Luận văn Thạc sĩ Văn học: Thơ ca Thịnh Trần – Hành trình đi tìm cái đẹp trình bày về thời đại, thơ ca và cái đẹp; thơ ca thời Thịnh Trần – cuộc hành hương đến với thánh địa của cái đẹp; viên mãn của một thời – hành trình không lặp lại.
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 5M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta sống trong một xã hội luôn tự hào là văn minh, phát triển, tiến bộ Thế nhưng, chính sự phát triển không ngừng này buộc chúng ta cứ phải đi tới, tiến lên phía trước, đến nỗi không có được phút giây lắng đọng tâm tư để hiểu cuộc sống và hiểu chính mình Vì thế, không
ít người cảm thấy chông chênh, thậm chí tuyệt vọng Đến một lúc nào đó, chúng ta hốt nhiên tự vấn
“Mình đang tìm kiếm điều gì cho cuộc sống của mình?”
Trở về với văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi đã phần nào tìm thấy lời giải đáp cho đời sống tâm linh trong văn học Lý Trần, một giai đoạn văn học thể hiện được tinh thần thời đại và đậm
đà tính nhân văn Văn học Lý Trần, đặc biệt là thơ ca thời Thịnh Trần, đã cho chúng ta cảm hiểu được tầm vóc của con người thời đại, đó là những con người sống “hết kích thước cuộc sống”, cống hiến hết mình nhưng vẫn luôn giữ được sự an nhiên tự tại trong tâm hồn
Điều gì đã giúp họ có được bản lĩnh sống vững vàng và nuôi dưỡng được vẻ đẹp thuần khiết của tâm linh? Chúng tôi thử lý giải vấn đề này ở phương diện thẩm mỹ, nhìn nhận ở góc độ vai trò của cái đẹp trong cuộc sống Cái đẹp hiện hữu khắp nơi, quanh ta và trong ta, nó có thể tồn tại ở dạng hữu hình hoặc vô hình Cái đẹp gắn liền với cái chân, cái thiện Chân – thiện – mỹ là đích đến cao nhất của con người mọi thời Khi con người biết vươn tới giá trị chân – thiện – mỹ, con người
sẽ ngày càng hoàn thiện mình ở mọi phương diện Qua tìm hiểu thơ ca thời Thịnh Trần, chúng tôi cho rằng con người thời đại này hoàn toàn ý thức được vai trò của cái đẹp trong cuộc sống và hành trình của họ chính là hành trình đi tìm cái đẹp, vươn tới cái đẹp
Bối cảnh lịch sử đặc biệt với ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông và tinh thần Tam giáo đồng nguyên, trong đó Phật giáo giữ vai trò chủ đạo, đã góp phần tạo nên nét độc đáo của cái đẹp thời kỳ này, đó là cái đẹp hằng thường, vĩnh cửu Con người tìm đến cái đẹp và hòa điệu cùng nó, tồn tại trong nó chứ không phải để chiếm hữu nó Nếu con người hôm nay vẫn thừa nhận ý nghĩa
độc đáo của cái đẹp trong đời sống của mình, chúng tôi tin rằng đề tài Thơ ca Thịnh Trần – hành
trình đi tìm cái đẹp sẽ mang đến những khám phá thú vị về nhiều mặt, đặc biệt là những gợi ý để đạt
được sự cân bằng trong đời sống tâm linh
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, thứ nhất, chúng tôi muốn chứng minh sở dĩ con người
thời Thịnh Trần sống hết mình với cuộc đời thực tại nhưng vẫn vững vàng về mặt đời sống tâm linh
là vì họ có thiên hướng vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện, tìm kiếm những giá trị đích thực, vĩnh cửu
Trang 6trong cuộc đời Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên hay bối cảnh lịch sử cụ thể chỉ là điều kiện cần
chứ chưa phải là điều kiện đủ để tạo nên vẻ đẹp có một không hai của con người thời đại này
Thứ hai, thông qua việc so sánh với thơ ca thời Vãn Trần, thời Lê Sơ,… chúng ta sẽ thấy được rằng cái đẹp mà con người thời Thịnh Trần hướng tới là độc đáo và khác biệt so với thời kì sau
Thứ ba, đề tài này cũng góp phần khẳng định thêm vai trò không thể thay thế của cái đẹp trong đời sống vật chất và tinh thần của con người
Thơ ca phản ánh hiện thực đời sống cũng như hiện thực tâm hồn của con người, vì vậy, chúng tôi muốn thông qua thơ ca thời Thịnh Trần để phác họa lại hành trình đi tìm cái đẹp của người xưa Hy vọng với đề tài này, chúng ta sẽ thêm yêu quý, trân trọng giá trị thơ ca Thịnh Trần nói riêng cũng như thơ ca trung đại nói chung, đồng thời biết cách định hướng cho cuộc sống của chính mình thông qua tấm gương “sống đẹp” của con người thời Thịnh Trần
3 Đối tượng và phạm vi khảo sát
- Đối tượng: Hành trình đi tìm cái đẹp của con người thời Thịnh Trần qua thơ ca Thịnh Trần
- Phạm vi:
+ Thơ ca thời Thịnh Trần (từ thời Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông)
+ Để làm rõ hơn đặc điểm riêng biệt trong hành trình đi tìm cái đẹp của con người Thịnh
Trần qua thơ ca thời kỳ này, chúng tôi liên hệ so sánh với thơ ca các giai đoạn sau (Vãn Trần, Lê Sơ, )
+ Tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến đề tài như: lịch sử, mỹ học, Thiền học,…
4 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về thơ ca Thịnh Trần nói chung và vấn đề hành trình đi tìm cái đẹp trong thơ ca
thời Thịnh Trần nói riêng, trong quá trình sưu tầm tài liệu liên quan thực sự chúng tôi chưa thấy có
những công trình trực tiếp đi sâu vào vấn đề này.Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về thơ ca
Lý Trần từ trước đến nay không phải là ít Ngay từ thời trung đại, thơ ca Lý Trần đã được sưu tầm, bình giá bởi những trí thức yêu thích thơ văn như Phan Phu Tiên với Việt âm thi tập (khắc in năm 1433), Hoàng Đức Lương với Trích diễm thi tập (soạn xong vào khoảng năm 1497), Lê Quý Đôn
với Toàn Việt thi lục, Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí (năm 1821),… Sang đầu
thế kỷ XX, thơ văn Lý Trần tiếp tục được các học giả quan tâm sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, chú
giải, giới thiệu đến độc giả Trong số đó, đáng lưu ý là hai công trình Văn học đời Lý, Văn học đời
Trang 7học giả nghiên cứu một cách công phu, có chiều sâu về nhiều phương diện ở nhiều cấp độ, phạm vi
rộng hẹp khác nhau
Trong M ấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, in trong Thơ văn Lý Trần (tập 1 – xuất bản
năm 1978), Đặng Thai Mai đã có những nhận xét tinh tế vềđời sống xã hộithời Lý Trần cũng như
văn học Lý Trần Ông cho rằng đời sống xã hội thời đại này “còn có những ngày dễ chịu, vui vẻ,
tưởng”[105;tr.38] và thơ văn Lý Trần đã phản ánh trọn vẹn vẻ đẹp của tinh thần thời đại, đó là “thái
độ tích cực, lạc quan trước cuộc sống”, “tình cảm tự hào, tin tưởng, vui vẻ, tích cực”[105; tr.45]
Riêng về thơ ca, ông nhận xét tình cảm thiên nhiên trong thơ không hề vay mượn từ điển cố sách vở
Trung Hoa mà “b ắt nguồn từ những cảm giác đã “sống”, từ những cảm giác trực tiếp” Nhìn
chung, “đây là lời thơ của một tâm trạng cân đối, hài hòa mà thanh cao”[105; tr.41] Đây là những
nhận xét chung về thơ ca Lý Trần.Tuy nhiên, theo chúng tôi, chỉ có thơ ca thời Thịnh Trần mới hoàn toàn mang được cái phong thái mà Đặng Thai Mai đã tâm đắc nói lên Từ đó, chúng tôi muốn làm sáng tỏ thêm vì sao con người thời đại Lý Trần nói chung và thời Thịnh Trần nói riêng lại có được vẻ đẹp tâm hồn phong phú đến thế? Phải chăng vì họ ý thức được giá trị của cái đẹp trong
cuộc đời nên đã kiếm tìm và đạt được cái đẹp ấy bằng phương cách riêng của mình
Cũng vì sự gắn bó đặc biệt về nhiều mặt giữa hai vương triều Lý và Trần nên thơ ca Lý Trần thường được xem như đối tượng nghiên cứu chung Do vậy, mảng thơ thiền và thơ nho thời Thịnh
Trần vô hình chung cũng nằm trong những công trình nghiên cứu về thơ ca Lý Trần Chúng tôi tạm
thời chia những công trình, những bài nghiên cứu này ra hai loại:
Thứ nhất là những công trình, những bài nghiêncứu vềnhiều phương diện của thơ ca Lý Trần
Thứ hai là những công trình, những bài nghiên cứu về những tác giả thơ ca thời Thịnh Trần
Ở loại thứ nhất, có thể kể một số công trình tiêu biểu:
-Năm 1996, trongVăn học Lý Trần, nhìn từ thể loại [33], Nguyễn Phạm Hùng đã nghiên cứu
tất cả các thể loại của văn học Lý Trần như chiếu, hịch, phú, truyện, thơ…,trong đó có một chương tác giả trình bày về tên gọi, nội dung khái niệm, phân loại thơ, nội dung tư tưởng và nghệ thuật của thơ thiền đời Lý
- Năm 1996, Đoàn Thị Thu Vân trong công trìnhKhảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền
hình tượng (con người, thiên nhiên, không gian – thời gian nghệ thuật), thể thơ, kết cấu, cách miêu
tả - thể hiện, giọng điệu Song song đó, tác giả còn so sánh đặc trưng nghệ thuật thơ thiền Lý Trần
với thơ Nho cùng thời và với thơ thiền Trung Quốc, Nhật Bản
- Năm 2002, Nguyễn Công Lý đã có sự đầu tư nghiên cứu công phu về diện mạo và đặc điểm
của văn học Phật giáo thời Lý Trần trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần, diện mạo và
Trang 8đặc điểm [55] Trong mục 1.2 của chương 1, tác giả đã điểm qua gần như bao quát tình hình nghiên
cứu văn học Phật giáo Lý Trần trước đó đồng thời khái quát tình hình nghiên cứu theo ba dạng: một
là dạng miêu tả, liệt kê (các tác giả có điểm qua hoặc phẩm bình đôi lời về văn học Phật giáo Lý
Trần); hai là dạng đan xen (khi nghiên cứu về lịch sử văn học, các tác giả ít nhiều có đề cập đến văn
học Phật giáo Lý Trần); ba là dạng biệt lập (các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu trực tiếp thơ thiền Lý
Trần, văn học Phật giáo Lý Trần về phương diện nội dung, nghệ thuật hoặc cả hai) Và trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Công Lý đã dựng lại diện mạo của văn học Phật giáo Lý Trần,
từ đó tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm để nêu ra đặc điểm của bộ phận văn học này
Dĩ nhiên, thôngquacách tác giả trình bày về diện mạo và đặc điểm của văn học Phật giáo Lý Trần, người đọc cũng có thể hình dung được diện mạo và đặc điểm của thơ thiền Lý Trần
- Một công trình nữa đáng lưu ý làCon người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại
của Đoàn Thị Thu Vân (2007) Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu thơ ca sơ kì trung đại
dựa trên khái niệm nhân văn – được hiểu như là những giá trị đẹp đẽ của con người Tác giả quan
niệm “một tác phẩm văn học có tính nhân văn là tác phẩm văn học thể hiện con người với những
nét đẹp của nó, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách,… Tác
giả đã làm sáng tỏ hình tượng con người nhân văn trong thơ thời Lý, thời Trần và thời Lê Sơ với
từng vẻ đẹp riêng Đặc biệt, chương 3 đã phân tích một cách thấu đáo hình tượng con người nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh.Khi tìm hiểu hành trình đi tìm cái đẹp trong thơ ca thời Thịnh Trần, chúng tôi cũng quan tâm đến vẻ đẹp của con người, tuy nhiên cách nhìn và lí giải của chúng tôi là dựa vào quan niệm về cái đẹp theo tinh thần mỹ học truyền thống
phương Đông chứ không đi theo khái niệm nhân văn và con người nhân văn
- Ngoài ra, chúng tôi còn thấy có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ ca Lý Trần đăng trên các
tạp chí uy tín như: Tạp chí Văn học, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo…,
hoặc được tập hợp lại trong những công trình như:Trên hành trình văn học trung đại do Nguyễn
Phạm Hùng biên soạn, Văn học Việt Nam – văn học trung đại ( những công trình nghiên cứu) do
Lê Thu Yến chủ biên Có thể kể một vài bài viết tiêu biểu dưới đây:
- Ch ất trữ tình trong thơ thiền đời Lý của Phạm Ngọc Lan, đăng trên Tạp chí Văn học, số 4
Trang 9- S ự quân bình giữa tâm và trí trong thiền học Lý Trần qua thuyết Tam ban của Ngộ Ấn
Công Lý đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 5 – 2002
trung đại, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001.)
trung đại, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001.)
