1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine

88 176 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 578,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine được thực hiện nhằm mục tiêu chỉ ra được cái gì đã làm nên tiếng cười La Fontaine, hay cội nguồn của tiếng cười đó, giá trị và ý nghĩa thực tiễn của tiếng cười La Fontaine trong thời đại chúng ta.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN

TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ NGỤ NGÔN

PGS LƯƠNG DUY TRUNG

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban Giám Hiệu Trường ĐHSPTPHCM, Phòng KHCN – SĐH, tập thể Thầy, Cô khoa Ngữ Văn, cùng tất cả các bạn đồng học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn tất luận văn

Tôi xin đặc biệt tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS Lương Duy Trung – người Thầy đã tận tụy, không quản nhọc nhằn hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự khích lệ, động viên của gia đình tôi và bạn bè trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Tháng 6 / 2006

Nguyễn Thị Mỹ Nhân

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trải hơn ba trăm năm, những gì mà nhà thơ Pháp thế kỉ XVII – Jean de La Fontaine mang đến cho chúng ta vẫn còn nguyên giá trị Vốn sinh ra không phải để làm thi sĩ, nhưng Nàng Thơ đã cám dỗ và biến ông thành một thiên tài vĩ đại La Fontaine đã thử bút ở rất nhiều thể loại: truyện kể, kịch, thơ, tiểu thuyết… Ở mỗi thể loại, ông đều dừng lại “nhấm nháp” chút ít rồi lại “bay đi” Trong khu vườn đầy hoa ấy, La Fontaine tham lam không muốn dừng lại cố định ở một nụ hoa nào Thế nhưng đến với ngụ ngôn, tên tuổi ông đã được định vị Với 238 bài thơ viết trong hai mươi sáu năm (1668 – 1694) được chia thành mười hai quyển in trong ba tập, La Fontaine đã tìm được một chỗ đứng vững chắc trong nền văn học Pháp thế kỉ XVII nói riêng và văn học nhân loại nói chung Ông là một trường hợp khá đặc biệt vì hầu như trong sáng tác của mình, không có đề tài nào là do ông tự sáng tạo Thơ ngụ ngôn của ông là sự kế tục những đề tài có sẵn của Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, hay truyện cổ Pháp… Và bằng tài năng của mình, ông đã mang lại cho ngụ ngôn những nét đặc sắc mới Ông đã làm mờ những người đi trước mình Bây giờ chỉ còn “ngụ ngôn” – “đó là La Fontaine” (La Bruyère)

Cho đến ngày nay, khi lần giở những bài ngụ ngôn của ông, trẻ con vẫn thích thú vì sự mới lạ, ngộ nghĩnh; người lớn thì tìm thấy đâu đó bóng dáng của chính mình và các hiện tượng xã hội quanh mình Ngụ ngôn La Fontaine, đó thực sự là tấm gương trung thực để chúng ta loại bỏ những thói xấu, phát huy những tính tốt trên con đường vươn tới cái toàn thiện toàn mĩ Thêm nữa, bên cạnh những bài học luân lý nhẹ nhàng mà sâu sắc, ta còn hiểu được rất nhiều về xã hội Pháp thời “Đại thế kỉ” Bởi vì ngụ ngôn của ông là “cả một phòng triển lãm thênh thang gồm những bức tranh của xã hội Pháp thế kỉ XVII” [21, 159] Đủ mọi loại người từ tầng lớp thấp nhất (nhân dân) đến vị chúa tể quyền lực nhất (nhà vua) với tất cả thói tật của mình đều lần lượt bước lên sàn diễn Sự đồ sộ và phong phú ấy là một trong nhiều nguyên nhân giải thích cho sức thanh xuân của ngụ ngôn La Fontaine

Thế nhưng, chúng ta có thể đọc ở bất cứ đâu những bài học đạo đức, những lối xử thế ở đời Tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích… đều có thể đảm trách công việc này Nếu chỉ

Trang 4

có thế (bài học kinh nghiệm) ngụ ngôn La Fontaine chưa chắc đã đứng vững Vậy, thực chất sự trường tồn mà ta không thể phủ nhận của những bài thơ này là do đâu? Theo chúng tôi, đó là tiếng cười Đương nhiên, tiếng cười gắn liền với thể loại ngụ ngôn xưa nay không có gì lạ Nhưng tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine còn là cái chìa khóa, cái bản chất nhất chi phối các mặt còn lại Dù xét ở phương diện nào, bộ phận nào của ngụ ngôn, tiếng cười đều có tác động rất lớn Vì vậy, chọn đề tài “TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ NGỤ NGÔN LA FONTAINE”, chúng tôi muốn đi tìm cội nguồn, đối tượng và các sắc thái của tiếng cười La Fontaine là gì, để từ đó có một cách đánh giá chính xác hơn về những bài ngụ ngôn tưởng chừng đơn giản nhưng lại khá phức tạp của ông Đồng thời chúng tôi cũng muốn trả lời câu hỏi ra đời cách nay hơn ba thế kỉ, liệu những bài học mà La Fontaine đưa ra có còn phù hợp? Và nên hiểu những bài học luân lý ấy thế nào cho đúng

Ở nước ta, ngụ ngôn La Fontaine đã không còn xa lạ Ngay những năm đầu thế kỉ

XX, ta đã được làm quen với chúng qua các bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, Đỗ Thận, Hoàng Cảnh Tuấn… Sau này, nhiều dịch giả cũng đã hứng thú và dịch ra tiếng Việt khá thành công như Nguyễn Đình, Huỳnh Lý, Tú Mỡ, Xuân Diệu, Nguyễn Trinh Vực… Một

số bài như: Ve và kiến, Thỏ và rùa, Lão nông và các con, Quạ và cáo, Ếch muốn to bằng

bò… đã trở nên khá quen thuộc Không chỉ ở Pháp, ngụ ngôn mới được đưa vào chương

trình học cho trẻ em Trong sách giáo khoa Văn học 7 (chương trình chưa cải cách) và Tư

liệu văn học 7 của chúng ta cũng có các bài Thỏ và rùa, Lão nông và các con… được đưa

vào giảng dạy Sách cải cách Ngữ văn 9, tập 2, thì lại đề cập đến bài Chó sói và cừu non

thông qua bài phân tích của Hippolyte Taine…

Như vậy, với chuyên luận này, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc hiểu và đánh giá đúng giá trị của ngụ ngôn La Fontaine Qua đó, chúng tôi có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích cho bản thân nói riêng và mọi người nói chung khi thâm nhập vào thế giới muôn màu muôn vẻ của các bài ngụ ngôn Khi chuyên luận thành công, chúng ta sẽ có được một cái nhìn đầy đủ hơn về nhà ngụ ngôn đại tài thế kỉ XVII Và trong một chừng mực nào đó, người viết cũng muốn mượn những thói hư tật xấu, những “thực trạng” của xã hội Pháp thế kỉ XVII để làm bài học cho chúng ta hôm nay khắc phục bản thân, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Nói như nhà văn Trung

Trang 5

Quốc Lỗ Tấn: lôi hết bệnh tật ra ánh sáng không phải để mỉa mai, chế giễu, bi quan về xã hội; lôi hết ra để mỗi người đều thấy được mà có cách chữa trị, làm cho nó tốt hơn

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Chọn đề tài là tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine chúng tôi hướng đến các mục tiêu sau:

Chỉ ra được cái gì đã làm nên tiếng cười La Fontaine, hay cội nguồn của tiếng cười ấy là gì

Nhà thơ đã cười ai? Cười gì? Và cười như thế nào?

Giá trị và ý nghĩa thực tiễn của tiếng cười La Fontaine trong thời đại chúng ta

3 LỊCH SỬ VẤN ĐEÀ

Thơ ngụ ngôn La Fontaine không còn xa lạ đối với độc giả Việt Nam nhưng việc nghiên cứu nó vẫn còn là một “ẩn số” Vì vậy, trong các tài liệu nghiên cứu La Fontaine

ở Việt Nam, chúng tôi chưa thấy có một cuốn sách hay một công trình nghiên cứu chuyên

biệt nào (trừ Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn: Thế giới loài vật trong thơ ngụ ngôn La

Fontaine của Cầm Thị Phượng, ĐHSPHN, 2004) Phần lớn những bài viết về La Fontaine

và thơ ngụ ngôn của ông được tập hợp chọn lọc trong một số cuốn giáo trình như: Văn

học Phương Tây, Lịch sử văn học Phương Tây, Văn học Pháp, Hợp tuyển văn học Châu Âu… Những tài liệu này chủ yếu nghiên cứu thơ ngụ ngôn La Fontaine trong lịch sử phát

triển của nó… Hoặc tập hợp trong một số bài giới thiệu ở đầu các tập ngụ ngôn, hoặc ở

một số cuốn từ điển như Từ điển văn học, Từ điển tác gia văn học và sân khấu nước

ngoài… Điều đáng chú ý là mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng hầu hết các nhà

nghiên cứu đều thừa nhận những nét mới và sáng tạo của ông so với các nhà ngụ ngôn trước đó Và phần lớn những ý kiến mà chúng tôi tập hợp được (cả ở Việt Nam và nước ngoài) đều nhận xét chung chung về thơ ngụ ngôn La Fontaine chứ chưa có sự đi sâu đi sát vào vấn đề Riêng việc tìm hiểu tiếng cười trong thơ ngụ ngôn của ông cũng đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến Chúng tôi cũng đã tiếp thu được những nhận xét, đánh giá hết sức quý báu

Trước hết, đối với nhận xét của các học giả Phương Tây, chúng tôi thấy J.J.Rousseau và Lamartine không mấy thiện cảm với La Fontaine Lamartine cho rằng

Trang 6

thơ của La Fontaine không phải là thơ, nó rườm rà, tẻ nhạt như lối ghi biên bản Còn Rousseau thì khẳng định ngụ ngôn La Fontaine chỉ “khuyến khích một thứ triết lý khắc nghiệt, lạnh lùng, vị kỉ” Nhưng đa phần các học giả khác đều đánh giá cao ông

Sainte Beuve – nhà phê bình văn học thế kỉ XIX – ca ngợi La Fontaine ở chỗ ông vẫn giữ được cốt cách chính của nguyên bản gốc dù đã sáng tạo rất nhiều Trái với Lamartine, ông cho rằng La Fontaine đã “viết bằng trái tim chân thành, có những nhận xét tinh tế, vui, dí dỏm, dùng các ngôn ngữ dân gian giỏi, khéo chọn, hàm súc và có vần điệu” [4, 21]

Nizard – nhà văn thế kỉ XVIII - lại chú ý đến “những tình huống bất ngờ giống như những kịch tính trong kịch bản sân khấu” trong thơ ngụ ngôn La Fontaine tạo sự hào hứng, say mê nơi người đọc Ông cũng quan tâm đến vấn đề độc giả của những bài ngụ ngôn này Và Nizard đã khẳng định rằng: “độc giả mọi lứa tuổi đều đọc truyện ngụ ngôn

La Fontaine” Cùng một truyện nhưng tùy theo tuổi tác mà người đọc “sẽ rút ra từ tác phẩm sự thích thú, những hiểu biết bổ ích, kinh nghiệm sống, cách xử thế phù hợp với tâm lý và tuổi tác của mình”

Đặc biệt, Hippolyte Taine – triết gia, nhà phê bình văn học thế kỉ XIX – có cả một

chuyên luận về thơ ngụ ngôn La Fontaine Trong công trình “La Fontaine và ngụ ngôn

của ông”, nhà xuất bản Hachette, Paris (bản in lần thứ 26), ông đã có những kết luận

khá sâu sắc Bằng cách so sánh La Fontaine với nhà vạn vật học Bouffon trong việc miêu tả thế giới loài vật, ông cho rằng La Fontaine đã “để cho Bouffon dựng một vở bi kịch về sự độc ác, còn ông dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc” Taine cũng đánh giá cao La Fontaine ở việc khắc họa chân dung nhân vật Mỗi loại người đều có những nét tính cách, ngôn ngữ riêng không lẫn vào đâu được Quả thật “ông đã hiểu con người như Molière, hiểu xã hội như St.Simon”

Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam , phần lớn các ý kiến đều nêu bật được vị trí

cũng như tầm quan trọng của thơ ngụ ngôn La Fontaine Trong quyển Lịch sử văn học

Phương Tây, tập 1 (Trần Duy Châu chủ biên, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1979), phần văn

học Pháp thế kỉ XVII, Nguyễn Trung Hiếu đã có những đánh giá chung về các tập ngụ ngôn La Fontaine Tác giả bài viết đã xem xét nó trong quá trình phát triển toàn diện qua cả ba tập Sau khi nêu các nội dung lớn, người viết kết luận: “La Fontaine đã dùng

Trang 7

chuyện của các giống vật mà khẳng định rằng xã hội Pháp bấy giờ đã đặt trên cơ sở của sự bất bình đẳng và độc đoán, rằng quảng đại quần chúng bị trị thì rên xiết dưới ách kẻ lớn, còng lưng ra cho bọn thống trị bóc lột, lấy mồ hôi mình đổi lấy tội ác và sự trụy lạc của chúng Còn tình cảm chân thành, tâm hồn trong sạch cao cả chỉ có thể tìm thấy trong nhân dân lao động mà thôi” [21, 161] Tác giả cũng đặc biệt quan tâm đến bút pháp nghệ thuật đặc sắc của La Fontaine Đó là sự quan sát tỉ mỉ con người và cuộc sống; có nhiều kịch tính sinh động, hấp dẫn La Fontaine cũng rất đạt trong lối văn châm biếm, trữ tình

Phùng Văn Tửu trong Giáo trình văn học Phương Tây (Nxb Giáo Dục) Sau khi xem

xét những điểm cơ bản trong thơ ngụ ngôn La Fontaine, ông cho rằng: “Mỗi bài ngụ ngôn của ông thường gồm hai phần tách biệt: phần chính giống như một màn kịch nhỏ, có xung đột, có cao trào, có thắt nút, mở nút, và phần rút ra bài học thường chỉ một vài câu ngắn gọn bố trí ở đầu hoặc cuối bài” [55, 94] Khi xem xét thế giới nhân vật ông cho rằng “đại bộ phận các nhân vật trong thơ ngụ ngôn của ông là loài vật” La Fontaine đã mượn thế giới loài vật để nói đến xã hội loài người mà cụ thể là xã hội Pháp thế kỉ XVII Ông cũng chú ý đến sự “am hiểu tính cách đặc thù mỗi loài” của La Fontaine và những bài học luân lý sâu sắc được rút ra sau mỗi bài

