nhiều bãi tắm nổi tiếng như như bãi biển Nha Trang, Bãi Tiên, Dốc Lếch, Đại Lãnh

Dọc bờ biển còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có khả năng tổ chức du lịch, lặn biển, vui chơi giải trí trên các đảo Đặc biệt đảo Hòn Tre là đảo lớn, quanh năm có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Trũ, bãi Tre, Bích Đầm, trong đó khu du lịch Hòn Ngọc Việt (Vinpearl Land) trên đảo Hòn Tre là khu du lịch, nghỉ mát sang trọng bậc nhất ở Việt Nam

Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông,

hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới

Trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa ước khoảng 150 nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%) Khả năng cho phép hàng năm khai thác khoảng 70.000 tấn Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Khánh Hòa còn là nơi trú ngụ của chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào Đây là một đặc sản quý mà không phải tỉnh nào trong cả

Trang 16

nước cũng có thể có được, là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp

Biển Khánh Hòa còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối do nước biển

có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp

b Tài nguyên rừng

Diện tích rừng hiện có 186,5 nghìn ha, trữ lượng gỗ 18,5 triệu m3, trong đó 64,8% là rừng sản xuất, 34% rừng phòng hộ và 1,2% rừng đặc dụng Rừng phòng hộ có 34%, song hầu hết là rừng giàu ở khu vực núi cao, đầu nguồn các huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và Ninh Hòa Độ che phủ của rừng

là 38,5%, lớn nhất là ở huyện Khánh Vĩnh và huyện Khánh Sơn

c Tài nguyên khoáng sản

Khánh Hòa có nhiều loại khoáng sản như than bùn, môlíp đen, cao lanh, sét, vàng sa khoáng, nước khoáng, sét chịu lửa, cát, san hô, đá granite , trong đó, đáng chú ý nhất là cát thuỷ tinh Cam Ranh, đáp ứng yêu cầu của sản xuất thủy tinh quang học, pha lê trữ lượng 52,2 triệu m3

Nước khoáng với tổng lưu lượng khoảng 40l/s, khả năng khai thác

3400 - 3500 m3/ngày Một số nơi đã đưa vào khai thác công nghiệp như nước khoáng Đảnh Thạnh (57 triệu lít/năm) Tài nguyên khoáng sản Khánh Hòa là một trong những loại tài nguyên có thể tái khai thác trong tương lai để phát triển các sản phẩm cạnh tranh thị trường

d Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào

và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa) Khánh Hoà, từ lâu dòng chảy của con sông Cái Nha Trang đã là nguồn nước chủ yếu đối với nông nghiệp, lâm nghiệp của các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, ngoài

Trang 17

ra còn phục vụ cho công nghiệp, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản và nước sinh hoạt của thành phố Nha Trang

Lưu vực sông Cái Nha Trang (phần trong tỉnh Khánh Hoà) có tổng lượng dòng chảy vào khoảng 2,078 tỷ m3/năm Với dân số trong lưu vực này khoảng 546.124 người (Niên giám thống kê năm 2008) thì bình quân đầu người đạt khoảng 3.804m3/năm, thấp hơn so với trung bình toàn quốc và mức trung bình của thế giới Theo sự phân hạng thế giới, nước nào đạt dưới 4.000m3/người/năm thuộc loại nghèo về nước, như vậy lưu vực sông Cái Nha Trang của chúng ta thuộc diện nghèo về nước Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra là tổng lượng dòng chảy 4 tháng mùa lũ (tháng 9 - 12) chiếm đến 65 - 66 % lượng dòng chảy cả năm, còn lượng dòng chảy 8 tháng mùa cạn (tháng 01 - 8) chỉ chiếm từ 34 - 35% lượng dòng chảy cả năm So sánh với nhu cầu dùng nước, sự phân phối dòng chảy giữa hai mùa như trên là không đồng đều, rất bất lợi cho sản xuất Bởi lẽ, trong khi nhu cầu dùng nước trong các tháng mùa cạn rất cao thì dòng chảy trên sông nhỏ, trái lại nhu cầu dùng nước trong các tháng mùa lũ không cao lắm thì phần lớn nước tập trung trong những tháng này Dĩ nhiên trong chuỗi số liệu quan trắc nhiều năm cũng có năm xảy ra mưa lũ tiểu mãn vào các tháng giữa mùa khô, nên đã góp phần làm giảm tình hình khô hạn, thiếu nước, song tần suất xảy ra khá thấp, lượng dòng chảy nhỏ, chỉ chiếm 3 - 6% lượng dòng chảy năm

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp của Khánh Hòa sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng Theo số liệu điều tra năm 2006, tổng lượng nước dưới đất và nước mặt cung cấp cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và du lịch trên lưu vực sông Cái Nha Trang khoảng 150 -

155 triệu m3/năm Theo kế hoạch của UBND tỉnh Khánh Hòa, đến năm 2010 phấn đấu 100% thành phố, thị xã và 80% ở nông thôn trong tỉnh có nước sạch

và cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội của tỉnh thì đến năm

Trang 18

2010 tổng lượng nước ước tính khoảng 238 triệu m3 (Quy hoạch thủy lợi tỉnh

Khánh Hoà năm 2002) Vì vậy, những nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp

tích nước hợp lý trong mùa lũ, vừa đảm bảo phòng chống lũ lụt, vừa để điều

tiết phục vụ nhu cầu dùng nước trong mùa cạn là hết sức cần thiết

1.2 Thực trạng hệ thống công trình thuỷ lợi thuộc công ty

KTCTTL Nam Khánh Hoà quản lý

Hệ thống công trình thuỷ lợi do công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà

quản lý ngoài nhiệm vụ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn

phía Nam tỉnh Khánh Hoà còn có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp

và nuôi trồng thuỷ sản và các ngành kinh tế khác Qua quá trình xây dựng và

phát triển, hệ thống các công tình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà được tóm tắt như

sau:

1.2.1 Hồ đập

Công ty quản lý 16 hồ đập (trong đó 7 hồ chứa và 9 đập dâng), tổng

dung tích hữu ích là 63,194 x 106m3, năng lực thiết kế là: phục vụ tưới cho

vụ đông xuân 7.860 ha lúa, 7.600 ha lúa vụ hè thu; nhưng trong quá trình

quản lý khai thác đến nay thực tế chỉ đạt tưới cho vụ đông xuân 2.690 ha lúa,

2.640 ha lúa vụ hè thu và cấp nước sinh hoạt, dân sinh kinh tế khác; (chi tiết

xem trong bảng 1.1)

1.2.2 Trạm bơm

Công ty quản lý 4 trạm bơm tưới, 32 máy loại 1000 m3/h, theo năng

lực thiết kế các trạm bơm đảm bảo tưới cho 3.861 ha đất canh tác; thực tế đến

nay hiệu quả khai thác đạt 1418,2 ha

Formatted: Normal (Web), Indent: First line:

1.59 cm

Formatted: Justified, Indent: Left: 0 cm

Trang 19

Bảng 1.1 Bảng thống kê các trạm bơm do Công ty KTCTTL Nam Khánh

Tổng

số máy

Lưu lượng máy (m3/h)

Công suất 1 máy (kw)

Diện tích tưới thiết

kế (ha)

Diện tích tưới thực

tế (ha)

Vụ đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Vụ đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Khu vực Công ty KTCTTL Nam Khánh Hoà phụ trách chỉ tiêu úng

bằng các hệ thống tiêu tự chảy bằng hệ thống kênh dẫn tiêu và các công trình

tiêu đầu mối

1.2.4 Hệ thống kênh tưới

Hệ thống kênh tưới làm nhiệm vụ chuyển tải và điều tiết nước tưới

phục vụ tưới, cấp nước cho 48 đơn vị dùng nước với tổng diện tích 8.120 ha

tưới được nghiệm thu (năm 2011)

Formatted: Font: 14 pt, Portuguese (Brazil) Formatted: Normal, Justified, Indent: Left: 0

cm, First line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 21

Bảng 1.2 Bảng thống kờ hiện trạng cỏc hồ đập của hệ thống thuộc Cụng ty KTCT TL Nam Khỏnh Hũa quản lý

tích lưu vực (km2)

Dung tích hữu ích (triệu m3)

Dung tích chết (triệu m3)

Chiều dài

đập (m)

Rộng

đập (m)

Chiều cao

đập (m)

Số cửa

Chiều dài tràn (m)

Chiều rộng tràn (m)

Loại tràn

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Trang 22

tích lưu vực (km2)

Dung tích hữu ích (triệu m3)

Dung tích chết (triệu m3)

Chiều dài

đập (m)

Rộng

đập (m)

Chiều cao

đập (m)

Số cửa

Chiều dài tràn (m)

Chiều rộng tràn (m)

Loại tràn

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Trang 23

tích lưu vực (km2)

Dung tích hữu ích (triệu m3)

Dung tích chết (triệu m3)

Chiều dài

đập (m)

Rộng

đập (m)

Chiều cao

đập (m)

Số cửa

Chiều dài tràn (m)

Chiều rộng tràn (m)

Loại tràn

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Vụ

đông xuân

Vụ

hè thu

Vụ mùa

Trang 24

1.2.5 Thực trạng cấp nước thô cho nhu cầu sản xuất nước sạch phục

vụ sinh hoạt và công nghiệp

Để tiến hành sản xuất nước sạch phục vụ đời sống và sinh hoạt của cộng đồng dân cư, cũng như cung cấp cho các hoạt động kinh tế khác của con người, các nhà máy và hệ thống cấp nước sạch chủ yếu lấy nước từ nguồn nước mặt Tuy nhiên, đối với các đô thị vùng ven biển, những vùng nước tự nhiên bị ô nhiễm hoặc không đảm bảo chất lương và nơi xa nguồn nước mặt tự nhiên, thì các đơn vị này thường phải lấy nước từ hệ thống công trình thuỷ lợi Nguồn nước được nguyên liệu lấy vào cho quá trình sản xuất nước sạch chưa qua xử lý này được gọi là nước thô Với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ tăng dân số mạnh mẽ, không những nhu cầu nước thô cho sản xuất nông nghiệp tăng cao mà lượng nước thô cấp cho quá trình sản xuất nước sạch luôn tăng lên không ngừng Nhu cầu nước sạch không những tăng cao vì những nguyên nhân

kể trên, mà còn vì đòi hỏi nâng cao chất lượng cuộc sống của xã hội hiện đại

a Nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt

Nước sạch có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của loài người, nhất là trong việc bảo vệ sức khỏe Trên thế giới hiện nay có khoảng

1 tỷ người không có nước sạch để sử dụng, do đó hàng năm có khoảng 1,5 triệu trẻ em chết vì không được sử dụng nước sạch Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng 250.000 người phải nhập viện vì bị bệnh tiêu chảy – căn bệnh có liên quan đến vấn đề thiếu nước Việt Nam không nằm trong số các quốc gia thiếu nước hay hiếm nước (năm 2010 lượng nước bình quân đầu người ở nước ta dự tính khoảng 8.500 m3

nước/người/năm)

Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với 2.360 con sông, cung cấp một nguồn nước dự trữ dồi dào khoảng 255 tỷ m3/năm Bên cạnh đó, tài nguyên nước dưới lòng đất có tiềm năng khai thác được ước tính khoảng 60 tỷ m3

mỗi năm Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự gia tăng dân số, sự phát triển công nghiệp và đô thị, đặc biệt do công tác quản lý của chúng ta đối với nguồn tài nguyên quý giá này vẫn còn nhiều bất cập, nên tình trạng ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất và các vùng nước ven bờ của Việt Nam ngày càng trở nên rõ rệt