Đặc biệt, trong bài Về diễn tiến của thơ trữ tình thời Trần, Nguyễn Phạm Hùng cho rằng thơ
ca thời Trần có những chuyển biến so với thơ ca thời Lý, đó là nói về thế giới con người, thể hiện
những trạng thái tâm hồn con người Tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt giữa thơ thời Thịnh Trần và thơ thời Vãn Trần Thơ Thịnh Trần mang tính “hướng ngoại” còn thơ Vãn Trần lại mang tính
“hướng nội” – “Nếu như xã hội Việt Nam thời Thịnh Trần đã tạo ra được một “phong cách thơ”
cách thơ” có tính “hướng nội” Nếu như ở thời Thịnh Trần, hướng vận động chủ yếu của trạng thái
thân nhà thơ, là rời bỏ những gì mà nay đã thành quá cao xa, viển vông để trở về với những cái rất
túng đến những khoảng cách không gian rộng lớn cao đẹp, mà đi bằng đôi chân có khi khá nặng nề
Chúng tôi đồng tình với những nhận xét của tác giả về sự chuyển biến tâm trạng của các nhà thơ từ thời Thịnh Trần sang thời Vãn Trần Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng các nhà thơ thời
Thịnh Trần là những con người “hướng ngoại”, “chỉ dành ít tâm hồn, tình cảm để cho riêng mình,
để nói về mình mà dành phần nhiều hơn tới những cái bên ngoài mình, đó là đất nước, là dân tộc,
toàn biết hướng vào nội tâm, “phản quan tự kỷ” soi xét chính mình để thấy được chân tâm, từ đó, họ
mới hướng ra cuộc sống bên ngoài (đất nước, dân tộc, thời đại,…) bằng một tâm hồn khoáng đạt và
rộng mở Đây chính là hành trình nội tâm của các nhà thơ Thịnh Trần mà chúng tôi sẽ khai thác trong đề tài của mình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập một cách thấu đáo nhiều khía cạnh của thơ ca Lý Trần từ diện mạo, thể loại đến nội dung tư tưởng, đặc trưng nghệ thuật…, đem lại cái nhìn
Trang 10toàn diện về thơ ca Lý Trần và giúp cho thơ ca Lý Trần trở nên gần gũi, dễ tiếp cận hơn đối với người đọc
Ở loại thứ hai, chúng tôi thấy có những công trình nghiên cứu về các tác giả tiêu biểu của thơ
ca thời Thịnh Trần như:
- Huy ền Quang – Cuộc đời, Thơ và Đạo [75] do Trần Thị Băng Thanh chủ biên Công trình
này gồm ba phần Phần thứ nhất đề cập đến Huyền Quang ở góc độ một thiền gia – thi nhân Phần
thứ hai giới thiệu các thi phẩm của Huyền Quang Phần thứ ba tập hợp những tác phẩm mà Huyền Quang xuất hiện với tư cách là một nhân vật văn học Trong phần bình về Ngọc tiên tập của Huyền
Quang, Trần Thị Băng Thanh đã cho rằng “cảm quan về thời gian chậm rãi ngưng đọng đã làm
tăng vẻ tĩnh lặng của không gian, nặng thêm nỗi buồn và sự cô đơn của thi nhân Chính điều đó đã
đó trong thơ, khiến cho ông không giống nhiều nhà thơ thiền Lý Trần”[75; tr.65] Tác giả khẳng
định vị tổ thứ ba của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử “vẫn còn tình trạng lưỡng phân” [75; tr.76], tức
là một con người thiền gia – thi nhân hoặc thi nhân – thiền gia không thể tách rời
- Ngoài ra, trong quyển Thiền học đời Trần [63] có hai bài đề cập đến Huyền Quang là Thiền
sư Huyền Quang, một nhà thơ lớn của HT Thích Minh Tuệ và Thơ Huyền Quang của Minh Chi
Năm 2008, trong luận văn thạc sĩ Thơ ca Huyền Quang – con đường của thiền và cái đẹp, Nguyễn
Thị Hà An đã nghiên cứu về Huyền Quang dưới góc độ một nghệ sĩ “luôn thành tâm kiếm tìm cái
đẹp của hiện hữu trong cái nhìn minh triết của một triết gia và phong thái an nhiên tự tại của một
- Tu ệ Trung Thượng sĩ với thiền tông Việt Nam[108] là công trình tập hợp những bài viết về
Tuệ Trung Thượng sĩ vốn đã được báo cáo trong một hội thảo khoa học về ông Những bài viết này
đã tập trung làm sáng tỏ thân thế, sự nghiệp của Tuệ Trung; những đóng góp quan trong của ông với
tư cách là một nhà thiền học lỗi lạc, một người con của dòng dõi nhà Trần đối với sự nghiệp xây
dựng bảo vệ đất nước, một nhà thơ với tâm hồn tự do, phóng khoáng Thích Tuệ Đăng trong bài
bài Tu ệ Trung Thượng sĩ và thiền phong đời Trần, Đoàn Thị Thu Vân cho rằng nét nổi bật ở Tuệ
Trung là tinh thần “phá chấp triệt để”, “tùy duyên” và khẳng định chân lý – đạo – Phật ở ngay chính trong mỗi người, không phải ở bên ngoài Đối với ông, “Thiền không chỉ là một tôn giáo mà là một
Trang 11Nói đến những bài nghiên cứu về Tuệ Trung thì không thể không nhắc đến bài viết Trần
Quốc Tảng như một số ý kiến nhầm lẫn trước đó, đồng thời còn nêu lên những nét đặc sắc trong thơ văn của Tuệ Trung như ý thức về bản ngã, về sự tự do tự tại, tinh thần phóng khoáng của một nhà tư tưởng, một nhà duy lý bên trong một thiền gia
một cách súc tích nhưng đầy đủ về cuộc đời của vua Trần Thái Tông Bên cạnh đó, tác giả cũng
nhận xét về lời thơ, giọng điệu thơ trong bài Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn và Tống Bắc sứ
Trương Hiển Khanh; những cốt lõi tư tưởng thiền trong bài Thiền tông chỉ nam tự, Khóa hư lục;
chất trữ tình, chất thơ trong những tác phẩm bàn về triết học, giảng về đạo Phật của ông
- Tr ần Nhân Tông và tầm vóc một thời đại [8] của Nguyễn Huệ Chi và Trần Thị Băng
Thanh Bài viết đã đánh giá Trần Nhân Tông ở cả ba phương diện: nhà vua, nhà thiền học và nhà
thơ Thơ Trần Nhân Tông được đánh giá là “thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng” [8; tr.146], “c ảm hứng thế tục và cảm hứng thiền hòa quyện với nhau” [8; tr.169] Bản thân vua Nhân
Tông được xem là một cây bút có phong cách và cũng là một đỉnh cao trong thơ ca thời Thịnh Trần
Năm 2008, hội thảo khoa học về vua Trần Nhân Tông diễn ra tại Quảng Ninh Tại hội thảo này, các học giả cũng đã có nhiều tham luận đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện về vị vua thứ ba
của nhà Trần (Những bài viết này đều được đăng trên trang 2http://www.thuvienhoasen.orgU)
- Ngoài ra, các nhà thơ thế tục như: Trần Quang Khải, Trần Quang Triều, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức, Trương Hán Siêu,… là những tác giả rất được các nhà nghiên cứu quan tâm Hầu như những tác phẩm của họ đều được tìm hiểu ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
Theo nhận xét của chúng tôi, thơ ca Lý Trần nói chung đã được nghiên cứu ở nhiều phương
diện: nội dung tư tưởng, đặc trưng nghệ thuật, tác giả, tác phẩm Tuy nhiên, tập trung nghiên cứu riêng về một vấn đề của thơ ca thời Thịnh Trần thì chưa có công trình nào thực hiện Đây là điểm
mà chúng tôi muốn khai thác theo hướng riêng của mình Trong luận văn này, chúng tôi muốn tập trung khảo sát hành trình đi tìm cái đẹp của con người thời Thịnh Trần qua thơ ca Nhắc đến thời
Trần, đặc biệt là Thịnh Trần, chúng ta không thể quên được “Hào khí Đông A” Điều gì đã hun đúc nên hào khí đặc biệt của dân tộc Việt vào thời kì này? Đây là câu hỏi đã từngcó nhiều câu trả lời
hợp lí Và chúng tôi muốn góp vào trong những câu trả lời đó thêm một lí do nữa, đó là con người
thời Thịnh Trần luôn biết hướng đến cái đẹp mang tính chất tâm linh, họ luôn tự hoàn thiện mình
bằng một hành trình nội tâm mạnh mẽ, vững vàng Chính cái đẹp tâm linh đã tạo nên khí chất, cốt cách riêng biệt của con người thời đại Để chứng minh cho tính thuyết phục của lời giải đáp này,
Trang 12chúng tôi sẽ nghiên cứu thơ ca thời Thịnh Trần – cả thơ thiền và thơ thế tục – dựa trên tinh thần mỹ
học, đặc biệt là từ góc nhìn của cái đẹp
Ở hướng đi mới này chắc hẳn chúng tôi sẽ gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ mang lại ít nhiều những phát hiện thú vị, khoa học và có ý nghĩa choluận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống: Đây là một phương pháp quan trọng được sử dụng trong suốt quá
trình nghiên cứu đề tài Chúng tôi sẽ đặt đối tượng nghiên cứu trong nhiều hệ thống khác nhau: hệ
thống triết học – mỹ học, hệ thống thơ ca dân tộc,… để giúp cho việc nghiên cứu đề tài được toàn
diện và bao quát hơn
Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích được sử dụng nhiều ở cả chương 2, chương
3 để phân tích văn bản thơ nhằm làm sáng tỏ cho các luận điểm được nêu ra trong luận văn
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 3 khi chúng tôi so
sánh hành trình đi tìm cái đẹp trong thơ ca thời Thịnh Trần với thơ ca ở các giai đoạn sau
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác như: thống kê, phân loại,…
6 Kết cấu luận văn
Ngoài M ở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1:Thời đại, Thơ ca và Cái đẹp Chương này nêu những nét khái quát về thời Thịnh
Trần, thơ ca Thịnh Trần và trình bày các vấn đề mỹ học có liên quan
Chương 2:Thơ ca thời Thịnh Trần – cuộc hành hương đến với thánh địa của cái đẹp
Chương này cố gắng phác thảo lại hành trình đi tìm cái đẹp của con người thời Thịnh Trần qua
những tác phẩm thơ ca còn để lại Hành trình này khởi nguồn từ nhận thức về cuộc sống, đến ý thức
đi tìm sự viên mãn cho đời sống tâm linh và vươn tới cái đẹp hằng thường, cái đẹp đưa con người đến sự tự do hoàn toàn
Chương 3: Viên mãn của một thời – hành trình không lặp lại Trong chương này, để chứng
minh sự “độc nhất vô nhị” của hành trình đi tìm cái đẹp đã phác họa ở chương 2, chúng tôi sẽ đối chiếu với hành trình đi tìm cái đẹp của các nhà thơ giai đoạn sau (từ thời Vãn Trần cho đến thời nhà Nguyễn, trước khi thực dân Pháp xâm lược năm 1858)
Trang 13C HƯƠNG 1: THỜI ĐẠI, THƠ CA VÀ CÁI ĐẸP
1.1.Th ịnh Trần – thời kỳ phục hưng mạnh mẽ của dân tộc
1.1.1.Gi ới thuyết về thời Thịnh Trần
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, hai vương triều Lý – Trần có mối quan hệ
vô cùng đặc biệt, đó là sự chuyển giao quyền lực từ họ Lý sang họ Trần một cách êm đẹp, ít bạo lực
nhất bằng cuộc hôn nhân giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng.Vì vậy, có thể nói, nhà Trần đã kế
thừa gần như nguyên vẹn những giá trị vật chất và tinh thần từ triều đại trước và cùng với nội lực
của mình, vương triều này đã phát huy sức mạnh dân tộc lên đến mức cao nhất,lãnh đạo toàn dân vượt qua những cơn bão xâm lược dữ dội từ phương Bắc, hình thành nên hào khí riêng của thời đại – hào khí Đông A Tuy nhiên, như bất kì một triều đại nào khác, nhà Trần cũng không tránh khỏi
vận thịnh suy Nghiên cứu về nhà Trần, các nhà sử học thường chia thành hai giai đoạn rõ rệt là
Thịnh Trần và Vãn Trần
Nhà Trần bắt đầu từ năm 1225 và kết thúc vào năm 1400, tổng cộng 175 năm tồn tại, trải 12 đời vua.Thịnh Trần là thời kì hoàng kim của triều đạivới năm vị vua anh minh: Trần Thái Tông (1225 – 1258), Trần Thánh Tông (1258 – 1278), Trần Nhân Tông (1278 – 1293), Trần Anh Tông (1293 – 1314) và Trần Minh Tông (1314 – 1329) Vãn Trần là giai đoạn sau, khi nhà Trần bắt đầu suy thoái, chính thức tính từ thời Trần Dụ Tông (1341 – 1369), cho đến khi mất vào tay Hồ Quý Ly vào năm 1400 dưới thời Trần Thiếu Đế (1398 – 1400) Thực ra, nếu nói về giai đoạn thịnh của nhà
Trần, có thể kể thêm thời Trần Hiến Tông (1329 – 1341), bởi Hiến Tông là vị vua “tư trời tinh anh, sáng suốt” [36; tr.240], lại được sự dìu dắt của Thượng hoàng Minh Tông nên “vận nước vẫn thái bình” Như vậy, thời Thịnh Trần kéo dài suốt gần 116 năm, và hầu hết những thành tựu rực rỡ nhất
của vương triều nhà Trần đều đạt được ở giai đoạn này
1.1.2.Th ịnh Trần – thời đại hoàng kim
Ngay khi thay thế nhà Lý, nhà Trần đã có ý thức xây dựng một quốc gia Đại Việt hùng cường, phía Bắc tạo được thế đối trọng với Trung Quốc, phía Tây và phía Nam kiềm tỏa được Ai Lao và Chiêm Thành Do vậy, chính quyền đã tập trung cải cách về hành chánh, chế định pháp luật, phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, hoàn thiện về giáo dục, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là tổ chức quân đội chặt chẽ, kỉ luật nghiêm minh, sẵn sàng đương đầu với các thế
