Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn So sánh cấu trúc và ngữ nghĩa trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại được tiến hành nghiên cứu với các nội dung: Cơ sở lý thuyết, đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Việt, đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại, đồng dị của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
\[
LIÊU NHỮ UY
SO SÁNH CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Chúng tơi xin trân trọng bày tỏ lịng biết ơn chân thành và sâu sắc đến với Tiến sĩ Nguyễn Đình Phức, người thầy đã tận tình và kỹ lưỡng chỉ dạy tơi từ những bước đầu tiên đến khi hồn thành luận văn này
Chúng tơi cũng xin trân trọng cảm ơn tất cả các Quý thầy cơ trong hội đồng bảo vệ luận văn, các thầy cơ đã đĩng gĩp thêm nhiều ý kiến quý báu cho luận văn, cũng như bổ sung rất nhiều kiến thức cho bản thân tơi
Nhân đây chúng tơi cũng xin gởi lời cảm ơn đến phịng Sau đại học, Khoa Văn học và Ngơn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tơi học tập và hồn thành luận văn này
Đồng Nai, tháng 02 năm 2009
Tác giả luận văn
Liêu Nhữ Uy
Trang 3QUY ƯỚC TRÌNH BÀY LUẬN VĂN
Trong luận văn này chúng tôi có sử dụng một số ký hiệu, chữ viết tắt như sau:
Trạng ngữ, được viết tắt là: TrN
Tất cả trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán đều dùng hình thức bôi đen, in đậm
Trang 4MỤC LỤC
Dẫn luận
Tính cấp thiết của đề tài 7
Lịch sử vấn đề 8
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu 12
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 13
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT I Khái niệm trạng ngữ trong ngôn ngữ học 15
II Sự cần thiết phải so sánh trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại 21
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT I Thuật ngữ “trạng ngữ” trong tiếng Việt 27
II Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Việt 33
1 Ở vị trí đầu câu 35
2 Ở vị trí cuối câu 35
3 Ở vị trí chen giữa chủ ngữ và vị ngữ 33
III Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Việt 37
1 Phân loại trạng ngữ theo đặc điểm cấu tạo 37
2 Phân loại trạng ngữ theo nội dung (trạng ngữ xét trên bình diện nghĩa học) 38
a Trạng ngữ chỉ thời gian 39
Trang 5b Trạng ngữ chỉ không gian – nơi chốn 40
c Trạng ngữ chỉ tình huống 41
d Trạng ngữ chỉ cách thức – phương tiện 41
e Trạng ngữ chỉ nguyên nhân 41
f Trạng ngữ chỉ mục đích 42
g Trạng ngữ chỉ điều kiện/ giả thiết 42
h Trạng ngữ chỉ ý nhượng bộ 43
i Trạng ngữ bổ sung ý nghĩa so sánh 43
CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI I Thuật ngữ “trạng ngữ” trong tiếng Hán hiện đại 44
II Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại 49
1 Ở vị trí trước chủ ngữ 53
2 Ở vị trí chen giữa chủ ngữ và vị ngữ 54
III Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại 57
1 Trạng ngữ có tính chất hạn chế (限制性状语) 57
a Trạng ngữ chỉ thời gian (时间状语) 58
b Trạng ngữ chỉ nơi chốn (处所状语) 58
c Trạng ngữ chỉ trình độ (程度状语) 58
d Trạng ngữ chỉ đối tượng (对象状语) 59
e Trạng ngữ chỉ mục đích (目的状语) 59
f Trạng ngữ chỉ phạm vi (范围状语) 60
2 Trạng ngữ có tính chất miêu tả (描写性状语) 60
a Trạng ngữ miêu tả người thực hiện động tác (描写动作者的状语) 60
b Trạng ngữ miêu tả động tác (描写动作的状语) 61
Trang 6CHUƠNG IV
ĐỒNG DỊ CỦA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
I Bổ sung và tu sức (bao hàm vấn đề vị trí của trạng ngữ) 63
II Nhìn từ góc độ phân loại (bao hàm vấn đề phạm vi của trạng ngữ) 71
III Nhìn từ góc độ cấu trúc 77
IV Nhìn từ góc độ trật tự sắp xếp 81
V Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa 84
KẾT LUẬN 89
NGUỒN NGỮ LIỆU VĂN HỌC 93
A - Nguồn ngữ liệu tiếng Việt 93
B - Nguồn ngữ liệu tiếng Hán 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
A - Tài liệu tiếng Việt 96
B - Tài liệu tiếng Hán 99
C - Tài liệu tiếng Anh 103
Trang 7DẪN LUẬN
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới với tốc độ phát triển khá nhanh, nên việc giao lưu, thông tin liên lạc với nhau cũng trở nên đa dạng
và phức tạp Một trong các phương tiện quan trọng dùng để giao tiếp với nhau
đó là ngôn ngữ của con người Ngôn ngữ là một trong những công cụ quan trọng nhất trong cuộc sống của con người, con người có thể tiến bộ được chính nhờ vào sự phát triển và tồn tại của ngôn ngữ Nếu loài người không có ngôn ngữ thì không thể xuất hiện sự giao tiếp với nhau giữa người với người
và sự giao thoa với nhau về văn hoá, cũng như những kiến thức của nhân loại Chính ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng như vậy, nên ngày nay việc học ngoại ngữ trở thành một nhu cầu cấp thiết và bức bách đối với mọi người thuộc thế hệ chúng ta
Hiên nay đã có nhiều sinh viên Việt Nam theo học tiếng Hán hiện đại tại các trường Đại học, một số lượng lớn nhân sự cũng như cán bộ công nhân viên theo học tiếng Hán hiện đại tại các trung tâm ngoại ngữ Trong quá trình học tập, bên cạnh những mặt thuận lợi, học viên cũng gặp phải không ít khó khăn về nhiều mặt, trong đó có vấn đề về mặt ngữ pháp Chúng ta đều biết, tổ chức cú pháp của một câu tiếng Hán ngoài ba thành phần chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, còn có hai thành phần khác hết sức quan trọng, đó là thành phần tu sức (修饰语) và bổ sung (补充语) Thành thành tu sức bao gồm trạng ngữ và định ngữ, thành thành bổ sung bao gồm các loại bổ ngữ; như bổ ngữ chỉ khả năng,
bổ ngữ chỉ trình độ, bổ ngữ chỉ xu hướng, bổ ngữ chỉ kết quả, bổ ngữ chỉ số lượng,….Trong các thành phần nêu trên, thành phần trạng ngữ có vai trò không kém phần quan trọng trong việc tổ chức cấu trúc câu Bản thân tôi
Trang 8trong suốt quá trình học tập ở bậc Đại học cũng đã từng luôn lẫn lộn giữa trạng ngữ và định ngữ, luôn lờ mờ về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa của trạng ngữ và bổ ngữ trong câu, đặc biệt đối với thành phần trạng ngữ, không thể phân biệt một cách lý tính đâu là trạng ngữ miêu tả phương thức tiến hành của động tác, đâu là trạng ngữ miêu tả trạng thái tâm lý của người thực hiện động tác
Theo thống kê của hai học giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn
Hiệp trong Thành phần câu tiếng Việt, truyện ngắn Hết một buổi chiều (in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Hà Nội, 1981), có lượng câu
mang trạng ngữ chiếm 30% tổng số câu có trong tác phẩm①
Tác phẩm Bối ảnh《背影》của nhà văn Trung Quốc hiện đại Chu Tự Thanh 朱自清, qua
khảo sát và thống kê, chúng tôi phát hiện, có tới 94,2% trên tổng số câu văn thuộc tác phẩm có sử dụng trạng ngữ② Từ đây chúng tôi có thể thấy được vai trò quan trọng của trạng ngữ trong việc biểu đạt ngôn ngữ trong tiếng Hán hiện đại cũng như tiếng Việt Cũng chính bởi nguyên nhân nói trên, chúng tôi
đã mạnh dạn chọn đề tài “ So sánh cấu trúc và ngữ nghĩa trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại” làm đề tài cho luận văn mình
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1 Lịch sử nghiên cứu trạng ngữ trong tiếng Việt
Trạng ngữ là một vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Kể từ khi hai chữ “trạng ngữ” được chính thức ra đời và đưa vào
①
Theo thống kê của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong Thành phần câu tiếng Việt, truyện ngắn Hết một buổi chiều (in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Hà Nội, 1981), có lượng câu mang trạng ngữ chiếm 30% tổng số câu (Xem Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh
Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr.321
②
Hán ngữ cao cấp giáo trình《汉语高级教程》, tập 1, Tập thể tác giả Đại học Bắc Kinh, Bắc
Kinh đại học xuất bản xã, 2002, tr 1-3
Trang 9sử dụng, cho đến nay hầu như không một bộ giáo trình ngữ pháp tiếng Việt nào không đề cập đến thành phần này Mặc dù quan niệm về thành phần trạng ngữ trong tiếng Việt, giữa các học giả, đôi khi còn nảy sinh những bất đồng nhất định, nhưng chung quy đều thống nhất coi nó là thành phần phụ quan trọng, bổ sung ý nghĩa cho sự tình được biểu đạt trong câu Thành tựu nghiên cứu về trạng ngữ phần lớn được trình bày trong các công trình sau:
Khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Tu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1960 Giáo trình Việt ngữ, Hoàng Tuệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962
Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1964
Ngữ pháp tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980
Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại, Đinh Văn Đức, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986
Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004 Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà
Nội, 2002
Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt (cấu trúc – nghĩa – công dụng), Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2007
2 Lịch sử nghiên cứu trạng ngữ trong tiếng Hán