Trang 25

hơn Mặt khác, môi trường thiên nhiên Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước thiên tai do các điều kiện địa lý, địa hình của đất nước và vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới Mặc dù chất lượng nước ở các vùng thượng lưu còn khá tốt, nhưng các đoạn sông hạ lưu của các con sông chính của nước ta thì chất lượng lại kém Hầu hết các hồ, ao, kênh mương trong các khu đô thị đang nhanh chóng trở thành các bể chứa nước thải Nước dưới đất cũng đã có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn ở một số nơi Theo một số nghiên cứu, hiện nay, chỉ khoảng 60% dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt

Hệ thống lưu vực của một số sông chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp của các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu khai thác và chế biến khoáng sản, các đô thị và các điểm dân cư … Chất lượng nước thuộc lưu vực các sông ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Trong khi đó, vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường các lưu vực sông còn nhiều hạn chế, như hệ thống chính sách, quy định, quy chế liên quan đến bảo vệ môi trường lưu vực sông còn thiếu và chưa đồng bộ; sự phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương cũng chưa cụ thể Hiện nay, các bộ, ngành, địa phương có liên quan đang tập trung xây dựng các biện pháp

xử lý cụ thể, hoàn thiện thể chế quản lý môi trường lưu vực sông theo hướng quản lý tổng hợp (bao gồm các biện pháp quản lý, công nghệ phù hợp cho từng khu vực, cho từng thành phần môi trường)… Đặc biệt là việc chỉ đạo việc xử lý

ô nhiễm môi trường do các cơ sở nằm trên các lưu vực sông gây ra theo “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” (được ban hành kèm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ) Tuy nhiên việc quản lý lưu vực sông là công việc không đơn giản

do tính đa dạng, sự khác biệt giữa các khu vực, giữa các tỉnh với nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, sự chênh lệch về nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồng, năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước

về bảo vệ môi trường không đồng đều

Thời gian trước, chính sách môi trường thường mang tính kêu gọi, khuyến khích và đôi khi hệ thống chính sách, pháp luật về môi trường vừa thiếu, vừa

Trang 26

không đồng bộ, có nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Do trước đây, vấn đề môi trường ở nước ta chưa phải là vấn đề bức xúc cần

ưu tiên giải quyết Nhưng hiện nay do yêu cầu phát triển và đặc biệt do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để khắc phục vấn đề này chính phủ đã sửa đổi,

bổ sung và đổi mới quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao tính đồng bộ, tính khả thi, khắc phục được bệnh quan liêu trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

b Nước sạch ở nông thôn Việt Nam

Nước sạch ở nông thôn là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận và do tự nhiên ban tặng nên được sử dụng miễn phí Cách hiểu này đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân và được củng cố qua nhiều thế hệ Lý do của sự hiểu này là

do người dân nông thôn có thể sử dụng nhiều nguồn nước khác nhau cho ăn uống, sinh hoạt mà không cần qua xử lý và cũng không chịu sự quản lý của ai Với họ không ai làm ra nước và vì thế không có sự mua và bán nước như các loại hàng hóa khác Thêm vào đó người dân nông thôn cũng chưa có một khái niệm đúng và đủ nghĩa về “nước sạch” Thông thường, người dân đánh giá mức

độ sạch của nước chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và cảm quan của mình chứ chưa dựa vào các xét nghiệm mang tính khoa học, chính vì thế không ít người cho rằng cứ nước mưa, nước giếng, nước suối, hồ … trong, không có vẩn đục là sạch

và có thể sử dụng Cách hiểu nước là miễn phí đã theo những lý do đó mà tồn tại

từ hàng nghìn năm nay

Khác với khu vực đô thị, các công trình cấp nước sạch ở nông thôn là công trình nhỏ lẻ, các hệ thống cấp nước công cộng bằng đường ống dùng chung cho nhiều hộ chưa phổ biến Trong truyền thống, việc sử dụng nước giếng, nước mưa, nước suối,… đã trở thành thói quen và hình thành nên những đặc trưng văn hóa riêng của người dân nông thông với biểu tượng “cây đa – bến nước – sân đình” Bên cạnh đó, do điều kiện sống còn thấp và nguồn nước cho sinh hoạt khá dồi dào nên người dân nông thôn chỉ quan tâm đến việc sử dụng nước chứ ít quan tâm đến việc tích trữ nước Chỉ từ sau năm 1945, khi Chính phủ phát động các phong trào về vệ sinh môi trường thì người dân mới quen dần và có ý thức

Trang 27

hơn với khái niệm “trữ nước” Tuy nhiên theo báo cáo của Văn phòng chương trình mục tiêu quốc gia NS&VSMTNT thì đến năm 2008 khu vực nông thôn vẫn còn hơn 50% số hộ nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông, suối,

ao, hồ và hơn 10% dùng nước mưa Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và nước cấp bằng hệ thống đường ống

Một đặc trưng khác nữa, là dân cư nông thôn sống phân tán, mật độ dân

cư trên cùng một địa bàn thường thấp hơn nhiều so với khu vực đô thị nên làm cho việc đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và chi phí vận hành, quản lý thường tốn kém hơn; Thêm vào đó, khả năng đầu tư xây dựng và chi trả phí sử dụng nước của người dân nông thôn có hạn, mức sống của người dân nông thôn nói chung còn rất thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao do đó khả năng huy động vốn đóng góp của dân và khả năng chi trả cho “phí sử dụng nước” là rất hạn chế

Tuy nhiên bên cạnh những đặc thù trên, cũng phải thừa nhận, thị trường nước sạch nông thôn ở Việt Nam là rất có tiềm năng để phát triển Và khác với quá khứ, mức độ đòi hỏi về chất lượng nước của người dân nông thôn ngày càng cao hơn và những người có thu nhập cao sẵn sàng chi trả cho việc được sử dụng nước sạch ngày càng nhiều Những thống kê mới đây cho thấy nhiều địa phương trong cả nước đã bước đầu có thể tự trang trải các chi phí cho việc cấp nước sạch thông qua việc thí điểm kinh doanh nước nông thôn Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cũng đã và đang tạo điều kiện để phát triển thị trường nước sạch nông thôn

c Tình hình cấp nước tại các đô thị ở Việt Nam

Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước đô thị ở Việt Nam đã được Chính Phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo xây dựng và nâng cấp, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể Nhiều dự án với vốn đầu tư trong nước, vốn tài trợ của các Chỉnh phủ, các tổ chức Quốc tế đã và đang được triển khai