Trong cuốn Văn học Pháp, tập 1 (Hoàng Nhân chủ biên, Nxb Trẻ TpHCM, 1997),

phần viết về La Fontaine, tác giả nhận định “ngụ ngôn chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ Nhưng nó lại làm cho tên tuổi ông lưu danh muôn thuở” Trong bài viết này, tác giả không đặt vấn đề như những nhà nghiên cứu khác vẫn làm mà ông đi tìm sự phát triển, sự sáng tạo của La Fontaine so với những nhà ngụ ngôn trước đó như Esope, Phèdre… Ông viết: “La Fontaine – một con người đọc tất cả – lấy khắp nơi, kể cả những nhà thơ ít tiếng tăm làm vốn liếng cho mình La Fontaine hiểu rõ sự sáng tạo không phải nằm trong chất liệu mà trong cách biểu hiện” Do vậy, nhà nghiên cứu đã tìm được sự khác biệt của La Fontaine so với những người đi trước Nhà thơ quan niệm:

“Tôi cố gắng biến cái xấu thành cái lố bịch

Vì không thể tấn công nó bằng cánh tay của Hercule…”

“Đôi khi tôi đối lập bằng hình ảnh sóng đôi Cái xấu và đức hạnh, sự ngốc nghếch với lương tri”

Trang 8

Nhà nghiên cứu đã phát hiện ra La Fontaine rất chú ý đến lợi ích, hứng thú của câu chuyện kể, tức phần xác của bài ngụ ngôn để nó phục vụ tốt ý đồ đạo đức của bài thơ Theo ông, mặc dầu La Fontaine khai thác chất liệu của Esope, Phèdre hay Pilpai… nhưng rất ít bài hoàn toàn trung thành với nguyên bản Nhà thơ không thể và không muốn đua tài về sự khúc chiết ngắn gọn của các nhà ngụ ngôn trên Bù vào đó, ông cố gắng làm cho câu chuyện phong phú lên, “duyên dáng và dễ chịu” để tiếp thu những vấn đề đôi lúc nghiêm túc và khô khan nhất” [41, 376]

Và trong cuốn Văn học Phương Tây (Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy

Trung…, Nxb Giáo Dục, 1999) phần viết về La Fontaine, Nguyễn Văn Chính đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thơ ngụ ngôn La Fontaine Theo ông, “thơ ngụ ngôn La Fontaine là sự tổng hợp các yếu tố tự sự, trữ tình, kịch trong một thể loại thơ rộng rãi, nhiều khả năng biểu hiện thơ tự do” [26, 254]

Điều này được nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn khẳng định lần nữa trong Hợp tuyển

văn học Châu Âu (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002) Theo ông, “ngụ ngôn là tác

phẩm lớn nhất, tiêu biểu nhất của La Fontaine Nhờ nó mà ông trở thành bất tử với thời gian và được xếp vào hàng các nhà ngụ ngôn nổi tiếng thế giới” Sau khi giới thiệu sơ lược về những bài ngụ ngôn của La Fontaine, nhà nghiên cứu cũng đề cập đến sự phát triển của chúng Theo ông, “La Fontaine không chỉ làm mới hóa chất liệu cũ mà còn tạo

ra một giọng điệu riêng, tạo cho câu chuyện ngụ ngôn một cuộc sống mới và nhờ vậy ông đã vượt qua các nhà ngụ ngôn trước đây” [20, 609]

Trong một công trình nghiên cứu chung: Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (Nxb

Khoa học xã hội, 1993), Phạm Minh Hạnh đã đánh giá rất cao ngụ ngôn La Fontaine, đặc biệt về mặt kết cấu chặt chẽ Nhà nghiên cứu khẳng định “La Fontaine đã chiếm lĩnh thể loại ngụ ngôn và làm rạng rỡ cho thể loại này (…) Ông đã tạo cho câu chuyện ngụ ngôn như là một màn kịch với hành động chặt chẽ, một sân khấu với đầy đủ phông màn, cảnh vật trang trí mà người đạo diễn dàn dựng là một nghệ sĩ tài hoa đã làm nổi bật ý nghĩa của câu chuyện kể, đồng thời nêu lên bài học thâm trầm, ẩn kín trong câu chuyện” [32, 82]

Ngoài các ý kiến trên, rải rác đây đó trong các lời tựa, lời giới thiệu các tập ngụ ngôn, trong từ điển… chúng tôi cũng tìm thấy nhiều ý kiến xác đáng về thơ ngụ ngôn La

Trang 9

Fontaine Trong Từ điển tác gia văn học và sân khấu nước ngoài (Hữu Ngọc chủ biên,

Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1982) mục từ La Fontaine, tác giả đã có những nhận định chung về cuộc đời và sáng tác của La Fontaine và khẳng định sự thành công ở thể loại ngụ ngôn Nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến các khía cạnh: đề tài, thể thơ, ngôn ngữ và cách La Fontaine “xây dựng những đoản kịch phản ánh một cách trào phúng xã hội Pháp với những sự bất công, thói chuyên quyền, áp bức” [40, 236] Viết ngụ ngôn, La Fontaine đã “kết hợp được nhiều thể loại (bi kịch, hài kịch, hùng ca, trữ tình, nghị luận, triết lý) để tạo thành những bài thơ ngắn gọn, chính xác, có hiệu quả giáo dục cao”

Ở mục từ La Fontaine trong Từ điển văn học, tập 1 (Nxb KHXH, 1983), nhà nghiên

cứu Đỗ Đức Hiểu sau khi giới thiệu khái quát vài nét về tiểu sử La Fontaine đã kết luận:

“La Fontaine bắt chước cổ đại nhưng “không phải là nô lệ”, ông coi mục đích của văn học là răn dạy người đời bằng nghệ thuật ngôn ngữ” [34, 370]

Trong tập Ngụ ngôn chọn lọc (Nxb Văn học, Hà Nội, 1985) các dịch giả cũng viết:

“La Fontaine có biệt tài khó có thể bắt chước được khi tả cảnh và tả nhân vật trong khuôn khổ rất giới hạn của một bài thơ ngụ ngôn để biến nó thành một vở kịch cười với đầy đủ những tính cách, những xung đột kịch tính” [3, 6]

Hoàng Hữu Đản trong lời nói đầu tập Ngụ ngôn La Fontaine (song ngữ Pháp – Việt,

Nxb Trẻ, 1996) không đồng tình với quan niệm lâu nay trong giới nghiên cứu rằng tất cả mọi ngụ ngôn của La Fontaine đều là những trang châm biếm đánh thẳng vào xã hội đương thời Nhà nghiên cứu cho rằng điều này không đúng với sáu quyển đầu vì đó chỉ là sự sao chép từ Esope Ông khẳng định La Fontaine có thể đã nghĩ đến những vấn đề đó của xã hội nhưng chưa có ý thức đưa vào Từ quyển bảy trở đi, chất phê phán mới được biểu hiện Ông cũng nhấn mạnh tác dụng giáo dục của thơ ngụ ngôn La Fontaine: “Nó vừa là thứ văn chương dành cho trẻ con, mang tính chất giáo dục và giảng dạy; vừa là văn chương châm biếm cho tất cả mọi người, và là một bức tranh trung thực của xã hội loài người nói chung và riêng của xã hội Pháp đương thời” [1, 41]

Trong phần mở đầu Truyện ngụ ngôn La Fontaine (Nxb Văn hóa thông tin), Nguyễn

Văn Qua cũng đã đưa ra nhiều nhận xét xác đáng Như nhiều nhà nghiên cứu khác, tác giả bài viết khẳng định ngụ ngôn La Fontaine là sự bắt chước nhưng bắt chước không lệ thuộc mà đầy sáng tạo Trên cơ sở những nguồn xa xưa, La Fontaine đã dựng nên một

Trang 10

tác phẩm lớn mang tính độc đáo của riêng mình, vừa là chân lý, vừa là thơ ca Đặc biệt, ông chú ý tới “giọng điệu chế giễu, châm biếm, hài hước mua vui, đả kích sâu cay… gián tiếp hoặc trực tiếp nêu lên những nhận xét tinh tế về một ý nghĩa luân lý nào đó” mà bài thơ đề cập

Bên cạnh những tài liệu trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn tìm thấy một

số bài phân tích cụ thể từng tác phẩm thơ ngụ ngôn La Fontaine Như trong Tủ sách văn

học nhà trường (Vũ Tiến Quỳnh biên soạn, Nxb Văn nghệ TpHCM, 1999) có phân tích

các bài Thỏ và rùa, Lão nông và các con…

Đặc biệt, chúng tôi hiện có trong tay một công trình nghiên cứu chuyên biệt Thế giới

loài vật trong thơ ngụ ngôn của La Fontaine (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của

Cầm Thị Phượng, ĐHSPHN, 2004) Trong công trình này, tác giả đã đi sâu khám phá thế giới loài vật – một trong những yếu tố chiếm vị trí quan trọng làm nên thơ ngụ ngôn La Fontaine – và chỉ ra được độ lệch pha giữa nguyên mẫu những con vật trong cuộc sống với hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm Tác giả cũng đã có nhiều dẫn chứng sâu sát, hợp lý, chứng minh “mỗi con vật đặc trưng cho một nét tính cách của con người” [45, 50] Các con vật trong tự nhiên có nhiều đặc điểm khác nhau, nhà thơ đã tìm ra nét đặc trưng của chúng để dựng nên nhân vật “Vì thế, nhân vật loài vật trong thơ ngụ ngôn của La Fontaine hiện lên là những con vật nhưng mang tâm tính và tính nết của con người” Tóm lại, những ý kiến đánh giá về thơ ngụ ngôn La Fontaine tản mát khá nhiều Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng dù các nhà nghiên cứu lúc chú ý đến mặt này, khi quan tâm đến mặt kia nhưng tựu trung lại các ý kiến xoay quanh những vấn đề chủ yếu sau:

1 Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở điểm La Fontaine là một “bông hoa lạ” trong vườn hoa văn học Pháp thế kỉ XVII Đến ông, thể loại ngụ ngôn mới đạt được thành tựu rực rỡ nhất Và cũng chỉ có La Fontaine làm cho thể loại này “thoát khỏi

vị trí hạ đẳng” trở thành một thể loại xứng tầm với các thể loại khác So với người đi trước, nhà thơ đã tạo được một bước ngoặc đáng kể, vượt hẳn họ về sự độc đáo và sáng tạo

2 Nội dung thơ ngụ ngôn La Fontaine là bức tranh sinh động về xã hội loài người mà cụ thể là xã hội Pháp thời “Đại thế kỉ” Với phương châm “Tôi dùng loài vật để tả

Trang 11

người”, nhà thơ đã khắc họa tất cả mọi hạng người trong xã hội với đầy đủ các tính cách đặc trưng Bài học luân lý ngắn gọn được rút ra sau mỗi câu chuyện dí dỏm là phương pháp giáo dục hiệu quả đối với chúng ta, nhất là trẻ con La Fontaine không chỉ nhìn thấy những mặt xấu xa, đáng phê phán của xã hội, ông còn tích cực ca ngợi lối sống cao đẹp, những phẩm chất đáng quý của con người

3 Mặc dù đề tài được lấy từ quá khứ nhưng La Fontaine đã sáng tạo lại thành cái của riêng mình Nhờ lòng yêu thiên nhiên và sự quan sát tinh tế, nhà ngụ ngôn đã có được những trang thơ sinh động, hấp dẫn, giàu sức sống Ngôn ngữ bình dị, gần gũi với nhân dân kết hợp với lối thơ tự do cũng là một trong những thành công về mặt nghệ thuật trong thơ ông

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã có một cái nhìn bao quát về thơ ngụ ngôn La Fontaine Những nhận định, đánh giá của họ đã nêu được những vấn đề trọng yếu Riêng theo chúng tôi, yếu tố quyết định nhất, bản chất nhất làm nên thể ngụ ngôn là tiếng cười, chất hài hước thì lại chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Thực chất, tiếng cười là xuất phát điểm, là cội nguồn các vấn đề trong thơ ngụ ngôn La Fontaine Do đó, để hiểu rõ hơn về những bài thơ này, chúng tôi thiết nghĩ nên nghiên cứu từ khởi nguyên

của nó Chính vì thế, đề tài Tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine được tiến hành

Chúng tôi hy vọng việc giải quyết đề tài này sẽ góp thêm một cái nhìn trong việc thẩm định các bài thơ ngụ ngôn được chính xác hơn

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do vốn hiểu biết tiếng Pháp hạn chế, chúng tôi chỉ cảm nhận thơ ngụ ngôn La Fontaine qua các bản dịch tiếng Việt

Khi tiến hành đề tài này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:

a) Cội nguồn và đối tượng của tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine

b) Các sắc thái của tiếng cười và ý nghĩa thực tiễn của nó

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

* Phương pháp phân tích loại hình

* Phương pháp tiếp cận hệ thống

Trang 12

* Phương pháp so sánh đối chiếu

Trang 13

Bản thân từ nguyên của từ “ngụ ngôn” đã nói lên ý nghĩa của nó “Bha” từ nguồn gốc Ấn Độ có nghĩa là nói; “Fari” hay “Fabula” tiếng Latinh có nghĩa là lời kể ngắn;

“Fable” tiếng Pháp là truyện kể có bài học luân lý; “Ngụ ngôn” theo tiếng Việt và tiếng Hán là lời kể có ngụ ý bên trong… Và lâu nay, người ta vẫn quen với cách hiểu: “ngụ ngôn là câu chuyện kể có mang một giáo lý, một quan niệm đạo đức để răn dạy người đời ẩn dưới cái hình thức ẩn dụ” [32, 18]