Thuật ngữ “状语 zhuàng yŭ” (phiên âm Hán Việt của hai chữ này là: trạng ngữ) trong tiếng Hán được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc sử dụng tương đối muộn Phải mãi đến cuối thế kỷ 19, khi Mã Kiến Trung, một trí thức Tây học, từng có thời gian dài du học tại Pháp, thông hiểu nhiều thứ
Trang 10tiếng như Pháp, Anh, Hy Lạp, La Tinh,… đã đem hệ thống ngữ pháp Tây
phương áp dụng vào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, và cho ra đời Mã thị văn
thông《马氏文通》, bộ ngữ pháp đầu tiên, xuất bản năm 1898 tại Trung
Quốc, thì thuật ngữ “trạng ngữ” mới chính thức được sử dụng Từ những năm
50 của thế kỷ 20, thuật ngữ “trạng ngữ” bắt đầu được sử dụng phổ biến và ngày càng nhận được sự chú ý nghiên cứu từ nhiều nhà Hán ngữ học, đặc biệt
là từ sau Đại cách mạng văn hoá kết thúc đến nay Thành tựu nghiên cứu về trạng ngữ trong câu tiếng Hán hiện đại của các nhà Hán ngữ ngữ pháp học nhìn chung được thể hiện trong một số công trình sau đây:
《对外汉语教学使用语法》,卢福波著,北京,北京语言文化大学出版社1997 年版。
Trang 11Hán đều hết sức to lớn, vừa theo chiều rộng lẫn chiều sâu Nhưng với hai hệ thống ngôn ngữ có lịch sử giao lưu lâu đời như tiếng Việt và tiếng Hán, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu so sánh một cách hệ thống, điều này không chỉ gây bất lợi cho việc dạy và học ngoại ngữ, cho việc nghiên cứu, thậm chí còn gây trở ngại đến quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá của cả hai quốc gia, hai dân tộc
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về phạm vi nghiên cứu của luận văn, như chúng ta thấy, tuy tên đề tài này chỉ nhắc đến hai khía cạnh cấu trúc và ngữ nghĩa của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, nhưng trên thực tế, có thể nói, đề tài này đồng thời có thể hiểu là nghiên cứu so sánh về tất cả mọi mặt của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại Bởi vì xét mặt “cấu trúc” chính là xét mặt hình thức của trạng ngữ, mà mặt hình thức thì không chỉ giới hạn ở khía cạnh nó (trạng ngữ) được tổ hợp bởi những thành tố nào, mà phải xét luôn nó
có vị trí ra sao trong câu, nó có phạm vi sử dụng trong câu ra sao, nó được sắp xếp theo trật tự ra sao, phân loại ra sao….Một sự vật hiện tượng bất kỳ nói cho cùng không ngoài hai mặt nội dung (nghĩa) và hình thức, thế nên việc mở rộng phạm vi nghiên cứu như chúng tôi đã đề cập là hoàn toàn hợp lý, không
vi phạm bất cứ một quy chuẩn nào
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như đã nêu, luận văn của chúng tôi ngoài phần trình bày cơ sở lý thuyết, trình bày những kiến thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu so sánh Ở chương so sánh, chúng tôi tập trung xoáy sâu vào những điểm tương đồng và khu biệt giữa trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại ở một số khía cạnh sau:
So sánh đặc trưng về chức năng của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
So sánh vị trí của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
Trang 12So sánh phạm vi sử dụng của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
So sánh vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
So sánh kết cấu của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
So sánh trật tự sắp xếp của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
So sánh đặc trưng ngữ nghĩa của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp sau:
Tổng hợp những đặc trưng cơ bản nhất của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán, làm cơ sở để so sánh
Thống kê nguồn ngữ liệu liên quan đến trạng ngữ thuộc hai hệ thống tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
Trên cơ sở nguồn ngữ liệu đã thống kê, tiến hành phân tích, so sánh Luận văn được trình bày theo cả hai hướng diễn dịch và quy nạp
2 Tư liệu nghiên cứu
Hệ thống tư liệu mà luận văn sử dụng, chủ yếu đến từ các nguồn sau: Các sách, báo, tạp chí, luận văn có nội dung liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
Các tác phẩm văn học thuộc hai hệ thống ngôn ngữ Việt – Hán được xuất bản chính thức
Những quan sát của cá nhân về những điểm tương đồng và dị biệt của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
Trang 13V Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Ý nghĩa khoa học
Với đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu đã được xác định ở trên,
có thể nói, đây là đề tài đầu tiên đem trạng ngữ thuộc hai hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại so sánh với nhau Luận văn này được trình bày một cách chuẩn mực, tỉ mỉ và rõ ràng Những kết quả mà luận văn này đạt được, có thể coi là những thành quả bước đầu trong công tác nghiên cứu so sánh tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, đồng thời đây cũng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho ngành ngữ học so sánh, đặc biệt là so sánh tiếng Việt
và tiếng Hán hiện đại
2 Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp những hiểu biết cụ thể cũng như những điểm tương đồng và khác biệt của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, không chỉ giúp ích cho quá trình giao tiếp hàng ngày, xây dựng chiến lược dạy và học tiếng (bao hàm cả tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại) một cách hiệu quả và tiết kiệm hơn Ngoài ra, công trình này ở phạm vi xa hơn, còn thúc đẩy tiến trình tiếp xúc ngôn ngữ và giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc
VI BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này được trình bày theo bố cục như sau:
Dẫn luận
Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử vấn đề
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 14Phần nội dung chính của luận văn bao gồm có 4 chương:
Chương một: Cơ sở lý thuyết
I Khái niệm trạng ngữ trong ngôn ngữ học
II Sự cần thiết phải so sánh trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
Chương hai: Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Việt
I Thuật ngữ “trạng ngữ” trong tiếng Việt
II Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Việt
III Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Việt
Chương ba : Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại
I Thuật ngữ “trạng ngữ” trong tiếng Hán hiện đại
II Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại
III Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại
Chương bốn: Đồng dị của trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
I Bổ sung và tu sức (bao hàm vấn đề vị trí của trạng ngữ)
II Nhìn từ góc độ phân loại (bao hàm vấn đề phạm vi sử dụng của trạng ngữ)
III Nhìn từ góc độ cấu trúc
IV Nhìn từ góc độ trật tự sắp xếp
V Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa
Kết luận
Nguồn ngữ liệu văn học
Tài liệu tham khảo
Trang 15CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I KHÁI NIỆM TRẠNG NGỮ TRONG NGÔN NGỮ HỌC
Thuật ngữ “trạng ngữ” từ lâu đã hết sức quen thuộc đối với các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là các học giả nghiên cứu ngữ pháp thuộc hệ thống các ngôn ngữ cụ thể Trong tiếng Anh, “trạng ngữ” được gọi là “adverbials”, “adverbial modifier” hoặc “adverbial adjunct”; được gọi là “circonstant” hoặc
“complément circonstanciel” trong tiếng Pháp và được gọi là
“oбctoЯteπbctbo” trong tiếng Nga① Học giả Hadumod Bussmann trong cuốn
thuật ngữ từ điển ngôn ngữ học có tên Routledge dictionary of language and
linguistics đã định nghĩa “trạng ngữ” như sau: “Collective term for several
syntactic functions with various semantic realizations; an adverbial characterizes a verbal action, process, or state of affairs with respect to time, place, kind, manner, etc.②
” Nghĩa là: “Tập hợp các điều kiện cho tất cả các chức năng cú pháp với sự nhận thức các nghĩa khác nhau, đặc điểm của trạng ngữ một hành động nói hoặc phát biểu một vấn đề với các mong muốn thời gian, nơi chốn, loại, cách thức,…” Nhóm các nhà ngôn ngữ học trong
Longman grammar of spoken and written English lại đem “trạng ngữ” định
nghĩa như sau: “Adverbials are elements of clauses with three major functions:
to add circumstantial information about the proposition in the clause, to express speaker/ writer stance towards the clause, or to link the clause (or
Routledge dictionary of language and linguistics, Hadumod Bussmann, London and New York,(
prined in Great Britain ), 1995, tr.8-9
Trang 16some part of it) to some other unit of discourse.①” Nghĩa là: “Trạng ngữ là những cụm từ thuộc cấu trúc câu với ba chức năng chính: bổ sung những thông tin về tình huống cho sự tình được nêu trong câu; biểu đạt phương thức,
tư thế của người nói/người viết trong câu; hoặc nối kết câu (hoặc một số bộ phận thuộc câu) với những bộ phận cấu thành khác thuộc văn bản” Với ba chức năng chính nêu trên, theo nhóm các tác giả nói trên, trạng ngữ được phân chia thành ba loại lớn: trạng ngữ tình huống (circumstance adverbials), trạng ngữ phương thức (stance adverbials) và trạng ngữ liên hệ (linking adverbials) Ví dụ:
a) On many large farms, farm workers live in tied cottages (Ở rất nhiều nông trại lớn, người làm công ở trong những ngôi nhà do chính các chủ nông trại cung cấp.)
