1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa (Từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa)

172 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa mà cụ thể là lớp từ chỉ công cụ, phương tiện, quy trình hoạt động và sản phẩm nhằm làm rõ đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện trên các phương diện cấu tạo, nguồn gốc, ngữ nghĩa, định danh. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những sắc thái tư duy văn hóa, nhận thức về nghề biển, góp phần bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa dân tộc. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

(TỪ BÌNH DIỆN NGÔN NGỮ - VĂN HÓA)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

VINH - 2016

Trang 2

NGUYỄN VĂN DŨNG

TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP NGHỀ BIỂN

Ở THANH HÓA

(TỪ BÌNH DIỆN NGÔN NGỮ - VĂN HÓA)

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 62.22.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS LÊ QUANG THIÊM PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH

VINH - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ tác giả nào Kết quả nghiên cứu và số liệu hoàn toàn trung thực và chưa

có ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận

tình, những đóng góp quý báu cùng sự khích lệ, động viên tinh thần to lớn của tập

thể thầy giáo hướng dẫn: GS TS Lê Quang Thiêm và PGS.TS Hoàng Trọng Canh

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn hiện đề tài luận án, chúng tôi đã

nhận được sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất của các thầy cô trong Bộ môn

Ngôn ngữ, Khoa Sư phạm Ngữ v n, Phòng Sau đại học và lãnh đạo Trư ng Đại học

Vinh Bên cạnh đó, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trư ng Đại học V n

hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá cùng các đồng nghiệp, bạn bè, các thành viên

trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất, đặc biệt là các sinh viên ngành V n hoá

đã cũng cấp tư liệu quý báu Chúng tôi tự đáy lòng xin chân thành cảm ơn !

Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Dũng

Trang 5

4 Yếu tố có ngh a dùng trong phương ngữ

Kí hiệu những nội dung trích dẫn trong Tài liệu tham khảo được dùng dấu [, tr ],

cụ thể: số thứ tự của tài liệu ở phần Tài liệu tham khảo; số trang của nội dung trích dẫn Ví dụ: [6,tr.12] Trong trư ng hợp nếu nội dung trích dẫn có nhiều trang liên tục thì số trang được tiếp nối bằng dấu gạch ngang (-) Ví dụ: [24, tr.244 -245]

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ viii

MỞ Đ U 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Các phương pháp nghiên cứu 4

6 ngh a lý luận và thực ti n của luận án 6

7 Bố cục của luận án 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 T ng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển 10

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa 11

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 12

1.2.1 Những vấn đề chung về từ ngữ nghề nghiệp 12

1.2.2 Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ ngữ khác 18

1.3 V n hóa và mối quan hệ ngôn ngữ - v n hóa 26

1.3.1 Khái niệm v n hóa 26

1.3.2 Mối quan hệ ngôn ngữ - v n hóa 28

1.4 Định danh và đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của định danh 30

1.4.1 Khái niệm định danh 30

1.4.2 Cơ chế định danh 31

1.4.3 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của định danh 31

Trang 7

1.5 Cấu tạo và phương thức cấu tạo từ, ngữ 34

1.5.1 Quan niệm về từ và các kiểu cấu tạo từ 34

1.5.2 Quan niệm về ngữ và các kiểu cấu tạo ngữ 38

1.6 Khái quát chung về địa bàn t nh Thanh Hóa, nghề biển và kết quả thu thập, phân loại từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa 39

1.6.1 Khái quát chung về địa bàn t nh Thanh Hóa 39

1.6.2 Khái quát chung về nghề biển Thanh Hóa 40

1.6.3 Kết quả thu thập và phân loại 41

1.7 Tiểu kết chương 1 43

Chương 2 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA 44

2.1 Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa 44

2.1.1 Các loại từ ngữ nghề biển ch công cụ, phương tiện xét về cấu tạo 44

2.1.2 Mô hình cấu tạo từ ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa 51

2.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện - xét về nguồn gốc 59

2.2.1 Từ ngữ ch công cụ, phương tiện có nguồn gốc thuần Việt 60

2.2.2 Từ ngữ ch công cụ, phương tiện có nguồn gốc vay mượn 60

2.3 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện xét từ phương diện định danh 62

2.3.1 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa - xét về tính có lý do 62

2.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa - xét về cách thức biểu thị của tên gọi 64

2.4 Một số nét đặc trưng v n hóa xứ Thanh qua định danh lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển 71

2.4.1 Lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển phản ánh tư duy tri nhận của cư dân biển Thanh Hóa 72

Trang 8

2.4.2 Cấu tạo lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển thể hiện đặc

điểm lựa chọn định danh của cư dân biển Thanh Hóa 74

2.4.3 Lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện phản ánh ngư trư ng khai thác truyền thống của cư dân biển Thanh Hóa 76

2.5 Tiểu kết chương 2 78

Chương 3 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ CHỈ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA 79

3.1 Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp ch quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa 79

3.1.1 Các loại từ ngữ nghề biển ch quy trình hoạt động, xét về cấu tạo 79

3.1.2 Mô hình cấu tạo từ ch quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa 85

3.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch quy trình hoạt động - xét về nguồn gốc 93

3.2.1 Từ ngữ ch quy trình hoạt động có nguồn gốc thuần Việt 93

3.2.2 Từ ngữ ch quy trình hoạt động có nguồn gốc vay mượn 93

3.3 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch quy trình hoạt động xét từ phương diện định danh 95

3.3.1 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa - xét về tính có lý do 95

3.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch quy trình hoạt động - xét về cách thức biểu thị của tên gọi 98

3.4 Một số nét đặc trưng v n hóa xứ Thanh biểu hiện qua lớp từ ch quy trình hoạt động nghề biển 103

3.4.1 Đặc trưng v n hóa xứ Thanh biểu hiện qua cấu tạo tên gọi lớp từ ch quy trình hoạt động nghề biển 103

3.4.2 Đặc trưng v n hóa xứ Thanh biểu hiện qua phương thức định danh của lớp từ ch quy trình hoạt động nghề biển 105

3.4.3 Đặc trưng v n hóa xứ Thanh biểu hiện qua thơ ca dân gian phản ánh hoạt động nghề biển 107

3.5 Tiểu kết chương 3 110

Trang 9

Chương 4 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ

CHỈ SẢN PHẨM NGHỀ BIỂN Ở THANH HÓA 111

4.1 Cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp ch sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa 111

4.1.1 Các loại từ ngữ nghề biển ch sản phẩm xét về cấu tạo 111

4.1.2 Mô hình cấu tạo từ ch sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa 116

4.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch sản phẩm - xét về nguồn gốc 125

4.2.1 Từ ngữ ch sản phẩm có nguồn gốc thuần Việt 125

4.2.2 Từ ngữ ch sản phẩm nghề biển có nguồn gốc vay mượn 126

4.3 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch sản phẩm, xét từ phương diện định danh 128

4.3.1 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa- xét về tính có lý do 128

4.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của lớp từ ngữ ch sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa - xét về cách thức biểu thị của tên gọi 129

4.4 Một số nét v n hóa biển xứ Thanh qua lớp từ ngữ ch sản phẩm nghề biển 138

4.4.1 Cách thức lựa chọn đặc trưng để định danh lớp từ ngữ nghề cá và có liên quan đến nghề cá 138

4.4.2 Tên gọi cá và liên quan đến nghề cá biểu trưng cho tâm hồn và tính cách của cư dân biển xứ Thanh 141

4.5 Tiểu kết chương 4 145

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng:

Bảng 1.1 Bảng t ng hợp vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa 41

Bảng 1.2 Bảng t ng hợp vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa (xét nội dung phản ánh) 42

Bảng 2.1a Số lượng t lệ nhóm từ ngữ ch công cụ, phương tiện xét theo t ng thể các nghề 45

Bảng 2.1b Số lượng t lệ nhóm từ ngữ ch công cụ, phương tiện, xét theo từng nghề 45

Bảng 2.2a Từ ghép ch công cụ, phương tiện, xét theo t ng thể các nghề 48

Bảng 2.2b Từ ghép ch công cụ, phương tiện, xét theo từng nghề 48

Bảng 2.3 T ng hợp nguồn gốc định danh từ ngữ ch công cụ, phương tiện 61

Bảng 2.4 T ng hợp cơ sở lựa chọn định danh của từ ngữ ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa 70

Bảng 2.5 Số lượng xét về mô hình cấu tạo các bậc định danh của từ ghép chính phụ ch công cụ, phương tiện ở Thanh Hóa 75

Bảng 3.1a Số lượng t lệ nhóm từ ngữ ch quy trình hoạt động, xét theo t ng thể các nghề 79

Bảng 3.1.b Số lượng t lệ nhóm từ ngữ ch quy trình hoạt động, xét theo từng nghề 80

Bảng 3.2a Từ ghép ch quy trình hoạt động, xét theo t ng thể các nghề 82

Bảng 3.2b Từ ghép ch quy trình hoạt động, xét theo từng nghề 83

Bảng 3.3 Cơ sở lựa chọn định danh từ ngữ ch quy trình hoạt động nghề biển 101

Bảng 4.1.a Số lượng và t lệ cấu tạo các nhóm từ ngữ ch sản, xét trên t ng thể các nghề 112

Bảng 4.1.b Số lượng và t lệ cấu tạo các nhóm từ ngữ ch sản phẩm, xét trên từng nghề 112

Bảng 4.2a Từ ghép ch sản phẩm, xét theo t ng thể các nghề 115

Trang 11

Bảng 4.2.b Từ ghép ch sản phẩm, xét theo từng nghề 115 Bảng 4.3 T ng hợp nguồn gốc từ ngữ ch sản phẩm, xét theo từng nghề 127 Bảng 4.4 T ng hợp cơ sở lựa chọn định danh từ ngữ ch sản phẩm nghề biển 135

Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1.a Nguồn gốc từ ngữ ch quy trình hoạt động, xét t ng thể các nghề 94 Biểu đồ 3.1.b Nguồn gốc từ ngữ ch quy trình hoạt động, xét từng nghề 94

Trang 12

rõ bức tranh đa dạng của ngôn ngữ dân tộc

1.2 Từ ngữ nghề nghiệp là một bộ phận của từ vựng ngôn ngữ dân tộc xét trên phương diện tính chất xã hội - nghề nghiệp Từ nghề nghiệp là công cụ, phương tiện hành nghề và giao tiếp đồng th i là phương tiện phản ánh v n hóa của cư dân làm nghề Hiện nay, nhiều làng nghề truyền thống đang dần bị mai một hoặc thay đ i bởi

xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lớp từ của các nghề truyền thống cũng có nguy

cơ biến mất Cho nên, thu thập vốn từ nghề nghiệp truyền thống và nghiên cứu chúng

về mặt ngôn ngữ - v n hóa không ch cần thiết mà còn cấp bách Mặt khác, cho tới nay, các công trình nghiên cứu về từ nghề nghiệp chưa có nhiều; từ ngữ của nhiều nghề và một số vấn đề cụ thể về lý luận như xác định, phân loại từ nghề nghiệp, mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ khác (từ địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ, tiếng lóng ) cũng cần được tiếp tục đẩy mạnh Đặc biệt, việc nghiên cứu từ nghề nghiệp trên bình diện ngôn ngữ - v n hóa là có nhiều ý ngh a nhưng công trình đi theo hướng nghiên cứu này cũng còn ít Đây là khía cạnh về lý luận và thực ti n cần được quan tâm nghiên cứu

1.3 Thanh Hóa là một t nh đất rộng, ngư i đông, là vùng đất địa linh nhân kiệt, có lịch sử lâu đ i Vùng biển Thanh Hoá có chiều dài 1 2 km, chiếm khoảng

1 31 chiều dài b biển chung cả nước (102km/3260km) Đây là vùng b biển bãi ngang với 5 cửa sông lớn (Lạch Sung, Lạch Trư ng, Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch

Trang 13

Bạng) Quá trình khai thác biển của ngư i Việt c ở Thanh Hóa cũng tương đối sớm, cách nay khoảng 6000- 7 n m và có nhiều đặc điểm, dấu ấn v n hóa biển đặc sắc Tìm hiểu sắc thái v n hóa biển, nhận thức về nghề biển cho tới nay mới chủ yếu đề cập trong các công trình nghiên cứu ở phương diện v n hóa dân gian, dân tộc học, nhân học v n hóa hay khảo c học Việc nghiên cứu v n hóa biển xứ Thanh từ phương diện ngôn ngữ ít được quan tâm nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu từ ngữ nghề biển không ch cho thấy giá trị về mặt ngôn ngữ (cấu tạo, ngữ ngh a, định danh) mà còn tìm hiểu v n hóa biển của địa phương, góp phần bảo tồn v n hóa dân tộc

Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ và là một trong hai cái nôi của ngư i

Mư ng - Việt c (cùng với Mư ng Hòa Bình) Sự tồn tại của một phần vốn từ Việt

Mư ng trong tiếng Việt chủ yếu lưu lại ở một số vùng ở phương ngữ Bắc Trung Bộ, trong đó có vùng đất Thanh Hóa Nghiên cứu từ ngữ nghể biển có thể phần nào gợi

mở quá trình tiếp xúc, giao thoa v n hóa thông qua ngôn ngữ

Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá, cho đến nay, chưa được thu thập cũng như chưa có công trình khoa học nào đề cập đến một cách đầy đủ, hệ thống đặc biệt từ bình diện ngôn ngữ - v n hóa Với những lý do và ý ngh a như trên, chúng tôi chọn

nghiên cứu: “Từ ngữ ngh nghiệp ngh biển ở Thanh Hoá (Từ b nh diện ngôn

ngữ - văn h a)” làm đề tài luận án tiến s

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án hướng tới các mục đích sau:

- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá mà cụ thể là lớp từ ch công cụ, phương tiện, quy trình hoạt động và sản phẩm nhằm làm rõ đặc trưng ngôn ngữ - v n hoá thể hiện trên các phương diện cấu tạo, nguồn gốc, ngữ ngh a, định danh Trên cơ sở đó, luận án ch ra những sắc thái tư duy v n hóa, nhận thức về nghề biển, góp phần bảo tồn ngôn ngữ - v n hoá dân tộc

- Luận án thống kê, thu thập vốn từ ngữ nghề nghiệp, là tư liệu giúp ích cho những ai quan tâm nghiên cứu Thanh Hóa nói chung, từ nghề nghiệp, bình diện ngôn ngữ - v n hóa của từ nghề nghiệp nói riêng

Trang 14

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án có các nhiệm vụ chính sau:

- Điều tra, điền dã, thu thập vốn từ ngữ nghề biển ở địa bàn Thanh Hóa của 3 nghề: nghề cá, nghề làm mắm và nghề sản xuất muối

- Trình bày t ng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, từ ngữ nghề nghiệp nghề biển, từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa và cơ sở lý luận làm nền tảng triển khai nội dung luận án

- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa thể hiện qua cấu tạo, nguồn gốc, định danh, ngữ ngh a của lớp từ ngữ nghề nghiệp ch công cụ, phương tiện nghề biển ở Thanh Hóa

- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa thể hiện qua cấu tạo, nguồn gốc, định danh, ngữ ngh a của lớp từ ngữ nghề nghiệp ch quy trình hoạt động nghề biển ở Thanh Hóa

- Miêu tả, phân tích đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa thể hiện qua cấu tạo, nguồn gốc, định danh, ngữ ngh a của lớp từ ngữ nghề nghiệp ch sản phẩm nghề biển ở Thanh Hóa

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án lựa chọn 1587 1942 đơn vị từ ngữ nghề biển được thu thập xét về nội dung phản ánh của 3 nghề: nghề cá (dùng theo ngh a rộng, ch hoạt động khai thác và đánh bắt hải sản nói chung), nghề làm mắm và nghề sản xuất muối Cụ thể:

- Lớp từ ngữ ch công cụ, phương tiện (543 đơn vị)

- Lớp từ ngữ ch quy trình hoạt động (239 đơn vị)

- Lớp từ ngữ ch sản phẩm (8 5 đơn vị)

3.2 Phạm vi và tư liệu nghiên cứu

- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề biển và những vấn đề có liên quan về v n hóa được phản ánh qua từ ngữ trên địa bàn vùng biển Thanh Hóa

- Tư liệu khảo sát là từ ngữ nghề biển thu thập được từ điền dã thực địa tại các làng làm nghề biển truyền thống; thu thập từ các tài liệu khác, nhất là các sáng tác dân gian viết về nghề biển ở Thanh Hóa

Trang 15

- Để thu thập tư liệu, chúng tôi lựa chọn các làng, xã làm nghề lâu đ i có số lượng và t lệ dân cư làm nghề cao; ngoài ra chúng tôi cũng chú ý điều tra theo hai loại làng nghề là vùng bãi ngang và vùng cửa sông

4 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp điều tra điền dã

Chúng tôi tiến hành điều tra, điền dã thực địa tại các địa phương làng, xã có nghề biển (gồm nghề cá, làm mắm và sản xuất muối) của 6 huyện và thị xã là: T nh Gia, Quảng Xương, Thị xã Sầm Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc và Nga Sơn Trong quá trình điều tra, điền dã, chúng tôi sử dụng kết hợp các thủ pháp phỏng vấn, đặt câu hỏi cho các ngư dân, ngư i làm nghề cao tu i có nhiều n m trong nghề Ngoài ra, tư liệu còn được khai thác từ nguồn v n học dân gian, sách báo viết về địa phương…

Từ ngữ thu thập được chúng tôi sắp xếp theo hệ thống, chú giải ngh a chi tiết; trước khi nghiên cứu còn được kiểm tra, thẩm định lại bởi các chủ nhân làm nghề biển

Tư liệu còn được b sung, có tính chất minh họa bằng một số hình ảnh do chúng tôi chụp đối với các hoạt động, sản phẩm ph biến của nghề biển hiện nay Đối với một

số công cụ, phương tiện, hoạt động nghề biển truyền thống mang đặc trưng của Thanh Hoá trước kia, nay không còn được dùng thì chúng tôi kí hoạ thông qua l i

kể của ngư dân Điền dã được chúng tôi chú trọng, xem là phương pháp quan trọng nhất để có nguồn tư liệu phục vụ cho luận án

4.2 Phương pháp thống kê

Trên cơ sở phương pháp điều tra, điền dã, chúng tôi thống kê, thu thập và xử

lý số liệu hệ thống vốn từ ngữ nghề biển của ba nghề: nghề cá, nghề làm mắm và sản xuất muối Đây là hệ thống vốn từ ngữ mà ngư dân Thanh Hoá dùng để giao tiếp, hành nghề Các kết quả thống kê được t ng hợp dưới các bảng biểu, biểu đồ để làm cứ liệu cho việc phân tích, đánh giá các nội dung của luận án

4.3 Phương pháp ph n tích - t ng hợp

Phương pháp phân tích - t ng hợp được chúng tôi dùng để miêu tả, phân tích

từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá trên ba phương diện chính: cấu tạo, ngữ ngh a, định

Trang 16

danh Trên cơ sở phân tích, miêu tả, t ng hợp đó, chúng tôi khái quát, rút ra những nhận xét, đánh giá cho mỗi nội dung; ch ra đặc trưng khái quát về v n hoá biển xứ Thanh thể hiện qua từ ngữ nghề nghiệp

