1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Nghi thức lời nói trong hoạt động giao tiếp và rèn luyện nghi thức lời nói cho học sinh tiểu học

7 431 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 228,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghi thức lời nói (NTLN) là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói. NTLN là dùng tiếng nói để phục vụ cho nghi thức ứng xử. Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp để phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội.

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NGHI THỨC LỜI NÓI TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

VÀ RÈN LUYỆN NGHI THỨC LỜI NÓI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Đặng Thị Lệ Tâm*

Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghi thức lời nói (NTLN) là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói NTLN là dùng tiếng nói để phục vụ cho nghi thức ứng xử Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp để phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội Dạy học NTLN là một nội dung mới của chương trình Tiếng Việt tiểu học Các NTLN trong chương trình

sẽ giúp học sinh biết cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống của cuộc sống, giúp các em phát triển được tất cả các dạng lời nói mà cuộc sống đang đòi hỏi ở các em, hướng các em trở thành những con người năng động, sáng tạo, hoàn thiện trong xã hội mới.

Từ khoá: nghi thức lời nói, hoạt động giao tiếp, tiếng Việt, tiểu học, tình huống

Nói tới giao tiếp của xã hội loài người là nói

tới giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chỉ con người

mới có ngôn ngữ Ngôn ngữ ra đời đã gắn kết

con người lại với nhau chặt chẽ hơn, và xã hội

loài người thì được “xã hội hoá” mạnh mẽ

hơn bởi tính quy ước chặt chẽ của nó Xã hội

càng phát triển, tính quy ước của ngôn ngữ

càng cao, với những nghi thức ngày càng tinh

tế và phức tạp Ngôn ngữ học hiện đại đã ngày

càng chú ý hơn tới ngôn ngữ trong mối quan

hệ với các nhân tố văn hoá, xã hội hay phong

tục tập quán của cộng đồng sử dụng nó

Ở nước ta, NTLN là một thuật ngữ mới xuất

hiện trong thời gian gần đây, khi ngôn ngữ

học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời

nói NTLN là dùng tiếng nói để phục vụ cho

nghi thức ứng xử Có rất nhiều cách hiểu khác

nhau về NTLN:

Trong cuốn “Nghi thức lời nói Nga”, Akisina

A.A và N.I.Formanovskaija đã nêu lên một

định nghĩa khá đầy đủ về NTLN NTLN là

“Những quy tắc ứng xử lời nói đặc trưng của

từng dân tộc được dùng trong các tình huống

có những người đối thoại đang tiếp xúc và

giao tiếp với giọng điệu được lựa chọn phù

hợp với hoàn cảnh giao tiếp, với các dấu hiệu

xã hội của những người đối thoại và các mối

Tel: 0912454828; Email: letamsptn79@gmail.com

quan hệ giữa họ với nhau, và được biến thành các động hình giao tiếp”

Từ điển tiếng Việt của Viện Nghiên cứu ngôn ngữ học 2005 có định nghĩa: “NTLN là những điều quy định theo quy ước xã hội hoặc thói quen cần phải làm đúng để đảm bảo tính nghiêm túc của sự giao tiếp”

Như vậy, NTLN là hệ thống những công thức

tương đối vững bền mang tính đặc thù của dân tộc được thừa nhận nhằm thiết lập mối quan hệ giữa các thành viên tham gia giao tiếp trong một tổng thể ước lệ Xã hội đặt ra

những hình thức nghi lễ ứng xử (trong đó có

cả những ứng xử lời nói) mỗi khi thiết lập và duy trì sự tiếp xúc với người đối thoại và đòi hỏi những người bản ngữ phải tuân thủ các quy tắc ấy Ngay lúc còn nhỏ, người ta đã được dạy cách dùng các nghi thức, các thể

thức chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi…và có những

phản ứng với sự không tuân thủ quy tắc ấy Các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và các thao tác của nó chịu sự kiểm tra ngặt nghèo cũng như chịu ảnh hưởng từ các nguyên tắc thẩm mỹ và các quy ước xã hội Để giao tiếp được với nhau, con người phải tuân theo những nghi thức nhất định theo quy ước của