Trong lời tựa cuốn Đông Tây ngụ ngôn (1927), Nguyễn Văn Ngọc đã đưa ra một

định nghĩa được khá nhiều người chấp nhận “Chữ ngụ nghĩa là gá gửi; chữ ngôn nghĩa là nhời nói Ta dùng hai chữ ngụ ngôn để chỉ cái lối văn, hoặc văn xuôi, hoặc văn vần, thường đặt thành câu chuyện đem kể, rồi nhân câu chuyện đó mà dẫn những nhời quy châm về luân thường đạo lý để cảm hóa lòng người” Vậy trong ngụ ngôn, câu chuyện chỉ là khách, “nhời quy tâm” mới thực là chủ Tức như chính một nhà thơ ngụ ngôn xưa đã nói: câu chuyện kể chỉ là cái phần hình hài bề ngoài, lời quy tâm mới thực sự là cái linh hồn bên trong Định nghĩa này đã khái quát khá đầy đủ về danh từ “ngụ ngôn” Nó

phù hợp với nhiều quan niệm sau này, như quan niệm về ngụ ngôn trong Từ điển thuật

ngữ văn học: “Ngụ ngôn là lời nói, mẫu chuyện có ngụ ý (ngụ là gửi) xa xôi bóng gió

được sử dụng rộng rãi trong nhiều thể loại văn học dân gian kể cả văn học thành văn (như thơ ngụ ngôn, truyện ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ…) Truyện ngụ ngôn thường dùng loài vật, đồ vật để gián tiếp nói chuyện loài người, nêu lên những bài học luân lý hoặc

Trang 14

triết lý dưới một hình thức kín đáo” [29, 186] Như vậy, khái niệm ngụ ngôn được hiểu theo hai nét nghĩa Nghĩa hẹp: thể loại ngụ ngôn (truyện hoặc thơ); nghĩa rộng: chất ngụ ngôn lan tràn trong nhiều thể loại văn học khác Khái niệm ngụ ngôn chúng tôi dùng trong bài viết này nằm ở nét nghĩa thứ nhất Đó là một thể loại văn học: thơ ngụ ngôn

1.1.2 Nguồn gốc và sự phát triển

Cũng theo Nguyễn Văn Ngọc trong cuốn Đông Tây ngụ ngôn thì “Gốc tích ngụ ngôn

bắt đầu từ khi trí con người biết mượn lời bóng bẩy để diễn tả tư tưởng mình” Nghĩa là nó cũng cổ xưa như nhiều thể loại văn học dân gian khác Và từ trước đến nay, khi nói đến ngụ ngôn người ta thường hay nghĩ đến Esope và trong thâm tâm thầm chấp nhận ông là thủy tổ của thể loại này Nhưng trên thực tế, tác phẩm mang dáng dấp ngụ ngôn có nguồn gốc xa xưa nhất mà ta còn lưu giữ được lại có điểm xuất phát từ Trung Quốc

Đó là bài Quạ kia của ông Châu Công sống trước công nguyên ước hơn một ngàn năm

Châu Công đã mượn lời con chim mẹ nói với con quạ gian ác để bày tỏ nỗi lòng mình với vua Thành Vương

Cũng như nhiều thể loại văn học khác, ngụ ngôn phổ biến khắp nơi trên thế giới Tuy mỗi nơi, ngụ ngôn xuất hiện sớm muộn có khác nhau, nhưng nó vẫn có đặc điểm chung là cấu tạo ngắn gọn và ẩn tàng bài học răn đời, khuyên người

Ở phương Đông, ta sẽ chú ý đến nguồn gốc ngụ ngôn của hai nền văn minh lớn: Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam ta Như đã nói ở trên, bài ngụ ngôn cổ nhất của

Trung Quốc là Quạ kia, xuất hiện thời nhà Châu khoảng thế kỉ X trước công nguyên Sau

đó đến thời Đông Châu, tức từ Xuân Thu đến Chiến Quốc, trải hơn bốn trăm năm thời cục xoay dần ra thế liệt quốc phân tranh, học thuật tự do, tư tưởng tự do… Vì vậy mà văn học nghệ thuật có điều kiện phát triển mạnh Lối văn ngụ ngôn thật sự phồn thịnh trong giai đoạn này với hai học giả tiêu biểu: Trang Tử và Mạnh Tử

Ở Ấn Độ, ngụ ngôn đã có mầm mống từ Kinh Phật Nhưng có lẽ nguồn gốc cổ nhất

của thể loại này là tập cổ thư viết bằng tiếng Phạn Panchatantra (Ngũ thư) Kết cấu của những truyện ngụ ngôn này thường dài và đan dệt vào nhau như kiểu truyện trong Nghìn

lẻ một đêm Nội dung mang nặng màu sắc hiền triết hơn là cái nhìn dí dỏm về nhân sinh

Cũng từ những bài ngụ ngôn trong Panchatantra , bản dịch tiếng Ả Rập có nhan đề Ngụ

Trang 15

ngôn của Pilpai Pilpai được xem như ông tổ của ngụ ngôn Ấn Độ Tiểu sử của ông

không rõ ràng Người ta chẳng biết ông sống vào thời nào và ở đâu trên đất nước Ấn Độ, chỉ biết rằng ông là một nhà tu hành và từng phò tá vua Dabchélim

Đối với Việt Nam ta, ngụ ngôn cũng đã xuất hiện khá sớm Nguyễn Trọng Thuật

trong bài Khảo về lối văn ngụ ngôn (Nam Phong số 116, tháng 4 – 1927, trang 332 – 339) đã cho rằng văn ngụ ngôn nước ta có đủ hai thể văn vần và văn xuôi Các truyện Trê cóc,

Trinh thử, Lục súc tranh công, Long hổ đấu kỳ… đều có lời văn thuần thục, tự nhiên, với

những cách ngôn, thành ngữ quen thuộc hàng ngày của người bình dân Bên cạnh đó, cả Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Văn Ngọc rồi Hoa Bằng và sau này là Cao Huy Đỉnh và nhiều nhà folklore học đều cho rằng nhiều bài ca dao cổ, nhiều câu tục ngữ thực chất là những bài thuộc thể thơ ngụ ngôn hoặc có yếu tố ngụ ngôn Nội dung chứa đựng chân lý muôn đời Chúng ta sẽ thấy rõ điều này qua một số bài ca dao sau:

Tò vò mày nuôi con nhện Ngày sau nó lớn, nó quyện nhau đi

Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện đi đằng nào?

Hay:

Con vạc bán ruộng cho cò Cho nên vạc phải ăn mò cả đêm Vạc sao vạc chẳng biết lo Bán ruộng cho cò, vạc phải ăn đêm

Rõ ràng trong những câu ca dao đó tiềm ẩn một khối lượng không nhỏ sự thật cuộc đời Những con vật, sự vật với đặc trưng của mình thể hiện cho một tính cách, một biểu hiện nào đó của con người Mỗi bài thơ chứa đựng một cốt truyện cực ngắn mang một chủ đề nổi bật Đó chính là ngụ ngôn

Cội nguồn ngụ ngôn phương Đông là thế! Còn với phương Tây, chúng tôi chỉ xin lưu

ý đến nguồn gốc ngụ ngôn của hai quốc gia có liên quan trực tiếp đến các sáng tác của

La Fontaine: Hi Lạp và Pháp Nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng Esope là ông tổ của ngụ ngôn phương Tây Theo Planude, nhà bác học người Byzance (Constantinople), thì Esope là người Phrygie (Tiểu Á), sống ở thị trấn Amorium Ông sinh khoảng thời gian

Trang 16

Thế vận hội thứ 57 (cổ Hi Lạp), chừng hai trăm năm sau ngày tạo dựng thành La Mã, tức khoảng năm 553 trước công nguyên Con người Phrygie nổi tiếng ấy quả là nghịch lý lớn nhất mà tạo hóa đã dành cho loài người: một trí tuệ cực kỳ phong phú trong một hình hài xấu xí đến ma chê quỷ hờn Cuộc đời Esope như một huyền thoại mà ngày nay chúng ta khó có thể xác định được đâu là thực đâu là hư Do tầm vóc vĩ đại của ông mà hầu hết các truyện ngụ ngôn được truyền tụng lúc bấy giờ người ta đều gán cho ông Sau đó,Phèdre (thi sĩ La Mã, sống khoảng thế kỉ thứ I sau công nguyên), Babrius (nhà thơ Hi Lạp, sống ở thế kỉ thứ III sau công nguyên)… đã sưu tầm và viết lại ngụ ngôn Esope dưới nhiều hình thức khác nhau Và cho đến ngày nay, sức hấp dẫn của những câu chuyện ngụ ngôn này vẫn thu hút được nhiều độc giả Hơn thế nữa, nó còn là đề tài gợi hứng cho nhiều tác giả khác, trong đó có Jean de La Fontaine – nhà ngụ ngôn Pháp thế kỉ XVII

Truyện ngụ ngôn Pháp hay được truyền tụng là Roman de Renard (Con chồn xảo

quyệt) vốn ban đầu chỉ là một truyện kể cho vui chứ không hàm ý gì Nhưng dần dần, nó được sáng tạo lại và thêm vào đó là những phong tục tập quán kỳ dị, những tạo lập về chính trị xã hội đang dần hình thành lúc bấy giờ thông qua hình ảnh cuộc đấu trí nảy lửa giữa con cáo ranh ma và con sói Ysengrin

Như vậy, từ cội nguồn ban đầu của mình, ngụ ngôn dần có sự phát triển và đạt đến đỉnh cao vào thế kỉ XVII với thiên tài La Fontaine

*************

Như đã nói ở trên, ban đầu ngụ ngôn xuất hiện chỉ là một hình thức văn học truyền miệng như bao thể loại văn học dân gian khác Đó là những bài ca dao, những truyện kể

như Truyện trê cóc, Lục súc tranh công của Việt Nam hay Truyện hồ lang của Pháp Đây

mới chỉ là những câu chuyện đơn giản nêu lên một khía cạnh nào đó của đời sống hay một bài học đạo lý nhẹ nhàng… Dần dần, ngụ ngôn có sự phát triển cả về nội dung lẫn hình thức

Càng về sau, nội dung của ngụ ngôn càng phong phú và đa dạng hơn Những người

đi sau đã mượn những nội dung cốt lõi của người đi trước để từ đó phát triển, thay đổi cho nó phù hợp với hoàn cảnh xã hội mình đang sống Những nội dung mới cũng được sáng tạo thêm Tuy nhiên, về mặt hình thức, sự phát triển lại thể hiện rất rõ rệt Ngụ ngôn

Trang 17

trong văn học dân gian được lưu truyền từ người này sang người khác Hình thức câu chuyện phụ thuộc khá nhiều vào năng lực của người kể chuyện Khi chuyển sang văn học thành văn, những câu chuyện này có kết cấu chặt chẽ hơn Vào thế kỉ I sau công nguyên, ngụ ngôn xuất hiện không chỉ đơn thuần là những bài văn xuôi, nó đã được Phèdre – một thi sĩ La Mã – viết thành thơ

Đến thế kỉ XVII, ngụ ngôn đã thực sự bước lên đỉnh vinh quang cùng nhà ngụ ngôn tài ba Jean de La Fontaine Đến đây, dường như các tên tuổi khác đều bị lu mờ trước ông Nói đến ngụ ngôn người ta chỉ còn biết đến La Fontaine (La Bruyère) Vào tay ông, ngụ ngôn đã thật sự đạt đến độ hoàn thiện Mỗi bài thơ ngắn như một vở kịch nhỏ, có mở đầu, có phát triển, có kết thúc, có mâu thuẫn và xung đột kịch tạo nên sức hấp dẫn mới cho người đọc Chúng ta có thể mạnh dạn khẳng định rằng: với La Fontaine thể loại ngụ ngôn đã vươn tới điểm son rực rỡ nhất

Ngày nay, trong thời đại của vi tính, điện tử, internet… nhiều người nghi ngờ rằng liệu thể loại ngụ ngôn có tồn tại được hay không? Theo chúng tôi, bất kỳ thời đại nào, giai đoạn nào gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội thì những bài học luân lý giúp con người tránh xa điều xấu, đến gần với điều thiện đều cần thiết Nhân loại càng tiến bộ càng muốn tự hoàn thiện mình hơn Thêm nữa, căn cứ vào tình hình thực tế phát triển của thể loại này, chúng tôi cho rằng ở bất kỳ thời đại nào, xã hội nào, ngụ ngôn cũng có đất để tồn tại Tuy nhiên, tùy theo từng hoàn cảnh xã hội lịch sử cụ thể mà những vấn đề thể loại này đề cập có khác nhau Nó mang đậm dấu ấn thời đại Bằng chứng cho sự tồn tại của thể ngụ ngôn trong xã hội hiện đại là có khá nhiều tác giả tác phẩm ngụ ngôn được biết tới không chỉ của Việt Nam mà cả thế giới Những tên tuổi như: Hoàng Thụy Vân, Thạch Phi, Sử Phát Điền… của Trung Quốc; hay Thiện Ngôn, Quốc Ân… của Việt Nam không mấy xa lạ với người đọc

Không nằm ngoài quy luật vận động và phát triển của vạn vật, thể loại ngụ ngôn đã phát triển trên cơ sở kế thừa những mặt ưu của truyền thống; đồng thời bản thân nó cũng không ngừng biến chuyển, đổi mới cho phù hợp với yêu cầu của thời đại La Fontaine là một điển hình cho quy luật kế thừa và phát triển ấy Trên cái nền của truyền thống, ông đã xây nên những “ngôi nhà” theo kiểu cách của thời đại mình, mang linh hồn xã hội Pháp thế kỉ XVII

Trang 18

1.1.3 Thơ ngụ ngôn Jean de La Fontaine

Chúng ta đều biết La Fontaine không chỉ sáng tác ngụ ngôn, nhưng đến thể loại này, tên tuổi ông mới được định vị Ấn tượng sâu sắc mà độc giả còn nhớ mãi về La Fontaine là ở ngụ ngôn Và cũng từ La Fontaine, ngụ ngôn đã thoát khỏi vị trí “hạ đẳng” vươn lên thành một loại thơ có giá trị, có sức mạnh ngang với bất kỳ thể loại nào