b) You should always speak naturally (Bạn nên luôn giữ sự tự nhiên
trong khi nói chuyện.)
c) Penrose gambled heavily and, as a result, lost a lot of money (Penrose đặt cược quá lớn, kết quả là, (hắn) đã thua mất rất nhiều tiền.)
Những chữ bôi đen thuộc ba ví dụ nêu trên đều làm thành phần trạng ngữ
của câu Ở ví dụ a, câu xuất hiện hai trạng ngữ chỉ nơi chốn là “on many large farms” và “in tied cottages” xuất hiện ở đầu và cuối câu; ở ví dụ b,
“naturally” đóng vai trò một trạng ngữ chỉ phương thức của động tác “speak”;
ở ví dụ c, “as a result” là trạng ngữ mang chức năng nối kết nội dung giữa hai
vế câu Cũng cần nói rằng, tên gọi của ba loại trạng ngữ nói trên chỉ mang tính khái quát, vì trong mỗi loại lại tiếp tục phân ra nhiều loại nhỏ hơn Ví dụ, nội thuộc trạng ngữ tình huống (circumstance adverbials) còn có trạng ngữ chỉ nơi chốn, trạng ngữ chỉ thời gian, trạng ngữ chỉ tần xuất, trạng ngữ chỉ nguyên
①
Longman Grammar of Spoken and Written English, Douglas Biber, Stig Johansson, Geoffrey
Leech, Susan Conrad, Edward Finegan, Foreign Language Teaching and Research Press, Peiking,
2000, tr.762
Trang 17nhân, kết quả, điều kiện, trình độ, v.v
Thuật ngữ “状语 zhuàng yŭ” (phiên âm Hán Việt của hai chữ này là: trạng ngữ Để tiện theo dõi, dưới đây chúng tôi chỉ sử dụng hai chữ “trạng ngữ”) trong tiếng Hán được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc sử dụng tương đối muộn Phải mãi đến cuối thế kỷ 19, khi Mã Kiến Trung, một trí thức Tây học, từng có thời gian dài du học tại Pháp, thông hiểu nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Hy Lạp, La Tinh,… đã đem hệ thống ngữ pháp Tây phương áp
dụng vào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, và cho ra đời Mã thị văn thông《马
氏文通》, bộ ngữ pháp đầu tiên, xuất bản năm 1898 tại Trung Quốc, thì thuật
ngữ “trạng ngữ” mới chính thức được sử dụng Trong Mã thị văn thông《马
氏文通》, liên quan đến hai chữ “trạng ngữ”, Mã Kiến Trung định nghĩa như sau: “凡状字或名字,集至两字或三四字,以记时记处者,往往自成一顿,无所名也,名之状语。Phàm trạng tự hoặc danh tự, tập chí lưỡng tự hoặc tam tứ tự, dĩ ký thời ký xứ giả, vãng vãng tự thành nhất đốn, vô sở danh
dã, danh chi trạng ngữ.” Nghĩa là: “Phàm hai ba hoặc ba bốn trạng tự (chỉ phó
từ đơn âm tiết) hoặc danh tự (chỉ danh từ đơn âm tiết) đứng gần nhau, dùng để chỉ thời gian, nơi chốn, thường dùng dấu ngắt để tạo thế độc lập với các thành phần khác, chúng chưa từng có tên gọi, nay ta gọi chúng là trạng ngữ.①” Ở đây, cũng cần nói rõ rằng, tuy Mã Kiến Trung đã làm công việc gọi tên trạng ngữ, nhưng xét trên quan điểm ngữ pháp hiện đại, thuật ngữ “trạng ngữ” theo quan điểm của ông vẫn không khác “trạng tự”, một thuật ngữ mà ông quen dùng, và nét khu biệt giữa cả hai chỉ là trạng ngữ có sự tăng tiến về số chữ mà thôi Trạng tự thì chỉ có duy nhất một chữ, còn trạng ngữ thì có hai chữ (tự) trở lên, xét những trạng ngữ mà ông nêu ra, như “於是 ư thị”(thế là), “今也
①
Mã thị văn thông độc bản 《马氏文通读本》, Lã Thúc Tương, Vương Hải Phấn biên, Thượng
Hải Giáo dục xuất bản xã, 2000, tr.670 – 671
Trang 18kim dã” (nay, hiện nay, ngày nay), “虽然 tuy nhiên”, “始也 thuỷ dã” (ban đầu), “ 久 之 cửu chi” (lâu dần, rất lâu sau), “ 不 然 bất nhiên” (nếu không),…có thể đem chúng cùng “trạng tự” quy chung vào khái niệm trạng từ hoặc phó từ Nhìn từ góc độ ý nghĩa, khái niệm “trạng ngữ” mà Mã Kiến Trung nêu ra nhìn chung chỉ dừng lại ở hai nét nghĩa thời gian và nơi chốn, điểm này so sánh với tập hợp đa dạng các nét nghĩa của thuật ngữ trạng ngữ theo quan niệm của ngữ pháp hiện đại, rõ ràng vẫn còn một khoảng cách khá
xa
Trương Di Huệ trong Cổ Hán ngữ ngữ pháp xuất bản ở Trung Quốc vào
năm 1957, đem trạng ngữ cùng định ngữ xếp chung vào thành phần tu sức của câu, đồng thời đưa ra định nghĩa như sau: “副词外,名词、代词、形容词、动词、数量词、词组都可以作状语,以修饰动词为主,但也修饰形容词或其他副词。Phó từ ngoại, danh từ, đại từ, hình dung từ, động từ, số lượng
từ, từ tổ đô khả dĩ tác trạng ngữ, dĩ tu sức động từ vi chủ, đãn dã tu sức hình dung từ hoặc kỳ tha phó từ.” (Ngoài phó từ, danh từ, đại từ, tính từ, động từ,
số lượng từ, từ tổ đều có thể làm trạng ngữ, chủ yếu dùng để tu sức cho động
từ về mặt ý nghĩa, nhưng đồng thời cũng có thể tu sức cho tính từ hoặc một số phó từ khác①
) Như vậy, đặc trưng cơ bản của thành phần trạng ngữ trong câu tiếng Hán đã được định hình Nhưng định nghĩa của Trương Di Huệ dù sao vẫn có xuất phát điểm từ tiếng Hán cổ đại, một đối tượng có khoảng cách nhất định so với đối tượng mà luận văn này chọn so sánh
Nhà ngữ pháp học Trung Quốc Lư Phúc Ba trong bộ Đối ngoại Hán ngữ
Trang 19ngữ” dưới góc nhìn thực dụng như sau: “状语是用来修饰动词、形容词的,在句中是谓语部分的修饰成分。Trạng ngữ thị dụng lai tu sức động từ, hình dung từ đích, tại cú trung thị vị ngữ bộ phận đích tu sức thành phần.” (Trạng ngữ là thành phần chuyên dùng tu sức cho động từ và tính từ, nó là thành phần tu sức cho vị ngữ trong câu.①) Ở đây, Lư Phúc Ba đồng thời nêu ra bốn câu mang trạng ngữ như sau:
a) 他始终不放弃自己的信念。Anh ấy không bao giờ từ bỏ niềm tin của mình
b) 她耐心地给我解释着。Cô ấy đang nhẫn nại giải thích cho tôi (Cô
ấy đang giải thích cho tôi một cách hết sức nhẫn nại.)
c) 这里的老百姓特别热情、特别好客。Người dân nơi đây cực kỳ nhiệt tình, cực kỳ hiếu khách
d) 每当我遇到困难的时候,他总是热情地帮助我。Mỗi khi tôi gặp phải khó khăn, anh ấy luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi (Câu này cũng có thể chuyển dịch thành: anh ấy luôn giúp đỡ tôi một cách hết sức nhiệt tình.)