xã hội, chẳng hạn như trước khi vào câu chuyện thì phải có chào hỏi, khi nhận ân huệ

từ người khác thì phải cám ơn, khi mắc lỗi thì

phải xin lỗi NTLN chính là nơi bộc lộ rõ rệt

nhất tính riêng biệt của văn hoá, tâm lý dân

Trang 2

tộc, bởi tính quy ước chặt chẽ, nghiêm ngặt

của nó NTLN có thể hiểu là những hành vi

dùng tiếng nói để phục vụ nghi thức ứng xử

NTLN với tư cách hành vi giao tiếp xã

hội,“thực hiện các hành vi nói năng dưới các

hình thức đối thoại, độc thoại với những tham

số về ngôn ngữ học, tâm lý Quan hệ xã hội,

tôn ti về chức nghiệp và tuổi tác của các

thành viên tham gia bối cảnh, ngữ cảnh cụ

thể” [9,50] Nó cũng được coi là “những quy

định bắt buộc về hành vi nói năng” [11,143];

là “những quy ước xã hội về lễ nghi trong lời

ăn tiếng nói” [6,7] Hơn ở đâu hết, trong

NTLN, “tính xã hội” của ngôn ngữ vô cùng

đậm nét, bởi người giao tiếp không hành động

cho riêng mình, mà cho quan hệ của họ với

người xung quanh Có thể nhìn thấy ảnh hưởng

của các nhân tố xã hội đối với việc sản sinh ra

NTLN qua sơ đồ quy trình giao tiếp sau:

NTLN gắn chặt với lý thuyết hành vi ngôn

ngữ, còn gọi là lý thuyết hoạt động lời nói,

mà người mở đầu là J.L.Austin và sau đó là

J.Searle Theo Austin khi thực hiện một hành

động ngôn ngữ, người ta thực hiện 3 hành vi

đồng thời:

1 Hành vi tạo lời (acte locutoire)

2 Hành vi mượn lời (acte perlocutoire)

3 Hành vi ở lời (acte illocutoire)

Theo chúng tôi, cái đáng chú ý xét trên bình

diện dụng học là hành vi ở lời và hành vi

mượn lời Bởi lẽ trong hai loại hình này đều

nhất thiết phải có hoạt động tạo lời, là cái

ngoại biên cho nội dung ở lời và mượn lời

Các nội dung này nhiều khi tác động trở lại

quy định cho kiểu kết hợp ngữ âm, cú pháp

của phát ngôn

Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố

của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, các kiểu

kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát

ngôn về hình thức và nội dung Một bộ phận của hành vi tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tiền dụng học

Hành vi mượn lời là những hành vi “mượn”

phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó của người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói

Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực

hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng

là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa

là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Ví dụ về

hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa

hẹn, khuyên bảo, cảm ơn, xin lỗi…

Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích- intentionnel), có quy ước (conventionnel) và có thể chế (institutionnel)

dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác Chính ở chỗ này, chúng ta càng dễ dàng phân biệt được những hành vi nào đã trở thành NTLN, còn hành vi nào vẫn còn nằm ở dạng nguyên,

mà mỗi cá nhân có thể thực hiện theo cách riêng của mình

Hay nói cách khác, NTLN nằm ở khu vực ở lời Khi các hành vi ở lời này được lặp đi lặp lại ở nhiều người đến mức trở thành tập quán ngôn từ theo một quy ước sử dụng chung của một cộng đồng ngôn ngữ thì các hành vi đó trở thành NTLN Những NTLN này phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và phát triển đối thoại Xa hơn nữa, nó làm cho mối quan hệ giữa người với người mang tính người hơn, phù hợp với xã hội văn minh, thể hiện những nét tế nhị trong tâm lý của con người hiện đại RÈN LUYỆN NGHI THỨC LỜI NÓI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

NTLN chủ yếu tồn tại trong khẩu ngữ tự nhiên, khẩu ngữ sinh hoạt thường ngày Tuy nhiên, phong cách khẩu ngữ tự nhiên của chúng ta cũng cần phải phát triển theo hướng văn hoá, nghĩa là việc sử dụng nó và bản thân

nó phải gắn với những hành vi văn minh xã hội, phải loại bỏ những kiểu nói năng thô tục,