4.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm nhận thức của ngư i làm nghề, gắn liền với đặc điểm môi trư ng địa lý tự nhiên, v n hoá xã hội của từng vùng Do vậy, nghiên cứu từ nghề nghiệp không ch tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ mà còn từ nhiều phương diện khác như v n hoá học, lịch sử, xã hội,…Cho nên, để làm rõ đặc trưng

từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành mà trọng tâm là cách tiếp cận ngôn ngữ - v n hoá học

4.5 Thủ pháp mô hình hóa

Trên cơ sở những những phân tích, luận giải các vấn đề liên quan đến luận

án, chúng tôi khái quát từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá thành những mô hình như:

mô hình cấu tạo từ (dựa trên tính chất, quan hệ giữa yếu tố tạo từ, có tính chất phương ngữ - toàn dân, độc lập – không độc lập, các thành tố trực tiếp); mô hình định danh (dựa trên dấu hiệu đặc trưng của đối tượng được lựa chọn định danh)

4.6 Thủ pháp so sánh

Để làm n i rõ những vấn đề, nội dung nghiên cứu của luận án, chúng tôi có

sự so sánh từ ngữ nghề biển Thanh Hóa với các vốn từ có liên quan như, với từ toàn dân, từ địa phương, tiếng lóng và đặc biệt là với thuật ngữ và từ nghề nghiệp nghề gốm nhằm làm rõ tính chất, đặc trưng vừa chung, vừa riêng của từ ngữ nghề biển ở Thanh Hoá

5 Đ ng g p của luận án

- Luận án đã thu thập, thống kê được một số lượng vốn từ ngữ nghề biển khá lớn ở vùng biển Thanh Hóa Đây là vốn tư liệu ngôn ngữ quan trọng mà ch có thể

có được chủ yếu thông qua điều tra điền dã từ thực địa

- Nghiên cứu từ nghề biển từ bình diện ngôn ngữ - v n hóa, luận án đã không những làm rõ giá trị về mặt ngôn ngữ mà còn góp phần ch ra những đặc trưng về tư duy, nhận thức, sắc thái v n hóa địa phương xứ Thanh qua từ nghề nghiệp

Trang 17

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của u n án

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận án đã miêu tả cặn kẽ, chi tiết và trình bày những đặc trưng ngôn ngữ -

v n hoá của ba lớp từ ngữ được khảo sát: lớp từ ch công cụ, phương tiện; lớp từ ch hoạt động và lớp từ ch sản phẩm Đồng th i, luận án cung cấp danh mục từ ngữ dưới dạng phụ lục bao gồm danh mục từ ngữ của ba lớp từ ngữ trên và danh mục từ ngữ ch : hiện tượng tự nhiên; t chức, cá nhân; ngư trư ng đánh bắt; th i vụ; nguyên vật liệu; đơn vị đo lư ng Đây là những tư liệu hữu ích cho những công trình nghiên cứu tiếp theo trong l nh vực nghiên cứu từ nghề nghiệp nói chung, từ nghề biển nói riêng

- Luận án nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp theo hướng mới, đó là từ bình diện ngôn ngữ - v n hóa chứ không phải thuần túy từ bình diện ngôn ngữ theo hướng cấu trúc như trước nay vẫn được nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần thúc đẩy tích cực phát triển chuyên ngành Từ vựng học tiếng Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Trên cơ sở tư liệu được thống kê, miêu tả, phân tích, luận án góp phần gìn giữ, bảo tồn giá trị v n hoá truyền thống về nghề biển xứ Thanh thông qua vốn từ nghề nghiệp

- Luận án cung cấp hệ thống vốn từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa, trong đó có những từ ngữ biểu thị nghề hiện nay không tồn tại, góp phần làm phong phú kho từ vựng tiếng Việt

tiện nghề biển ở Thanh Hóa

Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của từ ngữ ch quy trình hoạt động

nghề biển ở Thanh Hóa

Chương 4: Đặc trưng ngôn ngữ - v n hóa của từ ngữ ch sản phẩm nghề

biển ở Thanh Hóa

Trang 18

để phục vụ cho việc giao tiếp trong nghề Nói cách khác, sự chuyên môn hóa các ngành được phản ánh trong ngôn ngữ không phải là sự khác biệt về ngữ pháp và các tiếng giai cấp mà là sự tạo ra những từ ngữ chuyên môn, những từ ngữ này chủ yếu

ch có những ngư i làm nghề nghiệp đó mới hiểu được [130, tr.2]

Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp chung, ph quát cho toàn cộng đồng xã hội, không bị lệ thuộc bởi ranh giới địa lý và địa vị xã hội Nó được hình thành, gắn chặt với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội và là một sản phẩm của lịch sử [39, tr.212] Quá trình thống nhất dân tộc cũng là quá trình thống nhất ngôn ngữ Tuy nhiên, trong một dân tộc vẫn tồn tại những vùng địa lý, cư trú, tầng lớp xã hội khác nhau Ngôn ngữ dân tộc bên cạnh những lớp từ dùng chung cho toàn xã hội thì vẫn có những khác biệt ở từng vùng miền, từng ngành nghề, trong đó, có một lớp từ ngữ của những ngư i làm nghề - từ ngữ nghề nghiệp

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày t ng quan về tình hình nghiên cứu

và những vấn đề có tính chất lý thuyết liên quan đến từ ngữ nghề nghiệp nói chung,

từ ngữ nghề biển Thanh Hóa nói riêng làm định hướng nghiên cứu cho luận án

1.1 T ng qu n t nh h nh nghiên cứu

Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm giao tiếp của những ngư i làm trong nghề

Nó vừa mang giá trị về mặt ngôn ngữ học, vừa mang giá trị về mặt lịch sử, v n hóa

Trang 19

Nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp

Các nhà nghiên cứu nước ngoài, tiêu biểu là các nhà nghiên cứu Xô viết:

L.A Kapanađze và A.V Superanskaja trong khi bàn đến thuật ngữ, hệ thống thuật ngữ, các tác giả đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp, đặc biệt là việc gọi tên các đối tượng [Dẫn theo 130] Tuy nhiên, các tác giả chưa bàn sâu đến lớp từ của những ngư i làm nghề ở các phương diện định danh, ngữ ngh a mà ch đề cập đến tên gọi các đối tượng một cách khái quát

V.D Bonđaletop - nhà ngôn ngữ học Xô viết đã phân loại các biến thể l i nói, trong có tiếng nghề nghiệp Theo tác giả, tiếng nghề nghiệp thật sự (đúng hơn

là những hệ thống từ vựng), ví dụ như tiếng của ngư i đánh cá, những ngư i đi

s n, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, ngư i làm len, thợ đóng dày, và cả những ngư i làm các ngành nghề khác [Dẫn theo 130, tr.2] Tuy nhiên, nghiên cứu của ông mới ch dừng lại ở những quan niệm khái quát, nêu ra những hiện tượng ngôn ngữ đơn l của những ngư i làm nghề, mà chưa nghiên cứu cụ thể từ ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, hay định danh, ngữ ngh a

IU.V.Rozdextvenxki khi đề cập đến vấn đề giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp tuy không bàn sâu đến từ ngữ nghề nghiệp nhưng tác giả cũng đã ch ra lớp

từ được cá nhân học theo loại hình công việc Theo ông, từ điển bách khoa là một trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp, trong việc lựa chọn và giải thích vốn từ vựng nghề nghiệp [66, tr.369]

Việt Nam, từ nghề nghiệp đã được các nhà Việt ngữ học đề cập đến trong các giáo trình ngôn ngữ học từ những n m 6 , 7 của thế k XX Nguy n V n Tu

trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại [115] là một trong những nhà ngôn ngữ học

đầu tiên của Việt Nam trong khi trình bày hệ thống vốn từ tiếng Việt hiện đại đã đề cập đến lớp từ thuộc về nhóm ngư i làm nghề - từ nghề nghiệp Tuy nhiên, ông cũng mới ch dừng lại ở việc nêu khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể vào từng nghề

Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [24] cũng đã có những

Trang 20

những nghiên cứu nhất định về từ nghề nghiệp nhưng tác giả cũng ch mới đưa ra khái niệm làm nền tảng cho nghiên cứu Về sau này, các tác giả như Hoàng Thị Châu

trong Phương ngữ học tiếng Việt [27], Nguy n Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng

Việt [43], nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [29] cũng đã đề cập đến từ nghề nghiệp và phân

biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác (thuật ngữ, tiếng lóng, từ địa phương)

Đặc điểm chung của các công trình trên là các nhà nghiên cứu xem từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị công cụ, sản phẩm lao động, quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này, nếu không là ngư i trong nghề sẽ khó hiểu, thậm chí có những từ ngữ nghề nghiệp mà ngư i ngoài nghề không thể hiểu Do tính chất của giáo trình, các tác giả mới ch dừng lại ở mức

độ khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa từ ngữ nghề nghiệp với từ địa phương, thuật ngữ, tiếng lóng Các nhà nghiên cứu cũng chưa có điều kiện để nghiên cứu sâu từ ngữ nghề nghiệp ở phương diện cấu tạo, đặc điểm về định danh, ngữ ngh a từ bình diện ngôn ngữ - v n hóa

Trong những n m gần đây, nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp từng nghề cụ thể trong từng địa phương đã được nhiều tác giả quan tâm Đó là các bài viết: Nguy n V n An [1], Hoàng Trọng Canh [19], Lê Viết Chung [28], Phạm Hùng Việt [132] Ngoài ra, còn có một số các luận v n của các tác giả: Ngôn Thị Bích [12], Trần Thị Ngọc Hoa [54], Phan Thị Tố Huyền [60], Phạm Bá Tân [92], Bùi Thị Lệ Thu [107],