Hiện nay trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau Tổng công suất thiết kế đạt khoảng 3,5 triệu m3/ngày đêm Nhiều các nhà

Trang 28

máy được xây dựng trong thời gian gần đây có dây chuyền công nghệ xử lý và thiết bị hiện đại Tuy vậy, tình hình cấp nước đô thị còn rất nhiều bất cập: Tỷ lệ cấp nước còn thấp (trung bình dạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước, trong

đó đô thị loại I và II đạt tỷ lệ 67%, các đô thị loại IV và loại V chỉ đạt 10 đến 15%); Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế (nhiều nơi thiếu nước, nhưng cũng có những nơi thừa nước, không khai thác hết công suất,

cá biệt tại một số thị xã chỉ khai thác khoảng 15 đến 20% công suất thiết kế); Tỷ

lệ thất thoát thất thu nước còn cao (tỷ lệ thất thu cao không chỉ chứng tỏ sự yếu kém về mặt năng lực quản lý mà còn thể hiện kết quả của quá trình đầu tư không đồng bộ giữa việc tăng công suất với công tác phát triển mạng lưới đường ống; Chất lượng nước tại một số nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn

1.3 Tình hình xây dựng và áp dụng định mức cấp nước thô trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở Việt Nam

1.3.1 Những nghiên cứu về chi phí cấp nước ở Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 600 đô thị Bộ Xây dựng có chức năng quản

lý nhà nước về việc cung cấp nước đô thị, và hiện đang quản lý hơn 70 công ty cấp nước với trên 250 hệ thống cấp nước để phục vụ sinh hoạt và công nghiệp của các thành phố, thị xã tỉnh lị và thị xã trực thuộc tỉnh Tổng công suất thiết kế của các nhà máy trên khoảng 3.5 triệu m3/ngày đêm Đối với các đô thị nhỏ, thị trấn huyện lị mới chỉ có khoảng gần 25% các hệ thống cung cấp nước tập trung với tổng công suất cấp nước đạt khoảng 450.000 m3/ngày đêm Tuy nhiên tất cả các đô thị đều dược cấp nước nhưng không những tỷ lệ dân số được cấp còn thấp (60-70)% mà tiêu chuẩn định lượng cũng chỉ đạt 40-50% theo tiêu chuẩn thiết kế

Hầu hết hiện nay, việc cung cấp nước sinh hoạt được thực hiện bởi các doanh nghiệp Nhà nước với cơ sở hạ tầng của ngành được Nhà nước đầu tư xây dựng Công tác quản lí vận hành, bảo dưỡng hệ thống này được giao cho các xí nghiệp hoặc công ty cấp nước ở các tỉnh, thành phố đảm nhiệm Tỷ lệ cấp nước

Trang 29

bình quân tại các đô thị mới chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu cấp nước cho nhân dân với tiêu chuẩn bình quân 70 lít/người/ngày

Giá nước sạch do UBND tỉnh, thành phố trực tiếp quyết định vì vậy khác nhau ở mỗi tỉnh và thường dao động từ 1200 đồng/m3 - 2800 đồng/m3 Doanh thu về nước sạch hiện không đủ bù đắp chi phí sản xuất Do vậy, hầu hết các doanh nghiệp cấp nước chưa có khả năng tự chủ về tài chính trong sản xuất kinh doanh, hàng năm Nhà nước vẫn phải phải bù lỗ Để giải quyết tình trạng này Chính phủ dự định ban hành khung giá nước sạch cho toàn quốc để làm cơ sở cho các doanh nghiệp cấp nước tự chủ về tài chính để phát triển sản xuất, kinh doanh

Quan điểm nước là tài nguyên, nước là hàng hóa chưa được thể chế hóa thành cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế, tài chính một cách đầy

đủ để tạo nội lực và động lực phát triển bền vững, bảo đảm khai thác nước hợp

lý, cung ứng nước thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, tạo cơ sở để sử dụng nước tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ tốt tài nguyên nước

Các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định về quyền và nghĩa

vụ tài chính trong khai thác tài nguyên nước, cung ứng và sử dụng dịch vụ nước theo Luật Tài nguyên nước chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ Ngân sách Nhà nước vẫn phải gánh chịu hầu hết các khoản vốn đầu tư phát triển và chi phí vận hành các công trình cấp, thoát nước

Trong suốt thời gian dài, giá tiêu thụ nước sạch bị chi phối quá lớn bởi các yếu tố xã hội, công ích, ít quan tâm đến ảnh hưởng của nó đối với đơn vị hoạt động cấp nước trong việc bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhất là sau khi cổ phần hoá, bảo đảm tích luỹ để đầu tư Giá tiêu thụ nước sạch hiện tại đối với số đông khách hàng sử dụng nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt chỉ mới bằng 60% giá bán bình quân Chính điều này khiến các doanh nghiệp không đảm bảo được tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phần lớn còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách cấp phát để phục vụ nhu cầu nước cho người dân

Trang 30

Các nhà máy và hệ thống cấp nước chủ yếu lấy nước từ nguồn nước mặt Tuy nhiên, đối với các đô thị vùng ven biển, những vùng nước tự nhiên bị ô nhiễm hoặc không đảm bảo chất lương và nơi xa nguồn nước mặt tự nhiên, thì các đơn vị này thường phải lấy nước từ hệ thống công trình thuỷ lợi

Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong tình hình mới, thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong điều kiện không có các công trình chuyên phục vụ cấp nước thô cho công nghiệp và sinh hoạt, nên hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu hiện có đang được đầu tư, nâng cấp để đảm nhiệm nhiệm vụ chiến lược mới này Như vậy, việc quản lý, vận hành các công trình thuỷ lợi của Công ty sẽ phức tạp, thường xuyên, chính xác hơn Công tác kiểm định, đánh giá, giám sát chất lượng nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước ngặt nghèo và chuẩn mực hơn so với chỉ có một nhiệm vụ phục vụ tưới tiêu, và vì vậy, chi phí cho dịch vụ cấp nước từ hệ thống cũng ngày một tăng cao

Để tài nguyên nước được phát triển bền vững, việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tổng hợp và đa mục tiêu nguồn tài nguyên này, cần phải coi sản phẩm nước là hàng hoá, sớm xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội hoá các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước Xây dụng

và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, định mức trong lĩnh vực tài nguyên nước và phát triển các dịch vụ về nước nhằm quản lý chặt chẽ tài nguyên nước, tạo động lực phát triển bền vững ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Để xoá bỏ bao cấp trong các dịch vụ cung ứng nước, bảo đảm giá của dịch vụ cung ứng nước được tính đúng, tính đủ Thực hiện chính sách chia sẻ lợi ích và trách nhiệm tài chính giữa các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên nước, đảm bảo nguồn tài chính bổ sung cho việc vận hành công trình thuỷ lợi đáp ứng nhiệm vụ mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, phấn đấu giảm chi phí, giảm thất thoát nước, đồng thời khuyến khích khách hàng sử dụng tiết kiệm nước và để có cơ sở pháp lý thanh toán giữa công ty và các tổ

Trang 31

chức dịch vụ nói trên, cần thiết phải xây dựng được các định mức chi phí các

công tác cấp nước thô theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước

1.3.2 Đánh giá chung về các nghiên cứu

Các nghiên cứu của các nước và nhiều tác giả đã khẳng định, nước ngọt là

tài nguyên có hạn dễ bị xâm hại và đóng vai trò thiết yếu đối với cuộc sống Một

nửa dân số trên thế giới nằm trong số những người có nguy cơ không có điều

kiện để tiếp cận nguồn nước sạch và dịch vụ nước sạch Để đảm bảo duy trì,

quản lý bảo tồn, khai thác, phân phối và sử dụng nguồn tài nguyên này công

bằng, hợp lý và tiết kiệm, đòi hỏi phải dựa trên cách tiếp cận coi nước là hàng

hoá có giá trị trong mọi sử dụng cạnh tranh

Việt Nam, chúng ta cũng đã và đang nhận thức ngày một rõ hơn tầm

quan trọng của việc tính toán đầy đủ và rõ ràng giá cấp nước cho các đối tượng

sử dụng nước từ các hệ thống thuỷ lợi Là hệ thống phục vụ công ích là chính,

nhưng công trình thuỷ lợi cần phải có nguồn kinh phí để duy trì các hoạt động

sản xuất của mình, ngoài ra nó cũng cần một khoản kinh phí không nhỏ để duy

tu, bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp, mở rộng quy mô và chất lượng phục vụ Đáp

ứng ngày một tốt hơn xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, Thoả

mãn ngày một cao hơn chất lượng cuộc sống của người dân, giảm dần gánh

nặng bao cấp của Nhà nước

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mở cửa, để giúp các đơn vị kinh tế

của ngành thuỷ lợi (trong một thời gian dài được bao cấp) bước vào hội nhập,

Nhà nước cần phải tạo điều kiện từ chủ trương, chính sách đến các hành lang

pháp lý, để các đơn vị sớm tính toán xác định được năng lực thực sự, khả năng

cạnh tranh của mình Việc các doanh nghiệp cần phải thực hiện trước hết là xây

dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật làm căn cứ để xác định giá dịch vụ cấp

nước từ các hệ thống hiện có

1.4 Khái niệm và vai trò của định mức chi phí cấp nước thô

Formatted: Indent: First line: 0 cm

Trang 32

1.4.1 Khái niệm và vai trò của định mức nói chung

Mức (ngôn ngữ phổ thông thường gọi là định mức) được hiểu là tiêu chuẩn, quy định (cho phép) tối đa về nguồn lực: Lao động, vật tư, tiền vốn, thời gian lao động, để hoàn thành một công việc, nhiệm vụ, chức năng, một khối lượng sản phẩm nhất định trong điều kiện tổ chức sản xuất cụ thể

Như vậy chúng ta có thể coi mức lao động như một thước đo để tính toán, định liệu, tổ chức, kiểm tra, kiểm soát quá trình sản xuất nói chung

Nhiệm vụ của công tác định mức kinh tế - kỹ thuật là dùng phương pháp khoa học, tiên tiến để nghiên cứu, tính toán xác định quan hệ giữa số lượng sản phẩm với sự tiêu hao cần thiết về nhân lực và vật lực, định ra một tiêu chuẩn hợp lý trong sản xuất xây dựng, phát hiện và sử dụng một cách đầy đủ nhất mọi khả năng tiềm tàng trong quá trình sản xuất để ngày càng hoàn thiện và phát triển nền sản xuất xã hội, không ngừng tăng năng suất lao động và giảm giá thành xây dựng

Định mức là một hoạt động thực tiễn trong việc xây dựng các mức kinh

tế - kỹ thuật nói chung Định mức xuất hiện trong mọi lĩnh vực, từ các doanh nghiệp tư nhân, các công ty, nhà máy, công ty, xí nghiệp cho đến các cơ quan quản lý nhà nước, từ lĩnh vực kinh doanh cho đến hoạt động sản xuất, nghiên cứu, quản lý, Mỗi lĩnh vực hoạt động đều đã xây dựng cho mình những định mức riêng, đồng thời cũng áp dụng các định mức chung do nhà nước quy định