Các sáng tác của La Fontaine rơi vào giai đoạn hai của chủ nghĩa cổ điển (sau năm 1660) Đây là thời kỳ chế độ quân chủ chuyên chế đạt đến đỉnh cao và cũng bắt đầu bộc lộ bản chất phản động Quần chúng nhân dân rên xiết dưới ách độc đoán của nhà vua Mâu thuẫn xã hội gay gắt Ngụ ngôn cũng chuyển biến dần theo bước đi của lịch sử và sự trưởng thành của bản thân nhà thơ Quá trình ấy thể hiện ở sự khác biệt giữa các tập ngụ ngôn của ông Ở những quyển đầu, tính chất phê phán xã hội chưa gay gắt lắm Nhưng về sau, La Fontaine đã cố vượt khỏi những ràng buộc chi phối cách nhìn vào hiện thực để phát huy sức mạnh chiến đấu của ngụ ngôn Dưới hình thức miêu tả và kể chuyện linh hoạt, sự mỉa mai kín đáo, ngụ ngôn La Fontaine đã “tái hiện được bức tranh rộng lớn, chân thật về xã hội Pháp cuối thế kỉ XVII” [26, 252] Qua đó, chúng vừa tố cáo thói chuyên quyền độc đoán của “vua – Mặt trời” Louis XIV, vừa phát huy nhẹ nhàng tác dụng giáo dục quần chúng nhân dân

Ngụ ngôn La Fontaine hầu như đã bao quát được tất cả các vấn đề lớn của xã hội lúc bấy giờ Từ những vấn đề mang tầm vóc thời đại như các Liên minh Châu Âu chống

lại Pháp năm 1672 (Hội đồng chuột, quyển II, bài 2) đến những việc nhỏ nhặt trong đời sống thường nhật (Cô hàng sữa và hủ sữa, quyển VII, bài 9; Người quả phụ trẻ, quyển VI,

bài 21… ) đều được thể hiện sinh động Nhưng tựu trung lại có ba vấn đề cốt yếu nhất mà từ cái gốc ấy, ngụ ngôn La Fontaine nảy lộc đâm chồi Đó là: bộ mặt thật của “Đại thế kỉ” (hay mặt trái của xã hội); thói hư tật xấu của con người; và những phẩm chất đáng trân trọng của người bình dân Như vậy, nhìn qua những nét lớn ta thấy rằng khi vẽ bức tranh xã hội, La Fontaine không hề phiến diện, một chiều Triết học duy vật Gassendi giúp ông nhìn rõ thực tế cuộc sống – cái thực tế phủ phàng với bao áp bức bất công Và nó cũng giúp ông nhận ra những mặt tốt, mặt tích cực đáng được ca ngợi Có lẽ vì thế mà ngụ ngôn La Fontaine đứng vững cho đến ngày nay

Trang 19

Một điều khá đặc biệt ở La Fontaine là ông ít khi tự nghĩ ra mà dùng những đề tài đã có sẵn Trong bức thư gửi bà De La Sablière, ông đã tự họa bản thân mình:

Tôi là vật nhẹ tênh, chập chờn bay khắp mọi đề tài

Chuyền từ hoa này đến hoa khác, vật này đến vật kia

Tôi trộn lẫn một ít vinh quang vào bao nhiêu điều lạc thú

Ở đây tôi chỉ muốn nói ra một cách ngây thơ

Tác dụng tốt hay xấu trong tính cách của tôi

Ông là một điển hình cho sự sáng tạo trong việc tiếp thu cái có sẵn Nguyễn Du của chúng ta cũng đã rất thành công với cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đó là gì? Nói như La Bruyère, mặc dù bộ xương là của người khác nhưng khi đã thành hình hài thì người ta chỉ còn biết đến ngụ ngôn – “đó là La Fontaine” Không kể nguồn gốc đó là Ấn Độ hay Hi Lạp, La Fontaine đều biến hóa các câu chuyện thành sản phẩm của riêng mình, mang “nhãn hiệu” La Fontaine không lẫn vào đâu được Chúng ta hãy xem câu

chuyện Quạ và cáo (quyển I, bài 2) để thấy rõ điều này

Trong truyện gốc Chó rừng và quạ của Panchatantra, câu chuyện là hai con: chó

rừng và quạ là những con vật xấu xa, bẩn thỉu, ăn xác thối mà lại ba hoa, tâng bốc nhau như phường cao sang Nhà hiền triết nghe được bèn vạch rõ bộ mặt thật của chúng Viết lại câu chuyện này, cũng nhằm phê phán thói ba hoa khoác lác nhưng La Fontaine đã thiết kế lại: chỉ có hai nhân vật là quạ và cáo trong thế đối lập nhau, đối đáp với nhau Mục đích của cáo là chiếm miếng pho mát ngon lành của quạ Bài học rút ra không còn đơn giản là thói ba hoa khoác lác, hợm mình, mà La Fontaine còn đề cập đến cả hậu quả của tính xấu này Nếu những kẻ ranh ma biết tận dụng, ắt sẽ lừa được người nhẹ dạ cả tin

Phàm kẻ nịnh hót xằng Chỉ sống bám vào thằng Cả nghe lời tán tỉnh

Tú Mỡ dịch

Ngụ ngôn La Fontaine cũng đặc biệt thành công về mặt kết cấu Từ những câu chuyện đơn giản của Esope hay những bài học luân lý rườm rà của Pilpai, La Fontaine đã dựng lên :

Trang 20

“Một tấn hài kịch với quy mô hàng trăm hồi khác nhau

Mà sân khấu là cả thế giới” [26, 254]

Trong đó mỗi câu chuyện là một vở kịch ngắn có kết cấu chặt chẽ, có thắt nút, mở nút, giải quyết xung đột Một bài ngụ ngôn của ông thường gồm hai phần: phần nêu nội dung cốt truyện và phần rút ra bài học kinh nghiệm thường chỉ vài câu ngắn bố trí ở đầu hoặc cuối bài

Chúng tôi đã làm một cuộc thống kê nhỏ về cách bố trí bài học kinh nghiệm của La Fontaine và rút ra được nhiều điều thú vị Nhà thơ không phải lúc nào cũng trực tiếp nêu lên bài học luân lý mà có khi gián tiếp qua câu chuyện, ông để cho nhân vật thay lời phát ngôn hoặc người đọc sẽ tự ngầm hiểu Trong đó, phần bài học đạo đức được nêu lên trực tiếp đặt ở cuối bài chiếm tỉ lệ cao nhất 98/160 bài Kiểu bài ẩn sau câu chuyện mà nhà thơ gián tiếp muốn độc giả tự luận ra cũng chiếm một tỉ lệ khá bất ngờ 36/160 bài Còn lại, cách đặt bài học ở đầu mỗi bài thơ và lồng ghép vào lời nhân vật có tỉ lệ như nhau 13/160 bài

Từ những con số trên cho thấy La Fontaine rất có ý thức trong cách sắp xếp bố cục bài thơ Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng phần lớn những bài thơ La Fontaine nêu lên bài học gián tiếp thường nói về các vấn đề khá tế nhị, đụng chạm đến nhà vua hay các vị

chức trọng quyền cao mà nhà thơ gọi chung là “kẻ mạnh” (Bò, dê, cừu lập hội với sư tử, quyển I, bài 6; Sói và cò, quyển III, bài 9; Tai thỏ, quyển V, bài 4…) Điều này cũng dễ hiểu, vì ngay trong câu chuyện Người và rắn độc, nhà thơ đã ngầm thể hiện quan điểm

của mình:

Chửi kẻ mạnh phải xa xôi bóng gió Hoặc nếu không, phải biết lặng im đi, Chớ trêu ngươi, chọc tức nó làm gì Nó thù, nó dập, khốn nguy cả đời

Nguyễn Văn Qua dịch

Một điểm nữa có ảnh hưởng khá lớn đến các bài thơ ngụ ngôn là La Fontaine rất yêu thiên nhiên Ngay từ nhỏ, ông đã thích sống gần gũi với miền quê Champagne của mình Cậu bé La Fontaine có thể bỏ hàng giờ để quan sát một chú bướm hay đi theo một con thỏ rừng mà không biết chán Chính điều này đã là vốn sống phong phú cho ông viết

Trang 21

ngụ ngôn La Fontaine rất có biệt tài trong khâu quan sát tỉ mỉ và miêu tả chính xác Taine cho rằng “ông có được trực giác tâm lý rất chuẩn, có những giác quan nhạy bén về thực tiễn” [4, 19] Trong ngụ ngôn của ông ta thấy có rất nhiều chân dung với những nét cá tính riêng biệt Vua chúa, thường dân, kẻ nhát gan, đạo đức giả, hiếu kỳ… mỗi người đều có một thái độ, một tính cách, một ngôn ngữ phù hợp

Tóm lại, bằng tài năng hiếm có, La Fontaine đã nâng ngụ ngôn từ vị trí hạ đẳng lên tầm cao xứng đáng Sau những thành công của ông, không ai dám xem đây là một thể loại thấp kém nữa Với những bài ngụ ngôn cô đúc, linh hoạt, uyển chuyển, giàu sức gợi,

La Fontaine đã mang đến cho chúng ta một thế giới kỳ diệu Thế giới ấy là “một bức tranh trong đó mỗi người đều tự thấy bóng dáng của mình” [1, 65] để tự hoàn thiện ngày một tốt hơn

1.2.VẤN ĐỀ TIẾNG CƯỜI

1.2.1.Tiếng cười trong cuộc sống

Tiếng cười là một trong những sản phẩm vô giá của loài người Nó không tồn tại bên ngoài xã hội mà ngược lại Bên cạnh những giọt nước mắt thì tiếng cười là trạng thái tình cảm dễ bộc lộ nhất Và đời sống tình cảm của con người chủ yếu dao động giữa hai cung bậc ấy mà thôi Vì thế mà Byron – nhà thơ Anh thế kỉ XIX – đã ví von: “con người là quả lắc đung đưa giữa nụ cười và nước mắt” Một cách nói khá ấn tượng và ngầm cho

ta thấy được giá trị của nụ cười trong cuộc sống Tiếng cười là phần không thể thiếu và ích lợi nhất đối với con người Vắng tiếng cười, cuộc sống sẽ trở nên vô vị! Vắng tiếng cười cũng đồng nghĩa với một cuộc đời buồn thảm, không hạnh phúc!

Thế nhưng, tiếng cười là gì? Có bao nhiêu cung bậc, bao nhiêu sắc thái? Là câu hỏi không dễ trả lời Từ trước đến nay, biết bao nhà hiền triết, nhà khoa học đã bàn luận đến nhưng chưa ai dám nói là đã thấu mọi lẽ về nó Trong quá trình đi tìm cho tiếng cười một

nội hàm có thể chấp nhận được, chúng tôi thấy trong Từ điển tiếng Việt có định nghĩa như

sau: Cười có hai nét nghĩa: “thứ nhất là cử động của môi hoặc miệng, có thể đồng thời phát thành tiếng, biểu lộ sự thích thú hoặc thái độ, tình cảm nào đó Mỉm cười Cười mỉa mai (…) Thứ hai là tỏ ý chê bai bằng những lời có kèm theo tiếng cười hoặc có thể gây cười; chế nhạo” [43, 24]

Trang 22

Như vậy tiếng cười phát ra có hai dạng: tiếng cười sinh lý và tiếng cười tâm lý Tiếng cười sinh lý là một trạng thái tâm thần Người ta cười chỉ vì những động cơ sinh học Đôi khi, sự co thắt của miệng và khuôn mặt cũng tạo ra một hiện tượng giống như cười nhưng con người có thể không cảm nhận được, không ý thức được Chúng tôi chỉ lưu

ý đến loại tiếng cười thứ hai: tiếng cười tâm lý Đây là loại phổ biến trong cuộc sống Tiếng cười được phát ra luôn kèm theo một trạng thái vui vẻ hay thái độ, tình cảm nào đó Nghĩa là tiếng cười này đi đôi với cảm xúc của chúng ta: cười để biểu lộ niềm vui (cười khà, cười khì, cười ngất, cười nắc nẻ, cười nụ, cười ồ, cười phá…); cười để làm duyên (cười duyên, cười mỉm chi, cười tình…) Và đôi khi, nó được dùng để mỉa mai, chế giễu, biểu hiện thái độ phản kháng của chủ thể cười (cười chê, cười gằn, cười khẩy, cười mát, cười nhạt, cười ra nước mắt…)

Hàng ngày, xung quanh chúng ta, biết bao tiếng cười được cất lên với muôn vàn ý nghĩa Có thể nói con người có bao nhiêu trạng thái cảm xúc là có bấy nhiêu cách để bộc lộ tiếng cười Nguyễn Tuân đã làm một cuộc thống kê về tiếng cười và đưa ra một con số đáng kinh ngạc: có đến 111 kiểu cười Ấy thế mà tác giả vẫn chưa bao quát hết được cả một rừng cười vốn rất phong phú và đa dạng

Tự cổ chí kim, tiếng cười cũng đã ghi lại dấu ấn lịch sử của nó Sức mạnh vô song của tiếng cười là điều mà chúng ta chưa lường hết được Tiếng cười có thể làm nghiêng thành đổ lũy, đưa cả một triều đại vào con đường suy vong Điển hình trong trường hợp này là nụ cười của nàng Bao Tự Vì tiếng cười của một mỹ nhân, U vương đã phải đánh

đổi cả giang san Tiếng cười còn có sức mạnh tái sinh Trong câu chuyện cổ Vương quốc

vắng những tiếng cười cho thấy sức sống mãnh liệt mà tiếng cười có thể khơi gợi ở mỗi

con người Gần những người luôn vui vẻ, ta sẽ cảm thấy phấn khích và yêu cuộc sống hơn Đặc biệt, tiếng cười còn là một vũ khí lợi hại để chống lại cái ác, cái xấu, cái lỗi thời Điều này chúng tôi xin được nói rõ ở phần sau: tiếng cười đi vào văn chương

Tóm lại, chúng ta không thể sống thiếu vắng tiếng cười Nếu như lúa gạo là sản phẩm quan trọng không thể thiếu trong đời sống vật chất thì tiếng cười cũng có một ý nghĩa tương tự đối với đời sống tinh thần Nó có tác dụng vực dậy những tâm hồn ủ đột, khơi gợi sáng tạo và là phương tiện để chống lại cái xấu xa