Các bài viết và các luận v n được công bố trên đã bước đầu nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, định danh; khảo sát một số lượng đáng kể từ ngữ của từng nghề; phân tích mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đó ch ở phạm vi hẹp, chủ yếu là làng nghề truyền thống của một địa phương hoặc do tính chất của công trình, các tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích về vấn đề định danh, ngữ ngh a; chưa nghiên cứu từ ngữ nghiệp từ phương diện ngôn ngữ - v n hóa một cách quy mô có hệ thống

Trang 21

Trong số các tư liệu nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học

cấp viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [130] do

tác giả Nguy n V n Khang làm chủ nhiệm đề tài là đáng chú ý Nhóm tác giả đã

có những nghiên cứu khá toàn diện về tiếng nghề nghiệp, khu biệt với những loại

từ cùng thuộc phương ngữ xã hội, ch ra mô hình cấu tạo, trư ng từ vựng- ngữ ngh a, nguồn gốc các đơn vị định danh và thống kê được 861 đơn vị từ ngữ nghề gốm Bát Tràng Tuy nhiên, công trình lại chưa đi sâu nghiên cứu ở phương diện định danh - một nhân tố quan trọng cho thấy những nét v n hóa làng nghề được phản ánh vào ngôn ngữ

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển

Nghiên cứu về từ ngữ nghề biển hiện nay tiêu biểu có hai công trình khoa học cấp bộ và cấp nhà nước do tác giả Hoàng Trọng Canh làm chủ nhiệm đề tài

Đó là công trình Từ nghề nghiệp trong phương ngữ ghệ Tĩnh ( ư c đ u h o sát

p từ nghề cá nư c n m muối [17] và công trình ghi n cứu từ ngữ - văn h a nghề i n Thanh - ghệ Tĩnh (tác giả luận án này là một thành viên) [22] Hai công trình trên đã đề cập một cách hệ thống, chi tiết từ ngữ nghề biển Trên cơ sở đối sánh giữa từ nghề nghiệp với từ địa phương và từ toàn dân, tác giả đã phân tích mô hình cấu tạo, phương thức định danh, đặc trưng ngữ ngh a, một số nét v n hóa biển và thống kê được 327 đơn vị từ ngữ nghề biển vùng Thanh - Nghệ T nh

Việc nghiên cứu từ ngữ nghề biển đã được đề cập đến trong các bài viết cụ thể ở những địa phương có nghề biển Đó là các bài viết của các tác giả: Nguy n Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh [10], Hoàng Trọng Canh [16], [18], [21], Phạm Tất Thắng [95] Ngoài ra, một số luận v n cũng đã bước đầu nghiên cứu cụ thể về từ ngữ nghề biển của các tác giả như: Lương V nh An [2], Nguy n Thị Quỳnh Trang [127] Các bài viết hoặc các luận v n đã có những đóng góp nhất định: thu thập một số lượng đáng kể vốn từ nghề biển; ch ra mô hình cấu tạo, phương thức định danh; sắc thái v n hóa biển qua vốn từ Tuy nhiên, những nghiên cứu đó ch ở phạm vi nhỏ hẹp và chưa đi sâu nghiên cứu từ nghề nghiệp từ phương diện ngôn ngữ - v n hóa

Trang 22

Nghiên cứu về từ nghề nghiệp, không ch các nhà ngôn ngữ học mà các nhà

v n hóa học cũng quan tâm Tiêu biểu là tác giả Phan Thị Yến Tuyết trong sách

chuyên khảo Đời sống xã hội - inh tế của ngư dân và cư dân vùng i n am Bộ

[122] Tác giả đã trình bày những vấn đề đ i sống kinh tế, v n hóa, xã hội của cư dân vùng biển của 9 t nh Nam Bộ, trong đó, có đề cập đến các phương tiện đánh bắt

và hoạt động khai thác thủy hải sản; hoạt động nghề sản xuất muối Đặc biệt, tác giả cũng đã có thống kê danh mục từ ngữ về nghề biển ở vùng biển Nam Bộ Tuy nhiên, do tính chất của công trình nghiên cứu thiên về v n hóa dân gian, tác giả mới thống kê số lượng rất ít từ ngữ nghề biển và chưa nghiên cứu về mảng từ ngữ nghề biển ở phương diện ngôn ngữ như: cấu tạo, định danh hay ngữ ngh a

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa

Trong các tài liệu nghiên cứu liên quan đến nghề biển và từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa, ngư i đầu tiên đề cập đến vấn đề này là học giả ngư i Pháp Ch

Robequain vào n m 1929 trong cuốn Le Thanh Hoa [90] Ông đã trình bày một

cách cụ thể, chi tiết về vùng đất Thanh Hóa, trong đó có nghề biển Tác giả đã ch ra các công cụ, phương tiện; cách thức đánh bắt, khai thác và sản phầm của nghề biển truyền thống xứ Thanh như nghề đánh cá, làm mắm và sản xuất muối Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đó ch đơn thuần nghiêng về lịch sử v n hóa mà ít đề cập đến phương diện ngôn ngữ - v n hóa của từ nghề nghiệp

Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa cũng ít nhiều được đề cập đến trong các công

trình về địa chí Thanh Hóa, v n học dân gian Thanh Hóa như: Đ a ch văn h a

Trang 23

các phương thức, cách khai thác, đánh bắt chứ chưa nghiên cứu ở phương diện cấu tạo, ngữ ngh a, định danh của từ ngữ nghề nghiệp

Nghiên cứu về từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa dưới góc độ ngôn ngữ học thì hiện nay mới có tác giả Nguy n Thị Duyên trong luận v n Thạc s Ngữ v n

h o sát từ ch nghề i n ở u ộc - Thanh a [32] Đây là công trình đầu tiên

nghiên cứu về từ nghề biển ở Thanh Hóa từ phương diện ngôn ngữ học nhưng mới

ch bước đầu khảo sát ở một huyện của Thanh Hóa Tác giả cũng mới miêu tả khái quát vấn đề cấu tạo, định danh và cũng chưa phản ánh hết đặc trưng về nghề biển của cư dân biển Thanh Hóa cũng như thống kê được một số lượng vốn từ ngữ nghề biển rất hạn chế

Từ những kết quả của các công trình đã được trình bày, vấn đề nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp nói chung, từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa nói riêng, cho tới nay chưa có công trình nào được công bố thu thập, nghiên cứu vốn từ này một cách đầy đủ, hệ thống trên t ng thể các bình diện của ngôn ngữ Một số tác giả

có đề cập đến l nh vực từ nghề cá, nghề gốm, nghề rèn, nghề nông, nghề dệt th cẩm nhưng ch dừng lại ở khía cạnh khái quát; quan niệm cũng chưa hoàn toàn thống nhất hoặc do tính chất từng công trình mà các tác giả chưa nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, đặc biệt từ bình diện ngôn ngữ - v n hóa

Như vậy, nghiên cứu Từ ngữ nghề nghiệp nghề i n ở Thanh a (từ ình

diện ngôn ngữ - văn h a) là đề tài mới, chưa có ai đi sâu nghiên cứu Do đó,

chúng tôi lựa chọn đề tài này làm đề tài luận án tiến s là phù hợp và cần thiết

1.2 Cơ s ý thuyết củ đề tài

1.2.1 Những v n đề chung về từ ngữ nghề nghiệp

1.2.1.1 hái niệm từ ngữ nghề nghiệp

Như đã biết, lao động là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp con ngư i cá nhân thành con ngư i xã hội Để tồn tại, phát triển và đáp ứng nhu cầu cuộc sống, con ngư i phải mưu sinh, lao động, tìm nghề, lựa chọn nghề và học nghề Đây là cơ sở xã hội để hình thành nên một lớp từ ngữ của những ngư i làm nghề riêng biệt phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy Lớp từ ngữ đó cũng tạo nên dấu ấn nghề nghiệp - từ ngữ nghề nghiệp

Trang 24

Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp (hay tiếng nghề nghiệp, từ vựng nghề nghiệp) nói chung, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp nói riêng đã được các tác giả trong nước và nước ngoài quan tâm

a uan niệm từ ngữ nghề nghiệp của các tác gi nư c ngoài

L.A Kapanađze khi bàn về những khái niệm "thuật ngữ" và "hệ thống thuật ngữ" cũng đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp và cho rằng: Từ ngữ nghề nghiệp thư ng vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng "so sánh" [Dẫn theo 130, tr.6]

A.V Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp đã quan niệm: Tên gọi kiểu này (tên gọi dài dòng được thừa nhận do yêu cầu tính hệ thống của việc miêu

tả khoa học - khi đi vào phạm vi từ vựng thông thư ng không tránh khỏi bị rút gọn đi) "vốn sinh ra từ trong phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu

tố của l i nói thông thư ng hoặc ngôn từ nghề nghiệp" [130, tr.6] Ông di n giải thêm: Để việc bán hàng được thuận lợi, các mặt hàng phải có tên gọi đặc biệt của mình nhiệm vụ chủ yếu đề ra cho các từ này là biểu đạt các hàng hoá với tất cả các thuộc tính vật chất của nó Nh điều đó mà, hoặc dù là những sự vật muôn màu muôn v ( ) và dư ng như trong chúng lại có tính duyên dáng, đầy tính biểu cảm" (nhất là vào những th i điểm sáng tạo ra chúng [Về sau này], những sắc thái biểu cảm sẽ nhanh chóng mất đi, ch còn gắn với tính vật chất của hàng hoá - và tuỳ thuộc vào tính vật chất ấy mà có sự đánh giá lại [Dẫn theo 130, tr.6]