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

kém văn hoá Ngôn ngữ là một mặt của văn

hoá, là nơi tàng trữ văn hoá và biểu hiện văn

hoá của cá nhân, gia đình và của toàn xã hội

Ngôn ngữ và văn hoá không thể tách rời

nhau Do đó, cần phải nhận thức được tầm

quan trọng của việc sử dụng NTLN trong

khẩu ngữ, trong giao tiếp Ý thức về nhiệm vụ

không ngừng trau dồi NTLN văn minh, hiện

đại, hợp với bản sắc dân tộc là góp phần trực

tiếp đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng

Việt, là một phẩm chất không thể thiếu được

đối với con người mới ở thời đại của chúng ta

Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:

“ Tiếng Việt ta giàu và đẹp Nó sẽ giàu và đẹp

hơn nữa nếu chúng ta biết giữ nó, dùng nó và

phát triển nó…Giữ gìn nó và phát triển nó như

thế nào? Đây là vấn đề cần suy nghĩ” [4, 93]

Thực vậy, công việc này không đơn thuần là

nhiệm vụ của ngành ngôn ngữ học mà là công

việc của toàn dân Làm tốt việc kế thừa và

cách tân NTLN của dân tộc phải đặt trên

phạm vi toàn xã hội, nhưng quan trọng và

nòng cốt nhất là nhà trường phổ thông, đặc

biệt là nhà trường tiểu học - nơi đặt những

“viên gạch” nền móng cho hệ thống giáo dục

phổ thông và quan trọng hơn là sự hình thành

và phát triển nhân cách con người sau này

“Thế hệ trẻ phải nói và viết tốt hơn chúng ta”

và nhiệm vụ của nhà trường là “phải làm sao

cho học sinh dần dần có ý thức, có trình độ rồi

đi đến có thói quen viết và nói đúng tiếng

Việt” [4, 93] Muốn thực hiện được lời dạy đó,

trường tiểu học cần phải có cách thức tổ chức,

phương pháp dạy học hợp lý và tích cực nhằm

nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt,

giúp học sinh sử dụng thành thạo tiếng Việt

Dạy học NTLN là một nội dung mới của

chương trình tiếng Việt tiểu học Lần đầu

tiên, chương trình môn Tiếng Việt năm 2001

và năm 2006 đưa NTLN thành một nội dung

học tập Các NTLN trong chương trình hầu

hết là các nghi thức được sử dụng trong giao

tiếp hàng ngày, gần gũi, phù hợp với nhu cầu

nói năng của học sinh Việc đưa thêm nội

dung dạy học này vào sẽ giúp học sinh biết

cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống

của cuộc sống và giúp các em phát triển được

tất cả các dạng lời nói mà cuộc sống đang đòi

hỏi ở các em, hướng các em trở thành những con người năng động, sáng tạo, hoàn thiện trong xã hội mới

Qua khảo sát, chúng tôi thấy không nhiều tài liệu nghiên cứu về việc rèn luyện NTLN cho học sinh tiểu học Phan Phương Dung trong

bài viết “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong

giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt” [2] đã bàn về một số mẫu bài tập

dạy lời nói văn hoá cho học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở Cũng tác giả này,

trong bài viết “Các phương tiện từ ngữ biểu

đạt tính lễ phép trong giao tiếp và khả năng ứng dụng trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học”[3] đã đề cập một cách cụ thể các

phương tiện từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và việc ứng dụng từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong dạy học tiếng Việt ở tiểu

học Nguyễn Thị Thu Hương trong “Dạy học

NTLN cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn”[5] mới chỉ đề cập đến nội dung và

phương pháp dạy học NTLN cho học sinh lớp

2 và trong một phân môn Tập làm văn;

Nguyễn Trí với “Một số vấn đề về dạy hội

thoại cho học sinh tiểu học” [10] đã giới thiệu

các kiểu bài tập dạy học NTLN trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, Trần Thị Hiền