lực xâm lược Nếu thời đại LýTrần được xem là thời kỳ phục hưng lớn nhất của dân tộc thì có thể
khẳng định thời Thịnh Trần chính là thời kỳ phục hưng mạnh mẽ nhất về mọi phương diện Họ Trần
Trang 14tuy xuất thân làm nghề chài lưới ở làng Tức Mặc nhưng khi lên nắm quyền đã thể hiện bản lĩnh
vững vàng, trình độ lãnh đạo tuyệt vời và kiến tạo được vẻ đẹp tinh thần riêng của thời đại mình Đó chính là điều đặc biệt hiếm có trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam
Sự kiện nổi bật nhất làm chói lọi cho trang hùng sử thời Thịnh Trần chính là ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông thành công Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, chiến thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh mẽ không phải là chuyện hiếm, thế nhưng tại sao chiến thắng của nhà Trần lại trở thành một dấu ấn vàng son? Theo chúng tôi, vấn đề không chỉ nằm ở chỗ đối phương là một đế quốc siêu cường từng chinh phạt gần trọn châu Á, gần
nửa châu Âu mà cònlà ở tư thế chủ động và đỉnh đạc của quân dân nhà Trần trong cuộc chiến không cân sức.Sự chủ động đó, chúng ta đã từng thấy ở nhà Lý với ba lần chống Tống thành công, danh tướng Lý Thường Kiệt thậm chí từng đem quân đến tận Quảng Đông, Quảng Tây để đánh trận phủ đầu mang tính chiến lược nhằm phá vỡ thế tiến công của nhà Tống Đến nhà Trần, cách chiến đấu
và xây dựng đất nước trong thế chủ động đã trở nên là một hình mẫu lý tưởng cho đến ngày nay.Để
thấy được sự chuẩn bị chu đáo của nhà Trần trong những lần đối đầu này, chúng ta xem bảng thống
Nhìn vào những số liệu trên đây, chúng ta thấy chỉ 33 năm sau khi nhà Trần củng cố chính quyền đã phải đương đầu với quân đội Nguyên Mông Khoảng 27 năm sau, cuộc chiến thứ hai diễn
ra quyết liệt và gần như ngay sau đó, nhà Trần phải đối phó với cuộc xâm lược lần thứba từ phương
Bắc Thời gian trước và sau chiến tranh đều có những hoạt động ngoại giao căng thẳng giữa hai nước.Đất nước ta, xét về bất cứ phương diện nào cũng kém về qui mô so với phương Bắc nên đối đầu trực tiếp là việc chẳng đặng đừng Vì vậy, nhà Trần chọn giải pháp ngoại giao mềm dẻo nhằm
giữ mối giao hảo lâu dài Tuy nhiên, khi đứng trước nguy cơ bị xâm lược, vua tôi nhà Trần luôn quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc.Trước khi sang xâm lược nước ta lần thứ nhất,
Ngột Lương Hợp Thai ba lần sai sứ sang bắt vua tôi nhà Trần phải thần phục Lần nào, vua Trần cũng cho bắt giam sứ giả để tỏ rõ thái độ cương quyết của mình, bên cạnh đó là sự chuẩn bị chu đáo
về mọi mặt cho một cuộc chiến không thể tránh khỏi
Trong ba lần đối đầu với đại quân của con cháu Thành Cát Tư Hãn, nhà Trần đều ở tư thế
chủ động, càng về sau sự chủ động ấy càng được phát huy hơn.Chúng ta có thể thấy điều này qua câu trả lời “năm nay đánh giặc nhàn” của Tiết chếQuốc công Trần Quốc Tuấn khi vua Trần Nhân
Trang 15Tông hỏi về thế giặc ở cuộc chiến lần thứ ba Điểm chung của cả ba lần kháng chiến là khi giặc mới sang, quân thanh rất mạnh, quân dân nhà Trần đều phải tạm rút lui để bảo toàn lực lượng, nhà vua
xa giá khỏi kinh thành Thăng Long, thân chinh sương gió cùng tướng sĩ, nhiều lúc rơi vào tình thế nguy nan tưởng chừng phải quy hàng, nhưng nhờ vua tôi trên dưới một lòng “sát thát”, kiên trì chờ đợi thời cơ phản công nên giành được thắng lợi cuối cùng
Thời gian kháng chiến ngắn một cách đáng kinh ngạc, tổng cộng chỉ khoảng 15 thángcho ba
lần “đại chiến” Trung Hoa xâm lược nước ta bao giờ cũng đặt mục tiêu cai trị lâu dài, triệt tiêu tinh
thần dân tộc, đồng hóa về mọi mặt Nhưng suốt từ thời Lý đến thời Trần, mục tiêu này đã không thể đạt được Ngược lại, qua mỗi lần chiến thắng, hào khí Đại Việt càng tăng, con người Đại Việt càng
thể hiện được bản lĩnh và chiều sâu trong tâm hồn, trí tuệ, dân tộc Việt có thể ngẩng cao đầu trước dân tộc Trung Hoa
Sau những năm tháng chiến tranh, kể từ đời vua Anh Tông đất nước sống trong cảnh thái bình Vua chăm lo chính sự, mở mang học thuật, trọng dụng người hiền chứ không chỉ tin dùng người trong tôn thất Những bậc danh nho lỗi lạc như Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung
Ngạn, Chu Văn An, Trương Hán Siêu, danh tướng Phạm Ngũ Lão,… đã góp công to lớn cho sự ổn định và phát triển của nước nhà Bằng cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua nước Chiêm Thành, Đại Việt mở mang bờ cõi xuống phía nam Trước sự quấy nhiễu của Ai Lao, Chiêm Thành, các vua Trần thân chinh đánh dẹp và đều giành thắng lợi càng tạo uy thế cho Đại Việt Vua Minh Tông lên ngôi, tuy có phạm một lỗi lầm đáng tiếc là giết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn nhưng nhìn chung vẫn là vị vua anh minh, đức độ, kế tục xứng đáng sự nghiệp của các đời vua trước
Sản phẩm đặc biệt của thời Thịnh Trần chính là con người Chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy con người thời đại này không bị cuốn hoàn toàn vào chiến tranh, chém giết, căm thù mà ngược lại, mọi mặt đời sống đều đạt được thế cân bằng trên nền chiến tranh khốc liệt Họ thể hiện lòng yêu nước một cách tích cực nhất, đồng thời luônkhát khao hướng tới giá trị chân thiện mỹ, đạt đến sự hài hòa giữa đời sống hiện thực và tâm linh Trong chiến tranh, chúng ta cảm phục biết bao
trước lời của Trần Thủ Độ nói với vua Trần Thái Tông “Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì bệ hạ đừng
trước đã”, lời khẳng khái của Trần Bình Trọng với tướng giặc “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” Những lời nói ấy không chỉ thể hiện lòng trung nghĩa, đức hy sinh, tinh thần
trách nhiệm cao độ, tạo nên bước ngoặt quan trọng trong giờ phút sống còn của dân tộc mà còn là
lời thiêng mang tính chất kế thừa từ đời này sang đời khác
Đó là vẻ đẹp của con người thời ThịnhTrần trong thời chiến, còn trong đời thường chúng ta
thấy cách sống, cách ứng xử của họ cũng rất “lạ” Vua Trần Thái Tông, sau những biến cố trong
Trang 16đời, bèn rời hoàng cung lên núi Yên Tử tu hành nhưng không thành Kể từ đó, ông chuyên tâm vào
quốc sự và nghiên cứu Phật học Các vua Trần có truyền thống đi tu cũng khởi nguồn từ vị vua dám
từ bỏ ngai vàng như “trút bỏ chiếc giày rách” này Về sau, từ “ngọn đuốc sáng của thiền học Việt Nam” (chữ dùng của Nguyễn Đăng Thục) Trần Thái Tông, cùng với truyền thống tôn trọng Phật giáo từ đời Lý, cộng thêm sự dẫn dắt của Tuệ Trung Thượng sĩ đã xuất hiện vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông Đến đây, Thiền học Phật giáo kể từ khi truyền vào nước ta đã
có cái tư phong của dân tộc, làm nền tảng cho tinh thần Đại Việt Có được tinh thần chủ đạo này,
“xuất” – “xử” không còn là vấn đề, mọi tham sân si dứt bỏ, con người trở nên tự do “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong suy nghĩ và hành động Đương nhiên, hỗ trợ tích cực cho tinh thần thiền Tông chính là Nho giáo và Đạo giáo, tạo nên cái gọi là “Tam giáo đồng nguyên” Cả ba kết hợp hài hòa do Phật giáo có khả năng dung hợp tốt với cả hai học phái kia Nhờ vậy, thời đại này đã sản sinh ra những con người tài hoa về nhiều mặt, sống theo tinh thần nhân văn và hướng về cái đẹp vĩnh hằng
Cái chất hào hùng, phóng khoáng, cởi mở, tự tin của thời Thịnh Trần mới chính là vốn quý được hun đúc từ quá trình đấu tranh sinh tồn của dân tộc Vinh quang chiến thắng nào rồi cũng qua
đi, chỉ có giữ được vẻ đẹp tinh thần ấy mới mong giữ gìn được vận mệnh, nguyên khí của quốc gia Vương Triều Trần trong buổi hưng thịnh đã làm được điều này Nhà Trần trong buổi đầu hưng thịnh luôn điều hòa được hai mặt đối nội và đối ngoại Về đối nội, trong triều vua sáng tôi hiền, chưa xảy
ra tranh giành quyền lực, mưu hại lẫn nhau Giai cấp thống trị nêu gương sáng, dân chúng được giáo hóa tốt, nhờ vậy tạo được sự đoàn kết, yêu thương, đồng thuận trong cả nước Đó là sức mạnh nội
tại của dân tộc ta thời kì này Về đối ngoại, nhà Trần ý thức rõ điểm yếu điểm mạnh của mình, của ngoại bang để có chính sách ngoại giao phù hợp, biết tùy cơ ứng biến, khi mềm dẻo, khi cứng rắn để
giữ vẹn lãnh thổ lẫn thể diện quốc gia
Nhìn chung, Thịnh Trần là thời kỳ hoàng kim trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam Con người thời Thịnh Trần là sự kết tinh trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ dân tộc Thời gian trôi qua cùng bao biến thiên của lịch sử, vương triều Trần đã khép lại hơn sáu trăm năm Vậy mà con người
của thời đại hôm nay, khi tìm về với cội nguồn dân tộc, giở trang sử Thịnh Trần vẫn cảm thấy bàng hoàng về một cái gì đã mất – đã một đi không trở lại,đó chính là cách sống đẹp, sống hết kích thước
của cuộc sống và vươn tới chân giá trị của một con người
1.2.T hơ ca thời Thịnh Trần
1.2.1.V ị trí mở đầu cho thơ ca dân tộc
Trang 17Thời đại Lý Trần đã ghi một dấu ấn đẹp đẽ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời, cũng đánh dấu bước khởi sắc về văn hóa, khởi sắc nhưng lại đậm đà bản sắc và có chiều sâu nhất, của nước nhà Theo nhận xét của Phan Huy Ích “Nước ta, từ đời Lý Trần về sau, đã có
cũng khởi nguồn từ hai vương triều Lý Trần, và một trong những thành tựu văn hóa đáng trân trọng
của thời đại này, đó chính là văn chương Thơ văn Lý Trần mở đầu cho nền văn học thành văn Việt Nam Với vị trí đặc biệt như thế, thơ văn Lý Trần đã được các nhà nghiên cứu văn học từ xưa đến nay dành cho những đánh giá khách quan và xứng đáng
Phan Huy Chú, người được xem là nhà bách khoa lỗi lạc của Việt Nam vào thế kỉ XIX, đã
nhận định “Đến đời Lý, đời Trần nội trị, văn vật mở mang, kể tham định thì có những sách điển
chương điều luật, về ngự chế thì có các thể chiếu, sắc, thi, ca Trị bình đời đời nối tiếp, văn chương thanh nhã đầy đủ Huống chi kẻ sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng, sách vỡ ngày
chương Văn chương không chỉ có chất riêng “thanh nhã đầy đủ”, đa dạng về thể loại mà còn nhiều
về số lượng “trâu kéo phải mệt, nhà chất phải đầy” Tiếc là kho tàng văn học đồ sộ thời kì này đã bị
hủy hoại một cách không thương tiếc bởi chiến tranh Tuy vậy, khi tìm trong di sản, nhặt nhạnh lại chút ít từ đống tro tàn, chúng ta vẫn có thể hình dung được phần nào giá trị của thơ văn Lý Trần
Về khí chất văn học Lý Trần, Nhữ Bá Sĩ đã có ý kiến khá sắc sảo “Nước Việt ta, từ xưa gọi
đẹp mà hùng, rực rỡ mà có chất, đủ làm chứng cứ”[74, tr.132] Quả vậy, văn học bao giờ cũng
phản ánh trung thực đời sống của xã hội đương thời Xã hội Lý Trần nhìn chung có một đời sống tinh thần tự do, dân chủ, bình đẳng, cởi mở Chính tinh thần này đã hàm dưỡng nên những con người có bản lĩnh mạnh mẽ, khí phách hào hùng, sống cuộc đời vui tươi, giản dị Nhờ vậy, văn chương mới có được cái khí chất đặc biệt mà Nhữ Bá Sĩ đã nói
Khi biên soạn bộ sách Thơ văn Lý Trần, các học giả cũng đã đánh giá cao vai trò, vị trí của văn học giai đoạn này: “Có thể nói đó cũng là chặng đường hoàn chỉnh đầu tiên của nền văn học
văn học dân tộc Dĩ nhiên, nổi bật hơn cả trong sáu triều đại vẫn là Lý và Trần, hai cái mốc lịch sử bao trùm, nơi tập trung thành tựu của cả thời đại về nhiều phương diện”[105; tr.7]