Như vậy, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi bàn đến thuật ngữ hay danh pháp thì cũng đã phần nào nhận ra một lớp từ ngữ do một tầng lớp ngư i làm nghề trong xã hội tạo ra để phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy - từ ngữ nghề nghiệp

b uan niệm về từ ngữ nghề nghiệp của các nhà ngôn ngữ học trong nư c

Cùng thuộc phạm trù phương ngữ xã hội, nhưng nếu các lớp từ khác như: tiếng lóng, tiếng địa phương, thuật ngữ, biệt ngữ, ít nhiều có trong các cuốn từ điển tiếng Việt thì từ ngữ nghề nghiệp lại không thấy được định ngh a trong các

cuốn từ điển đó Từ ngữ nghề nghiệp ch được đề cập trong Từ đi n gi i th ch thu t

ngữ ngôn ngữ học của Nguy n Như (chủ biên) [135]

Trang 25

Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp, chúng ta có thể bắt gặp trong các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học như: Lưu V n L ng (1960), Nguy n V n Tu (1968), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguy n Như (1996), Nguy n V n Khang (2001), Hoàng Thị Châu (2004), Nguy n Thiện Giáp (2010),… Nhìn chung, có hai quan điểm khác nhau

- Quan điểm thứ nhất, chú trọng đến tính đặc trưng của từ ngữ nghề nghiệp, nhóm tác giả Nguy n Như , Hà Quang N ng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ cho rằng: từ ngữ nghề nghiệp là các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm ngư i thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một l nh vực hoạt động nào đó [135,tr.389] Trên cơ sở phân biệt từ nghề nghiệp với thuật ngữ, Nguy n V n Tu cho rằng: những

từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng để trao đ i miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp cũng khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa [115, tr.126]

- Quan điểm thứ hai, các nhà nghiên cứu xem từ nghề nghiệp ở phạm vi rộng hơn và cụ thể hơn Đó là các quan niệm của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức

Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [29], Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [24], Nguy n Thiện Giáp trong Từ

vựng học tiếng Việt [43] và Nguy n V n Khang trong Tiếng ng Việt am [70]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến xem Từ nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng ph biến trong phạm vi của những ngư i cùng làm một nghề nào đó [29, tr.223] Theo đó, lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như nghề làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới… Nhưng hoạt động của các

từ nghề nghiệp lại không đồng đều, có từ sử dụng hạn chế trong phạm vi một nghề, nhưng có những từ ngữ đi vào vốn từ vựng chung, được dùng ph biến trong xã hội

Theo Đỗ Hữu Châu, từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng

được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành v n thư v.v…) [24, tr.253] Trong nội dung khái niệm mà Đỗ Hữu Châu đã trình bày, từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được dùng rộng rãi trong xã hội như

Trang 26

cà ừa cuốc cào (nghề nông), đ c cưa ào,… (nghề mộc) bởi đây là những từ

Nguy n V n Khang gọi từ nghề nghiệp là tiếng nghề nghiệp và xem nó thuộc phương ngữ xã hội Tác giả cho rằng: nghề nghiệp là cơ sở để tạo ra những

hệ thống từ ngữ nghề nghiệp riêng và cùng với đó là hình thành một phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp [70, tr.24]

Như vậy, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp ở các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tuy ít nhiều có những sự khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều xem từ ngữ nghề nghiệp là những đơn vị từ vựng biểu đạt phương tiện, công cụ, hoạt động, sản phẩm…được sử dụng ph biến trong phạm vi một ngành nghề nhất định

c uan niệm về từ ngữ nghề nghiệp được sử d ng trong u n án

Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm do những ngư i làm nghề tạo ra, dùng để giao tiếp trong nghề Với những nghề thủ công truyền thống mà phạm vi hoạt động hẹp như nghề rèn, nghề gốm, nghề mộc, nghề sơn mài, nghề giấy, nghề thuốc…thì tính chất nghề nghiệp thể hiện qua từ rất rõ, do phạm vi hoạt động của nghề ch một làng, xã Khả n ng hoạt động của chúng rất hạn chế, biệt lập trong phạm vi hoạt động của nghề Lớp từ này thư ng ch những ngư i trong nghề hiểu và sử dụng; ngư i ngoài nghề ít dùng hoặc khó hiểu Tuy nhiên, ngay cả những nghề ph biến thì vẫn có những lớp từ mang đặc trưng của ngư i làm nghề, trong vùng địa phương

nhất định Ví dụ: sẻo rẻo đòi, đồm rạo t m ư i ốc ư i rẻo ư i r nh te reo

thu ền hung tròn,… (nghề đánh cá); àn chà àn ch i ong chà… (nghề làm

mắm); u diệc chạt ọc xêu, giát,… (nghề sản xuất muối) Đây cũng là những từ

nghề nghiệp nếu xét theo tính chất xã hội của tầng lớp ngư i dùng, nhưng nếu xét theo phương ngữ địa lý thì các từ này đồng th i cũng là từ địa phương, được ngư i Thanh Hóa quen dùng

Trang 27

Mức độ biệt lập hay hạn chế về phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp cũng còn tùy thuộc vào mức độ ph biến và phạm vi hoạt động của từng nghề Với những nghề ph biến ở phạm vi địa lý rộng lớn như nghề biển bên cạnh những lớp từ mang đặc trưng riêng, biệt lập như đã dẫn ra ở trên thì có rất nhiều những từ đã trở nên

ph biến trong xã hội Ví dụ: cá tr ch cá thu cá ạc má m m tôm m m chượp bè

uồng xốp ư i cư c ư i gai thu ền câu thu ền thúng …Với những lớp từ

này, ngư i trong nghề lẫn ngoài nghề d hiểu và sử dụng

Trong tiến trình lịch sử xã hội, sự giao lưu, tiếp xúc giữa các quốc gia, vùng miền là tất yếu Sự giao lưu tiếp xúc ấy di n ra trên nhiều bình diện, trong đó có ngôn ngữ Nhiều từ địa phương đã được sử dụng rộng rãi và trở thành vốn từ toàn dân Từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Mặc

dù, đây là nghề truyền thống lâu đ i nhưng xã hội ngày càng phát triển, sự giao lưu giữa các ngành nghề, tầng lớp xã hội di n ra liên tục đòi hỏi phải có vốn từ chung phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Với xu thế đó, một số lượng không nhỏ các từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa, và có thể ở vùng khác đã được toàn dân hóa , trở thành

vốn từ toàn dân Ví dụ: cá heo cá n c cá cơm cá p mực cua ốc thu ền

ư i phao… ;m m hôi m m th nh nư c m m cốt pha chế ư p…; muối chi m muối mùa muối xám…Khi vốn từ nghề nghiệp được dùng trong vốn từ toàn dân thì

phạm vi sử dụng trở nên ph biến rộng rãi

Như vậy, qua các quan niệm và một vài luận giải ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng từ ngữ nghề nghiệp có hai đặc điểm Một là, từ ngữ nghề nghiệp phản ánh công cụ, hoạt động, sản phẩm…của một nghề Hai là, từ ngữ nghề nghiệp có phạm

vi sử dụng hạn chế trong nghề, trong từng địa phương Điều này đã được tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra trong công trình nghiên cứu của mình Theo nội dung khái niệm của Đỗ Hữu Châu thì từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được sử dụng rộng rãi

trong xã hội, được mọi ngư i hiểu và sử dụng, như: cà ừa cuốc cào… (nghề nông), thu ền ư i câu (nghề cá),…đ c cưa ào… (nghề mộc) Xét về nội dung

phản ánh, đây là những từ ch công cụ, phương tiện để phục vụ cho hoạt động sản xuất và hành nghề Do quá trình giao lưu, tiếp xúc giữa các vùng địa lý dân cư, giữa

Trang 28

các nhóm ngư i làm nghề mà những từ như trên đã trở nên ph biến trong toàn dân

sử dụng Nhưng, xét về mặt lịch đại, chúng vốn có nguồn gốc từ nghề nghiệp

Vấn đề đặt ra ở đây là xác định phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp Từ nào

ch dùng trong phạm vi những ngư i hành nghề với nhau Rõ ràng, điều này rất khó cho ngư i thu thập vốn từ nghề nghiệp Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, xuất phát từ phương diện nội dung phản ánh, chúng tôi đưa ra cách hiểu về từ ngữ nghề nghiệp như sau:

1) Những đơn vị từ ngữ ch công cụ, phương tiện, quá trình hoạt động, sản phẩm…được tạo ra của nghề, được sử dụng ph biến trong phạm vi những ngư i cùng làm nghề nào đó Nhiều từ ngữ đã quen thuộc với ngư i ngoài nghề, tính chất thông dụng, đã được toàn dân hóa và trở thành từ toàn dân

2) Những từ ngữ mà ngư i trong nghề dùng để ch những công cụ, hoạt động, sản phẩm…của nghề nhưng ngư i ngoài nghề cũng dùng quen thuộc trong một vùng phương ngữ Xét theo phương ngữ địa lí, các từ ngữ này đồng th i cũng

là từ địa phương

3) Những từ ngữ mà ngư i trong nghề dùng ph biến để ch những công cụ, hoạt động, sản phẩm…của nghề mà thư ng ngư i ngoài nghề ít dùng hoặc không hiểu Lớp từ ngữ này thư ng có phạm vi sử dụng trong một không gian địa lí hạn chế, gắn với từng th ngữ nhất định

Từ quan niệm như vậy, vốn từ ngữ nghề biển ở Thanh Hóa mà chúng tôi thu thập là vốn từ ngữ ngư dân Thanh Hóa dùng ch công cụ, hoạt động, sản phẩm…của nghề D nhiên, vốn từ ngữ này không phải hoàn toàn ch riêng ngư i Thanh Hóa dùng mà các cư dân ở vùng biển khác cũng dùng Thậm chí có những từ ngữ không

ch được dùng trong nghề biển mà còn sử dụng trong nghề khác Ví dụ: đài radiô

vô ăng đ nh v xe cút t…

1.2.1.2 V tr của từ nghề nghiệp trong từ vựng một ngôn ngữ

Hệ thống từ vựng vô cùng phong phú, đa dạng xét trên các phương diện, góc

độ nhìn nhận như: phạm vi sử dụng, nguồn gốc hoặc phong cách Trên cơ sở đó, vị trí của từ ngữ nghề nghiệp trong từ vựng của một ngôn ngữ được xác định không giống nhau