Lương trong công trình “Một số biện pháp

nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt”[7] đã xác

định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học… Có thể nói, nghiên cứu về NTLN nói chung và NTLN cho học sinh tiểu học nói riêng đã và đang được các nhà giáo dục trên thế giới và trong nước quan tâm ở những bình diện khác nhau: tầm quan trọng của việc dạy học NTLN, các tiêu chí xây dựng NTLN và cách tiếp cận, phân loại

và miêu tả NTLN tiếng Việt, một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học NTLN…Tuy nhiên, để giải quyết toàn diện vấn đề dạy học NTLN cho học sinh ở bậc tiểu học nhằm thực hiện tốt yêu cầu nguyên tắc giao tiếp trong dạy học tiếng Việt gắn với chương trình và sách giáo khoa mới hiện nay thì vẫn chưa có công trình hay một chuyên luận nào có tính hệ thống

Trang 4

Khả năng ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp

của mỗi người phụ thuộc rất nhiều vào sự

hiểu biết xã hội Với đối tượng học sinh, việc

học tập, tích luỹ vốn sống, vốn hiểu biết về

văn hoá giao tiếp và cách thể hiện các thái độ

ứng xử đó bằng phương tiện ngôn ngữ tương

ứng chủ yếu diễn ra ở môi trường gia đình,

nhà trường và xã hội Trong đó, giáo dục nhà

trường, mà cơ bản là môn Tiếng Việt giữ một

vai trò đáng kể

Ở trường Tiểu học, qua các giờ tập đọc, giờ

kể chuyện, học sinh được tiếp xúc với nhiều

mẫu lời nói thể hiện sự ứng xử mang màu sắc

văn hoá của cộng đồng người Việt Với

những mẫu lời nói này, nếu người dạy chú ý

khai thác sẽ có tác dụng rất lớn đến việc dạy

sử dụng NTLN trong giao tiếp cho học sinh

Cách ứng xử giao tiếp có văn hoá học sinh

được tiếp xúc hàng ngày qua các mẫu lời nói

trong các bài tập đọc, kể chuyện cứ thấm vào

đứa trẻ một cách tự nhiên và khi cần, các em

sẽ học tập theo mẫu Để học sinh có năng lực

sử dụng tiếng Việt như một công cụ để học

tập và giao tiếp, cùng với nội dung dạy các

kiến thức về tiếng Việt, cần chú ý hơn nữa

đến việc hướng dẫn cho học sinh những “quy

tắc xã hội”, những chuẩn mực của xã hội khi

sử dụng ngôn ngữ Khi đến trường, học sinh

lần đầu biết đến “chuẩn ngôn ngữ” không

phải ở dạng thuật ngữ mà các em cần có ý

thức rằng không phải ai muốn nói thế nào

cũng được mà phải phân biệt cái gì là“có

thể”, cái gì là “không thể” khi sử dụng ngôn

ngữ.Các em cần ý thức được rằng mọi người

trong xã hội đã thoả thuận, quy ước nói thế

này thì được (hợp chuẩn) mà nói thế khác thì

không được (không hợp chuẩn) dẫu cho điều

đó là hợp logic Ví dụ có thể nói áo cộc tay

mà không thể nói áo cộc cổ, có thể nói què

chân mà không thể nói què mắt, có thể nói

mặc áo mà không thể nói mặc tất (dẫn theo

[8,39] )…Đồng thời với ý thức về chuẩn mực

ngôn ngữ, học sinh cần phải được giáo dục về

“chuẩn văn hoá” của lời nói Các em không

những cần biết cái gì là có thể, không thể khi

nói năng mà cần hiểu rằng có những lời hay ý

đẹp và có những lời nói không hay, không

đẹp Các em cần có ý thức về những điều

“nên” và “không nên”, “tốt” và “không tốt” trên bình diện sử dụng ngôn ngữ Đồng thời, khi đến trường, các em cũng bắt đầu tham gia vào một môi trường giao tiếp mới có tính chất