Nằm trong nguồn mạch chung của thơ văn Lý Trần, thơ ca thời Lý Trần có vị trí đặc biệt –
mở đầu cho nền thơ ca dân tộc Trong Toàn Việt thi lục lệ ngôn, Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Nước ta
Trang 18l ời lẽ nõn nà có thể vốc được Hai vua Thánh Tông, Nhân Tông nhà Lý đều giỏi sách hay thơ… Các vua đời Trần cũng rất thích đề thơ, mỗi người đều có tập thơ riêng…, nói chung hứng thơ bằng
Quý Đôn đã xem thi ca như một yếu tố đểkhẳng định văn minh nước ta không thua kém Trung Hoa
Từ thời Tiền Lê, đến thời Lý, thời Trần truyền thống thơ ca được tiếp nối Những người đứng đầu
quốc gia lại là những người yêu thơ và cũng là những nhà thơ có cốt cách, phong thái riêng Chính tình cảm đó đã khuyến khích thơ ca đương thời phát triển
1.2.2 Đặc điểm thơ ca Thịnh Trần
Thơ ca Lý Trần vẫn thường được nghiên cứu chung với nhau, đặc biệt là mảng thơ thiền,bởi
vì bối cảnh văn hóa xã hội giữa hai triều đại có mối quan hệ mật thiết nên thơ ca có nhiều điểm tương đồng.Nằm trong truyền thống của văn học nước nhà, thơ ca Lý Trần thấm đẫm tinh thần yêu nước và nhân văn Đồng thời, về phương diện tư tưởng, thơ ca Lý Trần chịu ảnh hưởng của cả tam giáo –Nho, Phật, Lão– trong đó đạo Phật chiếm ưu thế.Tuy nhiên, nếu tách ra thì thơ ca đời Lý vẫn
có những điểm khác biệt so với thơ ca đời Trần Lực lượng sáng tác chủ yếu của thơ ca thời Lý là tăng lữ nên thơ ca thời này chủ yếu là thơ Thiền Vì vậy, thơ thời Lý đậm chất triết lý hơn trữ tình Xét về mặt nghệ thuật thì “thơ văn đời Lý nói chung khô khan, phần lớn nhằm mục đích thuyết minh
cho đạo lý Phật giáo”[45;tr.59] Có thể nói, thơ ca đời Lý chưa có sự đa dạng, hùng hậu về lực
lượng sáng tác, sự phong phú trong đề tài và sự điêu luyện trong nghệ thuật biểu hiện như thơ ca đời
Trần nhưng nó là nền tảng cho sự phát triển của thơ ca thời kì kế tiếp
Thơ ca thời Trần có thể chia làm hai chặng đường: Thịnh Trần và Vãn Trần Sự phân chia này không đơn thuần dựa trên yếu tố lịch sử mà còn dựa vào bản thân văn học Về mặt lịch sử, Vãn
Trần là thời kì xã hội bước vào suy thoái dẫn đến sụp đổ, nhưng xét về văn học, thơ ca thời Vãn
Trần không hề thua kém thơ ca thời Thịnh Trần, chỉ là về lực lượng sáng tác, nội dung tư tưởng,
cảm hứng chủ đạo đã có sự khác biệt khá rõ so với thơ ca thời kì thịnh trị
Vào thời Vãn Trần, Phật giáo đã nhường bước để cho Nho giáo giữ vị trí độc tôn nênlực lượng sáng tác chủ yếu của thơ ca thời kỳ này là các nhà nho, ít thấy thơ của các thiền sư như trước
đó, đồng thời tư tưởng Nho gia ảnh hưởng sâu sắc trong thơ ca, hơn hẳn Thiền và Lão Trang Đọc thơ Vãn Trần, chúng ta luôn day dứt bởi những hoài niệm về quá khứ vàng son của triều đại, về nỗi
lo đời thương dân trong sự bất lực của kẻ sĩ đương thời, về tâm sự bất đắc chí, trăn trở mãi nỗi niềm
“xuất xử” của nhà nho,… Nhìn chung, cảm hứng chủ đạo của thơ ca thời kì này là nỗi buồn thế sự Chúng ta không còn thấy phong thái tự tin, yêu đời như của con người thuở trước Vì vậy, khi thực
hiện đề tài này, chúng tôi tách thơ ca Thịnh Trần ra nghiên cứu, xem nó như một mảng thơ ca đặc
Trang 19thù biểu hiện trọn vẹn vẻ đẹp của con người thời đại – những con người khao khát vươn lên, mạnh
mẽ về nội tâm, biết đi tìm cái đẹp và đạt được cái đẹp hằng thường trong đời sống
Thơ ca Thịnh Trần bao gồm cả hai mảng thơ thiền và thơ thế tục (thơ nho) Nếu như thơ thiền đời Lý chủ đạo vẫn là chất triết lý thì Thơ thiền đời Trần có sự kết hợp hài hòa giữa chất triết
lý và trữ tình Thiền học thời kì này dường như xâm nhập vào đời sống ở mức độ tinh vi và sâu sắc hơn trước, nó không còn ở giai đoạn truyền bá giáo lý mà chuyển sang cảnh giới “Thiền trong ta, ta trong Thiền” Con người thời Thịnh Trần không chỉ thấy Thiền trong giáo lý mà còn thấy Thiền trong đời sống hàng ngày, trong từng chuyển động của cánh bướm, nụ hoa, ngọn cỏ Thiền đã thăng hoa thành cảm xúc, hòa vào dòng cảm xúc thi ca Vì vậy,“Thơ thiền thời Trần không trực tiếp biểu
đạt thiền lý như thơ thiền thời Lý mà chứa đựng thiền vị sâu xa và tinh tế trong cách nhìn, cách cảm
Riêng ở mảng thơ thế tục, đề tài khá phong phú: thơ bang giao khi tiếp tiễn sứ thần phương
Bắc, thơ vịnh sử của Trần Anh Tông, thơ hoài cổ, thơ vịnh cảnh, thơ ca yêu nước chống ngoại xâm,… Trước thời Trần, chưa bao giờ thơ ca dân tộc lại đa dạng về đề tài, dạt dào về cảm xúc như lúc này.Có thể nói, từ thơ thiền và thơ ca thế tục thời Thịnh Trần đã hình thành nên truyền thống yêu nước và nhân văn trong thơ ca Việt Nam
Sau đây là bảng thống kê tác giả và số lượng tác phẩm thơ ca thời Thịnh Trần:
STT TÊN TÁC GIẢ - NĂM SINH MẤT SỐ BÀI THƠ GHI CHÚ
1 Trần Thái Tông (1218 – 1277) 35 thơ, kệ, vấn đáp
2 Trần Tung –Tuệ Trung (1230 – 1291) 51 thơ, kệ, ngữ lục
Trang 20Bảng thống kê tác giả, số lượng tác phẩm này chúng tôi dựa vào quyển Thơ văn Lý Trần, tập
2, quyển thượng, Viện Văn học, Nxb Khoa học xã hội, 1978
Tổng cộng có 29 tác giả và 284 tác phẩm Bảng thống kê trên giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về thành tựu thơ ca thời kì này Số lượng tác giả tuy không nhiều nhưng có thể thấy lực lượng sáng tác phong phú, bao gồm vua, quý tộc, quan lại, thiền sư, đáng chú ý có một nhà thơ nữ là Nguyễn Thị Điểm Bích Trong đó, có những tác giả giữ nhiều vai trò khác nhau như vừa là vua vừa
là thiền sư, vừa là quý tộc vừa là cư sĩ; cũng có người tuy làm quan nhưng lại tỏ ra hâm mộ thiền
hoặc để lòng nơi thú giang hồ tiêu dao Rõ ràng, đó là biểu hiện của tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” ở con người Thịnh Trần Chính sự đa dạng và hài hòa trong tư tưởng của con người thời đại này đã góp phần làm cho những sáng tác thi ca của họ mang một sắc thái riêng không lẫn lộn
với bất kì thơ ca thời kì trước hay sau đó
Cách chọn tác giả được chúng tôi căn cứ vào mốc lịch sử Thịnh Trần đã xác định lúc đầu
Những tác giả nào sống vào thời Thịnh Trần sẽ được xếp vào đây Một số tác giả chưa rõ năm sinh,
năm mất thì căn cứ vào cách sắp xếp của các học giả biên soạn cuốn Thơ văn Lý Trần và nội dung
biểu hiện trong thơ ca của họ Cái khó là sự lựa chọn một số tác giả tiêu biểu sống vào buổi giao
thời giữa Thịnh và Vãn Trần như Trần Quang Triều, Nguyễn Ức, Nguyễn Sưởng Tuy chưa rõ năm sinh mất của Nguyễn Ức và Nguyễn Sưởng nhưngcó thể đoán họ sống cùng thời với Trần Quang Triều vì cả hai đều là thành viên của nhóm Thi xã Bích Động do Trần Quang Triều sáng lập
Xét về thời gian, Trần Quang Triều (1286 – 1325) phù hợp để xếp vào thời kì Thịnh Trần Tuy nhiên, với một số người nghiên cứu thơ ca Vãn Trần, họ vẫn chọn ông để khảo sát Thơ Trần Quang Triều thực tế vẫn mang phong thái tự tin, phóng khoáng, dạt dào Thiền vị của con người thời
thịnh trị, nhưng với bẩm tính vô cùng nhạy cảm, tinh tế, ông đã sớm cảm nhận được sự “manh nha
trước cuộc đời, những suy nghĩ sâu sắc về nhân sinh Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu coi ông như
một bài thơ còn để lại của Cúc Đường chủ nhân, chúng tôi xếp ông vào danh sách những tác giả của
thời Thịnh Trần Riêng Nguyễn Ức và Nguyễn Sưởng, chúng tôi thấy tuy sống cùng thời và là bạn thơ với Trần Quang Triều nhưng các nhà biên soạn Thơ văn Lý Trần lại xếp Nguyễn Sưởng vào quyển 2, Nguyễn Ức vào quyển 3 Sau khi đọc thơ của hai tác giả này, nhận thấy thơ của Nguyễn
Trang 21Sưởng gần với phong cách của thơ thời Thịnh Trần hơn Nguyễn Ức, chúng tôi quyết định chọn Nguyễn Sưởng, còn Nguyễn Ức thì xếp vào thời Vãn Trần
Về số lượng tác phẩm được thống kê, chúng tôi đặc biệt chú ý đến tác phẩm của những tác
giả Trần Thái Tông, Tuệ Trung và Trần Nhân Tông Bởi vì, ở ba tác giả này, ngoài những bài thơ ra còn có các bài kệ hoặc các câu thơ nằm xen trong những tác phẩm văn xuôi, chẳng hạn như Phổ
của Trần Nhân Tông Chúng tôi thống nhất cách thống kê như sau:
- Mỗi bài kệ được tính là một đơn vị tác phẩm
- Tất cả những câu thơ nằm xen trong các bài vấn đáp, ngữ lục,… được tính là một đơn vị tác
phẩm
Khi xem đây cũng là những đơn vị tác phẩm thơ, chúng tôi có thể sử dụng để minh họa trong bài viết của mình, cách ghi tên sẽ căn cứ vào tên gốc của tác phẩm
1.3.H ành trình đi tìm cái đẹp
1.3.1.M ột số quan niệm về cái đẹpcủa phương Tây và phương Đông
Cái đẹp là một phạm trù trung tâm của mỹ học, có bao nhiêu học thuyết mỹ học từ thời cổ đại cho tới nay thì có bấy nhiêu quan niệm về cái đẹp Dường như, khi nào còn tồn tại, con người vẫn luôn muốn tìm cho mình một định nghĩa hoàn hảo nhất về cái đẹp Thời cổ đại ở phương Tây, mỹ
học chưa phải là một khoa học riêng mà nóđược gieo trồng trên mảnh đất trù phú của triết học Có
thểnói, ba nhà triết học Hy Lạp lừng danh Socrate, Platon, Aristotleđã hợp thành nền tảng đầu tiên
của mỹ học“nếu không đi ngược lên cơn lũ lớn của tư tưởng phương Đông, nếu không nhắc lại các
Socrate đưa ra quan điểm về “cái đẹp tự nó” khi trả lời cho Hippias rằng “cái đẹp không phải
đẹp tự nó”[28;tr.9] Không dễ gì để hiểu được quan điểm về cái đẹp mang tính siêu hình này của
Socrate Tuy nhiên, người học trò xuất sắc của ông, Platon, đã phát triển quan điểm của thầy mình trên tinh thần biện chứng, đẩy “cái đẹp tự nó” lên đến mức tuyệt đối, có tính phổ quát và siêu việt
Đó là cái đẹp mang tính chất thần thánh Nhà nghiên cứu mỹ học Lâm Vinh đã nhận xét quan niệm
về cái đẹp của Platon như sau: “Theo Platon, thế giới chúng ta đang sống chỉ là cái bóng thô thiển
Trang 22đời tầm thường mà ta đang sống”[99;tr.45] Dù quan điểm của Socrate, Platon được cho là duy tâm,
thoát ly hiện thực đời sống nhưng nó lại cho chúng ta một cái nhìn thiêng liêng đối với cái đẹp, một
cái đẹp vĩnh hằng mà con người luôn luôn vươn đến để nâng cao giá trị của mình lên “Và phải
chăng khi ngắm vẻ đẹp vĩnh hằng với cơ quan duy nhất có thể nhìn thấy được nó, kẻ đó có thể sản
ảnh này, mà là những đức hạnh có thực và đích thực, vì kẻ đó chỉ có yêu chân lý mà thôi”
[28;tr.16]
Platon chưa bao giờ xác định thật chính xác cái đẹp là gì, nhưng Aristotle, trong cuốn Nghệ
đẹp theo quan niệm của Aristotle là cái hiện hữu trong đời sống, không hềvượt ngoài tầm với của con người Bản thân cái đẹp luôn có cấu trúc hoàn chỉnh, cấu trúc ấy phải nằm trong một kích thước
và trật tự hài hòa Aristotle cũng cho rằng nghệ thuật, cụ thể là thơ ca, nảy sinh từ đời sống, từ khả năng mô phỏng tài tình của con người và sản phẩm mô phỏng ấy mang lại sự thích thú cho con
người Sự mô phỏng đó không phải là bê nguyên xi hiện thực vào nghệ thuật mà là sự “sinh sản
nhân văn của Bacon là nằm trong tư tưởng này của Aristotle
Kể từ sau thời cổ đại, mỹ học phương Tây phát triển dần theo sự biến chuyển của xã hội Kinh qua các thời kỳ Trung cổ, Phục Hưng, Khai sáng, đến khi xuất hiện các nhà mỹ học của chủ nghĩa cổ điển Đức như Immanual Kant, Hegel,… các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga như Biêlinxki, Tsecnưsepxki,… quan niệm về cái đẹp luôn luôn biến đổi và hầu như chưa đi đến một quan điểm đồng nhất nào Nhìn chung, sự khác biệt trong quan niệm về cái đẹp là do các nhà mỹ
học đã xuất phát từ cơ sở triết học khác nhau, đó là duy vật hay duy tâm, chủ quan hay khách quan.Là một nhà duy tâm chủ quan, Kant không nghiên cứu bản thân đối tượng và thuộc tính thẩm
mỹ của nó mà chỉ nghiên cứu những phán đoán thẩm mỹ về đối tượng Đối với ông, mọi vẻ đẹp là