Trang 29

C n cứ vào phạm vi sử dụng, Nguy n Thiện Giáp đã phân chia vốn từ vựng

thành "từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh th [43, tr.255] Tác giả khẳng định: từ ngữ nghề nghiệp cũng là lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội [43, tr.265]

Nhóm tác giả Vũ Đức Nghiệu, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến cũng xếp từ nghề nghiệp thuộc "phương ngữ xã hội" Theo đó, Trừ những từ ngữ thuộc các lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt lãnh th (từ địa phương) hoặc về mặt phương ngữ xã hội (thuật ngữ, tiếng lóng, từ nghề nghiệp), số còn lại được gọi là lớp từ vựng chung hoặc từ vựng toàn dân [29, tr.226] Cũng xếp từ nghề nghiệp vào "phương ngữ xã hội", tác giả Nguy n V n Khang cho rằng: "Còn có thể gọi là phương ngữ xã hội những trư ng hợp như tiếng lóng, biệt ngữ, tiếng nghề nghiệp được sử dụng trong phạm vi hẹp ở một nhóm hay một tập đoàn ngư i nhất định" [70, tr.117]

Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) đã phân chia

lớp từ vựng tiếng Việt thành hệ thống bao gồm: từ vựng nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học, biệt ngữ (bao gồm cả tiếng lóng), hệ thống từ vựng địa phương, hệ thống Hán Việt và các từ vay mượn Theo đó, từ nghề nghiệp được xếp cùng một hệ thống với thuật ngữ khoa học

Tuy có những quan điểm, cách nhìn nhận có phần khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều khẳng định rằng, từ ngữ nghề nghiệp là lớp từ ngữ của những ngư i làm nghề, được sử dụng hạn chế về mặt xã hội (thuộc phương ngữ xã hội) và thuộc phong cách nói (chủ yếu được dùng trong giao tiếp) Do vậy,

từ ngữ nghề nghiệp cùng với những lớp từ khác góp phần làm phong phú kho từ vựng ngôn ngữ dân tộc

1.2.2 Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ ngữ khác

Hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ có nhiều lớp từ ngữ khác nhau Mỗi lớp

từ ngữ đều có những đặc trưng riêng phân biệt nó với các lớp từ ngữ khác Để hiểu

về từ nghề nghiệp một cách rõ ràng hơn, chúng tôi thiết ngh cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các lớp từ ngữ khác của hệ thống ngôn ngữ (từ toàn dân, từ địa phương, thuật ngữ, tiếng lóng)

Trang 30

a Từ nghề nghiệp và từ toàn dân

Về khái niệm từ toàn dân, Nguy n Thiện Giáp đưa ra định ngh a: "Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn từ chung cho tất cả những ngư i nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ

Có thể nói từ vựng toàn dân là hạt nhân từ vựng, làm cơ sở cho sự thống nhất, không

có nó, ngôn ngữ không thể có được và do đó không thể có sự trao đ i giao tiếp giữa mọi ngư i" [43, tr.255- 256]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến quan niệm: "Ngay tên gọi của lớp từ này cũng ngụ ý rằng nó gồm những từ ngữ mà toàn dân, mọi ngư i, mọi nơi, mọi lúc đều có thể sử dụng một cách rộng rãi" [29, tr.226]

Nhóm tác giả Nguy n Như , Hà Quang N ng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc

Lệ ch rõ: "từ được sử dụng hàng ngày, chung cho mọi ngư i trong một dân tộc, một quốc gia, còn gọi là từ toàn dân Các từ thư ng dùng thuộc từ vựng tích cực" [135, tr.397]

Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Đại bộ phận các từ ch những sự kiện, sự vật cơ bản

ph biến là những từ thống nhất đối với cả nước Ngoài ra, còn có sự chuyên dùng ở địa phương hay một số từ nào đó trong một nhóm đồng ngh a chung cho cả tiếng Việt Những từ thống nhất và những từ đồng ngh a được chuyên dùng như trên hợp thành từ vựng toàn dân của tiếng Việt" [24, tr.244-245]

Trên cơ sở quan niệm về từ toàn dân của một số nhà ngôn ngữ học, chúng tôi cho rằng, từ toàn dân là những từ mà mọi ngư i đều hiểu và sử dụng Nói cách khác, đó là lớp từ cơ bản, vốn từ chung của quốc gia dân tộc

Với những quan niệm như trên, chúng tôi nhận thấy, giữa từ nghề nghiệp và

từ toàn dân có sự khác biệt rất rõ Về phạm vi sử dụng, từ nghề nghiệp có tính chất

sử dụng phạm vi hẹp, thậm chí trong một làng, một xã, trong khi từ toàn dân có tính chất ph biến rộng rãi trong toàn xã hội Xét về đối tượng ngư i dùng, từ nghề nghiệp được sử dụng hạn chế trong một lớp đối tượng, những ngư i cùng làm một ngành nghề nhất định; trong khi, từ toàn dân lại được mọi ngư i trong xã hội dùng

Trang 31

Xét về nội dung phản ánh, từ nghề nghiệp ch bao quanh những vấn đề liên quan đến nghề nghiệp đó (phương tiện, công cụ, hoạt động, sản phẩm, đối tượng của nghề, nguyên liệu, hiện tượng…); còn từ toàn dân lại biểu đạt mọi nội dung có trong hiện thực cuộc sống Xét về phong cách sử dụng, từ nghề nghiệp chủ yếu thuộc về phong cách nói, hội thoại, khẩu ngữ; từ toàn dân đa dạng các phong cách như phong cách viết, phong cách khoa học Xét về vai trò đối với hệ thống ngôn ngữ dân tộc, từ nghề nghiệp khó có thể đóng vai trò làm nền tảng, là cơ sở để thống nhất từ vựng và thống nhất ngôn ngữ dân tộc như từ toàn dân vì từ nghề nghiệp bị hạn chế về phạm vi sử dụng và ngư i dùng

Nhóm tác giả Nguy n Như (chủ biên), Hà Quang N ng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ xem từ địa phương là "từ của một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó và ch ph biến trong phạm vi vùng lãnh th của địa phương đó" [135, tr.339]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến định ngh a: Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ dân tộc và ch ph biến trong phạm vi lãnh th của địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương [29, tr.221]

Xem từ địa phương là một bộ phận của ngôn ngữ nói, Nguy n Thiện Giáp xem: "Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ v n học" [43, tr.257]

Trong khi đó, Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Những đơn vị từ vựng địa phương là những đơn vị từ vựng có ý ngh a khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau

Trang 32

nhiều hay ít nhưng không nằm trong những sai dị ngữ âm đều đặn" [24, tr.241], và

"đối với tiếng Việt, tiếng địa phương là những biến thể địa lý của nó" [24, tr.288]

Như vậy, từ nghề nghiệp và từ địa phương là hoàn toàn khác nhau về mặt phạm trù Từ nghề nghiệp được sinh ra từ một nghề nào đó, thuộc phương ngữ xã hội; từ địa phương là từ có ở địa phương này mà có thể không có ở địa phương khác Tuy nhiên, giữa chúng có mối quan hệ kh ng khít, qua lại với nhau Theo Nguy n V n Khang, một khi phương ngữ địa lý cộng thêm giá trị xã hội , sẽ trở thành phương ngữ xã hội [70, tr.204] Thực tế, hai lớp từ được phân chia theo hai tiêu chí khác nhau Vả lại, ngành nghề nào cũng đều hoạt động trong một khu vực, địa lý, vùng lãnh th nhất định Theo thói quen, cư dân làm nghề đều phát âm, sử dụng từ địa phương của phương ngữ đó Những từ ngữ địa phương quen dùng có sự khác biệt ít nhiều so với ngôn ngữ toàn dân (về âm, ngh a hay ngữ pháp) trong đó gồm cả lớp từ ngữ mà nếu xét theo tính chất xã hội, những từ ngữ này lại thuộc lớp

từ nghề nghiệp

Ví dụ: cá u (lụ), cá ệch (nhệch), cá ệp (cá lẹp), tôm t ch (tôm tít), tành (trành), thào (sào),…được xem là từ địa phương Thanh Hóa bởi chúng có sự khác

biệt với ngôn ngữ toàn dân, ngư i xứ Thanh quen dùng Nhưng cũng chính những từ này, nếu xét theo tính chất xã hội ngư i dùng thì đây là những từ nghề biển Như vậy,

từ nghề nghiệp gắn liền với từ địa phương Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và từ địa phương di n ra tự nhiên trong đ i sống hàng ngày, đó cũng là sự phản ánh mối quan

hệ kh ng khít không tách r i giữa phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội

Mặc dù không tách biệt khỏi phương ngữ, song từ nghề nghiệp cũng không đồng nhất với từ địa phương Chẳng hạn, có những từ nghề nghiệp trùng với từ địa phương, như ví dụ vừa nêu, cũng có những từ nghề nghiệp ch chịu ảnh hưởng của cách cấu tạo từ phương ngữ Cư dân của từng địa phương có thể có những từ ngữ khác với ngôn ngữ toàn dân để ch những đặc điểm riêng của nghề Lại có những

từ nghề nghiệp mà phạm vi sử dụng của chúng rất hẹp, ch có những ngư i trong ngành nghề, thậm chí ch một vùng, một làng nào đó mới hiểu, vì chúng gắn với

th ngữ, vì thế cũng được xem là từ th ngữ, kiểu như: ổ tr c (đánh bắt), tròng

Trang 33

đấu (th i điểm trước kỳ nước sinh một ngày), thơm nư c (th i kỳ sau nước sinh 1

ngày), tác quáng (th i điểm bu i chiều), đi ư t (chọn ngày mở hàng)… (nghề cá),… Theo chúng tôi, cả hai loại vừa dẫn, lớp từ mang tính phương ngữ và lớp từ

mang tính chất th ngữ đều được xem là từ nghề nghiệp, khi xét chúng theo tính chất xã hội