Trang 23

1.1.2.Tiếng cười đi vào văn chương

“Sóng gió trong cuộc đời là bão táp trong văn học” Vì văn học nói riêng hay nghệ thuật nói chung đều là “sự mô phỏng” (Aristote) Chú ý đến điểm này chúng tôi không nhằm khẳng định sáng tác nghệ thuật chỉ là sự sao chép thô sơ, y nguyên cuộc sống mà chúng tôi muốn hướng đến chất hiện thực trong sáng tác nghệ thuật Chất hiện thực ấy là sự thật cuộc đời Tiếng cười là một bộ phận của đời sống nên tiếng cười cũng đường hoàng bước vào nghệ thuật Ngay từ trong nền văn hóa văn học dân gian thô mộc, tiếng cười đã tạo được cho mình một chỗ đứng khá vững Đối với văn hóa Việt Nam, tiếng cười như cái “gien” in đậm dấu vết ở tranh Đông Hồ, điêu khắc đình làng, ca dao trào phúng, tiếng cười thoải mái mà gai góc trên sân khấu dân gian với những vai hề mồi, hề gậy, hề tính cách rung chuyển chiếu chèo, tiếng cười tuồng đồ làm tươi mới sân khấu ước lệ; tiếng cười nổ tung trong các truyện tiếu lâm, truyện trạng, tiếng cười rộn rã trong những hội hè đình đám dân gian mà người ta vừa là khán giả, vừa là diễn viên, tất cả cùng cười vui nhộn, sảng khoái Tiếng cười di dưỡng đời sống tinh thần cho con người lúc trong nhà, ngoài làng, trên đồng ruộng, sau những giờ làm việc căng thẳng, vất vả… Đối với văn hóa Pháp, tiếng cười cất lên từ các quảng trường rộng rãi Tiếng cười suồng sả ở các lễ hội Carnaval với những trò tôn vinh và hạ bệ… Tiếng cười folklore được xem là “sự hiền minh dân gian”, “một sự hiền minh có tính chất thơ ca”, mang tính tự nhiên, gần gũi thiên nhiên Cuộc sống được tổ chức lại, được nhìn lại ngoài cái nhìn trang nghiêm là cái nhìn bằng tiếng cười Cái cười bật ra hồn nhiên, thấm vào tận thế giới quan, vào đáy vô thức, tiềm thức

Đến với văn học thành văn, tiếng cười cũng mau chóng tìm được một vị thế xứng đáng Lúc này, nó không đơn thuần là đối tượng hướng đến của một số thể loại văn học mà còn trở thành phương tiện hữu ích để các nhà văn bộc lộ thế giới quan của mình Hài kịch là một thể loại điển hình dùng tiếng cười làm công cụ Tuy nhiên, trong công trình này, chúng tôi không hướng đến hài kịch mà là ngụ ngôn Đây cũng là một thể loại gắn liền với tiếng cười, dùng tiếng cười để giáo dục người đời

Khác với hài kịch, không phải lúc nào ngụ ngôn cũng gây cười trực tiếp, có những hành động, lời nói, cử chỉ của nhân vật… đánh thẳng vào cảm xúc của độc giả buộc họ phải bật ra tiếng cười Ngụ ngôn có những cách biểu hiện kín đáo hơn Nói cách khác,

Trang 24

tiếng cười cất lên trong các câu chuyện ngụ ngôn thường có hai cấp độ Thứ nhất, người

ta có được cảm giác vui vẻ, buồn cười thậm chí là cười ngay được sau mỗi câu chuyện Rồi sau khi suy ngẫm, tiếng cười thứ hai mới thực sự vang lên thâm thúy hơn Ví như khi

đọc bài thơ Người làm vườn và lãnh chúa của mình (quyển IV, bài 4), chúng ta không

khỏi bật cười vì hành động ngớ ngẫn của bác làm vườn: nhờ lãnh chúa bắt giúp một con thỏ rừng trót ăn mất của bác vài ngọn rau cải Chưa dừng lại ở đó, tiếng cười càng cất cao hơn khi ta thấy đáp lại lời thỉnh cầu ấy, vị lãnh chúa đã “chiêu binh mãi mã” để săn con thỏ: “Ai nấy hăng hái chuẩn bị Tù và, kèn đồng nổi lên, tạo thành một sự náo động

om sòm khủng khiếp…” Và kết quả là “cả bọn vừa chó vừa người ấy chỉ trong một giờ mà gây thiệt hại nhiều hơn tất cả mọi con thỏ trong cả tỉnh gây thiệt hại trong một trăm năm”, còn con thỏ thì chạy mất Quả là phi lý đến mức không chấp nhận được! Đến đây tiếng cười thứ hai mới từ từ nhen lên: sự che chở mà giai cấp thống trị dành cho kẻ bị trị chỉ là một danh từ hoa mỹ Nói rõ ra, đó là sự bóc lột, một sự ăn bám xấu xa

Khi nói đến cái cười hay cái hài, các nhà triết học, mỹ học thường chú ý đến những mâu thuẫn rất phong phú của phạm trù mỹ học này Nếu Aritote cho mâu thuẫn giữa cái đẹp – cái xấu, Kant chú ý mâu thuẫn giữa cái cao cả – cái thấp hèn, Tchernưsepski xoáy vào mâu thuẫn giữa chân thành và giả tạo, giữa cái vỏ – cái ruột… là cái hài thì ở Pascal là mâu thuẫn giữa hiểu – thấy, ở Selling là vô hạn – hữu hạn, ở Hatman là trung bình – trên trung bình, ở Schopenhauer là vô lý – hợp lý… Nhưng mỗi cái hài, dù ở dạng xung đột nào, cũng có mối quan hệ giữa chủ thể cười và đối tượng cười Nghĩa là cái hài phải có một môi trường để “hoạt động” Theo chúng tôi, môi trường ấy chính là xã hội loài người Cái cười không thể tồn tại bên ngoài xã hội được Bản thân cái cười được sinh ra từ sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức phản ảnh: khi cái ti tiện làm ra vẻ vĩ đại, cái ngu ngốc tự làm ra vẻ thông thái, cái trì trệ, ngưng đọng tự làm ra vẻ đầy sức sống và phát triển Cái cười đánh gục sự trống rỗng bên trong và sự hèn mạt của những kẻ nuôi ảo vọng Nó có nội dung phong phú và có ý nghĩa hiện thực Nói cách khác, cái cười là phản ứng cảm xúc của con người trong ý thức thẩm mỹ của nó khi nhìn nhận các hiện tượng thực tại mang xung đột hài kịch “Một hiện tượng xã hội được coi là lỗi thời theo quan điểm triết học, là phản động theo quan điểm chính trị thì theo quan điểm mỹ học nó

Trang 25

được coi là có tính hài” Cái hài là giá trị khách quan của một hiện tượng xã hội, là cái cười cao, cái cười có ý nghĩa

Trong cuộc sống mênh mông này, tiếng cười nhắm vào ai? Vào cái gì? Hay nói cách khác đối tượng của tiếng cười là gì? Như chúng tôi đã nói ở trên, tiếng cười phát sinh trên

cơ sở những cặp phạm trù đối kháng nhau: tốt – xấu, thiện – ác, chân thành – giả tạo, vô lý – hợp lý… Do đó, đối tượng mà nó chỉa mũi dùi vào là các hiện tượng xã hội lỗi thời bị lên án, bị phê phán, là các tệ nạn, các tập tục hủ lậu Tiếng cười còn hướng đến những căn bệnh mang đặt tính của loài người: bệnh hình thức, thói rởm đời, tâm lý ảo tưởng… Aristote cho rằng “hài kịch thì miêu tả những người xấu nhất, còn bi kịch lại nhằm miêu tả những người tốt nhất so với những con người trong thực tế” Theo chúng tôi, cái cười, cái hài không chỉ đánh vào cái xấu nhất Nó là một tình cảm mỹ học có giá trị nhân bản và sức cảm hóa to lớn Cái hài chế giễu những gì đáng khinh ghét, đồng thời nó cũng làm dịu đi những tình cảm khinh ghét làm người ta thấy vui hơn, yêu đời hơn Bởi vì tiếng cười không chỉ “tiêu diệt” mà còn “tái sinh” Chỉ ra những thói xấu không phải để dè bỉu, chê bai mà giúp đối tượng khắc phục những thói xấu ấy để hoàn thiện mình

Văn chương thế giới nói chung và Pháp nói riêng đã có biết bao cây cười độc đáo góp vào rừng cười nhân loại Nhưng phải đến Rabelais (1494) tiếng cười mới thực sự chiến thắng Với các tác phẩm nổi tiếng Pantagruel (1532), Gargantua (1534)… ông đã làm nên một tiếng cười vĩ đại mà mãi đến đầu thế kỉ XX, M Bakhtin mới thực sự khám phá được giá trị của nó Bằng cách chuyển một đề tài nghiêm túc sang một sự miêu tả tầm thường hay dung tục với cùng một sức hấp dẫn, nhà văn đã mang lại cho tiếng cười một chức năng rõ ràng: “lên án tất cả những gì ngăn cản con người phát triển” [27, 19] Hai người khổng lồ Gargantua và Pantagruel được miêu tả với những kích thước khổng lồ, biểu thị cho giấc mơ lớn của chủ nghĩa nhân văn Từ những sự truyền đạt rất hợp lẽ của Gargantua, con trai Pantagruel của ông đã tiếp thu và phát triển thành một con người toàn vẹn – tôn trọng tự nhiên, tìm sự trung dung trong mọi thứ

Đến thế kỉ XVII, ta lại bắt gặp một cây cười vĩ đại thứ hai: nhà soạn kịch Molière (1622) Mặc dù không được giới nghiên cứu cùng thời (cụ thể là Boileau) xếp vào hàng những nhà cổ điển chân chính, nhưng những cống hiến mà ông mang lại cho nền văn học nhân loại là điều không thể phủ nhận Nếu như Racine (1639), Corneille (1606) chọn cái

Trang 26

nhìn nghiêm túc để phân tích đánh giá xã hội thì Molière lại nhìn nhận sự việc qua lăng kính hài Ông tập trung toàn bộ sự chú ý của mình vào các sự kỳ cục và thói lố lăng của thời đại ông Trên cơ sở những thói tật ấy, tác giả đã thổi phồng nó lên khiến cho các nhân vật chính trong các vở hài kịch của ông xâm nhập vào ngôn ngữ thông dụng: Harpagon đồng nghĩa với kẻ hà tiện, Tartuffe với kẻ sùng đạo lừa đảo, Don Juan với kẻ quyến rũ phóng đãng…

Tiếp nối truyền thống từ hai cây cười tiêu biểu trên của văn học Pháp, La Fontaine đã đem lại cho ngụ ngôn một sắc thái tiêu biểu: tiếng cười Khi viết bài tựa cho ngụ ngôn của mình, nhà thơ đã khẳng định: “Trong tác phẩm của tôi, người ta sẽ không tìm thấy lời văn trang nhã và cực kỳ ngắn gọn đặc biệt đáng học tập của Phèdre ( ), tôi thấy cần phải bổ sung bằng cách làm cho tác phẩm của tôi vui tươi hơn” [1, 59] Đến với ngụ ngôn, La Fontaine cũng biết rằng ông sẽ “không góp thêm” được nhiều vì đây là một thể loại khá quen thuộc với mọi người Cho nên, ông có ý định “làm cho nó thêm chất mới mẻ một vài chi tiết tươi vui cho thêm ý vị” [1, 61] Và ông cũng khẳng định ngay rằng: “với tôi, cái tươi vui không phải là cái chọc cười; mà là những nét duyên dáng, cái vẻ dễ chịu, đáng yêu mà người ta có thể trích vào cho mọi loại chủ đề, kể cả những chủ đề nghiêm túc nhất” Như vậy, ngay từ đầu La Fontaine đã không có ý định chọc cười một cách suồng sả Cái cười trong thơ ngụ ngôn của ông là cái cười đằm thắm, nhiều ý nghĩa Tự bản thân câu chuyện sẽ mang đến cái cười

Tóm lại, vấn đề tiếng cười là một vấn đề hết sức gần gũi trong cuộc sống cũng như trong văn học nghệ thuật Từ những vấn đề vừa tìm hiểu trên, chúng tôi có thể đi vào khám phá tiếng cười La Fontaine qua thơ ngụ ngôn của ông Không chỉ nhìn nhận tiếng cười một cách rời rạc, lỏng lẻo, chúng tôi muốn đi tìm cho nó một hệ quy chiếu, tức cội nguồn làm nên tính chỉnh thể của tiếng cười để vấn đề được biện giải sâu sắc hơn

Trang 27

CHƯƠNG 2

CỘI NGUỒN VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TIẾNG CƯỜI

TRONG THƠ NGỤ NGÔN LA FONTAINE Như La Fontaine đã thừa nhận, ông viết thơ ngụ ngôn không nhằm mục đích chọc cười thiên hạ Nhưng sau mỗi bài thơ, ta đều thấy ẩn hiện bàng bạc một tiếng cười Để cuối cùng, cả thế giới ngụ ngôn của ông bùng lên một tiếng cười lớn, tiếng cười đa điệu, giàu cung bậc Tiếng cười ấy cho ta cảm giác như nhà thơ đã khai thác nó ở mọi khía cạnh, mọi giác độ Tiếng cười vừa mang ý nghĩa xã hội (phê phán mặt trái của “Đại thế kỉ”, ý nghĩa mỹ học (vạch mặt cái trống rỗng, tầm thường len vào đời sống), vừa mang ý nghĩa nhân văn (chống phá cái xấu, cái ác là một cách bảo vệ cái thiện), ý nghĩa triết lý sâu sắc (tiếng cười không nhằm vào một loại người, một xã hội cụ thể nào mà hướng vào căn bệnh mang đặc tính loài người: bệnh hình thức, thói rởm đời, tâm lý ảo tưởng)…

Vì vậy, trong chương này, chúng tôi cố gắng đi tìm một hệ quy chiếu, một “nhỡn quan” để từ đó có thể lý giải được tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La Fontaine Từ đó, nâng tiếng cười lên tầm vóc triết lý, ứng xử với tiếng cười như một cái nhìn nghệ thuật Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ đi sâu khai thác thế giới nhân vật hay đối tượng mà tiếng cười La Fontaine hướng đến