Những chữ được bôi đen trong bốn ví dụ trên, theo quan điểm của ngữ pháp học hiện đại tiếng Hán đều thuộc thành phần trạng ngữ Ví dụ a có “始
终”, ví dụ b có “耐心地” và “给我”, ví dụ c có hai trạng ngữ tương đồng “特
别”, ví dụ d với 03 trạng ngữ “每当我遇到困难的时候”, “总是” và “热情地” Như vậy, với 08 tổ hợp trạng ngữ xuất hiện trong 04 câu, có thể thấy rõ tầm quan trọng của trạng ngữ trong quá trình biểu đạt ngôn ngữ ở tiếng Hán Trong tiếng Việt, không rõ thuật ngữ “trạng ngữ” bắt đầu được sử dụng
①
Đối ngoại Hán ngữ giáo học thực dụng ngữ pháp《对外汉语教学实用语法》, Lư Phúc Ba soạn,
Nxb Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc Kinh, 1997, tr.181
Trang 20khi nào, cũng không rõ mối quan hệ ngữ âm của nó với thuật ngữ “状语zhuàng yŭ” (phiên âm Hán Việt: trạng ngữ) được sử dụng trong tiếng Hán ra
sao, nhưng xét bộ Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim, sách do Hội Khai
Trí Tiến Đức xuất bản lần đầu năm 1936, hai chữ “trạng ngữ” vẫn chưa xuất hiện, nó vẫn được tác giả đặt trong phạm vi của túc từ ① và một bộ phận thuộc khái niệm “trạng tự”② Học giả Nguyễn Văn Tu trong Khái niệm ngôn ngữ
học cho rằng: “Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có ý nghĩa biểu thị đặc
điểm của hành động, cách thức hành động, chỉ định hành động xảy ra trong tình huống và điều kiện nào.③” Cố Giáo sư Nguyễn Kim Thản trong Nghiên
cứu về ngữ pháp tiếng Việt, 2 tập, do Nxb Khoa học Xã hội xuất bản lần đầu
năm 1963 định nghĩa trạng ngữ như sau: “Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu, biểu thị các ý nghĩa thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái Trạng ngữ có khả năng biến đổi về vị trí trong câu
tự do hơn các thành phần khác.④”
Như vậy, dưới bình diện kết học (syntactics) [tức câu được xem xét về cấu trúc hình thức như các thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ,…) và mối quan hệ giữa các thành phần câu] kết hợp với bình diện nghĩa học (semantics), trong đại đa số các hệ thống ngôn ngữ Á-Âu, trạng ngữ nhìn chung đều được coi là thành phần phụ của câu, bổ sung hoặc tu sức ý nghĩa về các mặt địa điểm, thời gian, cách thức, phương tiện, tình hình, nguyên nhân, mục đích,… cho sự tình được đề cập trong câu
Dưới bình diện dụng học (pragmatics) (trong ngôn ngữ học được gọi là
Trang 21bình diện ngữ dụng), các học giả ngữ pháp chức năng trong quá trình nghiên cứu tuy đặc biệt chú trọng cấu trúc Đề - Thuyết của câu, nhưng vẫn thừa nhận tầm quan trọng của trạng ngữ trong câu, cụ thể là, cố học giả Cao Xuân Hạo khi đem lý luận của ngữ pháp chức năng vào nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt, đã đem trạng ngữ liệt cùng với phần đề và phần thuyết, cả ba đều thuộc thành phần cấu trúc cú pháp cơ bản của câu
II SỰ CẦN THIẾT PHẢI SO SÁNH TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Trước hết, chúng ta hãy quay trở lại xem xét một số ví dụ đã nêu và phân tích ở trên Ví dụ, câu tiếng Anh:
On many large farms, farm workers live in tied cottages
Câu này trong tiếng Việt có thể chuyển dịch thành:
Ở rất nhiều nông trại lớn, người làm công ở trong những ngôi nhà do chính các chủ nông trại cung cấp
Trong tiếng Hán có thể viết thành:
在许多大农场里,农业工人居住在农场主提供的农舍里。
Có thể nói, ba câu trên đây đều có nội dung và mô thức kết cấu hoàn toàn giống nhau, thế nhưng khi các nhà ngữ pháp thuộc mỗi hệ thống ngôn ngữ đem các thành phần thuộc câu quy loại đã làm nảy sinh sự khác biệt Nếu như
“on many large farms”, “in tied cottages” trong tiếng Anh và “ở rất nhiều nông trại lớn”, “trong những ngôi nhà do chính các chủ nông trại cung cấp” trong tiếng Việt đều được coi là trạng ngữ, thì trong tiếng Hán, câu nói
trên chỉ có duy nhất một trạng ngữ chỉ địa điểm nơi chốn đứng đầu câu “在许多大农场里”, còn cấu trúc được hình thành trên cơ sở giới từ “tại 在” và tổ hợp danh từ đứng sau “农场主提供的农舍里” mang chức năng bổ sung ý nghĩa cho động từ vị ngữ “居住” về mặt nội dung lại được quy vào phạm vi
Trang 22của bổ ngữ
Lại xét câu tiếng Anh:
Public transport isn’t always very reliable
Câu này trong tiếng Việt và tiếng Hán có thể chuyển dịch thành:
Hệ thống giao thông công cộng không luôn được tin cậy cho lắm
公共交通并不总是很可靠的。
Câu tiếng Anh nói trên gồm ba phó từ “not”, “always”, “very”, đồng thời
cũng được coi là ba trạng ngữ trong câu Ba thành phần này khi chuyển dịch sang tiếng Hán vẫn được giữ nguyên với “并不”, “总是”, “很”, chỉ có ở tiếng
Việt, tuy vẫn dịch rõ ba phó từ nói trên “không”, “luôn”, “cho lắm”, nhưng
do thói quen biểu đạt ngôn ngữ, vị trí ban đầu của trạng ngữ trong câu tiếng Anh đã bị dịch chuyển Điều đáng nói ở đây vẫn là vấn đề quy loại các thành phần thuộc câu của các nhà ngữ pháp Đối với câu này, nếu các nhà ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Hán thống nhất ở việc quy loại, tức đều đem ba phó từ nói trên quy về trạng ngữ, thì các nhà ngữ pháp tiếng Việt lại có cách xử lý khác,
họ chỉ xem chúng là phụ từ (phó từ, từ kèm), không thực hiện chức năng gọi tên (định danh), mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó mà thôi Xét
về vị trí trong câu, chúng luôn đi kèm với danh từ, động từ, tính từ để biểu thị những ý nghĩa kèm theo① Trường hợp trên đây xảy ra tương tự với câu tiếng Hán:
这里的老百姓特别热情、特别好客
Câu này trong tiếng Việt có thể chuyển dịch thành:
Người dân nơi đây cực kỳ/hết sức/rất nhiệt tình, cực kỳ/hết sức/rất hiếu
①
Xem Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt (cấu trúc – nghĩa – công
dụng), Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2007, tr.58-62 Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Thị
Ly Kha, Nxb Giáo dục, 2008, tr.87
Trang 23khách
Ở câu tiếng Hán, hai phó tứ “特别” đứng trước hai tính từ vị ngữ “热情”
và “好客” với chức năng hạn chế phạm vi nghĩa cho cả hai, xét ở phạm vi câu, các nhà ngữ pháp học tiếng Hán đều thống nhất quan điểm xếp nó vào loại trạng ngữ hạn chế Cách xử lý này có thể nói là hoàn toàn khác so với quan niệm của các nhà ngữ pháp học tiếng Việt, vì với câu nói trên, họ chỉ cho
những từ như “cực kỳ/hết sức/rất” là phụ từ hay từ kèm
Qua một số thí dụ nêu trên, có thể thấy rất rõ, nếu không tiến hành nghiên cứu, so sánh, những nét tương đồng và khác biệt giữa trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán sẽ không được phát hiện, việc này đối với một người bình thường thì hoàn toàn không sao, nhưng đối với một người học tiếng Hán, một giáo viên dạy tiếng Hán, một chuyên gia chuyên hoạch định vấn đề khảo thí tiếng Hán, hoặc một nhà ngôn ngữ học, một thương gia, một nhà ngoại giao luôn hoạt động trong môi trường tiếng Hán thì lại hoàn toàn khác Robert
Lado trong cuốn Linguistics across cultures (Ngôn ngữ qua các nền văn hoá)
cho rằng, một sinh viên khi mới học tiếng nước ngoài sẽ nhận thấy một số điểm rất dễ và một số điểm rất khó Những yếu tố giống với ngôn ngữ bản địa của anh ta thì sẽ đơn giản, còn những yếu tố khác thì thật là khó khăn Thế nên, người giáo viên trước khi tiến hành giảng dạy cần thiết phải tiến hành so sánh ngoại ngữ mà mình sẽ dạy với ngôn ngữ bản địa của sinh viên, để hiểu