Tuy nhiên, từ nghề nghiệp và từ địa phương có 3 điểm giống nhau: Một là, đều thuộc một lớp từ dùng hạn chế, một biến thể ngôn ngữ: từ địa phương thuộc

về phương ngữ địa lý (gắn với địa lý, lãnh th ) còn từ nghề nghiệp thuộc về phương ngữ xã hội (gắn với giá trị xã hội) Hai là, chúng đều thuộc về ngôn ngữ nói Ba là, cả hai lớp từ này đều có khả n ng làm giàu thêm cho vốn từ vựng chung của dân tộc

c Từ nghề nghiệp và tiếng ng

Xem tiếng lóng là một biểu hiện, tiểu loại của phương ngữ xã hội, một số nhà nghiên cứu cho tiếng lóng là hiện tượng ngôn ngữ của một tầng lớp, giai cấp trong xã hội tạo ra Nguy n V n Khang cho rằng: chúng được các nhóm xã hội tạo ra để giao

tiếp nội bộ nhằm bảo vệ lợi ích cho chính nội bộ của mỗi nhóm xã hội đó [70, tr.11]

Xem tiếng lóng thuộc về biệt ngữ, tiêu biểu cho quan điểm này là tác giả Đỗ Hữu Châu Ông viết: Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ tức là những tên gọi chồng lên trên những tên gọi chính thức [24, tr.227]

Xét về mức độ phạm vi sử dụng trong xã hội, Nguy n Thiện Giáp cho rằng: Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà ch một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi [43, tr.261]

Xét về mục đích của ngư i dùng, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến xem tiếng lóng là một bộ phận từ ngữ do những nhóm, những lớp ngư i trong xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện tượng, hành động… vốn đã có tên gọi trong vốn từ vựng chung, nhằm giữ bí mật trong nội bộ nhóm mình, tầng lớp mình [29, tr.224-225]

Cùng với quan niệm của nhóm tác giả trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và

tiếng Việt [29], Nguy n V n Tu định ngh a: Tiếng lóng ch gồm một số từ Nó

Trang 34

không phải là công cụ giao tế của xã hội mà ch là một số từ với ý ngh a bí hiểm của một nhóm ngư i với mục đích không cho ngư i khác biết [115, tr.132]

Mặt khác, một số nhà ngôn ngữ học lại xem tiếng lóng vừa là biểu hiện của một nhóm ngư i nhưng vừa biểu đạt ý ngh a xấu, tiêu cực, không mang ý ngh a tốt đẹp Tiêu biểu là tác giả Hoàng Thị Châu, Lưu Vân L ng, Nguy n Như Theo tác giả Hoàng Thị Châu, Tiếng lóng là loại ngôn ngữ ch cốt nói cho một nhóm ngư i biết mà thôi, những ngư i khác không thể biết được [27, tr.59] Nhưng tác giả cũng gán cho ý ngh a tiêu cực, được dùng cho những đám ngư i làm những nghề bất lương, bị xã hội ng n cấm như bọn c bạc bịp, bọn n cắp, bọn buôn lậu … [27, tr.59]

Cùng với quan điểm này, Lưu Vân L ng xem tiếng lóng thư ng tồn tại

"trong những hạng ngư i làm nghề bất lương, tầng lớp lưu manh hoặc tầng lớp con

buôn trong xã hội còn có giai cấp" [75, tr.75] Và trong cuốn Từ đi n gi i th ch

thu t ngữ ngôn ngữ học, các tác giả cho rằng, khác với biệt ngữ, tiếng lóng có

ngh a xấu [135, tr.288]

Như vậy, tiếng lóng được hình thành do nhóm ngư i tạo ra và ch nhóm đó mới biết để sử dụng trong giao tiếp, thư ng là những hành vi mang tính bí mật Phạm vi sử dụng rất hẹp, th i gian có thể không bảo toàn được lâu do ch được sử dụng giữa các thành viên trong nhóm xã hội Khi nhóm xã hội đó tan rã thì tiếng lóng hoặc không tồn tại hoặc được sử dụng rỗng rãi (do không còn bí mật), có thể trở thành vốn từ vựng chung

Giữa tiếng lóng và từ nghề nghiệp tuy về mặt lý thuyết có sự phân biệt khá

rõ nhưng trên thực tế chúng có những điểm tương đồng khó tách bạch: đều được sử dụng hạn chế trong phạm vi xã hội - nhóm ngư i; khó hiểu đối với ngư i ngoài nhóm; đều thuộc khẩu ngữ

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa chúng là: từ nghề nghiệp dùng để gọi tên đối tượng, công cụ, hoạt động tạo ra sản phẩm của một nghề Nhiều từ ngữ riêng của nghề trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm của nghề đó trở nên ph biến trong xã hội Trong khi đó, tiếng lóng được lớp ngư i sử dụng cho hành vi bí mật

Trang 35

cố ý, khi nhóm ngư i sử dụng không còn thì tiếng lóng cũng mất, tức là không đi vào ngôn ngữ toàn dân Trong thực tế, cũng có những loại tiếng lóng rất khó phân biệt với từ nghề nghiệp - tiếng lóng nghề nghiệp, tức tiếng lóng của lớp ngư i làm nghề nào đó

d Từ nghề nghiệp và thu t ngữ

Sự phát triển liên tục của các ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội - nhân v n đã làm xuất hiện ngày càng nhiều các khái niệm mới cần được gọi tên Đây là cơ sở xã hội để hình thành nên một lớp từ ngữ mang tính chuyên môn sâu, biểu đạt khái niệm một cách chính xác, hệ thống, đó là thuật ngữ Do vậy, thuật ngữ luôn được các nhà khoa học và ngôn ngữ học quan tâm ở Việt Nam cũng như trên thế giới Việt Nam, rất nhiều nhà ngôn ngữ học đưa ra những quan niệm, định ngh a về thuật ngữ

Ngay từ những n m 6 của thế k XX trong công trình nghiên cứu, Nguy n

V n Tu quan niệm: Thuật ngữ là những từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, k thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật v.v… và có một ý ngh a đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên [116, tr.176]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến định ngh a: Thuật ngữ là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi l nh vực khoa học chuyên môn [29, tr.219]

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định ngh a khái quát hơn về thuật ngữ Tác giả quan niệm: Thuật ngữ khoa học k thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm… trong những ngành k thuật công nghiệp và trong ngành khoa học tự nhiên và xã hội [24, tr.237]

Trong khi đó, Nguy n Thiện Giáp viết: Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các l nh vực chuyên môn của con ngư i [43, tr.270]

Nhấn mạnh đến tính hệ thống của thuật ngữ, Hoàng V n Hành ch rõ: Thuật ngữ là từ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định [45, tr.150]

Trang 36

Đặc điểm chung của thuật ngữ đều được các nhà Việt ngữ học đưa ra là:

- Dùng ch những khái niệm về sự vật, hiện tượng của l nh vực hoặc ngành khoa học nào đó

- Tính chính xác, quốc tế

- Ngắn gọn, n định về cấu tạo, ch một ngh a, trung hòa sắc thái biểu cảm

Cùng là lớp từ do một bộ phận tầng lớp xã hội tạo ra, từ nghề nghiệp và thuật ngữ có những điểm giống nhau như sau:

Thứ nhất, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều là những lớp từ thuộc phương ngữ xã hội (xét theo tính chất ngư i dùng); được dùng trong một ngành nghề nhất định, phạm vi sử dụng hẹp Thuật ngữ biểu thị các khái niệm chuyên môn của một ngành khoa học và ch số ít các nhà chuyên môn biết Còn từ nghề nghiệp là một lớp từ ngữ được những ngư i cùng làm nghề sử dụng

Thứ hai, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều có thể trở thành từ toàn dân Từ nghề nghiệp trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của ngành nghề

đó ph biến được sử dụng rộng rãi trong xã hội Thuật ngữ trở thành từ vựng toàn dân khi trình độ khoa học, k thuật và nhận thức của con ngư i nâng lên

Tuy nhiên, giữa từ nghề nghiệp và thuật ngữ có những sự khác biệt là:

- Thứ nhất, thuật ngữ gồm những đơn vị từ ngữ ch khái niệm khoa học, đảm bảo tính chính xác, tính quốc tế, tính hệ thống Từ nghề nghiệp là những đơn vị ch công cụ, phương tiện, hoạt động và sản phẩm của nghề nào đó và những ngư i trong nghề biết và sử dụng, những ngư i ngoài nghề khó hiểu và ít dùng

- Thứ hai, thuật ngữ mang phong cách khoa học, thuộc từ vựng sách vở, mang tính khái quát Từ nghề nghiệp mang phong cách khẩu ngữ, hội thoại, mang tính cụ thể, sinh động

Tuy nhiên, sự phân biệt cũng ch mang tính tương đối Thực tế, có rất nhiều

từ ngữ nghề nghiệp vốn lưu hành trong nghề nhưng quá trình phát triển, ngành nghề

đó được hiện đại hóa thì chúng chuyển thành thuật ngữ Ví dụ: thủ triều con nư c

thu ền trưởng … (nghề cá); chược can… (nghề làm mắm); t phơi trường,…

(nghề làm muối)

Trang 37

1.3 V n h và mối qu n hệ ng n ng - v n h

1.3.1 Khái niệm văn hóa

1.3.1.1 Các quan niệm về văn h a tr n thế gi i

Phương Đông, tiêu biểu là Trung Quốc - một trong những trung tâm của nền v n minh c đại, thuật ngữ v n hóa đã có trong đ i sống ngôn ngữ từ rất sớm