xã hội - giao tiếp trong lớp học - với những đòi hỏi riêng khác với môi trường giao tiếp của gia đình mà các em đã quen thuộc Sản phẩm lời nói của các em được hình thành trong quá trình giao tiếp Các em đã học được những câu nói đúng dựa vào việc ghi nhớ một cách có ý thức những lời nói diễn ra xung quanh của ông bà, bố mẹ, anh chị…Các em nắm quy tắc ấy một cách cụ thể, trực giác bằng những lời nói cụ thể trong những tình huống riêng biệt Cách học như vậy thường chỉ là học gì biết đấy, nhớ gì nói đấy, cách diễn đạt, nói năng phần lớn là cứng nhắc, dập khuôn, không linh hoạt, sinh động Các em chỉ có khả năng nói lại được lời người khác

mà không thể sáng tạo ra cách nói mới, cách nói khác của riêng mình Ở đây, việc nắm các NTLN chỉ là việc nắm cách nói đúng một số câu cụ thể, lời nói cụ thể gắn liền với những tình huống giao tiếp nhất định Thoát khỏi tình huống giao tiếp, dường như các em khó

có thể tạo ra lời nói đúng, hay Với cách học

ấy, việc hình thành kỹ năng tạo lời nói đúng NTLN thường mất nhiều thời gian, công sức

mà hiệu quả lại thấp

Dạy học NTLN cho học sinh tiểu học không phải là dạy “kỹ thuật” ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp mà là dạy “kỹ thuật” giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy, để thúc đẩy việc hình thành kỹ năng kỹ xảo trong giao tiếp nói chung và sử dụng NTLN nói riêng ở các em một cách mau chóng, thuận lợi và lâu bền phải giúp học sinh thông hiểu các quy tắc ngôn ngữ bằng việc cho các em tiếp cận với các tình huống và xử lý các tình huống đó Kết quả của việc tham gia xử lý tình huống sẽ được phản ánh vào quá trình tư duy của các

em Nhờ có cảm giác, tri giác, các tình huống của thực tế khách quan sẽ được lưu giữ trong trí nhớ của các em và sẽ giúp các em dần dần hình thành những khái niệm mới, từ ngữ mới

có tính chất chuẩn mực, văn hoá Chính vì

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thế, ở các lớp tiểu học, việc hướng dẫn cho

học sinh quan sát, xử lý, tích luỹ những sự

vật, sự việc của các tình huống giao tiếp là

một việc làm quan trọng.Để củng cố những

biểu tượng có được ở các em thật đậm nét,

giáo viên cần chú ý lặp đi lặp lại các tình

huống giao tiếp (thật và giả định) để thông

qua việc lặp đi lặp lại ấy, các NTLN được lưu

giữ một cách tự nhiên và bền vững

Bởi lẽ đó, chương trình Tiếng Việt đã đưa ra

rất nhiều bài tập phát triển lời nói trong đó có

các bài tập luyện NTLN cho học sinh với

nhiều hình thức khác nhau, rất gần gũi với đời

sống của học sinh.Những bài tập này đều có

nội dung rất cần thiết và rất thông dụng, hay

gặp trong cuộc sống hàng ngày của các em

Chúng sẽ là những gợi ý để định hướng

nguồn ngữ liệu cho học sinh trong quá trình

giao tiếp

Ví dụ 1: Tập nói lời chào

- Của bé với mẹ trước khi bé vào lớp,

- Của bé với cô trước khi bé ra về

(Tiếng Việt 1, tập 2, tr 74)

Ví dụ 2: Nói lời cảm ơn của em trong những

trường hợp sau:

a Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa

b Cô giáo cho em mượn quyển sách

c Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi

(Tiếng Việt 2, tập 1, tr 38)

Ví dụ 3 : Tự giới thiệu về em với mẹ của bạn

em, khi em đến nhà bạn em lần đầu Tự giới

thiệu về em với bác hàng xóm, khi bố bảo em

sang mượn bác cái kìm Tự giới thiệu về em

với cô Hiệu trưởng, khi em đến phòng cô

mượn lọ hoa cho lớp

(Tiếng Việt 2, tập 1, tr 147)

Sự phong phú về nguồn ngữ liệu trong các

bài tập này không chỉ giúp học sinh thông

thạo các kĩ năng mà còn giúp các em có thể

bắt đầu bước vào cuộc sống Ví dụ, dạy học

sinh lớp 1, lớp 2 biết giới thiệu đơn giản về

bản thân, gia đình, trường học, bạn bè, thầy

cô giáo theo mục đích nhất định chính là dạy

học sinh nói về các hoàn cảnh giao tiếp khác

nhau thể hiện văn hoá ứng xử của người Việt Giới thiệu bản thân với những bạn bè cùng lứa tuổi khi mới gặp nhau lần đầu sẽ khác với việc giới thiệu bản thân với khách của bố mẹ