rõ hơn những vấn đề phức tạp thực sự trong việc học ngoại ngữ đồng thời chọn ra cách giảng dạy phù hợp đối với sinh viên Trong quá trình giảng bài cho sinh viên, giáo viên sẽ luôn phải đối mặt với yêu cầu chẩn đoán nhanh, chính xác những vấn đề đang gây khó khăn cho sinh viên Nhiều thông tin nhầm và những cách giải thích sai lệch cũng có thể được cung cấp cho sinh viên nhằm giúp họ khắc phục những khiếm khuyết của chính mình Đối với bất kỳ một mẫu thức mà giáo viên đem tới cho sinh viên, ông ta không những
Trang 24phải biết rõ mẫu thức ấy là gì, mà còn phải biết chính xác đặc điểm nào trong mẫu thức đó gây khó khăn cho sinh viên và đặc điểm khác nhau nào mà họ thay thế có thể dẫn đến sự gợi ý đơn giản có thể giải quyết được tình trạng khúc mắc này Trên cơ sở những điều như trên, Robert Lado khuyến cáo các giáo viên chuyên dạy ngoại ngữ rằng, ngoài những thao tác cần thiết trước và trong quá trình giảng dạy, họ cần phải tiến hành đánh giá nội dung ngôn ngữ
và văn hoá của sách giáo khoa, xem chúng có thật sự phù hợp với đối tượng giảng dạy của mình hay không, người giáo viên đồng thời cũng có thể tự soạn
ra cho mình những tài liệu giảng dạy mới hoặc bổ sung những yếu tố mà giáo trình được giáo viên lựa chọn dùng làm tài liệu giảng dạy chưa đủ
Ở lĩnh vực kiểm tra, theo Robert Lado, người ta đã đạt được một bước tiến quan trọng trong việc kiểm tra tiếng Anh như một ngoại ngữ, phần lớn là nhờ vào kết quả của việc so sánh về ngôn ngữ giữa tiếng Anh với tiếng bản địa của sinh viên Nhờ những kết quả của việc so sánh như vậy, người ta biết được một cách chính xác những khó khăn trong học tập là gì và biết tận dụng
sự sáng tạo cho việc kiểm tra chúng Nhìn từ góc độ này thì lẽ nghiễm nhiên một chuyên gia chuyên ra đề hoặc hoạch định những vấn đề liên quan đến việc khảo thí năng lực tiếng Hán cho người Việt Nam không thể không trang
bị một lượng kiến thức ngôn ngữ học so sánh nhất định giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại
Ở lĩnh vực nghiên cứu, Robert Lado cho rằng, bằng cách sử dụng kết quả của việc so sánh văn hoá và ngôn ngữ bản địa với văn hoá và ngôn ngữ nước ngoài, người ta có thể xác định một cách chính xác những điểm khó trong hệ thống ngôn ngữ của chính họ, để tiến tới việc khắc phục hoặc đưa ra cách giải thích hợp lý nhất①
①
Linguistics across cultures (Ngôn ngữ qua các nền văn hoá), Robert Lado, Hoàng Văn Vân dịch,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tr.11-22
Trang 25Nhìn từ góc độ ý nghĩa đối với sự hiểu biết chung, ngôn ngữ chính là cầu nối cho việc giao lưu văn hoá, ngôn ngữ và văn hoá luôn gắn liền nhau như máu với thịt Robert Lado nói, “một người tốt bụng, mong muốn giúp để hướng tới sự thống nhất của nhân loại, phân vân phải chăng liệu việc so sánh ngôn ngữ và văn hoá không có nguy cơ chia rẽ? Phải chăng nó sẽ chẳng tốt đẹp hơn nếu chúng ta cứ tảng lờ đi sự khác biệt đó? Và có phải về cơ bản chúng ta hoàn toàn không giống nhau không?” Trả lời cho những câu hỏi này, Robert Lado nói tiếp: “Chắc chắn tôi tin rằng tất cả chúng ta là một khối, về
cơ bản thì chúng ta giống nhau Nhưng bởi vì nhân cách con người tiến hoá theo nhiều hướng, những hướng mà chúng ta gọi là các nền văn hoá Chúng ta liên tục đánh giá sai về nhau qua các nền văn hoá Nếu chúng ta cũng bỏ qua
sự khác nhau này thì chúng ta sẽ đánh giá sai những người láng giềng trên lĩnh vực văn hoá như chúng ta vẫn thường làm hiện nay vì một hình thức cư
xử với họ có nghĩa này, nhưng đối với chúng ta lại có ý nghĩa khác Và nếu như chúng ta không biết được sự khác nhau này, thì chúng ta sẽ đổ lỗi cho các bạn láng giềng của chúng ta những ý định cho rằng hành vi giống nhau có thể
áp dụng cho chúng ta và đưa đến cho họ những đánh giá giống hệt như đánh giá các thành viên của chúng ta Thực ra tôi e rằng hiện nay chúng ta đang mắc phải điều đó Mặt khác, nếu chúng ta biết rằng mỗi hành vi có một ý nghĩa khác nhau trong một nền văn hoá khác nhau, thì chúng ta sẽ không bao giờ bị hiểu nhầm và sẽ có cơ hội để hiểu rõ bản thân chúng ta, và kết quả chúng ta thường làm tốt hơn nhiều Chúng ta sẽ có thể hình thành nên thói quen khoan dung hơn là cảm thấy bị vỡ mộng ngay từ lần đầu tiên khi người bạn láng giềng làm một điều gì đó hoàn toàn đúng với nền văn hoá của họ nhưng lại xa lạ và gây hiểu lầm trong nền văn hoá của chúng ta Trong khi viếng thăm một nước khác, chúng ta thực sự có thể xâm nhập vào cuộc sống ở
Trang 26đó, chúng ta sẽ hiểu họ và họ sẽ hiểu chúng ta.①”
Lợi ích to lớn có được từ việc so sánh có hệ thống văn hoá và ngôn ngữ nước ngoài với văn hoá và ngôn ngữ bản địa do Robert Lado khái quát, theo chúng tôi, chúng hoàn toàn phù hợp để trả lời một cách khẳng định cho câu hỏi “Có cần thiết phải tiến hành so sánh trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại”, tất nhiên so với những vấn đề to lớn mà Robert Lado nêu ra, vấn đề của chúng ta ở đây có phạm vi thu hẹp hơn nhiều
①
Linguistics across cultures (Ngôn ngữ qua các nền văn hoá), Robert Lado, Hoàng Văn Vân dịch,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tr.22-23
Trang 27CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT
I THUẬT NGỮ “TRẠNG NGỮ” TRONG TIẾNG VIỆT
Cũng như trong tiếng Hán, các nhà ngữ pháp học Việt Nam trước khi sử dụng thuật ngữ “trạng ngữ” đã từng dùng khái niệm “trạng tự”, “quán ngữ trạng tự” hoặc “túc từ” để khái quát, gọi tên thành phần trạng ngữ trong câu
Trần Trọng Kim trong Việt Nam văn phạm, sách xuất bản lần đầu tiên vào
năm 1936, đã lập riêng một mục với tên gọi “Trạng tự”, trong đó ông lại đem trạng tự phân thành nhiều loại với quy mô nhỏ hơn, gồm trạng tự chỉ thể cách, trạng tự chỉ số lượng, trạng tự chỉ các cục diện tiếng động tự, trạng tự chỉ thời gian, trạng tự chỉ nơi chốn, trạng tự chỉ sự nghi vấn, trạng tự chỉ ý kiến, trạng
tự chỉ sự hoài nghi và trạng tự chỉ sự phủ định①.Ông lấy ví dụ:
Nó đang đi (đang, trạng tự chỉ cục diện tiếng động tự)
Hôm qua nó đến nhà anh (hôm qua, trạng tự chỉ thời gian)
Nó ở chốn này (chốn này, trạng tự chỉ nơi chốn)
Ở mục “Túc từ”, Trần Trọng Kim còn dẫn ra các túc từ chỉ thời gian, nơi chốn, duyên cớ…, ông còn xét trường hợp “trong một mệnh đề có cả tiếng túc
từ chỉ thời gian và tiếng túc từ chỉ nơi chốn, thì người ta đặt tiếng túc từ chỉ thời gian trước tiếng túc từ chỉ nơi chốn”② Ông nêu ví dụ:
Mấy tháng nữa (TT chỉ thời gian), ở làng này (TT chỉ nơi chốn), người
Trang 28ta mở hội đánh cờ người.①