do sự đánh giá chủ quan Ông viết:“Sở thích là năng lực xét đoán một đối tượng hay một cách thức
trong cảm thụ cái đẹp, tính tự do, vô tư phi thực dụng của cái đẹp, đồng thời Kant cũng cho mọi người thấy rằng tình cảm thẩm mỹ mang tính chất vô tư, không vụ lợi
Hegel cũng như Kant là một nhà duy tâm, nhưng là nhà duy tâm khách quan Từ quan niệm
về ý niệm tuyệt đối nằm ngoài bản thân con người, nằm ngoài vật chất, có trước vật chất, là nền
Trang 23tảng sáng tạo ra tất cả mọi cái đang tồn tại, ông đã đề cao cái đẹp trong nghệ thuật Với ông, cái đẹp
của nghệ thuật hơn hẳn cái đẹp của tự nhiên bởi vì nó được con người sáng tạo nên, gắn bó với tinh
thần, với ý niệm tuyệt đối thông qua tư tưởng và lý trí của họ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quan điểm về cái đẹp của Hegel vừa có tính nhất quán vừa có tính mâu thuẫn Nhất quán ở chỗ, từ đầu đến cuối quan điểm về cái đẹp của ông xuất phát từ ý niệm tuyệt đối, tức từ tinh thần; mâu thuẫn ở
chỗ ông buộc phải thừa nhận quy luật lịch sử khách quan của cái đẹp
Các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga thế kỷ XIX Biêlinxki, Tsecnưsepxki đều cho rằng
“cái đẹp là cuộc sống”, “cái đẹp trong nghệ thuật là sự phản ánh cái đẹp ngoài đời”[18; tr.38] Họ
phản đối quan niệm về cái đẹp bất động, bất biến, bất tử của các nhà mỹ học duy tâm, đồng thời cho
rằng cái đẹp phụ thuộc vào những điều kiện sinh sống của nhân dân, trong xã hội có giai cấp thì cái đẹp cũng có tính giai cấp rõ rệt Với họ, lý luận mỹ học đã trở thành vũ đài đấu tranh chính trị
Trên thực tế, chúng ta thấy còn vô số những phát ngôn khác nhau về cái đẹp, đó có thể là phát ngôn của nhà triết học, khoa học, nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ,… Cái đẹp vốn dĩ là điều rất gần
gũi với đời sống, thế nhưng để nắm bắt bản chất của nó là điều không dễ dàng Chính vì vậy, nhà nghiên cứu Lâm Vinh đã nói“chân lí về cái đẹp là cuộc hành hương triết học đã mất hơn hai nghìn
năm”[99; tr.4].Và có lẽ, cuộc hành hương này sẽ vẫn còn tiếp tục cùng với bước đi của nhân loại
trong tương lai
Đối với Việt Nam, triết học và mỹ học phương Tây chỉ mới theo bước chân xâm lược của
thực dân Pháp du nhập vào kể từ thế kỷ XIX trở đi, trước đó rất lâu, chúng ta chịu ảnh hưởng hoàn toàn vào triết học và mỹ học truyền thống phương Đông, mà chủ đạo là các hệ tư tưởng Nho, Phật
và Lão.Thời Thịnh Trần lại là giai đoạn “Tam giáo đồng nguyên” dung hợp trọn vẹn và hài hòa
nhất Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu một số quan điểm mỹ học chứa trong nguồn minh triết phương Đông ấy để có thể hiểu được cái đẹp mà con người thời Thịnh Trần hướng đến có nét đặc sắc như
thế nào
Trước hết, chúng ta đi tìm cái đẹp trong tư tưởng Phật giáo, cụ thể là mỹ học Thiền Giai thoại đặc biệt về việc trao truyền tâm ấn của Đức Phật cho Ma Ha Ca Diếp là điều đầu tiên chúng tôi nghĩ đến khi tìm hiểu về cái đẹp trong truyền thống Phật giáo Thiền tông Hôm đó tại Linh Sơn, Như Lai không hề thuyết pháp một lời, một lúc sau ngài từ từ đưa lên một cành hoa sen, trong khi
mọi người còn chưa kịp hiểu điều gì thì Ma Ha Ca Diếp đã mỉm cười Đức Phật nói:“Ta có một kho
của Đức Phật, đóa hoa sen và nụ cười của Ma Ha Ca Diếp Giáo lý của Phật là phương tiện hướng
dẫn chúng sinh vượt qua biển khổ, đến bờ giác ngộ để đạt được sự an lạc hoàn toàn Con người chỉ
có thể đạt được sự an lạc khi tìm về với bản thể của chính mình thông qua sự thực chứng từ bên
Trang 24trong nội tâm Giáo lý của Phật dù thâm diệu đến đâu cũng chỉ là “ngón tay chỉ mặt trăng”, nếu chấp vào giáo lý thì mãi mãi không thể thấy mặt trăng, tức không thể đạt đến giác ngộ được Tâm an lạc (chân tâm, Phật tính) vốn là cái đẹp nội tại trong bản thân mỗi người, cái này vốn dĩ không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt.Chính vì vậy, Đức Phật mới dùng sự im lặng để biểu đạt, đó là tinh thần vô ngôn “Bất lập văn tự” của mỹ học Thiền Phật giáo
Thiền sư Nhất Hạnh đã kiến giải về vấn đề này rất sâu sắc:
phương tiện, là do “vọng duyên mà giả lập”, như thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã nói Nói ra thì dễ,
ngôn[21;tr.118]
Cũng chính vì “ngôn bất tận ý” nên Phật giáo có truyền thống dùng biểu tượng để khai ngộ cho người tu học, mà hình ảnh đóa hoa sen trong tay Phật là một minh chứng tiêu biểu Đó là cách
“lập tượng để tận ý” dựa vào khả năng cảm ngộ của từng người Như vậy, nụ cười của Ma Ha Ca
Diếp là biểu hiện cho sự tỏa sáng của nội tâm an lạc, cho vẻ đẹp thường hằng của chân tâm
Lục Tổ Huệ Năng từng bày tỏ cảm nghiệm sâu xa của mình về chân tâm hay tự tánh, bản thể
như sau: “Đâu ngờ tự tánh vốn thanh tịnh, đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt, đâu ngờ tự tánh
tánh là thấy được cái đẹp hằng thường vốn trong sáng tịch tĩnh, không sinh không diệt, tồn tại nơi
tất cả các pháp“Xanh xanh trúc biếc vốn là pháp thân / Mơn mởn hoa vàng đều là bát nhã” Nhiều người cho rằng Phật giáo“phủ định căn bản hiện thế đi vào “cửa không”, tìm cái đẹp siêu
ngộ nếu tách rời thực tại, và khi giác ngộ rồi lại càng phải trở về sống an nhiên với thực tại, như Thanh Nguyên Duy Tín thiền sư đã nói: “Lão tăng ba mươi năm trước lúc chưa tham thiền thấy núi
Có thể nói, nguồn hân thưởng cái đẹp theo quan niệm Thiền Phật giáo là vô tận Chúng ta chỉ
có thể đạt được nó khi phá bỏ chấp ngã, liễu ngộ nguyên lý “chân không diệu hữu”, “phiền não tức
bồ đề”, khi hàng phục được tâm, chỉ trong “một niệm”lập tức đạt đến cõi chân thiện mỹ vĩnh hằng
Tư tưởng mỹ học Trung Hoa chịu sự chi phối khá lớn của Đạo gia, chúng ta không thấy trong
Đạo đức kinh của Lão Tử hay Nam hoa kinh của Trang Tử một định nghĩa nào về cái đẹp, nhưng
Trang 25xuyên suốt trong tác phẩm của họ quan niệm về cái đẹp vẫn được thể hiện một cách sâu sắc theo lối
tư duy trực cảm đặc trưng của phương Đông.Theo chúng tôi, quan niệm cái đẹp của Lão Tử vốn dĩ xoay quanh cái gọi là Đạo Đạo là gì? Lão Tử nói:
hình), đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành khắp vũ trụ mà không
Trong vũ trụ có bốn cái lớn mà người là một Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên[90;tr.202]
Đạo là cái gốc của trời đất, vạn vật.Bất kể là cái gì đều được sinh ra từĐạo và cuối cùng trở
về với Đạo Đạo vốn dĩ “bắt chước tự nhiên” hay cũng có thể nói Đạo là tất cả các quy luật vận hành của tự nhiên khiến vũ trụ vạn vật tuân theo một diễn trình sinh hóa vô tận mà vẫn giữ được sự hài hòa vĩnh cữu Vì vậy, Đạo là cái đẹp tự nhiên, là cái “tận thiện” và “tận mỹ”, mãi mãi trường
tồn Đạo hay cái đẹp tự nhiên là cái không thể mô tả bằng lời “vô ngôn chi mỹ”, nghe bằng tai “vô thanh chi mỹ”, nhìn bằng mắt “vô sắc chi mỹ” Khi nói về Đạo, Lão Tử luôn tránh mô tả nó như
một đối tượng cụ thể có hình, thanh, sắc, mà chỉ gợi ra cho chúng ta hình dung chỗ diệu dụng của
nó mà thôi Chẳng hạn ở chương 21, ông viết: “Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; thấp thoáng
tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin”[90; tr.195].Hay ở
chương 35, ông dùng cái hữu thanh, hữu vị để so sánh với Đạo: “Âm nhạc với mĩ vị làm cho khách
qua đường ngừng lại; còn Đạo mà nói ra thì nó nhạt nhẽo, vô vị; nhìn kĩ nó không thấy, lắng nghe cũng không thấy, nhưng dùng nó thì không bao giờ hết”[90; tr.217] Đạo vốn “hư tĩnh”, “chất
phác”, “thâm viễn bất tuyệt” nên không có sức hấp dẫn như âm nhạc, mỹ vị là những cái trực tiếp tác động lên các giác quan của con người, nhưng dụng của nó vô cùng.F Jullien gọi đó là “cái nhạt”
– “giá tr ị của sự trung hòa, nằm ở điểm xuất phát của mọi tiềm năng và khiến cho các tiềm năng này giao lưu với nhau”[40;tr.927]
Hư tĩnh, chất phác đã trở thành một tiêu chí thẩm mỹ trong đời sống và trong văn học nghệ thuật Trung Hoa nói riêng, phương Đông nói chung Nó hướng con người trở về với tự nhiên, sống
cuộc đời thuần phác, giản dị, “vô vi”, “vô tư”, “vô dục”, “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh” để cuối cùng thể hợp được với Đạo, tức cái đẹp tuyệt đối Nếu con người chưa“dứt thánh, bỏ trí”, “dứt nhân,
bỏ nghĩa”, “dứt xảo, bỏ lợi” thì không bao giờ biết được thế nào là cái thiện, cái mỹ đích thực Lão
Tử đã nói: “Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái xấu; ai cũng cho
điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác”[90; tr.165] Phải chăng Lão Tử đang
Trang 26phủ nhận cái thiện, cái mỹ? Không, ông chỉ phủ nhận cái nhìn đầy phân biệt trong đầu óc chứa vô vàn khái niệm đối lập của con người (Phật giáo gọi đó là cái nhìn “nhị nguyên”) Thực ra, đẹp –
xấu, sống – chết, âm– dương, đầy – vơi, sang – hèn, họa – phúc,… đều là những cặp “khái niệm
tương phản tương thành, mà chính những vật tương phản tương thành đó đã hình thành nên cái hòa
Riêng đối với văn học nghệ thuật, quan điểm “hiện tố bão phác” (Thể hiện sự giản dị, giữ
gìn sự mộc mạc), “mỹ ngôn bất tín” (lời nói hoa mỹ thì không chân thật) của Lão Tử cùng với
gì có thể tranh đẹp với nó) của Trang Tử đã làm nên cái phẩm chất mỹ học chất phác, thanh đạm, tự nhiên, thuần chân của văn học nghệ thuật Trung Hoa, đặc biệt là trong các lĩnh vực âm nhạc, hội
họa và thơ ca
Học thuyết Nho gia hướng đến cải biến xã hội, giáo hóa đạo đức cho con người nhằm xây
dựng một xã hội lý tưởng như thời Chu Công Khổng Tử tin vào vũ trụ quan Dịch, tin vào sự vận hành biến hóa không ngừng của sự vật Sự vận hành này có trật tự, có hòa điệu Lẽ huyền vi, sâu kín, mầu nhiệm của trật tự ấy con người không thể cưỡng lại được Khổng Tử gọi đó là “Đạo trời” hay “Mệnh trời”
Khổng Tử quan niệm “mệnh trời” là sự quy định trật tự trong trời đất, trong vạn vật, trong cả
xã hội loài người, trong mỗi con người Con người không cải được mệnh trời, chỉ có thuận theo nó
mà thôi Trong sách Lu ận ngữ, Khổng Tử viết: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh trời,
trời là điều kiện để trở thành con người hoàn thiện “Không hiểu biết mệnh trời, thì không lấy gì làm
người quân tử”.Người quân tử hiểu biết “thiên mệnh” phải bằng quá trình tu dưỡng tâm Tâm theo
Nho gia là “ý th ức đạo đức của chủ thể, từng bước thực hiện tự giác đạo đức theo đà nhận thức lý
chủ yếu của loại đạo đức nội tâm chính là nhân ái và lễ nghĩa Nhân tâm hoàn mỹ nhất là hoạt động hoàn toàn tuân theo nhân ái và lễ nghĩa mà không cảm thấy có bất kỳ sự ràng buộc gò bó nào Đó là
sự hoàn thiện cao độ của nhân cách Mạnh Tử thì cho rằng “Tâm là bộ máy tư duy và quá trình tư
duy, đạo đức nhân nghĩa của con người sinh ra từ cái tâm thiện nội tại của bản thân, con người có
cao thượng”[94;tr.73]
Cả Khổng và Mạnh đều cho rằng con người vốn tính thiện, chỉ vì “tính tương cận, tập tương
viễn” nên mới có người hiền người ngu, người tốt kẻ xấu Do vậy, con người phải rèn luyện để trở
về với cái tính ban đầu mà mệnh trời đã cho.Người quân tử theo học thuyết Nho giáo luôn uốn mình
Trang 27theo đạo “khắc kỉ phục lễ vi nhân” nhưng điều đó không có nghĩa là họ luôn luôn cảm thấy gò bó,
mất tự do Ngược lại, với cái tâm trong sáng “hư nhất nhi tĩnh” thuận theo “Đạo Trời”, họ luôn cảm
thấy tự do tự tại trong sự hài hòa của của trời đất, vạn vật và con người Sở dĩ Khổng Tử nhấn mạnh