Th i nhà Chu (thế k XI - VIII Trước công nguyên), trong sách Chu D ch có câu:

Xem dáng v con ngư i, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân v n d hóa thành thiên hạ) [Dẫn theo 134, tr.18] Th i Tây Hán, Lưu Hướng (n m 77- 6 Trước công nguyên) đã viết: Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng v n đức rồi sau mới dùng vũ lực Như vậy, v n hóa được xem như là phương thức giáo hóa con ngư i

phương Tây, thuật ngữ v n hóa bắt nguồn từ tiếng Latinh Cultus Ngư i Anh, ngư i Pháp dùng từ culture, ngư i Nga dùng từ kultura Những từ này có ngh a

chung ban đầu là câ trồng hai h n, v hoang, trồng trọt Với sự biến đ i lớn

trong xã hội ở th i kỳ Phục hưng (thế k XIV -XVI), thuật ngữ v n hóa có thêm

ngh a phái sinh trừu tượng: tri thức tr tuệ giáo d c

Đề cập đến khái niệm v n hóa, n m 1871, nhà nhân học ngư i Anh E.B Tylor định ngh a: V n hóa hay v n minh hiểu theo ngh a dân tộc học bao quát của

nó, là một t ng thể phức hợp tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ n ng lực và tập quán nào mà con ngư i có được với tư cách là một thành viên của xã hội [Dẫn theo 134, tr.18]

Là một phức thể do con ngư i tạo ra, nguyên t ng giám đốc UNESCO Federico Mayor cho rằng: V n hóa là t ng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế k hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [15, tr.23]

1.3.1.2 Các quan niệm về văn h a ở Việt am

Việt Nam, việc nghiên cứu và giảng dạy v n hóa với tư cách là một môn khoa học ch mới bắt đầu từ những n m đầu thế k XX Ngư i đi tiên phong trong

việc nghiên cứu v n hóa là học giả Đào Duy Anh với công trình Việt am văn h a sử

Trang 38

cương (Quan Hải Tùng Thư ấn hành n m 1938) Đây được xem là công trình khai

sáng, mở đầu cho ngành v n hóa học ở Việt Nam Theo tác giả Đào Duy Anh, v n hóa là một kiểu thức sinh tồn của một xã hội Ông nói rõ thêm: Ngư i ta thư ng cho rằng v n hóa là ch những học thuật tư tưởng Có lẽ gì v n hóa của các dân tộc lại khác nhau đến thế Vì rằng cách sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau Chính

vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau vậy [3, tr.11]

Dựa trên mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại, Phan Ngọc định ngh a: V n hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc ngư i với cái thế giới thực tại ít nhiều bị cá nhân này hay tộc ngư i này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là v n hóa dưới hình thức d thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc ngư i, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc ngư i khác [85, tr.19-20]

Trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh cũng đã quan niệm về v n hóa như sau:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, loài ngư i mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, v n học, nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, n, ở và các phương thức sử dụng [82, tr.383]

Ngoài ra, chúng ta có thể thấy quan niệm về v n hóa của nhiều nhà nghiên cứu như: Phạm Đức Dương [33], Ngô Đức Thịnh [104], Trần Quốc Vượng [134]…

Như vậy, v n hóa là thuật ngữ có nhiều cách định ngh a, cách hiểu khác nhau Nhưng nói đến v n hoá, ngư i ta thư ng nhấn mạnh đến một thể thống nhất giữa cái có tính nhân loại và cái có tính đặc thù dân tộc

Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả trong và ngư i nước, để thuận

tiện cho việc thu thập dữ liệu và triển khai luận án, chúng tôi chọn quan niệm của tác

giả Trần Ngọc Thêm làm định hướng nghiên cứu Theo đó, V n hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngư i sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực ti n, trong sự tương tác giữa con ngư i với môi trư ng

tự nhiên và xã hội của mình [97, tr.25]

Trang 39

1.3.2 Mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa

Ngôn ngữ là một thành tố của v n hóa, không những vậy còn là thành tố quan trọng nhất trong việc truyền tải, lưu trữ v n hóa, mặc dù về mặt hình thành, ngôn ngữ và v n hóa đều là những thiết chế xã hội mang tính ước định [74, tr.8] Mặt khác, ngôn ngữ còn là phương tiện, điều kiện nảy sinh, phát triển các thành tố khác của v n hóa (lịch sử, l hội, tín ngưỡng, nghệ thuật, kiến trúc…) Không một

l nh vực nào trong đ i sống xã hội lại không liên quan gì đến ngôn ngữ

Mối quan hệ ngôn ngữ - v n hóa đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học, v n hóa học trong và ngoài nước quan tâm Theo Trần Ngọc Thêm, nội dung quan hệ ngôn ngữ và v n hóa được nhìn nhận có sự khác nhau, thể hiện qua ba th i kỳ: Th i

kỳ của Wilhelm von Humboldt (cuối thế k XIX) với luận điểm về tính thống nhất của ngôn ngữ và linh hồn dân tộc Th i kỳ của E Sapir và B Whorf (những n m

3 của thế k XX) với luận điểm về áp lực của cách chia cắt hiện thực đặc thù của mỗi ngôn ngữ đối với những ngư i nói bằng ngôn ngữ ấy Th i kỳ những n m 5 của Claude Lévi Strauss, ngư i đã vận dụng phương pháp cấu trúc của ngôn ngữ học để nghiên cứu mối quan hệ họ hàng và ngôn ngữ [96, tr.9]

E Sapir cũng đã ch ra mối quan hệ giữa hai nhân tố này như sau: Tôi không thể tin rằng v n hóa và ngôn ngữ có quan hệ nhân quả với nhau theo bất kỳ cái ngh a đúng thật nào V n hóa có thể định ngh a là cái mà xã hội làm và suy ngh Còn ngôn ngữ là một phương pháp đặc biệt để tư duy [39, tr.269]

Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu v n hóa đều nhận thấy mối quan hệ kh ng khít giữa ngôn ngữ và v n hóa Tác giả Nguy n Lai cho rằng:

Từ chiều sâu của một hoạt động không tách r i với sức sống của tư duy, ngôn ngữ được coi là một phương tiện duy nhất có khả n ng giải mã cho tất cả các loại hình nghệ thuật gắn với phạm trù v n hóa Chính cũng từ cơ sở của tiềm n ng này, ngôn ngữ có khả n ng tạo thành những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ rất t ng hợp, phản ánh một cách tương đối tập trung tiến trình phát triển bộ mặt v n hóa của cộng đồng [72, tr.7]

Trong khi đó, Đỗ Hữu Châu viết: Ngôn ngữ là sản phẩm của v n hóa, đồng

th i nó cũng là hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của v n hóa [26,

Trang 40

tr.5] Nguy n Đức Tồn cũng ch ra mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ - v n hóa, ngôn ngữ dân tộc và v n hóa dân tộc Tác giả đưa ra khái niệm bức tranh ngôn ngữ

về thế giới để nhấn mạnh sự khác nhau trong cách nhận thức về thế giới ở những dân tộc khác nhau, phụ thuộc vào từng quan niệm của mỗi dân tộc: Bức tranh ngôn ngữ về thế giới cũng chính là sự biểu hiện thế giới quan của một dân tộc được phác họa bằng chất liệu ngôn ngữ của dân tộc đó Do ngôn ngữ của một dân tộc luôn mang trong mình những đặc trưng v n hóa - dân tộc của ngư i bản ngữ, nên bức tranh được vẽ tất cũng phản ánh những đặc điểm của thực tế đ i sống v n hóa vật chất và đ i sống v n hóa tinh thần của ngư i bản ngữ [114, tr.92] Nói về mối quan hệ này, Cao Xuân Hạo cũng đã khẳng định: Những ảnh hưởng của các nhân

tố v n hóa đối với cấu trúc của một ngôn ngữ là điều khó có thể hồ nghi và đến lượt

nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể gợi cho ta những điều hữu ích về cách cảm ngh của ngư i bản ngữ và từ đấy về nền v n hóa của họ [52, tr.289]

Như vậy, ngôn ngữ và v n hóa có mối quan hệ mật thiết, khó tách r i, được hình thành và phát triển cùng với tư duy nhận thức của con ngư i Điểm chung mà

mà các nhà nghiên cứu đều nhận thấy ngôn ngữ là sản phẩm, là thành tố quan trọng nhất của v n hóa Đồng th i, ngôn ngữ truyền tải, lưu giữ, phản ánh sự tồn tại của các thành tố khác của v n hóa Ngược lại, v n hóa và những yếu tố v n hóa dân tộc đều được chia s và biểu hiện qua ngôn ngữ V n hóa góp phần làm cho ngôn ngữ phát triển, đa dạng, phong phú và giá trị Một dân tộc bị đồng hoá về ngôn ngữ thì cũng không còn khả n ng duy trì v n hoá của mình Ngược lại, sự biến đối của v n hoá góp phần hoàn thiện ngôn ngữ Mối quan hệ ngôn ngữ - v n hoá còn thể hiện ở chỗ, khi hai cộng đồng khác nhau về v n hoá, tiếp xúc với nhau và cùng phát triển các hệ thống chính trị và v n hoá giống nhau thì hiện tượng giao thoa ngôn ngữ -

v n hoá sẽ xảy ra theo những cách như mô phỏng, bắt chước và làm giảm đi sự khác biệt

Từ mối quan hệ ngôn ngữ - v n hoá như đã phân tích ở trên, cho phép chúng tôi lấy làm cơ sở để tiếp cận nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa

từ góc độ ngôn ngữ - v n hóa

Ngày đăng: 18/01/2020, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w