Như vậy, có thể thấy rõ, tuy dùng khái niệm “trạng tự”, nhưng Trần Trọng Kim đã đồng thời nắm bắt nó ở cả hai phạm trù (khái niệm) “trạng từ” (phó từ) và trạng ngữ Ở đây tất nhiên chúng ta không thể không loại trừ không ít các lớp từ được Trần Trọng Kim quy vào lĩnh vực trạng tự, mà cho đến nay, chiếu theo quan điểm của ngữ pháp học hiện đại, chúng đã hoàn toàn không thích hợp đứng trong hàng ngũ “trạng tự” (kiêm chỉ trạng từ và trạng ngữ) đó nữa
Sau một thời gian khá dài khủng hoảng về cách gọi tên, vào khoảng từ những năm 60 của thế kỷ trước, đặc biệt trong giới học giả nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ở miền Bắc Việt Nam, thuật ngữ “trạng ngữ” đã được phần
lớn các nhà ngôn ngữ sử dụng Học giả Nguyễn Văn Tu trong Khái niệm ngôn
ngữ học, sách do Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội xuất bản lần đầu tiên vào
năm 1960, cho rằng: “Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có ý nghĩa biểu thị đặc điểm của hành động, cách thức hành động, chỉ định hành động xảy ra trong tình huống và điều kiện nào Đảm nhiệm chức năng trạng ngữ trong câu trước hết là trạng từ, đoạn trạng ngữ, đoạn trạng động từ, các đơn vị cú có ý nghĩa trạng từ.②”
Hoàng Tuệ trong Giáo trình Việt ngữ, tập I, do Nhà xuất bản Giáo dục
Hà Nội xuất bản lần đầu vào năm 1962, cho rằng: “Trạng ngữ biểu đạt ý nghĩa trường hợp trong đó đã xảy ra một sự hoạt động; hoạt động được biểu đạt bằng động vị ngữ, hai trường hợp thường được biểu đạt là không gian và thời gian.③”
Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, do
Trang 29Nxb Khoa học Xã hội xuất bản lần đầu năm 1963 định nghĩa trạng ngữ như sau: “Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu, biểu thị các ý nghĩa thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái Trạng ngữ có khả năng biến đổi về vị trí trong câu tự do hơn các thành phần khác.①”
Bắt đầu từ cuối những năm 70 cho tới nay, việc đất nước thoát khỏi chiến tranh cùng với đà phát triển không ngừng của kinh tế Việt Nam, các nhà ngữ pháp học Việt Nam nhờ đó có điều kiện thuận lợi hơn trong nghiên cứu, các phạm trù ngữ pháp trong đó có trạng ngữ cũng được quan tâm và nghiên
cứu tỉ mỉ hơn Hoàng Trọng Phiến trong Ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm
1980 cho rằng: “Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu và phổ biến nhất so với các thành phần thứ yếu khác, nó có ý nghĩa địa điểm, không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân.②” Ở trang khác của sách, Hoàng Trọng Phiến còn bổ sung thêm: “Trạng ngữ là thành phần của câu, còn trạng tố là yếu tố của nhóm động từ hoặc nhóm tính từ nhằm xác minh cho một từ trung tâm của nhóm…Những trạng từ và trạng tố không bị vị ngữ hoặc động từ quy định, chúng có ý nghĩa tự thân.Trạng ngữ nói chung đứng đầu câu, còn trạng
tố tương đối cố định sau động từ vị ngữ.③”
Đinh Văn Đức trong Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại xuất bản năm 1986
cho rằng: “Trạng ngữ là các thành tố phụ bổ sung các ý nghĩa cho động từ nói
Trang 30Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt nói: “Trạng ngữ thường
đứng trước nòng cốt câu, tuy nhiên vẫn gặp nó sau nòng cốt câu hoặc giữa chủ ngữ và vị ngữ.Trong hai trường hợp sau, nó phải nhấn mạnh tách rời bằng ngữ điệu khi nói, dấu phẩy khi viết, và có thể kèm một kết từ thích hợp Nếu không được nhấn mạnh – tách rời thì trong trường hợp đó nó sẽ là thành phần của từ.①”
Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp Việt nam cũng nói: “Thành phần
phụ trạng ngữ (có tác giả gọi là thành phần phụ tình huống) nói rõ thời gian, nơi chốn, phương tiện, mục đích, nguyên nhân, cách thức, tình hình, trạng thái,…của sự việc biểu thị trong nòng cốt câu.②”
Hai học giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong Thành phần
câu tiếng Việt trên cơ sở tổng kết thành tựu nghiên cứu về trạng ngữ của các
tác giả Việt ngữ học ở bốn góc độ: vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu; các phạm vi ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị; vị trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức câu và cấu tạo hình thức của trạng ngữ, cuối cùng đã đi đến một định nghĩa về trạng ngữ: “Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có khả năng tham gia các cải biến vị trí: đứng trước, đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Trạng ngữ biểu thị những ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện… cho sự tình được biểu đạt trong câu.③”
Cố học giả Cao Xuân Hạo xuất phát từ quan điểm lý luận của ngữ pháp
chức năng, trong bộ Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng
Việt (cấu trúc – nghĩa – công dụng), do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm
Trang 311992, ông đã nhìn nhận cương vị của trạng ngữ trong câu một cách hoàn toàn khác so với quan điểm của các học giả đã nêu trên đây Tác giả cho rằng, tổ chức cú pháp hình thức của tiếng Việt chỉ có một mô hình duy nhất là Đề - Thuyết với các biến thể của nó Đề phân thành hai loại là Chủ Đề và Khung
Đề Mặc dù Khung Đề không phải là trạng ngữ của vị từ hay của câu, nhưng xét về chức năng ngữ nghĩa, hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ xét nghĩa “biểu thị” tức diễn đạt sự tình khách quan, không xét nghĩa lô gích) thì Khung Đề cũng có khi giống như chu ngữ (hay “bổ ngữ chu cảnh” – complément circonstanciel) Nhìn từ góc độ hình thức, Khung Đề có thể là một chủ ngữ hay giới từ, tức một giới từ đi liền với một danh ngữ hoặc động ngữ làm bổ ngữ cho giới từ đó, hình thức này hoàn toàn không khác hình thức của trạng ngữ Chính quan niệm như vậy, tác giả đã nhìn nhận khái niệm trạng ngữ trong câu như sau:
“Trạng ngữ là thành phần phụ của câu bổ sung cho cấu trúc Đề - Thuyết một
ý phụ Với chức năng ấy, trạng ngữ thường có vị trí ở đầu câu hoặc ở cuối câu Trong một phong cách hơi cầu kỳ, trạng ngữ có thể chen vào giữa Đề và Thuyết Do vậy, đặc điểm nổi bật của trạng ngữ phân biệt với bổ ngữ của động từ hay tính từ là có vị trí linh hoạt trong câu Bổ ngữ chỉ có thể đi liền
trước (khi là phụ từ) hoặc liền sau từ trung tâm Nếu các phụ từ (như đã, cũng,
chỉ, đều, ) lại được xử lí như những vị từ tình thái thì vị trí của bổ ngữ sẽ luôn
luôn là ở sau vị từ trung tâm, không có ngoại lệ.①”
Không chỉ có vậy, Cao Xuân Hạo còn đứng ra phê bình cách tiếp cận cũng như nghiên cứu, phân loại trạng ngữ của các nhà Việt ngữ học khác, ông nói: “Các sách ngữ pháp cũng hay nói đến các loại trạng ngữ: chỉ thời gian, chỉ nơi chốn, chỉ mục đích, chỉ nguyên nhân, chỉ phương thức, chỉ nhượng
①
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt (cấu trúc – nghĩa – công dụng),
Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2007, tr.63
Trang 32bộ, Sự phân loại đó căn cứ vào nghĩa, và cũng có thể áp dụng cho các thành phần chức năng cú pháp khác (như bổ ngữ, định ngữ, v.v), vì vậy, nó không