việc học tập, hoàn thiện đạo đức là vì lý tưởng nhập thế tích cực của ông Ông quan niệm người quân tử phải “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Nếu Lão Tử chủ trương “dứt thánh, bỏ trí”, trở về với tự nhiên, sống thuần phác giản dị để
thể nhập vào Đạo thì Khổng Tử lại chủ trương học tập, rèn luyện tu dưỡng nội tâm theo những quy
tắc đạo đức có sẵn để thấu hiểu “Mệnh Trời”, thực hiện phận sự của con người sao cho hòa hợp với
ý trời, như vậy mới mong có được xã hội tốt đẹp
Đối với Nho giáo, cái đẹp gắn liền với cái chân, cái thiện, với lý tưởng nhập thế tích cực, với quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của con người Người quân tử tu dưỡng đạo đức phải theo đạo trung dung, tức là lúc nào cũng phải giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập F Jullien đã bình luận về tính trung hòa này như sau: “Theo các nhà nho
tính trung hòa mà ta đương nhiên có cái nhạt bất di bất dịch làm dấu hiệu cho nhà hiền triết”[40;
tr.949].Bàn về mối quan hệ giữa cái đẹp và cái chân, cái thiện, Khổng Tử cũng dựa trên tính trung hòa này Trong Luận ngữ, ông viết: “Chất phác mà bỏ qua lịch sự, văn vẻ, sẽ có điểm hơi thô tục
Văn vẻ, lịch sự mà bỏ qua chất phác, sẽ có điểm hơi giả dối Văn vẻ và chất phác có tỷ lệ bằng nhau
cái thiện, cái chân và cái mỹ mới chính là cái đẹp thật sự Nếu một yếu tố nào nổi trội hơn hẳn, lấn
át yếu tố kia thì sẽ không có chân, thiện và mỹ nữa Cái đẹp phải là sự hài hòa giữa nội dung và hình
thức Từ quan niệm như thế về cái đẹp, Khổng Tử rất coi trọng chức năng giáo hóa của văn chương, văn chương phải thể hiện được sự hài hòa, phải chứa đựng trong nó giá trị đạo đức tốt đẹp “văn dĩ
tải đạo, thi dĩ ngôn chí” Khi san định Kinh Thi, ông viết: “Chỉ có vùng Chu Nam và Thiệu Nam,
chính đã được sự giáo hóa của Văn Vương mà trở nên đức hạnh, mọi người dân đều giữ được tính tình đoan chính, cho nên phát ra lời thơ vui mà không đến nỗi dâm, buồn mà không đến nỗi thương
phong”[92;tr.33]
Như vậy, dù là phương Tây hay phương Đông, tự cổ chí kim, cái đẹp vẫn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong đời sống nhân loại, nhu cầu về cái đẹp là nhu cầu có tính bản chất
của con người Điểm thống nhất cơ bản trong các quan niệm về cái đẹp là bao giờ nó cũng gắn liền
với cái chân, cái thiện.Các nhà mỹ học phương Tây luôn muốn dùng tư duy lý tính khám phá đến
tận cùng bản chất của cái đẹp, muốn thông qua ngôn ngữ để định nghĩa đẹp là như thế nào Trong khi đó, truyền thống mỹ học phương Đông – được thể hiện qua tư tưởng Nho Phật Đạo – lại dùng tư
Trang 28duy trực cảm để khám phá cái đẹp trong một tổng thể nguyên trạng “thiên địa nhân hợp nhất”, tức là thông qua một hành trình nội tâm để đi đến chân thiện mỹ Cái đẹp của phương Đông mang tính
chất tâm linh, hằng thường, không bị giới hạn khu biệt trong một phạm vi nào, không thể dùng ngôn
ngữ để định nghĩa và con người chỉ có thể đạt được nó bằng kinh nghiệm nội tâm
1.3.2 Hành trình đi tìm cái đẹp – hành trình nội tâm của con người
Có một sự thật hiển nhiên là khi được thỏa mãn các nhu cầu vật chất, con người cũng cảm
thấy hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đó không tồn tại dài lâu, thậm chí nhu cầu vật chất càng tăng, con người càng mất tự do và trở thành nô lệ cho chính những nhu cầu của mình Hạnh phúc thật sự phải
là sự thỏa mãn về các nhu cầu tinh thần và chỉ có cái đẹp mới đáp ứng được điều này Vì vậy, có người xem hành trình đi tìm cái đẹp là hành trình đi tìm hạnh phúc và tự do của con người
Thời cổ đại phương Tây, Platon đã nói đến quá trình con người đi tìm vẻ đẹp cao nhất, vẻ
đẹp vĩnh hằng, vẻ đẹp thần thánh để cuộc sống trở nên tràn đầy niềm vui và ý nghĩa: “Còn gì để nói
con người tình yêu và niềm vui thôi”[28; tr.16] Khi tiếp cận quan điểm này của Platon, chúng ta
thấy ông dường như gần với các nhà hiền triết phương Đông ở lối tư duy trực cảm Nhưng Platon đã không thể đi sâu vào địa hạt tâm linh của phương Đông, không chỉ ra bằng cách nào con người có
thể hòa nhập vào cái đẹp thần thánh mà ông đã nói Do vậy, cái đẹp của ông vẫn mãi mãi ở trên cõi thiên đường xa xôi mà con người không sao với tới được
Tư duy trực cảm của phương Đông cho phép nắm bắt được bản chất của thế giới mà không
cần thông qua sự phân tích, lý giải trên từng đối tượng riêng lẻ Người phương Đông quan niệm
động mà trong đó tất cả đều được nối kết và liên tục tác động lẫn nhau”[78; tr.21] Hành trình
khám phá thế giới của người phương Đông vì vậy cũng là một hành trình nội tâm, được thực hiện
bằng sự quán tưởng bên trong Nói như Lão Tử là “Bất xuất hộ, tri thiên hạ; bất khuy dũ, kiến thiên
đạo” (Không ra khỏi cửa lớn mà biết thiên hạ; không liếc nhìn cửa sổ mà biết đạo trời)[89;tr.59]
Như trên đã nói, cái đẹp theo quan niệm phương Đông mang tính chất tâm linh, hằng thường và cách duy nhất để con người đạt được nó chính là quay về với nội tâm của chính mình Thế nhưng,
con đường quay vềnội tâm không hề dễ dàng, nó đòi hỏi phải có sự “tri hành hợp nhất”.Đối với Thiền Phật giáo, đó là lý nhập và hạnh nhập; đối với Nho giáo, đó là một quá trình tu tâm, rèn luyện đạo đức không ngừng; đối với Đạo giáo, đó là trở về với tự nhiên thuần phác Con đường mà cả ba
Trang 29học thuyết này đề ra đều được xây dựng trên nền tảng là một chữ Tâm Vì vậy, con người cần phải dưỡng tâm, rèn tâm, đưa tâm trở về trạng thái “hư nhất nhi tĩnh” hay “tâm tịch nhi tri” mới mong
nhận thức được chân lí “Tâm tịch nhi tri” tâm thể yên lặng trong sáng mà biết, đấy là cái biết toàn
thường của người đời về chân, giả, thiện, ác, mỹ, ố tương đối”[80;tr.65]
Hành trình trở về nội tâm của con người chúng tôi gọi đó là hành trình đi tìm cái đẹp.Mặc dù
vậy, chúng ta đừng hiểu “đi tìm” là một sự cầu tìm, có mục đích và bằng mọi giá phải đạt được Nếu
hiểu như vậy thì hành trình này chứa đầy đau khổ, không thể đưa đến sự giải thoát, sự giác ngộ của tâm Trong Đối diện với cuộc đời, Krishnamurtiđã lắng nghe mục đích tìm kiếm Thượng đế suốt cả
cuộc đời của một cụ già như sau:“Tôi tìm kiếm vì nếu không có Thượng đế, cuộc đời sẽ vô nghĩa
Và ông ta đã không hề đạt được mục đích của mình Krishnamurta nói cho ông biết nguyên nhân:
Đó chính là, vì thống khổ trước cái vô thường, chúng ta đeo đuổi một cách đầy hy vọng để
hướng, vào hy vọng được hết khổ Thế nên trong ta sinh ra hai mặt của một bên là tình trạng có
và nó được sinh ra từ chính sự phiền não Cái đối nghịch – dù ta tô vẽ thế nào – chính là nhân tố
Rõ ràng, việc nhận thức được thế giới vô thường mới là điều cốt yếu để giải thoát tâm ra khỏi
mọi sự phân biệt, cố chấp hay tìm kiếm Chạy trốn khỏi vô thường – cũng đồng nghĩa với chối bỏ
thực tại – là điều bất khả và chỉ mang lại đau khổ Vậy thì, bằng sự chuyển hóa trong tâm thức, con người sẽ chuyển hóa được cái vô thường thành cái hằng thường Vạn vật, kể cả nội tâm của con người đi theo dòng chảy vô thường, nhưng quy luật chuyển biến muôn thuở của nó chính là cái
Trang 30hằng thường Nếu không có vô thường thì không thể có sự vận động, phát triển Do đó, con người
cần phải nhận thức đúng đắn về vô thường để sống trọn vẹn với thực tại, hân thưởng và yêu thương
cuộc sống của mình Có như vậy, vô thường sẽ mang ý nghĩa của cái đẹp vĩnh cửu
Chúng tôi cho rằng, con người thời Thịnh Trần là những con người biết thực hiện một hành trình nội tâm để vươn tới cái đẹp hằng thường Từ các ông hoàng bà chúa, quan lại cho đến thứ dân,
tất cả đều coi trọng đời sống tâm linh, coi việc rèn luyện tu dưỡng tâm là mục đích của đời sống
Bản sắc dân tộc Việt là con người hiền hòa, hướng nội hơn hướng ngoại, không chìm đắm trầm tư trong thiêng liêng vô giới, trọng thực tiễn, sống thanh đạm, gần gũi với thiên nhiên, không xa hoa
Bản sắc này đã bắt gặp tính minh triết trong tư tưởng Phật, Nho, Đạo, và từ đó tất cả hòa quyện với nhau mà hun đúc nên khí chất đặc biệt của con người thời đại
Thơ ca là chiếc gương soi của thế giới tâm hồn con người, vì vậy, chúng tôi muốn thông qua thơ ca Thịnh Trần để tìm lại một hành trình nội tâm sâu thẳm – hành trình đi tìm cái đẹp thường
hằng – để một lần được bước trên con đường tràn ngập ánh sáng của niềm an lạc nội tâm của người xưa
Trang 31CHƯƠNG 2: THƠ CA THỊNH TRẦN – CUỘC HÀNH HƯƠNG ĐẾN
THÁNH ĐỊA CỦA CÁI ĐẸP
2.1.T ừ sự nhận thức sâu sắc về cuộc đời
Trong Thi ền tông chỉ Nam tự, Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần, đã kể về hành
trình gian khổ đi tìm sự bình yên trong tâm hồn của mình Nhà vua trẻ nhận thức rõ sự thành bại của vương triều mới được tạo dựng phụ thuộc hoàn toàn vào ông Thế nhưng, đứng trên đỉnh cao quyền
lực nhà vua không cảm thấy hạnh phúc, ngược lại, ông chỉ thấy cuộc đời đầy đau khổ, nhất là nỗi
khổ tử biệt sinh ly Ông quyết tâm từ bỏ ngai vàng tìm về nơi núi cao am vắng nhằm dứt bỏ duyên
trần, cầu mong “được thành Phật” Nhờ có sự quyết đoán của Trần Thủ Độ, sự khuyên can của quốc
sư Viên Chứng, Trần Thái Tông đã trở về làm tròn phận sự của một vị vua, đồng thời luôn chuyên tâm đến “việc nghiên cứu nội điển”, tìm Phật trong tâm Ở cả hai cương vị tưởng chừng như đối lập hoàn toàn, chúng ta thấy nhà vua đã dung hòa nó một cách tuyệt vời để cuối cùng có thể đặt một
dấu chấm hết thật tròn cho một đời người Cuộc đời của Trần Thái Tông có thể xem là một tiêu biểu cho con người thời Trần Con người thời đại này có sự nhận thức sâu sắc về mọi phương diện của đời sống Nhận thức ấy trở thành một nguồn cảm hứng dạt dào trong thơ ca Thịnh Trần, bao gồm cả thơ thiền và thơ thế tục
2.1.1 Vô thường – lẽ tự nhiên chi phối vạn vật, con người
Một trong những nhận thức quan trọng của các tác giả thơ ca Thịnh Trần là nhận thức về lẽ
vô thường Hiểu đơn giản thì vô thường nghĩa là không chắc chắn, là thay đổi Theo Từ điển Phật
h ọc, vô thường là đặc tính chung nhất của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại, diệt
Từ tính vô thường ta có thể suy ra hai đặc tính khác của vạn sự là khổ và vô ngã Vô thường là gốc
của khổ và cũng là cơ sở để dẫn đến kết luận về tính không của vạn vật Tri kiến vô thường là cách
duy nhất để đối mặt với thực tại đầy đau khổ và thoát được chấp ngã trong bản thân mỗi người Trong thơ ca Thịnh Trần, thiên nhiên, con người, thời đại đều được nhìn qua lăng kính vô thường
Đó là sự chiêm nghiệm một cách thâm trầm để thấu hiểu quy luật biến diệt chi phối vạn hữu
Từ trong sâu thẳm tâm linh của người phương Đông, thiên nhiên và con người có mối quan
hệ mật thiết Thiên nhiên với bao biến đổi của nó là sự phản chiếu cho quá trình “sinh lão bệnh tử”
và cả sự thay đổi tâm thức của con người Do đó, các nhà thơ luôn đặt sự vô thường của thiên nhiên
và con người trong thế tương quan, song hành Trong thơ Trần Thái Tông, Tuệ Trung, thân mệnh con người thường được so sánh với các hình ảnh thiên nhiên như: “bọt bể lênh đênh”, “cây cỏ bồ,
Trang 32cây liễu”, “cây nấm”, “móc”, “sương”, “sấm”, “chớp”, “băng gặp nắng trời”, “ngọn đèn trước gió” Tất cả những hình ảnh này đều có điểm chung là mong manh, yếu ớt, chóng tan, chóng tàn,
có đó rồi mất đó Kiếp người cũng như vậy, nhỏ nhoi, mong manh và ngắn ngủi trong vũ trụ vô cùng, thời gian vô tận Chúng ta thử đọc hai câu thơ sau của Trần Thái Tông:
Thân như băng kiến hiệu,
(Sơ nhật vô thường kệ) (Thân như băng gặp nắng trời,
Mệnh tựa ngọn đèn trước gió.)