2.1 TỪ CÁI BẢN LỀ TRÁI “TỰ NHIÊN”

Phần đông các nhà phê bình văn học đều coi La Fontaine là “người đại diện hoàn thiện nhất của các nhà thơ Pháp thế kỉ XVII” Có người lại khẳng định “ông là nhà thơ cổ điển nhất trong các nhà cổ điển chủ nghĩa” Chúng tôi muốn nhấn mạnh điều này để

đi đến kết luận: dù xuất phát từ một thể loại bị xem là “hạ đẳng” (Boileau) của chủ nghĩa cổ điển, La Fontaine vẫn mang những đặc điểm chung về tư tưởng và nghệ thuật của thời đại ông Nghĩa là La Fontaine vẫn chịu sự chi phối của ba quy tắc lớn làm nên chủ nghĩa cổ điển: tính duy lý, tính tự nhiên và tính La Mã Từ ba quy tắc lớn mà Boileau đã tổng kết được ấy, theo chúng tôi, La Fontaine chịu ảnh hưởng nhiều nhất ở tính tự nhiên Không như Corneille chịu sự chi phối của lý trí, nhà ngụ ngôn này thiên về tự nhiên hơn

Trang 28

Vốn là một con người sống gần gũi và hòa đồng với thiên nhiên, cho nên ta không ngạc nhiên khi La Fontaine chịu tác động mạnh của yếu tố này Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng tự nhiên theo quan điểm các nhà cổ điển chủ nghĩa không hoàn toàn khớp với cách hiểu của chúng ta ngày nay Thêm nữa, ngay trong các nhà văn thời đó cũng có quan niệm khác nhau

2.1.1 Tự nhiên dưới cái nhìn của La Fontaine và người cùng thời

Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 1995) đã định nghĩa tự

nhiên như sau: “Tự nhiên (danh từ) là tất cả nói chung những gì tồn tại mà không phải do con người mới có Quy luật của tự nhiên (…); (tính từ) thuộc về tự nhiên hoặc có tính chất của tự nhiên, không phải do con người mới có, không có tác động hoặc sự can thiệp của con người, (…); theo lẽ thường ở đời, phù hợp với lẽ thường của tự nhiên” [43, 1040] Như vậy, tự nhiên theo cách hiểu của chúng ta ngày nay chứa một nội hàm khá rộng Tất cả những gì tồn tại không phải do con người tạo ra đều gọi là tự nhiên Đó là thế giới thiên nhiên bao la, là xã hội rộng lớn với những mối quan hệ phức tạp vận động theo quy luật kế thừa và phát triển Con người chỉ có thể sống phù hợp với quy luật chứ không thể cải tạo quy luật Bởi vì tự nhiên đó là một cái gì bất biến, không thể thay đổi Theo lẽ tự nhiên, một đứa trẻ sinh ra sẽ lớn lên và chết đi Chúng ta không ai có thể thoát khỏi vòng tuần hoàn SINH – LÃO – BỆNH – TỬ ấy Có chăng, ta chỉ có thể làm cho quá trình đó diễn ra nhanh hay chậm, tốt hay xấu mà thôi Cũng vậy, theo lẽ tự nhiên, ai sinh ra cũng có quyền hưởng một cuộc sống ấm no, bình đẳng Bị tước mất những quyền lợi đó, tất con người sẽ đấu tranh để trở lại đúng quy luật…

Trở lại vấn đề tự nhiên theo quan niệm của các nhà cổ điển Pháp thế kỉ XVII, chúng

tôi thấy “tính tự nhiên” được họ khai thác theo các khía cạnh sau: Thứ nhất, văn chương

hướng đến tự nhiên là văn chương thiên về biểu hiện đời sống bên trong của những lớp người thuộc tầng lớp trên của xã hội Nghĩa là nó hướng đến xã hội thượng lưu Trong tác

phẩm Nghệ thuật thơ ca, Boileau đã kêu gọi: “Các bạn phải nghiên cứu tự nhiên” – tự

nhiên đây không phải là “đại tự nhiên” mà là cái “tự nhiên đẹp”, tức đời sống chốn cung đình và thành thị Các nhà văn cần tìm hiểu đời sống trong cung đình và nỗi lòng người thành thị, cụ thể là triều đình Louis XIV lúc bấy giờ Sự tổng kết của Boileau có lẽ nhằm

Trang 29

vào các sáng tác của Corneille và Racine là chủ yếu Qua các sáng tác của Corneille, hình ảnh còn lưu lại rõ nét nhất trong lòng người xem là người anh hùng Những Rodrigue, Horace, Auguste… đều là những con người thuộc giới quý tộc Nếu họ không là một vị hoàng đế vĩ đại thì cũng là những chiến binh dũng cảm lừng danh… Họ biết dùng lý trí sáng suốt để chiến thắng dục vọng cá nhân, có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ và bổn phận của bản thân đối với gia đình và đất nước Chú tâm vào cuộc sống, suy nghĩ, hành động của những con người này là tác giả đã đem được “tính tự nhiên” vào tác phẩm Tiếp bước Corneille, Racine cũng đưa vào kịch của mình đời sống chốn cung đình Tuy nhiên ông không hướng đến những mẫu người anh hùng như Corneille đã làm mà tập trung vào “con người phong nhã” của thời đại Nhân vật của ông là những ông hoàng bà chúa với niềm si mê cháy bỏng Bước sang giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVII, chế độ chuyên chế Pháp đang ở thời kỳ ổn định Đây không còn là lúc người ta nghĩ và nói về những vấn đề chính trị, về lợi ích quốc gia… Chính vì thế, những chuyện riêng tư và những mối quan hệ riêng trong xã hội được chú ý nhiều hơn Nhưng cho dù tái tạo cái gì, đối tượng hướng đến của hai nhà soạn kịch vĩ đại này vẫn là những con người thuộc tầng lớp phong lưu mã thượng Ta hầu như không thấy bóng dáng của những người thuộc tầng lớp dưới, nhất là người bình dân trong sáng tác của họ

Ngay từ điểm đầu tiên này, chúng tôi thấy ở La Fontaine đã có sự khác biệt Ông và những người có tư tưởng tự do phóng khoáng như ông không chỉ chú tâm vào xã hội thượng lưu (mặc dầu có đề cập đến) mà hướng đến cả những tầng lớp khác của xã hội Ở các sáng tác của La Fontaine và Molière, người bình dân xuất hiện với một tần xuất khá lớn Từ anh người hầu, chị tớ gái, đến bác nông dân, bác chữa dép, cô hàng sữa… đều lần lượt bước lên sân khấu Và quan trọng hơn, họ không đến với tư cách một kẻ “lót đường” mà họ là đại diện cho lý trí sáng suốt , tỉnh táo, cho trí tuệ và chân lý Họ còn là “phát ngôn viên” của tác giả Thông qua những hạng người này, nhà văn bộc lộ thái độ, tư tưởng, quan điểm của mình Điều này cho thấy sự tổng kết của Boileau đã chưa trọn vẹn Thêm nữa, sự xuất hiện của người bình dân trong các sáng tác là minh chứng cho tinh thần tự do, dân chủ, phóng khoáng của tác giả “Tự nhiên” theo họ không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ cứng nhắc nơi cung đình và thành thị mà nó còn mở rộng ra là cả xã hội Đây là một điểm tiến bộ của La Fontaine và những người như ông

Trang 30

Thứ đến, “tự nhiên” mà các nhà cổ điển chủ nghĩa quan niệm cũng là cái tự nhiên

không câu thúc trong sinh hoạt (kế thừa triết lý tự nhiên Phục Hưng) đối kháng với cái phản tự nhiên của sinh hoạt và văn chương cầu kỳ, với tình trạng mất quyền sống tự nhiên trong xã hội tức là mất tự do Ở trường hợp này, nguyên lý “theo tự nhiên” đã đem lại giá trị hiện thực cho nhiều tác phẩm cổ điển Molière có nhiều vở kịch đi theo khuynh

hướng này như: Trường học làm vợ, Các bà cầu kỳ rởm, Tartuffe, Người ghét đời… Ông

kịch liệt lên án chủ nghĩa ngu dân của nhà thờ, thói chuyên quyền độc đoán của chế độ chuyên chế… đã kìm kẹp sự phát triển tự do của con người, vùi dập quyền sống của họ

Trong tác phẩm Người ghét đời, nhân vật chính – Alceste - người ghét đời là con người

của tự nhiên, trước sau vẫn ngay thật, bình dị, cao thượng và thèm chân lý Anh mâu thuẫn với toàn thể xã hội ích kỉ, giả dối, phản trắc… và không thể dung hòa với nó Nên cuối cùng, anh đã bi quan, tuyệt vọng, ghét đời – ghét sự tha hóa của con người

Racine trong Britannicus (1669) cũng đã nhân danh tự do mà lên án Néron – đại

diện cho chính quyền tàn bạo Mới vừa lên ngôi, Néron đã sớm muốn tự khẳng định vai trò là người đứng đầu, người lãnh đạo duy nhất tối cao của triều đình Để thỏa mãn thèm khát đó, hắn không từ bất cứ một hành động bạo liệt nào: gạt mọi lời hay lẽ phải (dù là lời nói của mẹ), gạt mọi nguyện vọng chính đáng của kẻ dưới quyền mình, trắng trợn dùng quyền sinh sát phá vỡ hạnh phúc người khác không chút run tay… Bên cạnh

Britannicus, những tác phẩm khác của Racine cũng là những hình ảnh không mấy tốt

đẹp về các ông hoàng bà chúa Từ những con người mang tài đức cao siêu trong thế giới Corneille, đến Racine vua chúa đã “rơi xuống tầm tục lụy” rồi Họ cũng chỉ là những kẻ tầm thường với nhiều dục vọng ích kỉ, hèn hạ Sẵn có quyền lực vô hạn trong tay, họ trở thành những tên bạo chúa đáng sợ nhất…

Tóm lại, việc vận dụng “tính tự nhiên” vào tác phẩm với ý nghĩa tình trạng mất quyền sống theo đúng quy luật đã giúp Racine phơi bày thực trạng triều đình Pháp nửa cuối thế kỉ XVII – một triều đình đầy rẫy những cạnh tranh quyền thế

Đến La Fontaine, tính chất này của triết lý tự nhiên được thể hiện khá rõ Thông qua các bài thơ ngụ ngôn của mình, đặc biệt là những bài nằm trong giai đoạn sau, La Fontaine đã đập thẳng vào triều đình phong kiến độc đoán, chuyên quyền, bất công (Vấn

Trang 31

đề này chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn trong chương ba) Như vậy, ở nét nghĩa thứ hai, La Fontaine đã có cùng quan niệm với các nhà văn cổ điển khác

Và cuối cùng, chủ nghĩa cổ điển nói “theo tự nhiên” cũng có nghĩa là có sao nói

vậy Yêu cầu phải nói giống sự thật đã giúp cho các nhà cổ điển đi sâu vào những ngóc ngách, uẩn khúc của tâm hồn con người, tạo nên một thế giới hiện thực tâm lý phong phú, đa dạng Ở khía cạnh này, La Fontaine cũng như các nhà văn cổ điển khác đều có điều kiện xây dựng những nhân vật tâm lý rất sắc sảo Từ các nhân vật “mắc bệnh quý tộc” như Jourdain, keo kiệt như Harpagon, bệnh mê đạo như Orgon… của Molière; đến các nhân vật độc đoán hách dịch như con sư tử, tàn ác như con sói, ranh ma xảo quyệt như con cáo của La Fontaine… hay các nhân vật phụ nữ phức tạp như Hecmione, thủy chung như Andromaque của Racine… đã trở thành những điển hình tâm lý sâu sắc và khá sinh động Đây là một đóng góp lớn của văn học cổ điển Nó không chỉ đem lại thành quả cho giai đoạn văn học này mà còn có vai trò mở đường cho chủ nghĩa hiện thực Pháp trong những thế kỉ sau

Nhìn chung, qua việc nghiên cứu thơ ngụ ngôn La Fontaine, chúng tôi thấy rằng trong ba nguyên tắc lớn của chủ nghĩa cổ điển thì La Fontaine chịu ảnh hưởng nhiều nhất

ở “tính tự nhiên” Mặc dầu vậy, tự nhiên trong quan niệm của ông so với các nhà cổ điển khác cũng có sự chênh lệch Ngoài những điểm tương đồng ở các khía cạnh: theo tự nhiên là có sao nói vậy và chống lại những gì trái tự nhiên, trái quy luật, La Fontaine có sự mở rộng hơn trong quan niệm tự nhiên – xã hội Cái tự nhiên mà ông hướng đến không chỉ là “tự nhiên đẹp” của đời sống cung đình Tự nhiên trong sáng tác của La Fontaine được mở rộng ra là cuộc sống với mọi sắc màu của nó Cũng như Molière, ông đặc biệt chú ý và đặt nhiều niềm tin vào người bình dân “Tình cảm chân thành, tâm hồn trong sạch cao cả chỉ có thể tìm thấy trong nhân dân lao động mà thôi” [21, 161]

2.1.2 Trái tự nhiên – tiếng cười phát sinh

Ngược đời thì dễ gây cười vì nó vi phạm logic hiện thực Tình huống ngược đời vi phạm chuẩn mực cuộc sống, rất khó tin là có thể tồn tại trong thực tế Ấy vậy mà nó cứ xảy ra, cứ lôi cuốn chúng ta, ít khi ta nghi ngờ về tính chân thực của nó Bởi vì, xét đến cùng, cái ngược đời, phi lý lại là cái hữu lý, là thực tế của xã hội vào thời kỳ suy vi, rối

Trang 32

ren Hay nói cách khác, cái phi lý chính là hiện thực xã hội trong giai đoạn suy tàn, phản động, đi ngược lại quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân

Chúng ta đều biết La Fontaine viết những tập ngụ ngôn vào lúc chế độ quân chủ chuyên chế đã đi nửa con đường Triều đình Louis XIV đạt được sự thịnh vượng cực độ và mầm mống của thói chuyên quyền độc đoán cũng bắt đầu hình thành Với bộ trang phục đi săn, Louis XIV tiến thẳng vào cung điện Vecxay và tuyên bố “Nhà nước là ta” là một bằng chứng Ông vua con ngày nào giờ đây đang muốn thể hiện mình, thâu tóm mọi quyền bính trong tay Tinh thần dân tộc mạnh mẽ buổi đầu xây dựng đất nước (đầu thế kỉ XVII), hy sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích chung của các nhân vật anh hùng của Corneille đã không còn hợp thời Những tác giả tiến bộ trong giai đoạn về sau này đã nhìn thấy được bộ mặt thật tầm thường giả dối của các ông hoàng bà chúa đầy dục vọng (Racine), những thói lố lăng rởm đời của bọn quý tộc thất thế, bọn tu hành giả mạo và những tên tư sản mới phất hợm mình (Molière, La Bruyère, La Rochefoucauld) Trong bối cảnh chung đó, La Fontaine cũng không thể làm ngơ trước sự thật cuộc đời Vốn là một nhà thơ theo tự nhiên và chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học duy vật Gassendi, La Fontaine đã đưa một cách nhẹ nhàng tất cả những vấn đề của xã hội vào sáng tác của mình Không như các nhà cổ điển khác đánh trực diện vào cái xấu xa thối nát của xã hội,

La Fontaine ra đòn gián tiếp Mượn chuyện của thế giới loài vật, nhà ngụ ngôn tài ba này đã khai thác mọi ngóc ngách của xã hội loài người

Trong chuyên luận Tiếng cười Vũ Trọng Phụng nhà nghiên cứu Nguyễn Quang

Trung đã khẳng định: “tiếng cười là một sự vi phạm chuẩn mực” [46, 203] Nói đúng hơn, nó phá vỡ những chuẩn mực hình thức giả tạo, vạch ra sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa biểu hiện bên ngoài và bản chất bên trong Hành động của con sư tử và

tâm địa của nó qua bài Các loài vật bị bệnh dịch hạch (quyển VIII, bài 1) sẽ cho ta thấy

rõ điều này Muôn loài gặp đại họa Vua sư tử cho rằng do có kẻ phạm tội tày đình nên trời mới trừng phạt Để giải thoát cho cộng đồng, mọi người từ cao đến thấp đều phải

“nghiêm xét mình cho tận lương tâm” xem kẻ nào tội nặng nhất phải chịu hy sinh hòng làm nguôi cơn giận của thượng đế Và để làm gương cho kẻ khác, sư tử đã tự kể tội mình:

Trẫm thì tham thực quen thân Miệng rồng trót nhá hàng trăm cừu rồi!

Trang 33

Cừu đâu động đến người của trẫm?

Không dối vua, chẳng dám khinh nhờn

Đôi khi tội trẫm còn hơn Ngon mồm có lúc xơi luôn… mục đồng

Nếu cần, trẫm vui lòng hiến mạng…

Nguyễn Đình dịch

Giọng điệu của nó nghe có vẻ rất ăn năn, hối hận Dường như nó thật sự muốn hiến mạng để cứu thần dân của mình Nhưng khi chúng ta nghe tiếp luận điệu của bọn cáo, gấu… bênh vực cho nó thì mới vỡ lẽ: thật là một màn kịch tài tình! Hơn ai hết sư tử hiểu rõ rằng bè lũ tay sai sẽ giải tội cho nó Bọn bỡ đợ, biến báo trắng đen ấy sẽ không khó khăn gì trong việc biến tội ác của nó thành ân đức Cho nên, cái hình thức giả nhân giả nghĩa ấy tự thân nó vạch cho ta thấy được tâm địa xấu xa của một tên bạo chúa Nó đã thực hiện một cú lừa độc đáo để những kẻ khờ dại như lừa rơi vào bẫy Và việc tự trách mình ấy phần nào cũng giúp nó thanh thản trong hành động xảo quyệt của mình Chỉ cần một chi tiết nhỏ như thế, La Fontaine đã đạt được mục đích: vạch trần bộ mặt giả đạo đức của một tên bạo chúa khát máu, chuyên giết người mà luôn làm ra vẻ thương người

Đi vào thế giới 238 bài thơ ngụ ngôn của ông, chúng ta như lạc vào mê hồn trận Những cảnh đời, những khoảnh khắc cuộc sống diễu qua ngắn ngủi thôi nhưng đã để lại ấn tượng khó phai Đôi lúc chúng tôi phải thốt lên: sao phi lý thế? Nhưng ngẫm lại đó mới chính là đời Thông thường, nhận được sự giúp đỡ, chúng ta đều ghi nhớ và có dịp là

sẽ báo đáp ngay Vậy mà con chó cái trong Chó săn và bạn (quyển II, bài 7) lại có cách

cư xử “không thể tin nổi” Trong lúc khó khăn, nó được bạn giúp chốn ăn nơi ở Đến lúc đã làm chủ trong nhà người ta và có đủ sức mạnh, nó lại trở mặt:

Khi mãn hạn chủ nhà quay lại hỏi:

“Nhà, phòng, giường xin hãy trả đây!”

Nhe nanh mụ chó lần này Bảo rằng “Ta sẽ ra ngay, sẵn sàng

Ta và cả bầu đoàn một lúc Nếu nhà ngươi đủ sức đuổi ra!”

Huỳnh Lý và Nguyễn Đình dịch

Trang 34

Thật là một sự tráo trở, phản trắc! Thế nhưng, không phải La Fontaine đã bịa đặt Miêu tả tự nhiên như nó vốn có, ông đã khám phá ra được bản chất của những kẻ ranh ma: khi cần sự giúp đỡ thì hạ mình xin xỏ; lúc đầy đủ sung túc lại trở mặt phủi ơn Đúng như nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạnh đã nói: “La Fontaine không phải là người giảng dạy đạo đức, luân lý, nhưng cuộc đời đã cung cấp cho ông những mẫu loại điển hình, những sự thế điển hình” [17, 83]

Khi nghiên cứu thơ ngụ ngôn La Fontaine, chúng tôi còn bắt gặp nhiều tình huống oái oăm, ngược đời hơn thế nữa Có thể nói , các câu chuyện hầu như đều đi ngược lại quy luật của cuộc sống, lẽ vốn có của tự nhiên Kẻ ngu dốt lại làm ra tuồng hiểu biết

(Con khỉ và cá heo) Kẻ xấu xí lại muốn làm duyên (Lừa và cún, quyển IV, bài 5) Phường nhút nhát thì tỏ vẻ anh hùng (Gấu và hai bác lái, quyển V, bài 20; Sư tử bị người

quật chết, quyển III, bài 10) Cái rỗng tuếch được che đậy bằng sự khuếch đại bên ngoài

(Cáo và pho tượng, quyển IV, bài 14; Lừa mang tượng thánh, quyển V, bài 14)… Trên nền

những mâu thuẫn ấy, tiếng cười cất cánh bay lên và đọng lại trong lòng độc giả những dư âm không thể quên Như phần lớn các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, thơ ngụ ngôn La Fontaine là một loại giáo dục đạo đức hướng con người đến những chân lý ở đời Bằng cách khai thác những cái bất hợp lý, trái lẽ tự nhiên, La Fontaine đã đánh được vào tâm lý người đọc Ông cũng đã gây được sự chú ý qua việc đáp ứng đòi hỏi sự vui tươi ở mỗi bài thơ Và tiếng cười đạt được cứu cánh của nó

La Fontaine không chỉ chú ý đến những cặp phạm trù đối lập để tạo ra cái hài Theo tự nhiên với ông còn có nghĩa là sống đúng quy luật Vì thế, những áp bức, bất công, đói khổ trong xã hội cũng là trái tự nhiên, và đương nhiên nó cũng có tác dụng tạo cái cười dù mang một sắc thái khác Con người sinh ra vốn phải được hưởng một cuộc sống ấm no đầy đủ Trong những xã hội thịnh vượng thái bình, điều này được thực hiện khá tốt Người già, trẻ con được quan tâm, chăm sóc Ai cũng được bảo đảm có cái ăn cái mặc Ấy vậy mà xã hội Pháp được mệnh danh là “đại thế kỉ” lại có cảnh:

Một tiều phu tội nghiệp, cành nhánh phủ lôi thôi, Dưới bó củi nặng nề, dưới chồng năm tháng nặng Rên rỉ với lom khom, lê đi từng bước chậm, Và cố về cho tới túp nhà khói lem nhem

Trang 35

Cuối cùng, không chịu nổi gắng gỏi với đau thương Bác đặt bó củi xuống, nghĩ đến phận khốn cùng

“Từ khi mới lọt lòng, đã được hưởng những gì vui thú?

Có ai nghèo đến như mình, trên mái tròn hoàn vũ?

Đôi khi không mẫu bánh, chưa hề lúc nghĩ ngơi”

Mụ vợ, lũ con, lính, thuế: liên hồi, Ông chủ nợ eo sèo, và đi phu tạp dịch Vẽ bức ảnh thê lương không nét nào thiếu hụt

Thần chết với tiều phu, quyển I, bài 16, Xuân Diệu dịch

Quả là một bức ảnh thê lương với đầy đủ mọi nỗi đau khổ mà con người phải gánh chịu: nghèo đói, nợ nần, phu phen, tạp dịch… và cả tuổi già So với các buổi yến tiệc linh đình, cuộc sống xa hoa của giới thượng lưu, đây quả thật là một bức tranh tương phản đến đau lòng Thực tế thì La Fontaine không phải là người duy nhất nhận thấy sự cơ cực, bần

hàn của nhân dân lao động Trong tác phẩm nổi tiếng Những tính cách (1688), La Buyère

cũng thấy được: “nhan nhãn ở ngoài đồng những con thú rừng, cả đực lẫn cái, đen đủi, tái mét, nắng cháy xém, cặm cụi trên đồng ruộng Chúng ra sức đào bới không mệt mỏi Chúng kêu lên những tiếng ú ớ Khi chúng đứng thẳng dậy thì ta nhìn thấy những khuôn mặt người Ấy, những con vật ấy chính là người thật Ban đêm, chúng chui vào hang ăn miếng bánh mì đen, uống nước lã, có khi ăn cả rễ cây để mà sống”

Trái tự nhiên, La Fontaine còn đề cập đến những bất công mà con người phải gánh chịu Vấn đề nhà thơ thể hiện không còn đơn thuần là một sự áp bức bình thường mà được nâng lên tầm hết sức phi lý Đó là sự vu khống độc ác mà con sói dùng để ăn thịt

cừu non (Chó sói và cừu non, quyển I, bài 10); là sự vu cáo trắng trợn của cáo đối với lừa

khi buộc nó đã phạm tội tày đình vì nó đã trót gặm một mảng cỏ to bằng đầu lưỡi nó của

người khác (Các loài vật bị bệnh dịch hạch)… Và sự phi lý ấy đạt đến đỉnh điểm khi nhà

thơ miêu tả sự lo sợ cuống cuồng của một chú thỏ chạy trốn vì sợ đôi tai mình bị gọi là

sừng (Tai thỏ, quyển V, bài 4)

Thỏ ta thấy bóng tai sừng Sợ quan ngự hạch là sừng thì nguy

Tai dài thượt ngắm đi ngắm lại

Trang 36

Khác gì sừng, khó cải mồm ngoa

“Chào bạn dế, tôi chuồn xa, Đôi tai này dễ hóa ra cặp sừng

Ví bằng nó cụt như đà điểu Vẫn cứ lo mồm đểu tán điêu”

Nguyễn Đình và Huỳnh Lý dịch

Trong hoàn cảnh mà sự biến báo pháp luật, đổi trắng thành đen của bọn quan tòa không còn là chuyện hiếm; chân lý chỉ thuộc về những kẻ có quyền thế mà thôi thì nỗi lo sợ của thỏ không phải không có căn cứ Đọc câu chuyện, ta bật cười vì sự yếu đuối của một chú thỏ nhát gan Nhưng tiếng cười ngày càng chua xót khi nhận ra: vì hạnh phúc của một người mà muôn loài phải chịu cuộc sống lang thang bất định Và ngay con vật vốn hiền lành như thỏ vẫn nơm nớp lo sợ tai họa ập vào người

Như vậy, cái nhìn trái tự nhiên đã được La Fontaine vận dụng như kim chỉ nam chỉ đường cho tiếng cười của ông cất cánh Theo chúng tôi, đó là cội nguồn, là khởi điểm làm nên nét đặc sắc trong các bài thơ ngụ ngôn Tất nhiên, sự thành công ấy còn có sự chi phối của nhiều yếu tố khác Nhưng để nó có một sự đột phá, vượt lên trên các sáng tác trước đó thì cái nhìn trái tự nhiên là điểm mấu chốt Nó là thành phần cốt yếu làm nên tiếng cười phong phú, đa điệu, giàu cung bậc của La Fontaine Cho nên, chúng tôi cho rằng, cái nhìn trái tự nhiên là chìa khóa để chúng ta có thể thâm nhập vào thế giới ngụ ngôn của ông, đặc biệt là tiếng cười Từ đó, ta sẽ có cách đánh giá chính xác hơn về những cống hiến mà ông để lại Cũng từ cái nhìn trái tự nhiên này, chúng tôi tiếp cận các mục tiêu mà tiếng cười nhắm đến (đối tượng của tiếng cười) và các sắc thái mà tiếng cười biểu hiện

2.2 NHỮNG CON RỐI TRÊN SÀN DIỄN

Vấn đề đối tượng của tiếng cười hay thế giới nhân vật trong thơ ngụ ngôn La

Fontaine đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó, phải kể đến công trình Thế

giới loài vật trong thơ ngụ ngôn La Fontaine của Cầm Thị Phượng Tác giả bài viết đã có

những thống kê lý thú về các nhân vật loài vật trong thơ ngụ ngôn La Fontaine: có đến

117 bài thơ viết về loài vật trong số 238 bài, với đủ các mối quan hệ phức tạp “Từ con cá biết nói, con chim biết hát, con thỏ biết dạy khôn, đến cả cây cỏ cũng biết ghen tỵ,