có giá trị cú pháp Cũng không cần phân loại trạng ngữ theo cấu tạo ngữ pháp của nó: gồm một từ hay một tiểu cú Vì, như đã nói khi định nghĩa về Đề, các cấu trúc ngữ pháp nội bộ một thành phần chức năng không có vai trò gì đối với cương vị của thành phần ấy trong câu Không vì lý do gì mà các trạng ngữ trong các câu sau đây lại bị xử lý khác nhau về cương vị ngữ pháp của chúng:
a Nó hỏng kỳ thi này vì môn Toán
b Nó hỏng kỳ thi này vì dốt
c Nó hỏng kỳ thi này vì lạc đề
d Nó hỏng kỳ thi này vì bài thi khó quá.①”
Xét trên tổng thể, Cao Xuân Hạo không chỉ phản đối cách nghiên cứu trạng ngữ theo quan điểm kết học, nghĩa học, phản đối việc phân loại trạng ngữ, mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới mẻ, đầy triển vọng không chỉ cho trạng ngữ mà cho cả ngữ pháp tiếng Việt nói chung
Như vậy, các nhà ngữ pháp học Việt ngữ tuy còn không ít bất đồng trong cách nhìn nhận trạng ngữ, nhưng không ai phủ nhận sự tồn tại của thành phần trạng ngữ trong câu② Ở mục dưới đây, trên cơ sở những quan điểm về trạng
①
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt (cấu trúc – nghĩa – công dụng),
Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2007, tr.64-65
②
Tất nhiên thiểu số vẫn xuất hiện một số cách gọi tên khác, như nhóm các tác giả thuộc Ủy ban
khoa học xã hội Việt Nam trong bộ Ngữ pháp Việt Nam, sách do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn
hành năm 1983, dùng tên gọi “thành phần tình huống” thay cho trạng ngữ Diệp Quang Ban trong
Câu đơn tiếng Việt, sách do Nhà xuất bản Giáo dục ấn bản năm 1987, lại dùng dùng thuật ngữ “bổ
ngữ của câu” thay cho tên gọi “trạng ngữ” Sau này, trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, sách do
Nxb Giáo dục ấn bản năm 2004, tr.166, tác giả đã đổi lại dùng tên gọi trạng ngữ, nhưng vẫn không quên chú rõ rằng: “Tôn trọng thói quen phổ biến, chúng tôi tạm dùng ở đây thuật ngữ ‘trạng ngữ’ Theo chúng tôi, cách gọi ‘bổ ngữ của câu’ thoả đáng hơn (hay ‘hạn định ngữ’ theo thuật ngữ quốc
tế mới - déterminant).” Có thể thấy rõ ở đây sự kiên định trong lập trường quan điểm của tác giả
Trang 33ngữ của các nhà Việt ngữ học đã nêu, chúng tôi sẽ tiến hành định nghĩa và đúc kết ra một số đặc trưng cơ bản của thành phần trạng ngữ trong câu tiếng Việt
II ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT
Trước hết về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu, hầu
hết các tác giả đều cho rằng, trạng ngữ là một thành phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt câu Nó là thành phần thường được sử dụng để mở
rộng, khai triển câu và là thành phần phụ thường gặp nhất trong câu①.Trong
so sánh với các loại thành phần phụ khác, trạng ngữ là loại thành phần phụ quan trọng nhất do chức năng, tác dụng của nó đối với sự tình được diễn đạt trong câu và do chính khả năng cải biến vị trí hết sức linh hoạt của nó Ví dụ:
Ngoài vườn, những bông hoa hồng trắng đang đua nhau khoe sắc (ngoài vườn là trạng ngữ đứng đầu câu)
Câu này đồng thời có thể viết thành:
Những bông hoa hồng trắng đang đua nhau khoe sắc ngoài vườn (ngoài vườn trở thành một bộ phận của vị ngữ, cũng là trạng ngữ đứng cuối câu) Những bông hoa hồng trắng ngoài vườn đang đua nhau khoe sắc (ngoài vườn trở thành một bộ phận của chủ ngữ, cũng là trạng ngữ đứng giữa chủ
ngữ và vị ngữ)
Trạng ngữ có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu cấu trúc câu tiếng Việt, khi sử dụng, nó bổ sung những thông tin về tình huống cho sự tình được biểu thị trong câu
①
Theo thống kê của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong Thành câu tiếng Việt, truyện ngắn Hết một buổi chiều (in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Hà Nội, 1981), có lượng câu mang trạng ngữ chiếm 30% tổng số câu (Xem Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh
Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr.321
Trang 34Thứ hai, trạng ngữ thường có cấu tạo là một/ (những) cụm từ: cụm giới
từ, cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ; trạng ngữ cũng có thể là một từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ) Ví dụ:
Trong quá trình miêu tả, anh ấy thường hay vận dụng thành ngữ, điển tích (trạng ngữ “trong quá trình miêu tả” là một cụm giới từ)
Sáng sớm hôm qua, mẹ tôi đáp máy bay vào Sài Gòn (trạng ngữ “sáng sớm hôm qua” là một cụm danh từ)
Nhanh như một con sóc, thằng bé vụt biến mất (trạng ngữ “nhanh như một con sóc” là một cụm tính từ)
Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh núi non thật là đẹp (trạng ngữ
Thứ tư, nhìn từ góc độ vị trí, trạng ngữ có vị trí khá linh hoạt, nó có thể đứng đầu câu, đứng cuối câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ của câu Nhưng cấu trúc thường thấy nhất vẫn là trạng ngữ đứng ở đầu câu Ví dụ:
Hai bên bờ sông, lần lượt diễu qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro (Nam Cao) (trạng ngữ “hai bên bờ sông” đứng
đầu câu)
Hồ Chủ tịch, bằng thiên tài trí tuệ và sự hoạt động cách mạng của mình, đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử (trạng ngữ “bằng thiên tài trí tuệ và sự hoạt động cách mạng của mình” đứng giữa chủ ngữ
và vị ngữ)
Trang 35Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình yêu của một con chó đối với người nuôi (Nam Cao) (trạng ngữ “bằng một thứ tình yêu rất gần với tình yêu của một con chó đối với người nuôi” đứng ở cuối câu)
Tuy nhiên, ở vị trí khác nhau trạng ngữ cũng sẽ mang ý nghĩa khu biệt nhất định so với các vị trí ngoài nó Cụ thể:
1 Ở vị trí đầu câu
Khi đứng ở vị trí đầu câu, trạng ngữ có tác dụng hạn định nội dung của câu đồng thời thực hiện chức năng liên kết với câu trước Ví dụ:
a Bao giờ cũng vậy (TrN), sự cùng quẫn hay khiến người ta nghĩ ngợi
và giận dữ (Tô Hoài)
b Trên mu bàn tay (TrN), những đường gân xanh bóng ra làn da
mỏng và xanh trong, xanh lọc (Nam Cao)
c Cháu lại đi với mối thù thằng Tây mũi lõ, thằng Tây quấn thừng đã
làm một đời bà khổ Khi thắng lợi trở về (TrN), chắc bà không còn nữa ( )
Nhưng vùng này quả là đẹp, như trong tưởng tượng của mình về đồng quê,
cánh cò vỗ nhịp vào ra trong lời mẹ hát Càng gần Bắc Ninh (TrN), xứ sở
của dân ca, phong cảnh càng êm dịu, càng quen thuộc và mênh mông như bài
quan họ “Trên rừng 36 thứ chim” (Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai
mươi)
Trong ba ví dụ nói trên, ngoài trạng ngữ trong hai câu a 1 và a 2 có khả năng cải biến vị trí, ở ví dụ a 3, nếu đem trạng ngữ đặt ở cuối câu hoặc chen vào giữa hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ, nó sẽ mất đi tác dụng cũng như chức năng liên kết ngôn bản như đã nêu ở trên
2 Ở vị trí cuối câu
Trạng ngữ thường xuyên tham gia vào phần báo, hoặc một mình làm
phần báo - tức phần truyền đi thông tin mới Ngoài ra, với vị trí cuối câu,
Trang 36trạng ngữ còn mang chức năng liên kết câu đó với câu sau nó Ví dụ:
a Chùa xây từ thời cách đây một nghìn sáu trăm năm bởi một nhà sư
Ấn Độ (TrN) (Chế Lan Viên)