(Kệ vô thường buổi sớm)
Cách so sánh của tác giả vừa cụ thể vừa sinh động, có khả năng tác động trực tiếp đến sự tri
nhận của con người về một sự thật mà con người không bao giờ muốn chấp nhận Băng gặp nắng
trời sẽ tan chảy, ngọn đèn ra trước gió sẽ vụt tắt, đó là một quá trình tương tác giữa các hiện tượng theo luật nhân quả để dẫn đến “thành, trụ, hoại, diệt” Thân, mệnh con người cũng tuân theo quy
luật đó Gặp duyên, tứ đại hợp; hết duyên, tứ đại tan Thế nên, thân, mệnh không phải là cái thường
hằng, bất biến Con người dù thế nào cũng không tránh khỏi vòng “sinh, lão, bệnh, tử” Trần Thái Tông từng ví sinh, lão, bệnh, tử của con người như bốn ngọn núi Núi thứ nhất là tướng sinh, ứng
với mùa xuân trong năm Núi thứ hai là tướng già, ứng với mùa hạ trong năm Núi thứ ba là tướng
bệnh, ứng với mùa thu trong năm Núi thứ tư là tướng của sự chết, ứng với mùa đông trong năm
Nếu con người cứ chấp vào sắc thân, coi đó là cái thật thì khó lòng vượt qua được bốn núi mà không đau khổ, thậm chí không thể thoát được luân hồi và ở mãi trong vòng sinh hóa Trong bài kệ
vật “Không” ở đây không có nghĩa là không có, không tồn tại mà là không cố định, luôn sinh diệt, đổi dời:
(Bốn núi chót vót muôn khóm xanh,
Hiểu rõ tất cả là hư vô, vạn vật là không.) Cũng là vấn đề sinh, lão, bệnh, tử của con người nhưng các nhà thơ thế tục lại có cách cảm
nhận khác với các thiền sư Khi đi thuyền dạo chơi ở động Phù Thạch, Phạm Ngộ nhớ lại ngày xưa cũng tại nơi đây, thuở mình còn trẻ thơ để tóc trái đào theo hầu thân phụ, đề thơ ngâm vịnh vui vầy Nay, cảnh vật vẫn như cũ riêng người thì mái đầu đã bạc Năm tháng trôi qua, đoạn đời tươi đẹp ngày xưa đã là dĩ vãng, đối mặt cùng thực tại thấy khói sóng dặm nghìn mờ ảo, lòng nhà thơ dâng lên một nỗi sầu mênh mang:
Trang 33Kim niên trùng tác Phù Th ạch du, Giang sơn như cố, nhân bạch đầu
(Du Phù Thạch nham nãi tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác)
(Năm nay trở lại dạo chơi ở Phù Thạch, Non sông vẫn như cũ, nhưng người đã bạc đầu
Mải vui, năm tháng trôi qua không trở lại, Khói sóng dặm nghìn gợi buồn nhớ vẩn vơ.) (Cảm tác lúc đi thuyền dạo chơi ở động Phù Thạch là nơi tổ tiên tu hành)
Trong bài thơ Vãn Trần Trọng Trưng, Trần Thánh Tông bày tỏ niềm thương tiếc vô hạn
trước sự ra đi vĩnh viễn của một bề tôi tài giỏi và trung thành của triều Nam Tống:
Đông phong thấp lệ vị thương tình
Vô đoan thiên thượng biên niên nguyệt,
(Đau đớn khóc người bề tôi giỏi kì cựu của đất Giang Nam, Trước gió đông đẫm lệ thương xót cho ông
Vô cớ mà sổ trời lại ghi năm tháng của ông,
Chẳng kể gì đến trần gian ai nên sống mà ai nên chết.)
Có thể thấy, đối với Phạm Ngộ hay Trần Thánh Tông, “sinh, lão, bệnh, tử” không chỉ được
nhận thức như một quy luật mà còn là ngọn nguồn cho bao cảm xúc trong tâm hồn
Con người tri kiến được vô thường thông qua trục thời gian tịnh tiến Bao giờ người ta cũng
nhận thức rõ nhất sự đổi thay khi đối chiếu hiện trạng của sự vật qua từng thời điểm: năm nay với năm trước, hôm nay với hôm qua, thời khắc này với thời khắc vừa trôi đi Hay cũng có thể nói, con người nhìn thấy dòng chảy vô hình của thời gian thông qua sự biến đổi hữu hình của vạn vật Hàng ngàn năm trước, khi đứng trước dòng sông trôi chảy không ngừng, Khổng Tử đã buông lời cảm thán:Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ (Chảy mãi như thế này ư, ngày đêm không nghỉ) Tuệ Trung
cũng từng mượn hình ảnh Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh / Đông lưu phó hải khởi hồi ba
(Mặt trăng phương Tây chìm xuống chân trời thì bóng trăng khó quay trở lại / Dòng Đông ra tới
biển thì sóng nước há có thể trở về) (Thế thái hư huyễn) để chỉ sự thay đổi của vạn vật khi thời gian
qua đi Thời gian “như bóng ngựa qua kẻ vách”, “như tên bay”, “như nước sa” là những cách ví von thường thấy trong thơ ca Thịnh Trần Và trong dòng thời gian đó, đời người, công danh, giàu sang, phú quý, nhân tình thế thái thay đổi khôn lường Tuệ Trung cảnh tỉnh:
Trang 34Ôi chao! Thời gian thấm thoắt như bóng ngựa qua kẻ vách
Con đường làm quan sao mà hiểm trở đến thế!
Thói đời nóng lạnh ta hãy tạm quen.)
(Bài ngâm cuồng phóng)
Ở các bài Phàm thánh bất dị, Trữ từ tự cảnh văn, Tuệ Trung thượng sĩ nhiều lần ví vinh hoa,
phú quý như phù vân (như mây nổi) bởi ông thấu hiểu lẽ vô thường tác động đến mọi mặt của đời
sống như thế nào Không chỉ ông mà nhiều nhà thơ khác cũng có cách nhìn nhận tương tự về giàu sang, phú quý Trần Thái Tông xem đó “như một giấc mộng” (Khuyến thế tiến đạo); Huyền Quang
thì cảm thán “Giàu sang như mây nổi chậm chạp chưa đến / Quang âm như nước chảy, hối hả giục
nhau qua” (T ặng sĩ đồ tử đệ); Phạm Ngộ chiêm nghiệm “cảnh giàu sang như mây nổi, đã không
đáng kể” (Yết Vạn Tải từ đường)
Nói đến nhân tình thế thái thay đổi khó lường, Trần Quang Triều đã có một tứ thơ độc đáo:
Nhân tình sơ mật xao bồng vũ,
(Chu trung độc chước) Tình người thưa nhặt như mưa gõ mui thuyền, Thói đời lên xuống như nước triều vỗ bờ.)
(Uống rượu một mình trong thuyền)
Mới đọc qua lời thơ của Cúc Đường chủ nhân ta tưởng chừng đó chỉ là một tâm sự u buồn mang tính cá nhân nhưng thực ra đó còn là một nhận định mang tính khái quát, xuất phát từ sự hiểu đời sâu sắc của nhà thơ Trần Quang Triều không cố định “tình người” và “thói đời” vào một tình
thế duy nhất tiêu cực mà nói lên sự vận động, biến đổi giữa hai trạng thái tiêu cực và tích cực thông qua các cặp từ đối lập và lối so sánh giàu hình ảnh “thưa” – “nhặt” như “mưa gõ mui thuyền”, “lên” – “xuống” như “nước triều vỗ bờ” Nhờ vậy, chúng ta hiểu rằng nhân tình thế thái ấm lạnh cũng là
lẽ thường, phải thấu triệt để không rơi vào cố chấp dẫn đến đau khổ
Ngay khi triều Trần đang hưng thịnh, con người thời này cũng luôn nhận thức một cách sáng
suốt về lẽ hưng vong của triều đại Xét theo quy luật chung về sự biến diệt của vạn hữu “người đời
có thịnh có suy, hoa kia có tươi có héo”, Tuệ Trung nhìn nhận sự hưng vong hết sức nhẹ nhàng:
Trang 35Qu ốc chi hữu hưng hề hữu vong,
(Trừu thần ngâm)
(Quốc gia có hưng thì có vong,
Thời thế có thái thì có bĩ.) (Bài ngâm bĩu môi)
“Hưng – vong”, “thái – bĩ” đều là những cặp tương phản tương thành tạo nên sự hài hòa của
trời đất, vạn vật Triều đại là do con người lập ra, nếu được vận hành đúng quy luật, giữ được sự hài hòa thì “hưng”, tồn tại dài lâu; nếu đi ngược lại với quy luật, làm mất sự hài hòa thì “vong” trong
một sớm một chiều Vì vậy, trước đây, thiền sư Pháp Thuận đã từng nhắc nhở bậc quân vương phải
thực hiện “vô vi cư điện các” mới đảm bảo được vận mệnh nước nhà Cùng một suy nghĩ về lẽ hưng vong của triều đại, nhưng Đinh Củng Viên – vị đại thần được vua Trần Anh Tông rất quý trọng – lại
có cách thể hiện khác với Tuệ Trung Đứng trước bức tranh vẽ cảnh Cù Đường, một khúc sông có địa thế hiểm trở, từng là vị trí quân sự trọng yếu trong các cuộc chiến tranh ở Trung Quốc thời xưa, Đinh Củng Viên thấy hiện lên hình ảnh hoang tàn với cờ xí ủ rủ, đám cỏ thu lơ thơ, trống, tù và trên núi hoang tiễn bóng chiều Trước sự thay đổi quá lớn của cảnh vật, nhà thơ thốt lên câu hỏi:
Thiên địa hữu thùy cùng biến diệt, Bút đoan vô khẩu ngữ hưng vương (vong)
(Cù Đường đồ) Trong trời đất có ai hiểu thấu lẽ biến diệt?
Ngọn bút không có miệng vẫn nói chuyện hưng vong
(Đề bức tranh Cù Đường) Đinh Củng Viên đã cảm nhận cảnh vật Cù Đường qua sự đối chiếu giữa những chi tiết người
họa sĩ đã vẽ trong tranh với một Cù Đường lẫy lừng thời quá khứ Đâu rồi thành quách uy nghi, cờ
xí rợp trời, trống trận vang rền, quân sĩ hàng hàng lớp lớp? Ngọn bút tài hoa của người họa sĩ tuy
“vô khẩu” nhưng lại thể hiện rõ nhất, trực quan nhất sự hưng vong của một thời đại, khiến cho Đinh
Củng Viên phải bàng hoàng khi nhận ra lẽ biến diệt trong cuộc đời
Như vậy, qua thơ ca Thịnh Trần, chúng ta thấy mọi phương diện của đời sống tự nhiên, xã
hội đều không nằm ngoài sự chi phối của lẽ vô thường Chư hành vô thường nhất thiết không (Muôn
vật vô thường thảy thảy không) Tỉnh thức về vô thường giúp con người hiểu nguyên nhân của khổ
và tìm cách để diệt khổ, đồng thời thấy được tính “vô ngã” của vạn sự để thôi vướng vào chấp ngã
mà tìm về bản tính chân thật của mình Thực sự, vô thường khiến người ta đau khổ hay hạnh phúc? Câu trả lời tùy thuộc vào việc con người sáng suốt chấp nhận nó như một quy luật tất yếu hay vẫn còn lẩn quẩn ở trong cõi “vô minh”
Trang 362.1.2 Vô minh – ngu ồn gốc của mọi mê lầm, đau khổ
Vô minh là khái niệm quan trọng trong những lời giảng huấn của Đức Phật Trong mười hai nhân duyên ràng buộc mọi sự vật hiện tượng vào vòng “sinh, trụ, hoại, diệt”, vô minh là yếu tố đầu tiên Vô minh nghĩa là không sáng, u mê, thiếu hiểu biết, nhưng không phải thiếu hiểu biết kiến thức
từ chương sách vở mà là thiếu khả năng trực nhận nội tâm dẫn đến nhận thức sai lầm về bản chất
của các sự vật hiện tượng quanh ta và cả những gì diễn ta trong tâm thức ta Theo Từ điển Phật học,
vô minh là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của khổ Vì vô minh, con người lầm tưởng thế giới vạn hữu là thật, tư tưởng tình cảm cũng là thật nên bám víu vào nó Theo quan niệm Phật giáo, thể tính của thế giới là tính không và nó vận động biến đổi không ngừng Bước vào thế giới thơ ca Thịnh Trần, chúng ta thấy cùng với nhận thức về lẽ vô thường chi phối vạn
vật, con người, các nhà thơ luôn đề cập đến vô minh như là nguồn gốc của mọi mê lầm, đau khổ
Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao sự vật hiện tượng bày ra trước mắt mỗi ngày, nhờ các giác quan chúng ta nhận biết được hình dáng, kích thước, màu sắc, mùi vị, âm thanh của chúng
một cách rõ ràng Chúng ta cho rằng tất cả những cái đó đều tồn tại, bản thân chúng ta cũng là một
thực thể đang tồn tại Trần Thái Tông gọi đó là “chỉ sai vì niệm “hữu” mà quên mất niệm “vô” Từ cái sai này, chúng ta bắt đầu xây dựng cho mình những chuẩn mực làm hài lòng các ham muốn cá nhân, thỏa mãn các giác quan “mũi quyến lấy mùi thơm, lưỡi tham vị ngọt”, “mắt mờ vì sắc đẹp, tai
mê tiếng hát hay” Theo quan điểm Phật giáo, đó là chấp ngã – một trong những sai lầm lớn nhất khiến con người mãi luân lạc trong chốn bụi trần, ngày càng xa cách “gia hương” ngàn dặm:
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,
(Mãi mãi làm khách phong trần trôi dạt, Ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường.)