Trang 37

con ruồi con muỗi biết bắng nhắng, biết trả thù”… cho thấy một thế giới loài vật hết sức phong phú và đa dạng Đóng góp lớn nhất của công trình này là đã tìm được độ lệch pha giữa nhân vật loài vật trong tác phẩm và con vật thật trong cuộc sống Tác giả bài viết khẳng định: bằng những nét tiêu biểu đặc trưng, bản chất nhất của loài vật (sự nhanh nhẹn của thỏ, sự chậm chạp, ì ạch của con rùa, bờm con sư tử, và con kiến lúc nào cũng chạy đi chạy lại…) nhà thơ đã phản ánh hiện thực và mọi mặt đời sống La Fontaine không là một nhà sinh vật đem đến cho người đọc những vấn đề về động vật học Vì vậy, khi chọn những con vật xung quanh làm nhân vật, ông không đưa vào tất cả các đặc tính mà chỉ chọn lọc thật kĩ lưỡng những nét tiêu biểu nhất để từ đó truyền vào nó lối sống của con người Từ việc phân tích, đánh giá hành động, tính cách của các con vật, tác giả bài viết cũng cùng quan điểm với phần đông các nhà nghiên cứu trước đó: “mỗi con vật đặc trưng cho một nét tính cách của con người” [45, 50] Tuy nhiên, trong khi phân tích, lý giải Cầm Thị Phượng còn nhận xét đánh giá chung chung chứ chưa chỉ ra cụ thể những loại người, những nét tính cách người mà con vật biểu hiện

Một điều chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý trong quá trình nghiên cứu là không phải bất kỳ ai cũng công nhận thế giới loài vật trong thơ ngụ ngôn La Fontaine là hình ảnh của con người thời đại Tiêu biểu cho quan điểm này là ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Đản Ông cho rằng ở sáu tập ngụ ngôn đầu chỉ là một sự sao chép khá trung thành với nguyên bản từ ngụ ngôn Esope chứ không có sự miêu tả xã hội Ông nói “sư tử chẳng hạn, mà nhiều người cho là hình ảnh của chính Louis XIV, thực ra chưa mang được một chút gì là hình ảnh của cái uy quyền tối thượng và vạn năng của ông vua mặt trời giữa cung điện lộng lẫy của ông ta Con cáo đa mưu nhưng nhát gan cũng chẳng có chút xíu nào cái vẻ oai phong, lịch thiệp của những ông công tước, hầu tước, bá tước hoặc nam tước cả Sau nữa, những sự việc được miêu tả trong các truyện đều lấy từ đời sống hàng ngày của tầng lớp thượng lưu hoặc trong thần thoại Không có những chi tiết nhắc nhở đến cuộc sống xa hoa trong cung đình Louis XIV” [1, 443] Tất nhiên, nhà nghiên cứu cũng có lý do của mình khi đưa ra nhận xét trên Sáu tập ngụ ngôn đầu La Fontaine đề tặng Thái tử – lúc ấy mới bảy tuổi – và chủ yếu là “sách dạy trẻ con” thì không thể có những vấn đề lớn lao, phức tạp của thời đại xen vào

Trang 38

Riêng chúng tôi, thiết nghĩ dù trực tiếp hay gián tiếp, người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng là người phát ngôn của thời đại mình Ngay những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết… của văn học dân gian thì đằng sau những bụt, tiên, yêu ma, quỷ quái… ấy là gì nếu không phải là con người? Là ước mơ, khát khao, là quan niệm, cách nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng của ông cha? Cho nên, La Fontaine trước sau vẫn là sản phẩm của chủ nghĩa cổ điển Sáng tác của ông là tiếng nói của con người và xã hội Pháp thế kỉ XVII

Chúng tôi thừa nhận rằng những bài học luân lý được rút ra sau mỗi bài ngụ ngôn, những vấn đề xã hội mà tác giả chạm đến bằng tiếng cười đa điệu mang tính chất phổ quát cao Nó phù hợp với mọi loại người và cho đến nay thì hầu như đúng trong mọi thời đại Nhưng trước hết, đó vẫn là những con người thế kỉ XVII, là xã hội Pháp thời “Đại thế kỉ” ở giai đoạn hoàng kim và đang dần bộc lộ bản chất phản tự nhiên của nó Vì theo Molière “khi anh vẽ, anh phải vẽ theo tự nhiên (…) Nếu không làm cho người xem nhận

ra được những con người của thời đại mình thì anh chẳng làm được cái gì hết” (Phê bình

trường học làm vợ) Nên khi đi tìm hiểu đối tượng của tiếng cười trong thơ ngụ ngôn La

Fontaine , chúng tôi không nhắm vào những con người nói chung mà liên hệ trực tiếp với con người và xã hội thời đại tác giả sống, tức con người và xã hội Pháp thế kỉ XVII Có thể nói, La Fontaine đã làm một cuộc điểm danh không thiếu một loại người nào Từ các triều quan, các người hành đạo, các nhà chức trách, các lang y, thầy giáo, quan tòa cho đến những tay buôn bán, tài chính, chăn cừu, bác bếp… đều lần lượt diễu qua sân khấu rộng lớn của ông để thực hiện “một vở kịch trăm hồi với trăm vẻ khác nhau” Với con mắt tinh tường của một nhà duy vật (ảnh hưởng triết học Gassendi) La Fontaine không bị cuộc sống hào nhoáng bên ngoài đánh lừa Ông đã chỉ cho chúng ta thấy được bản chất thật của con người và xã hội lúc bấy giờ

Như đã nói ở trên, trong chương này, chúng tôi không nói đến loài vật hay đặc tính loài trong các bài thơ ngụ ngôn La Fontaine mà chúng tôi hướng đến những con người cụ thể Và khi tiến hành phân loại các hạng người trong xã hội Pháp giai đoạn này, chúng tôi tập trung vào các tầng lớp tiêu biểu nhất được nói đến chứ không tản mác vào từng ngành nghề của họ

Trang 39

2.2.1 Quý tộc lỗi thời

Cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, Pháp vẫn là một quốc gia phong kiến cát cứ Cuộc nội chiến tôn giáo kéo dài hơn ba mươi năm (1560 – 1594) làm cho đất nước khủng hoảng trầm trọng Lợi dụng tình hình đó, các lãnh chúa phong kiến đã chống lại triều đình, xây dựng những quốc gia nhỏ cho riêng mình Tình trạng phong kiến cát cứ ngăn cản bước tiến của nước Pháp Công cuộc thống nhất đất nước sau đó của Henry IV, Richelieu, Louis XIV đã giành được thắng lợi Nước Pháp tiến đến thời kỳ chế độ quân chủ chuyên chế Lúc này, giai cấp quý tộc không còn giữ vị trí độc tôn trong xã hội Phần đông các lãnh chúa phong kiến sau đó đều trở lại quy phục triều đình Họ được giao giữ những chức vụ về quân sự và sống chủ yếu nhờ vào sự chu cấp là chính Tuy đã mất dần

vị thế của mình, giới quý tộc vẫn là người nắm trong tay bộ máy nhà nước Họ yếu thế về kinh tế nhưng lại có quyền lực về chính trị Trong cơn vùng vẫy cuối cùng, chúng đã bộc lộ bản chất phản động, đối nghịch với quần chúng nhân dân

Cũng như La Bruyère, khi viết về tầng lớp này, La Fontaine đặc biệt chú ý tới thói ăn bám của chúng Thân phận ký sinh đã không làm chúng đau đớn, nhục nhã mà trái lại, chúng còn ra vẻ tự hào Mượn hình ảnh con ruồi (một loại ký sinh bắng nhắng và bẩn thỉu nhất), La Fontaine vừa vạch rõ cuộc sống xấu xa vừa hạ bệ thói ba hoa khoác lác

của lớp người này Trong cuộc khẩu chiến “nảy lửa” của ruồi với kiến (Ruồi và kiến,

quyển IV, bài 3) để khẳng định về giá trị của mình, ruồi cho rằng nó là bậc “mã thượng phong lưu” ăn trên ngồi trốc, được tiếp xúc, đùa bỡn với những bậc quyền thế nhất Giọng điệu ấy bị kiến bẻ lại bằng lời lẽ xác đáng:

Ruồi người gọi là thằng ăn hại Thôi ngay đi giọng lưỡi ba hoa, Cũng đừng tưởng tượng cao xa Nịnh thần lũ nhặng bị sa thải rồi, Bọn gián điệp bị lôi treo cổ Lũ chúng bay đói khổ võ vàng, Tú Mỡ dịch

Bản chất của lũ ăn bám đã bị vạch trần Và qua sự ứng đáp khéo léo, của kiến, La Fontaine đã chỉ ra sự thật hiển nhiên chốn cung đình Bọn quý tộc sống nhờ bổng lộc có

Trang 40

khác gì lũ ruồi nhặng suốt ngày vo ve bâu vào bất cứ đâu Thói ăn bám ấy dĩ nhiên không phải chỉ có ở quý tộc Nhưng kết hợp với tình hình thực tế lúc bấy giờ thì rõ ràng nhà thơ đã nhắm đến tầng lớp này

Nhà quý tộc bước lên sân khấu của La Fontaine với một vẻ đạo mạo nhưng chỉ được

cái vỏ bề ngoài Bài Cáo và pho tượng (quyển IV, bài 14) nói rất rõ điều này

Làm quan lớn có đeo mặt nạ Cái mã ngoài may dọa thằng ngây

Lừa ngu tin cái bề ngoài, Cáo khôn trái lại xét soi đến cùng

Xoay mọi mặt, khi trông thấy rõ Thấy lòe đời ở bộ mặt thôi, Cáo ta nhắc lại những lời Nó dùng phê tượng một ngài lừng danh:

Cũng là tượng, rỗng tuênh rỗng tuếch, Cũng to hơn người thiệt rất nhiều

Khen tài tạc tượng cao siêu, Cáo rằng: Đầu bảnh, phải điều óc không!

Đại thần giống tượng, khối ông

Nguyễn Đình dịch

Ở đời, cái ruột xấu thường được che đậy bằng cái vẻ ngoài đẹp đẽ Bên trong càng xấu bao nhiêu thì bên ngoài càng cố làm đẹp bấy nhiêu Thế nhưng không phải lúc nào thói lừa người dối mình ấy cũng đạt hiệu quả Những người sáng suốt luôn nhận ra được và:

“Quan mà dốt đặc cán mai Thì dân chỉ vái áo ngoài của quan”

Lừa mang xương thánh, quyển V, bài 14, Nguyễn Đình dịch

Dưới ngòi bút La Fontaine, nhà quý tộc đã mất hết vai trò lịch sử Sự tồn tại của họ chỉ là vật cản trên đường phát triển của xã hội mà thôi Nhà thơ đặc biệt khai thác triệt

Ngày đăng: 17/01/2020, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Hữu Đản (1996), Ngụ ngôn La Fontaine, Nxb Trẻ TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn La Fontaine
Tác giả: Hoàng Hữu Đản
Nhà XB: Nxb Trẻ TpHCM
Năm: 1996
2. Huỳnh Lý (1996), Ngụ ngôn La Fontaine (song ngữ), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn La Fontaine (song ngữ)
Tác giả: Huỳnh Lý
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1996
3. Tú Mỡ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn Vĩnh (1985), Ngụ ngôn chọn lọc, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn chọn lọc
Tác giả: Tú Mỡ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn Vĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1985
4. Nguyễn Văn Qua (2005), Truyện ngụ ngôn La Fontaine, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngụ ngôn La Fontaine
Tác giả: Nguyễn Văn Qua
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Vĩnh (2000), Thơ ngụ ngôn La Fontaine, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ngụ ngôn La Fontaine
Tác giả: Nguyễn Văn Vĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
6. Nguyễn Trinh Vực (1998), Thơ ngụ ngôn La Fontaine, tập 2, Nxb Giáo Dục. *Tác phẩm khác có liên quan đến đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ngụ ngôn La Fontaine, tập 2
Tác giả: Nguyễn Trinh Vực
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
7. Nguyễn Trọng Báu (1996), Truyện ngụ ngôn thế giới chọn lọc, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngụ ngôn thế giới chọn lọc
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
8. Trương Chính, Phong Châu (1993), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Trương Chính, Phong Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993
9. Nguyễn Đức Dân (1989), Tiếng cười thế giới, tập 2, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười thế giới
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1989
10. Phạm Khải Hoàn (1998), Tuyển tập ngụ ngôn Esope, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập ngụ ngôn Esope
Tác giả: Phạm Khải Hoàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
11. Lã Duy Lan (2001), Truyện cổ Ấn Độ, tập 2, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Ấn Độ
Tác giả: Lã Duy Lan
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
12. Nguyễn Minh (1997), Ngụ ngôn Trung Quốc hiện đại, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn Trung Quốc hiện đại
Tác giả: Nguyễn Minh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
13. Nguyễn Văn Ngọc (1970), Đông Tây ngụ ngôn, Nxb Hoa Tiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Tây ngụ ngôn
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Nhà XB: Nxb Hoa Tiên
Năm: 1970
14. Triều Nguyên (2000), Ca dao ngụ ngôn người Việt, Nxb Huế: Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao ngụ ngôn người Việt
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: Nxb Huế: Thuận Hóa
Năm: 2000
15. Hữu Tuấn (2002), Ngụ ngôn cổ điển phương Đông, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn cổ điển phương Đông
Tác giả: Hữu Tuấn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
16. Hữu Tuấn (2001), Ngụ ngôn cổ điển phương Tây, Nxb Văn học. II.Tài liệu nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụ ngôn cổ điển phương Tây
Tác giả: Hữu Tuấn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
18. Henry Bergson (1974), Tiếng cười hay lược khảo về ý nghĩa của hài tính, Phạm Xuân Đô dịch, Nxb Trung tâm học hiệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười hay lược khảo về ý nghĩa của hài tính
Tác giả: Henry Bergson
Nhà XB: Nxb Trung tâm học hiệu
Năm: 1974
19. Henry Bergson (1959), Tiếng cười, Phạm Xuân Đô dịch, Nxb Bộ quốc gia giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười
Tác giả: Henry Bergson
Nhà XB: Nxb Bộ quốc gia giáo dục
Năm: 1959
20. Lê Nguyên Cẩn (2002), Hợp tuyển văn học Châu Âu, tập 2: Văn học Pháp theỏ kổ XVII, Nxb ẹHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học Châu Âu, tập 2: Văn học Pháp theỏ kổ XVII
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb ẹHQGHN
Năm: 2002
21. Trần Duy Châu (1979), Lịch sử văn học phương Tây, tập 1, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học phương Tây
Tác giả: Trần Duy Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1979

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w