b Nàng thù ghét họ, không phải vì họ không tốt hay vì họ kém lễ phép đối với nàng (TrN) (Nhất Linh)
c Ai đã nói điều ấy với mình, khi trời rạng sáng (TrN)? 9g30 phải
vào màn, nhưng ta thức trọn một đêm, với bốn bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng ô ro xén gọn ( ) Ta biết giấu mặt vào đâu,
vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn chưa có dấu chân ta
(TrN) Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ của Tổ quốc trên cả nước thân yêu (Nguyễn Văn Thạc)
So với hai câu đơn độc lập thuộc hai ví dụ a và b, chức năng liên kết của hai trạng ngữ đứng cuối câu trong ví dụ c thể hiện đặc biệt rõ
3 Ở vị trí chen giữa chủ ngữ và vị ngữ
Trong tiếng Việt vị trí đứng ở giữa chủ ngữ và vị ngữ có thể xuất hiện trong một số trường hợp khá phổ biến Ở vị trí này, trạng ngữ thường mang ý nghĩa hạn định nội dung của câu Ví dụ:
a Lão chồng tôi khi ấy (TrN) là một anh con trai cục tính nhưng hiền
lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi (Nguyễn Minh Châu)
b Vả lại Hộ, đối với Từ (TrN), còn là một ân nhân nữa (Nam Cao)
c Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên hồ, thấm nhuần cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết
Các bạn có ngửi thấy, khi đi qua những cánh đồng xanh (TrN), mà hạt thóc
nếp đầu tiên làm thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của lúa non không? (Thạch Lam)
Có thể thấy rõ, trạng ngữ ở ba ví dụ trên, tuy không mang chức năng liên kết, nhưng chúng đều có chức năng hạn định cho nội dung của sự tình
Trang 37được đề cập trong câu
Dưới đâylà bảng trích thống kê tỷ lệ phần trăm về vị trí của trạng ngữ
trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao (truyện in trong sách Văn
Trạng ngữ là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa về địa điểm, thời gian,
cách thức, phương tiện, phương diện, tình hình, nguyên nhân, điều kiện, mục đích, nhượng bộ, cho sự tình được đề cập trong câu Nó được cấu thành bởi một từ, một hoặc nhiều cụm từ Nó có vị trí khá linh hoạt, có thể đứng đầu câu, cuối câu hoặc chen giữa hai thành phần chủ vị của câu
III VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT①
1 Phân loại trạng ngữ theo đặc điểm cấu tạo
Trạng ngữ có vai trò bổ sung, thuyết minh cho nòng cốt câu, thế nên đảm nhiệm vai trò trạng ngữ có thể là các ngữ đoạn có quan hệ tường thuật, chi phối hay dẫn tiếp, tùy trường hợp cụ thể nó có thể có giới từ hoặc không
có giới từ đi liền Trạng ngữ có giới từ đứng đầu được gọi là trạng ngữ được
①
Cách phân loại của chúng tôi phần nhiều mang tính chất tổng hợp thành tựu nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học về vấn đề này
Trang 38đánh dấu; trạng ngữ không có giới từ đứng đầu là trạng ngữ không được đánh dấu Như vậy, căn cứ theo cấu tạo, có thể đem trạng ngữ phân thành hai loại như sau:
Thứ nhất, trạng ngữ được đánh dấu Ví dụ:
Ở ngoài ngõ, mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc, vừa van lạy (Nam Cao)
(trạng ngữ “ở ngoài ngõ” có giới từ “ở” đi đầu)
Trong điều kiện hiện nay, mọi người ai cũng cần phải nỗ lực nhiều hơn (trạng ngữ “trong điều kiện hiện nay” có giới từ “trong” đi đầu)
Hộ đã cúi xuống và đã đưa một bàn tay cầm lấy cái bàn tay mềm yếu
của Từ, giữa lúc Từ đau đớn không bờ bến (Nam Cao) (“giữa” là giới từ
đứng đầu trong trạng ngữ của câu này)
Thứ hai, trạng ngữ không được đánh dấu Ví dụ:
Trông từ trên cao (TrN), cây cầu như một dải lụa bạc vắt ngang dòng
sông xanh
Mùa nước lớn muộn này (TrN), cái giống sen nhật trôi lang thang mặt
nước vẩn vơ như chim rỡ tổ (Tô Hoài)
Những kỷ niệm ấy, biết bao nhiêu lần (TrN), đã trở về trí óc y (Nam
vị ngữ Còn các chu tố chỉ đóng vai cảnh trí xung quanh, không đựơc giả định
Trang 39một cách tất nhiên trong khung vị ngữ Theo các nhà nghiên cứu, chu tố thường là những điều kiện về thời gian, không gian, là cách thức, phương thức, nguyên nhân, mục đích… liên quan đến sự tình được biểu đạt① Như vậy, căn cứ vào bình diện ý nghĩa của câu, chúng ta có thể phân trạng ngữ thành những loại sau đây:
a Trạng ngữ chỉ thời gian
Là loại trạng ngữ dùng để chỉ khoảng thời gian xảy ra sự tình nêu trong câu Thời gian đó có thể được xác định ở các thì hiện tại, quá khứ, tương lai,…cũng có thể là khẳng định hoặc phiếm chỉ Khái niệm thời gian ở đây có thể chỉ một thời điểm hoặc một thời đoạn, tức đem sự tình định vị ở một thời điểm hoặc trong một phiến đoạn thời gian nào đó Ví dụ:
Anh không ngờ đời Hạnh tiếp sau đó đến ngày lấy chồng đã phải lưu
lạc khắp nơi… bây giờ (TrN) Hạnh là bác sĩ và con cái đã lớn.( Nguyễn Minh
Châu ) (Trạng ngữ “bây giờ”chỉ thời điểm hiện tại)
Y nhớ một lần y ở Hà Nội về quê, hồi ấy, vợ chồng y mới ăn riêng
(Nam Cao) (Trạng ngữ “hồi ấy”chỉ thời điểm trong quá khứ)
Sang năm, chúng ta sẽ đem đến cho mỗi gia đình một bộ sưu tập về thuyền và biển (Nguyễn Minh Châu) (Trạng ngữ “sang năm”chỉ thời điểm ở
tương lai)
Từ đầu năm đến giờ, chẳng mấy khi cô ấy ở nhà (Nam Cao) (Trạng ngữ “từ đầu năm đến giờ”chỉ một phiến đoạn thời gian xác định)
Thỉnh thoảng, nó không còn sức nén, tiếng khóc bậc ra (Nam Cao)
(Trạng ngữ “thỉnh thoảng”chỉ thời gian – phiếm định)
Một trăm bạc này, chẳng vào đâu thực, hằng ngày, chồng bà có thể thu
①
Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 1998, tr.317-318
Trang 40hơn ngần ấy lãi (Nguyễn Công Hoan) (Trạng ngữ “hằng ngày”chỉ thời gian
– hằng định )
b Trạng ngữ chỉ không gian – nơi chốn
Đây là loại trạng ngữ biểu thị một không gian hiện thực (không gian cụ thể) hoặc một không gian tưởng tượng (không gian không cụ thể), với tư cách
là nơi diễn ra sự tình.Ví dụ:
Dưới gầm trời này, tôi lo gì không thừa chiếc giường hẹp để tôi lăn
kềnh tấm thân thước rưỡi (Nguyễn Công Hoan)
Ngoài miền Bắc, Thăng nghĩ, chắc là gia đình Phận đã biết Phận gặp
Thăng và yêu Thăng (Nguyễn Minh Châu)
Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra như những khoảng
vực xanh vòi vọi (Lưu Quang Vũ)
Ba trạng ngữ “dưới gầm trời này”, “ngoài miền Bắc”, “giữa những đám mây xám đục” thuộc ba câu trên đều chỉ không gian cụ thể
Từ nơi tận cùng sâu thẳm của tâm hồn, hắn đang nghĩ về mẹ hắn Trong lòng hắn, những nỗi niềm không rõ rệt cũng rối bời
Hai trạng ngữ “từ nơi tận cùng sâu thẳm của tâm hồn”, “Trong lòng hắn” trong hai câu trên đều chỉ không gian trong tưởng tượng
Trường hợp nếu trong câu có đến hai trạng ngữ chỉ không gian thì trạng ngữ đứng đầu thường nêu một không gian rộng, trạng ngữ đi sau nêu không gian hẹp hơn, cụ thể hơn Ví dụ:
Suốt dọc đường, từ ngoài cách đồng trở về, cô bé và con mèo chỉ đối
thoại bằng mấy tiếng đơn giản (Nguyễn Minh Châu)
Trong câu trên, “suốt dọc đường” rõ ràng có phạm vi không gian rộng hơn “từ ngoài cánh đồng trở về” đứng sau nó Ngoài ra, trạng ngữ chỉ thời
gian và không gian thường có lối kết cấu là cụm danh từ hoặc cụm giới từ Đây có thể coi là điểm chung đáng chú ý nhất của hai loại trạng ngữ này