để dễ dàng hơn trong công việc tính toán chi phí (như chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nguồn lực khác…), giúp nhà nước quản lý tốt hơn sự hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như giúp các doanh nghiệp quản lý tiết kiệm, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; giúp các nhà đầu tư trong việc so sánh, đánh giá để từ đó quyết định phương hướng đầu tư, … Tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm là điều kiện chủ yếu và quyết định để một doanh nghiệp phát triển Muốn sản xuất phát triển thì nhất thiết doanh nghiệp phải hoàn thiện về tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, phương thức quản lý, chiến lược kinh doanh đáp ứng mọi nhu cầu cho xã hội trong nền kinh tế thị trường, Bộ phận chính để thực

Trang 33

hiện tổ chức lao động hợp lý là phải hoàn thiện công tác định mức kinh tế - kỹ thuật

Định mức kinh tế - kỹ thuật là tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn do Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp hoặc bộ phận sản xuất quy định, nó phản ánh trình độ

và điều kiện sản xuất của tổ chức sản xuất trong từng giai đoạn nhất định Định mức kinh tế - kỹ thuật dùng để khống chế việc sử dụng tiền vốn, vật tư, thiết bị, máy móc, nhân lực một cách hợp lý Trong hoạt động quản lý vận hành các hệ thống thuỷ lợi, thì định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa sự tiêu dùng nguồn tài nguyên (nhân lực, vật liệu, máy móc thiết bị xây dựng ) với

số lượng sản phẩm có chất lượng, hợp quy cách trong điều kiện tổ chức sản xuất

cụ thể

1.4.2 Khái niệm và vai trò của định mức chi phí cấp nước thô

a Khái niệm về định mức chi phí cấp nước thô

Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

từ hệ thống công trình thuỷ lợi (gọi tắt là Định mức chi phí cấp nước thô) là chi

phí tối đa cần thiết, bình quân mà một Doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cần phải bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất (thường là một năm), ứng với điều kiện năm sản xuất bình thường, mặt bằng giá cả nhất định, phù hợp với những quy định của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, để Doanh nghiệp hoàn thành việc cung cấp một khối lượng nước thô đảm bảo chất lượng thoả thuận đến vị trí lấy nước của các công trình cấp nước của các đơn vị dùng nước trên hệ thống

Trong điều kiện hiện nay, ở Khánh Hòa, Định mức chi phí cấp nước thô là

cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương giám sát quá trình quản lý vận hành công trình thuỷ lợi, đảm bảo chất lượng nước thô theo thoả thuận và thanh quyết toán chi phí cho doanh nghiệp theo sản lượng nước thô cấp cho các nhà máy sử dụng nước Ngoài ra, Định mức này cũng là căn cứ

để Công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi quản lý vận hành công trình theo đúng quy trình, quy phạm, quy định; Bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý trong hệ thống, nâng cao năng suất lao động; chủ động trong việc lập kế

Trang 34

hoạch sản xuất, tài chính và chi phí sản xuất hàng năm; có quyền được thanh quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất đã đạt được

Hệ thống công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà đang ngày càng được hoàn thiện, nhưng đến nay cơ chế, chính sách cho việc quản lý khai thác công trình vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật

đã ban hành kèm theo Quyết định số 3098/QĐ-UBND ngày 17/12/2008 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi do Công ty khai thác công trình thủy lợi Nam Khánh Hòa quản lý nhưng chưa ban hành định mức cấp nước thô làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả phục vụ tưới tiêu cũng như tuổi thọ của công trình

Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

là nhằm xác định các mức hao phí cần thiết cho các công việc quản lý vận hành

hệ thống công trình thủy lợi nhằm đảm bảo điều tiết, đưa dẫn nước đến vị trí lấy nước của các nhà máy công nghiệp và sinh hoạt

Định mức chi phí cấp nước thô là thước đo các chi phí sản xuất, nó có tác dụng nâng cao trình độ kỹ thuật cho công nhân, giáo dục công nhân tiết kiệm nâng cao trình độ quản lý ở các cơ sở sản xuất

Định mức chi phí cấp nước thô được xây dựng đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:

- Có luận chứng khoa học về kinh tế kỹ thuật đảm bảo xác định đúng đắn các hao phí cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của công trình

- Tính đến các yếu tố khoa học kỹ thuật, các kinh nghiệm đồng thời xét đến khả năng thực tế có thể thực hiện các định mức kinh tế kỹ thuật của các đơn

vị sản xuất trong điều kiện thời tiết bình thường

- Định mức chi phí cấp nước thô được xây dựng trên cơ sở hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi thuộc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà quản lý và các điều kiện khí tượng thuỷ văn, địa hình, địa chất, cây

Trang 35

trồng, trong vùng, theo đầy đủ nội dung công việc phù hợp với quy trình, quy

phạm quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

Hệ thống định mức chi phí cấp nước thô cho công tác quản lý khai thác

công trình thuỷ lợi làm cơ sở giúp cho doanh nghiệp:

- Bố trí sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý, nâng cao năng suất lao động

Quản lý vận hành công trình theo đúng quy trình, quy phạm, nâng cao hiệu quả,

đảm bảo chất lượng nước

- Giao khoán cho các cụm, trạm thuỷ nông, gắn chế độ lương, thưởng với

trách nhiệm, kết quả sản xuất của người lao động

- Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính hàng năm

- Thanh quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất

Đồng thời, đây là cơ sở để giúp cơ quan quản lý Nhà nước duyệt kế hoạch

sản xuất và sử dụng lao động, thanh quyết toán chi phí, xác định mức cấp bù cho

doanh nghiệp công ích theo chế độ quy định của Nhà nước

b Vai trò của công tác xây dựng định mức

Định mức là một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết Chính phủ

của các nước thường hay áp dụng Việt Nam công tác lập và xây dựng nhiều

loại định mức khác nhau và được Chính phủ công bố thực hiện nhằm hướng dẫn

hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế

Phương pháp quản lý có vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công

trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý thì

định mức thể hiện vai trò quan trọng nhằm mục đích cho công tác quản lý được

dễ hơn, đem lại những kết quả cao hơn và đảm bảo hiệu quả về lợi ích chi phí

trong các hoạt động sản xuất kinh doanh

Hiện nay, vấn đề thâm hụt tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh

ở các hệ thống thủy lợi đang là vấn đề chưa có lời giải Nguồn kinh phí thu được

của các hệ thống công trình thủy lợi từ cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông

nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi không đủ để trang trải cho duy tu bảo

dưỡng và vận hành công trình của hệ thống Do thiếu kinh phí trong hoạt động

Formatted: Centered

Trang 36

vận hành và duy tu cải tạo, nên các hệ thống thủy lợi hiện nay ngày càng bị

xuống cấp, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng gặp

nhiều khó khăn Từ thực tế cho thấy việc xây dựng và áp dụng định mức chi phí

cấp nước thô của một doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi là thực

sự cần thiết.KẾT LU N CHƯƠNG I

Định mức chi phí cấp nước thô là một trong những công cụ quan trọng và

rất cần thiết trong tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh

nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi Tuy nhiên, khác với các loại hình

doanh nghiệp công nghiệp, định mức chi phí cấp nước thô của mỗi hệ thống

công trình là không giống nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giá cả thị

trường, loại hình công trình, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,… vì vậy, để các

chỉ tiêu định mức phù hợp và có thể áp dụng vào thực tiễn cần phải tính toán

riêng cho từng hệ thống công trình, không thể lấy định mức của hệ thống này để

áp dụng cho hệ thống khác Trong thời gian qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng

trong việc xây dựng và áp dụng hệ thống định mức chi phí cấp nước tại các hệ

thống quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Bên cạnh những thành công, những

kết quả đạt được, công tác này cũng còn có những vấn đề cần tiếp tục nghiên

cứu bổ sung hoàn thiện và đẩy mạnh hơn nữa

Trong tình hình mới, nền kinh tế phát triển, nhất là vấn đề biến đổi khí

hậu và suy kiệt nguồn nước, hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp dịch vụ

của các hệ thống công trình thuỷ lợi được mở rộng theo hướng cung cấp nước

thô phục vụ công nghiệp và sinh hoạt Đã đến lúc chúng ta phải bắt tay ngay vào

việc xây dựng hệ thống định mức cấp nước thô đầy đủ và đồng bộ cho các hệ

thống, trong đó có việc quan tâm xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ

thống công trình thuỷ lợi cho các hệ thống có dịch vụ này

1.5 Kết luận chương 1

(viết tóm tắt lại chương 1)

Formatted: Font: Bold

Formatted: German (Germany)

Trang 37

CHƯƠNG II

CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CẤP NƯỚC THÔ PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP V SINH HOẠT

2.1 Khái niệm về nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ

công nghiệp và sinh hoạt

Từ trước tới nay, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là phục vụ

sản xuất nông nghiệp Hiện nay, hoạt động sản xuất của của các hệ thống công

trình thuỷ lợi đa dạng và mang tính tổng hợp hơn Nhiều hệ thống phục vụ tưới

tiêu hiện có đang được đầu tư, nâng cấp để đảm nhiệm nhiệm vụ chiến lược mới

như cấp nguồn nước phục vụ cho các nhà máy nước sạch phục vụ công nghiệp

và dân sinh; cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, du lịch, Nguồn nước cấp từ

công trình thuỷ lợi, từ hệ thống sông ngòi tự nhiên cho các nhà máy và công

trình sản xuất cấp nước sạch cho công nghiệp và sinh hoạt gọi là nước thô Như

vậy, nước thô là nguồn nước tự nhiên, chưa qua công đoạn làm sạch

Trong điều kiện hiện nay, ở Khánh Hòa, Định mức chi phí cấp nước thô là

cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương giám sát quá

Formatted: German (Germany)

Trang 38

trình quản lý vận hành công trình thuỷ lợi, đảm bảo chất lượng nước thô theo

thoả thuận và thanh quyết toán chi phí cho doanh nghiệp theo sản lượng nước

thô cấp cho các nhà máy sử dụng nước Ngoài ra, Định mức này cũng là căn cứ

để các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi quản lý vận hành công trình

theo đúng quy trình, quy phạm, quy định; Bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động

hợp lý trong hệ thống, nâng cao năng suất lao động; chủ động trong việc lập kế

hoạch sản xuất, tài chính và chi phí sản xuất hàng năm; có quyền được thanh

quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất đã đạt được

Hệ thống công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà đang ngày càng được hoàn

thiện, nhưng đến nay cơ chế, chính sách cho việc quản lý khai thác công trình vẫn

còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật

đã ban hành kèm theo Quyết định số 3098/QĐ-UBND ngày 17/12/2008 của

UBND tỉnh Khánh Hòa về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công

tác quản lý khai thác công trình thủy lợi do Công ty khai thác công trình thủy lợi

Nam Khánh Hòa quản lý nhưng chưa ban hành định mức cấp nước thô làm ảnh

hưởng không nhỏ đến hiệu quả phục vụ tưới tiêu cũng như tuổi thọ của công

trình

Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

là nhằm xác định các mức hao phí cần thiết cho các công việc quản lý vận hành

hệ thống công trình thủy lợi nhằm đảm bảo điều tiết, đưa dẫn nước đến vị trí lấy

nước của các nhà máy công nghiệp và sinh hoạt

Định mức chi phí cấp nước thô là thước đo các chi phí sản xuất, nó có tác

dụng nâng cao trình độ kỹ thuật cho công nhân, giáo dục công nhân tiết kiệm

nâng cao trình độ quản lý ở các cơ sở sản xuất

Định mức chi phí cấp nước thô được xây dựng đảm bảo các yêu cầu chủ

yếu sau:

- Có luận chứng khoa học về kinh tế kỹ thuật đảm bảo xác định đúng đắn

các hao phí cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của công trình

Formatted: German (Germany)