Sự khác nhau này không chỉ ở lời xưng hô, ở ngữ điệu nói mà ở trong thông tin, ở ngôn ngữ sử dụng, ở phong cách lời nói và còn thể hiện qua thái độ

Không phải ngẫu nhiên từ xa xưa cha ông ta

đã quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” Ngày nay, con người hiện đại cần có nhiều phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại như tự tin, có cá tính, năng động, sáng tạo…Nhưng không phải vì thế mà ta xem nhẹ việc giáo dục nhân cách cho học sinh Thái độ

lễ phép, giao tiếp, ứng xử bằng lời nói lễ phép

là những yêu cầu không thể thiếu đối với nhân cách của đứa trẻ Sự lễ phép trong giao tiếp là thể hiện đạo đức, quan điểm của trẻ với con người, với cuộc sống Sự lễ phép được hình thành từ nhiều con đường khác nhau Một trong những con đường ấy là ngôn ngữ

Vì “ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Các Mác) Ngôn ngữ cũng góp phần hình thành, củng cố những nhận thức, quan điểm của con người Hơn nữa, theo lý thuyết hành động thì nhận thức của con người được hình thành qua hành động, nó tác động tới tình cảm, nhận thức của con người Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp Việc sử dụng đúng NTLN, kèm theo là phép lịch sự trong từng tình huống phải trở thành bài học vỡ lòng của mọi người

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đỗ Hữu Châu (2003) Đại cương ngôn

ngữ học, Tập 2, Nxb Giáo dục,Hà Nội

[2] Phan Phương Dung(2001) “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt”, Tạp chí

Nghiên cứu Giáo dục

[3] Phan Phương Dung(2002) “Các phương

tịên từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp

Trang 6

và khả năng ứng dụng trong dạy học tiếng Việt

ở tiểu học”,Tạp chí Ngôn ngữ, số 16

[4] Phạm Văn Đồng, “Giữ gìn sự trong sáng

tiếng Việt”, Tạp chí Văn học, số 3, 1966

[5] Nguyễn Thị Thu Hương, Dạy học nghi

thức lời nói cho học sinh lớp 2 qua phân môn

Tập làm văn, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành

GDH, ĐHSPHN,2005

[6] Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ- Tính

quy luật của cơ chế ngôn ngữ, Nxb Khoa học

Xã hội,Hà Nội

[7] Trần Thị Hiền Lương (2009), Một số biện

pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho

học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt, Đề tài

NCKH - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

[1] Lê Phương Nga (2009)(chủ biên), Lê A,

Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, Phương pháp

dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Đại học

Sư phạm, Hà Nội

[2] Hoàng Trọng Phiến (1981) Đặc trưng

ngôn ngữ nói tiếng Việt, Tập san ĐHNN

Tokyo, Tokyo

[3] Nguyễn Trí (2007), Một số vấn đề dạy hội

thoại cho học sinh tiểu học, NXB Giáo dục

[4] Nguyễn Như Ý (1996), Từ điển giải

thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo

dục, Hà Nội

SUMMARY

IN RITUAL SPEECH COMMUNICATION AND SPEECH TRAINING PROTOCOLS FOR PRIMARY STUDENTS

Dang Thi Le Tam

College of Education - Thainguyen University

Ritual speech is a term that appears in recent times, when language learning turns a speech research Ceremonial speech voice is used for ritual behavior Thus it needs to be aware of the importance of the use of ritual in the word of words, in communication to serve the establishment, maintenance and development of social relationships.Teaching the rituals of speech is a new part in teaching Vietnamese at primary school The implementation of this program will help pupils to communicate and be have well in their real life and develop all the forms of their speech that they need, orienting them to become active, creative, and perfect in their new socity

Key words: ritual speech, communication, Vietnamese, primary, situation

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ngày đăng: 18/01/2020, 03:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w