(Núi thứ nhất) Con đường duy nhất để thấy thể tính chân thật của mình là quay trở về thế giới nội tâm Nhưng thường thì chúng ta cứ “chạy vạy suốt ngày trong bụi đỏ”, “không biết tấm thân là hư ảo” nên không thể nào thấy được “bản lai diện mục” Ở cả hai bài thơ Phỏng Tăng Điền đại sư và Tụng
Thánh Tông đạo học, Tuệ Trung đã dùng cùng một tứ thơ để biểu đạt sự lầm lạc này của con người:
Phỏng Tăng Điền đại sư:
Thùy thính cô viên đề xứ thâm
(Người đời hết thảy chỉ thấy nghìn non sáng sủa,
Trang 37Nào ai nghe tiếng vượn cô đơn kêu nơi rừng thẳm.)
Tụng Thánh Tông đạo học:
Thùy thính viên đề thâm xứ thâm
(Người đời chỉ thấy núi non xanh tốt, Nào ai nghe thấy tiếng vượn kêu sâu thẳm trong nơi sâu thẳm.)
Thủ pháp đối lập được sử dụng trong hai câu thơ trên thật là tuyệt diệu: đối giữa cái thấy bên ngoài “núi non xanh tốt” hay “núi non sáng sủa” với cái nghe từ bên trong “tiếng vượn cô đơn kêu nơi rừng thẳm” hay “tiếng vượn kêu sâu thẳm trong nơi sâu thẳm”, đối giữa số đông “nhân gian” và
số ít “thùy” Âm thanh “tiếng vượn cô đơn kêu nơi rừng thẳm” là ẩn dụ cho “bản lai diện mục” của con người, bởi vì âm thanh này được phát ra từ nguồn, nơi còn trong lắng, nguyên thể chưa hiện
hữu thành sắc tướng Thấy núi non xanh tốt, sáng sủa thì dễ, nhưng nghe được âm thanh ở nơi sâu
thẳm liệu có mấy người
Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử cũng đã từng chỉ ra những thứ khiến cho con người mê lầm,
rời xa bản chất tự nhiên, thuần phác: “Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta
ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi; ruổi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê loạn; vàng bạc châu báu làm cho hành vi người ta đồi bại” [90; tr.181] Đạo gia và Thiền gia tuy cách diễn đạt
khác nhau nhưng đều có chung một nhận thức: nếu con người cầu tìm những cái bên ngoài để thỏa mãn dục vọng thì mãi mãi không thể thấy được bản tính chân thật của mình “ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường”
Chìm đắm trong vô minh, con người quên rằng “tuổi xuân ngắn ngủi”, cứ chạy theo cái danh
vọng hão huyền “tranh nghiệp quả mạnh hùng” hay để cho hoàn cảnh bên ngoài tác động đến cảm xúc, tâm trạng gây ra đau khổ triền miên – “nỗi buồn vì yêu thương mà phải li biệt không bao giờ
hết, mối hận về oán ghét mà phải sum họp không bao giờ cùng” Yêu thương hay oán ghét từ đâu
mà ra? Cũng là từ chấp ngã, coi cái ngã là có thật, ý thức của cái ngã ấy là có thật Tuệ Trung thượng sĩ gọi cái sai lầm ấy là “hoa mắt”:
(Phàm thánh bất dị) (Bỗng vì hoa mắt mà nảy sinh tình yêu ghét,
Giống như tìm bánh bao mà bỏ bột.)
(Phàm thánh chẳng có gì khác nhau) Tìm bánh bao mà bỏ bột thì làm sao có được bánh bao? Bột và bánh bao đâu có khác gì nhau
Sự phân biệt nhị kiến giữa phàm và thánh, ta và vật, yêu và ghét, thực và giả, có và không thực chất
Trang 38là vô nghĩa Thượng sĩ nêu ra một thực tế “thế gian ưa dối không ưa thực” chứ đâu biết rằng “cái tâm thực hay dối đều là bụi cả” Cái tâm vốn dĩ là chính nó, không thực cũng không dối Thực hay
dối là do tâm thức con người tạo ra mà cái gì được tạo ra từ tâm thức không thể là cái thật Ưa dối hay ưa thực đều là chấp kiến, là sai lầm hết
Ngay cả vị Phật hoàng Trần Nhân Tông, trong bài Xuân vãn cũng đã tâm sự về những sai lầm
thời trẻ của mình:
(Thuở trẻ chưa từng hiểu rõ “sắc” với “không”,
Mỗi khi xuân đến vẫn gửi lòng trong trăm hoa.) Mùa xuân bao giờ cũng căng đầy sức sống, tràn ngập sắc hương Xuân về, vạn vật sinh sôi, trăm hoa đua nở, bao nhiêu cái đẹp hiện ra trước mắt khiến cho tuổi trẻ phải say mê “gửi lòng trong trăm hoa” Thế nhưng, hoa nở hoa tàn đã là quy luật Khi bông hoa xinh tươi ai không đem lòng yêu thích, đến lúc hoa tàn tránh sao khỏi buồn thương Bông hoa chỉ là một trong thế giới biến diệt vô thường Trần Nhân Tông muốn mượn hình ảnh sinh động này để bày tỏ sự cảm nghiệm của mình trên con đường từ mê lầm đến giác ngộ Ông thừa nhận thuở trẻ vì chưa thấu hiểu lẽ “sắc – không” nên tâm dễ dàng xao động trước bất kì sự biến đổi nào của vạn hữu
Các nhà thơ – thiền sư không chỉ nói “Thế gian nghi vọng bất nghi chân” (Thế gian ưa dối không ưa thật) mà còn nói về những sai lầm của người tu học Nhiều người chuyên tâm nghiên cứu kinh sách, ngày đêm hành thiền nhưng vẫn không đạt đến giác ngộ Tuệ Trung gợi bảo người học đạo về cái sai của họ:
Đồ tương linh đích khổ tương ma
(Thị học) Người học đạo rối bời chẳng biết làm sao đây,
Luống công đem viên gạch mài vào nhau một cách khổ sở.)
(Gợi bảo người học đạo) Hai câu thơ trên nhắc đến điển tích về Mã Tổ, vị Tổ thứ nhất của phái Thiền Tào Khê Thấy
Mã Tổ chăm chỉ tọa thiền, tổ Hoài Nhượng hỏi: - Đại đức tọa thiền để làm gì? Mã Tổ trả lời: - Để
gì? Hoài Nhượng đáp: - Để làm gương Mã Tổ nói: - Mài gạch sao thành gương được? Câu trả lời
của Hoài Nhượng “Mài gạch đã không thành gương được, thì tọa thiền há thành Phật được ư?” đã
cảnh tỉnh Mã Tổ, giúp ngài thoát được chấp vào giáo lý, vào hành thiền và từ đó trở thành một trong
những gương mặt lỗi lạc nhất của Thiền học Trung Hoa Mượn điển tích này, Tuệ Trung muốn nói
Trang 39với học trò nỗi khổ lớn nhất của người tu học là nghiền ngẫm mọi kinh sách mà vẫn không có chỗ
sở đắc để ngộ đạo, bởi vì tập trung vào chữ nghĩa người học đã quên rằng chỉ có thể “kiến tính thành Phật” bằng con đường “trực chỉ nhân tâm”, tức phải dựa vào sự trực cảm tâm linh Xưa kia, Đức Phật vì sợ người đời chấp vào giáo lý nên lúc sắp tịch diệt đã nói đại ý rằng bốn mươi chín năm qua chưa hề thuyết pháp một lời nào
Trong truyền thống Phật giáo, hình ảnh đặc biệt được dùng để chỉ sai lầm của người học đạo
là “chấp chỉ vong nguyệt” (Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng) Kinh Viên Giác có câu “Nhất
lý ví như ngón tay chỉ về mặt trăng, đừng lầm ngón tay với mặt trăng, giáo lý với chân lý”[21;
tr.58] Hình ảnh này không chỉ thấy trong thơ của Tuệ Trung “Kiến nguyệt an năng khổ tầm chỉ” (Thấy mặt trăng rồi sao còn vất vả đi tìm ngón tay) mà còn trong thơ của Trần Nhân Tông:
Từ xưa đến nay
Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng,
Thế là chết đuối trên đất bằng
(Câu hữu câu vô)
Tuệ Trung chỉ ra cái sai của người học là đã thấy được chân lý rồi mà còn chưa chịu từ bỏ phương tiện nên không thể đạt ngộ mà còn tự làm khổ chính mình Vị tổ phái Trúc Lâm nêu ra một trường hợp sai lầm khác là lầm tưởng phương tiện là chân lý, cứ chấp mãi vào nó nên không bao giờ
thấy được chân lý Như thế chẳng khác nào “chết đuối trên đất bằng” Thoạt nghe, chúng ta thấy
“chết đuối trên đất bằng” là sự phi lý, nhưng khi đối chiếu với “chấp ngón tay mà quên vầng trăng” thì bỗng ngộ được thâm ý, thì ra nhà thơ muốn mượn hình ảnh phi lý này để giúp cho người tu học
thấy rằng “chấp chỉ vong nguyệt” cũng chính là một sự phi lý
Thời Thịnh Trần, Phật giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của dân tộc Tu hành vốn dĩ là một việc làm có ý nghĩa dẫn dắt đời sống tâm linh đến chỗ hướng thượng Giáo lý, phương pháp tu hành đều có sẵn nhưng không phải ai cũng tu thành chánh quả Người thì lao vào trì
giới và nhẫn nhục, Tuệ Trung nói “chỉ chuốc tội chứ không chuốc phúc” Người thì quyết tâm “tìm chân như mà dứt vọng niệm”, “bỏ phiền não mà lấy niết bàn”, họ có biết đâu “chân như và vọng
Trang 40niệm hết thảy đều là không”, “phiền não và bồ đề vốn chẳng phải là hai” Người học đạo Thiền mà chưa có sự cảm ngộ sâu xa thì vẫn rơi vào chấp kiến như bao nhiêu người khác Vì vậy, trong những công án thiền, các thiền sư thường dùng nhiều cách như đánh, hét, im lặng hoặc trả lời không đúng vào chủ đề câu hỏi nhằm giải thoát đệ tử ra khỏi tư duy lý tính mà trở về với sự trực cảm tâm linh
Nhận thức về vô minh là một trong những nội dung quan trọng trong thơ ca Thịnh Trần Ở
đó, chúng ta thấy các nhà thơ chỉ ra những sai lầm phổ quát của con người, từ những người bình thường cho đến người tu học Chìm đắm trong vô minh, con người đâu thấy được cuộc sống vốn vô thường, vạn vật vốn tính không, vì vậy cứ chạy theo dục vọng cá nhân, chấp kiến, chấp ngã nên lẩn
quẩn mãi trong vòng đau khổ “Bất tri”, “bất giác”, “bất khẳng”, “đồ tri”, “duy ái”, “tận kiến”, “chỉ
kiến”,… là những từ ngữ thường xuất hiện để diễn đạt hai trạng thái mê của con người Thứ nhất là
chỉ biết, chỉ yêu, chỉ thấy những cái hư ảo, hư danh bên ngoài Thứ hai là chẳng biết, chẳng hiểu bản
chất thực của thế giới để quay về với đời sống nội tâm, nơi “thể tính vằng vặc” chưa từng có mê
lầm Có thể nói, nhận thức về vô minh là biểu hiện rõ nhất cho sự phản tỉnh nội tâm thường trực của con người thời Thịnh Trần, giúp họ đứng vững trong cuộc đời với một phong thái tự do, hành động
cống hiến hết mình mà không bị trói buộc vào vòng danh lợi
2.1.3 Vai trò, trách nhi ệm đối với vận mệnh dân tộc
Kể từ khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán giành lại độc lập cho dân tộc, trong tâm thế
của người Việt đã có lại sự tự tin và luôn ý thức xây dựng đất nước chống lại sự bành trướng của phương Bắc Trải các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, sự tự tin và ý thức đó lại càng được củng cố Khi nối nghiệp nhà Lý, nhà Trần đã giữ gìn và phát huy tối đa những giá trị tinh thần Đại Việt Có
thể thấy, nét nổi bật trong tinh thần của con người Thịnh Trần là nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình đối với vận mệnh nước nhà và nhận thức này được phản ánh một cách trọn vẹn trong những vần thơ vừa hào hùng vừa dạt dào cảm xúc
Trong quá khứ, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thực tế là quan hệ thiên triều và phiên bang, quan hệ này được “biện chính bằng thuyết thiên mệnh, quy định thành những điều
lâu dài cho đất nước là mục đích cao nhất của bất kì vương triều phong kiến nào trong lịch sử Việt Nam Để làm được việc đó đòi hỏi một sự khéo léo, mưu trí và khả năng ứng phó tuyệt vời Chúng
ta buộc phải nhún nhường đúng theo tư cách nước nhỏ đối với nước lớn nhưng quan trọng hơn hết
là phải chứng tỏ được trình độ văn hóa, bản lĩnh dân tộc trước đối phương Vì vậy, trong việc bang giao như đi sứ hay tiếp đón sứ thần, triều đình thường chọn những vị quan tài giỏi, trí dũng song toàn, có tài ứng đối lưu loát Ngày xưa, lệ thường trong việc đón tiếp sứ thần là phải làm thơ Các sứ
thần Trung Hoa rất hay dùng thơ như một hình thức để ra oai cũng như để tìm hiểu về trình độ văn