Trang 39

- Tính đến các yếu tố khoa học kỹ thuật, các kinh nghiệm đồng thời xét đến khả năng thực tế có thể thực hiện các định mức kinh tế kỹ thuật của các đơn

vị sản xuất trong điều kiện thời tiết bình thường

- Định mức chi phí cấp nước thô được xây dựng trên cơ sở hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi thuộc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Nam Khánh Hoà quản lý và các điều kiện khí tượng thuỷ văn, địa hình, địa chất, cây trồng, trong vùng, theo đầy đủ nội dung công việc phù hợp với quy trình, quy phạm quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

2.2 Khái niệm và vai trò của định mức chi phí cấp nước thô

2.2.1 Khái niệm và vai trò của định mức nói chung

Mức (ngôn ngữ phổ thông thường gọi là định mức) được hiểu là tiêu chuẩn, quy định (cho phép) tối đa về nguồn lực: Lao động, vật tư, tiền vốn, thời gian lao động, để hoàn thành một công việc, nhiệm vụ, chức năng, một khối lượng sản phẩm nhất định trong điều kiện tổ chức sản xuất cụ thể

Như vậy chúng ta có thể coi mức lao động như một thước đo để tính toán, định liệu, tổ chức, kiểm tra, kiểm soát quá trình sản xuất nói chung

Nhiệm vụ của công tác định mức kinh tế - kỹ thuật là dùng phương pháp khoa học, tiên tiến để nghiên cứu, tính toán xác định quan hệ giữa số lượng sản phẩm với sự tiêu hao cần thiết về nhân lực và vật lực, định ra một tiêu chuẩn hợp lý trong sản xuất xây dựng, phát hiện và sử dụng một cách đầy đủ nhất mọi khả năng tiềm tàng trong quá trình sản xuất để ngày càng hoàn thiện và phát triển nền sản xuất xã hội, không ngừng tăng năng suất lao động và giảm giá thành xây dựng

Định mức là một hoạt động thực tiễn trong việc xây dựng các mức kinh

tế - kỹ thuật nói chung Định mức xuất hiện trong mọi lĩnh vực, từ các doanh nghiệp tư nhân, các công ty, nhà máy, công ty, xí nghiệp cho đến các cơ quan quản lý nhà nước, từ lĩnh vực kinh doanh cho đến hoạt động sản xuất, nghiên cứu, quản lý, Mỗi lĩnh vực hoạt động đều đã xây dựng cho mình những định

Trang 40

mức riêng, đồng thời cũng áp dụng các định mức chung do nhà nước quy định

để dễ dàng hơn trong công việc tính toán chi phí (như chi phí nhân công, chi phí

nguyên vật liệu, chi phí nguồn lực khác…), giúp nhà nước quản lý tốt hơn sự

hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như giúp các doanh nghiệp quản lý tiết

kiệm, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; giúp các nhà đầu tư

trong việc so sánh, đánh giá để từ đó quyết định phương hướng đầu tư, …

Tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản

phẩm là điều kiện chủ yếu và quyết định để một doanh nghiệp phát triển Muốn

sản xuất phát triển thì nhất thiết doanh nghiệp phải hoàn thiện về tổ chức sản

xuất, tổ chức lao động, phương thức quản lý, chiến lược kinh doanh đáp ứng

mọi nhu cầu cho xã hội trong nền kinh tế thị trường, Bộ phận chính để thực

hiện tổ chức lao động hợp lý là phải hoàn thiện công tác định mức kinh tế - kỹ

thuật

Định mức kinh tế - kỹ thuật là tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn do Nhà nước,

địa phương, doanh nghiệp hoặc bộ phận sản xuất quy định, nó phản ánh trình độ

và điều kiện sản xuất của tổ chức sản xuất trong từng giai đoạn nhất định Định

mức kinh tế - kỹ thuật dùng để khống chế việc sử dụng tiền vốn, vật tư, thiết bị,

máy móc, nhân lực một cách hợp lý Trong hoạt động quản lý vận hành các hệ

thống thuỷ lợi, thì định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa sự

tiêu dùng nguồn tài nguyên (nhân lực, vật liệu, máy móc thiết bị xây dựng ) với

số lượng sản phẩm có chất lượng, hợp quy cách trong điều kiện tổ chức sản xuất

cụ thể

2.2.2 Khái niệm và vai trò của định mức chi phí cấp nước thô

a Khái niệm về định mức chi phí cấp nước thô

Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

từ hệ thống công trình thuỷ lợi (gọi tắt là Định mức chi phí cấp nước thô) là chi

phí tối đa cần thiết, bình quân mà một Doanh nghiệp quản lý khai thác công

trình thuỷ lợi cần phải bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất (thường là một năm), ứng

với điều kiện năm sản xuất bình thường, mặt bằng giá cả nhất định, phù hợp với

những quy định của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, để Doanh nghiệp

Formatted: Portuguese (Brazil)

Ngày đăng: 18/01/2020, 07:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Bá Uân, Xác định chi phí và giá nước ở một số công trình thuỷ lợi, Tập san Trường Đại học thuỷ lợi, Hà Nội, 1999 Khác
4. Báo cáo tổng hợp đề tài “ Nghiên cứu tính giá thành 1m3 nước tưới tiêu của hệ thống thuỷ lợi sáu trạm bơm Hà Nam“. Viện Kinh tế & QLTL Khác
5. Nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp luận xác định giá nước lấy từ công trình thủy lợi trong nền kinh tế Việt Nam (1996-1998). Trung tâm NC kinh tế Khác
6. Nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý các hệ thống thuỷ nông trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước (Đề tài trọng điểm cấp bộ năm 2001-2003). Trung tâm NC kinh tế Khác
7. Nghiên cứu sửa đổi hệ thống chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác QLKT CTTL tỉnh Thanh Hoá (năm 2005); tỉnh Hải Dương (năm 2007) Khác
8. Một số đề tài của các tác giả khác đang nghiên cứu về giá nước ở các hệ thống công trình đang trong quá trình nghiên cứu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w