1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dưới ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình

82 146 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dưới ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình nghiên cứu ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình đến nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Thúy Vinh

SỰ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6

TUỔI DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ XUÂN HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

1.3 VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN

NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI5 23

Trang 4

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI5 34

2.2.2.Kết quả khảo sát việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình và mối tương quan

của nó với nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi5 47

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác

Tác gi ả

Tr ần Thị Thúy Vinh

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Gia đình luôn háo hức muốn biết trẻ sơ sinh là trai hay gái Tại sao người ta lại quan tâm đến

giới tính của trẻ? Câu trả lời là “trai” hoặc “gái” hoàn toàn không chỉ là sự khác biệt sinh học Cùng với

nó, những từ này đi kèm với các vai trò xã hội khác nhau Ngay từ khi còn rất nhỏ, trẻ đã bắt đầu quan tâm đến các vấn đề giới tính - đó là quá trình nhận thức tự nhiên để tìm hiểu thế giới xung quanh Vai trò đi kèm với giới tính là một trong những vấn đề đầu tiên mà trẻ khám phá Trẻ nhanh chóng tìm hiểu hành vi được dành cho đàn ông và phụ nữ trong nền văn hóa của mình Đồng thời, trẻ bắt đầu đồng

nhất mình với một trong hai giới này Như thế, trẻ có sự nhận dạng trong tư cách là trai hoặc gái I.X.Kon nhận định: “Giới là phạm trù đầu tiên mà trẻ ý thức về bản thân như một cá thể” [24, tr.1]

Nh ận dạng giới tính là một vấn đề không thể bỏ qua trong tâm lí học giới tính và tâm lí học lứa

tuổi Ở trẻ, việc ý thức được mình thuộc về giới nào và cần phải có những phẩm chất nào để thể hiện đặc tính giới (những đặc điểm “nam tính” và “nữ tính”) diễn ra đồng thời với sự xác định ý nghĩa của

những phẩm chất này đối với cá nhân và đối với xã hội Đó chính là quá trình hình thành nhận dạng

giới tính

Trong lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt từ 5 tuổi trở đi, quá trình phát triển ý thức và tự ý thức của trẻ

diễn ra mạnh mẽ Việc trẻ ý thức về bản thân như đại diện của một giới là thành tố quan trọng đầu tiên

trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính Sự phát triển toàn diện của trẻ như đại diện của giới nam hoặc giới nữ có thể phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của trẻ với cha mẹ và những người thân trong gia đình Những người mà trẻ yêu quý và tiếp xúc thường xuyên có ảnh hưởng đặc biệt đối với

trẻ Có thể nói, sự phát triển giới tính và sự phát triển xã hội của trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Thành tố thứ hai trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính là việc trẻ hiểu và tiếp nhận vai

trò gi ới của bản thân Vai trò giới được hiểu như một hệ thống những yêu cầu, qui tắc, chuẩn mực, kỳ

vọng mà trẻ phải đáp ứng để được công nhận là bé trai (đàn ông) hoặc bé gái (phụ nữ) [24, tr.12]

Những kỳ vọng của cha mẹ về trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhận thức giới tính ở trẻ Việc cha mẹ đối xử với bé trai như với một cô bé sẽ làm rối loạn tự nhận thức về giới tính của trẻ Và ngược

lại, việc người lớn đối xử với bé trai như với một người đàn ông thực thụ sẽ giúp quá trình nhận dạng

giới tính của trẻ sẽ diễn ra thuận lợi hơn Việc lĩnh hội vai trò giới ở trẻ đòi hỏi phải có những mẫu mực điển hình của giới nam và giới nữ Sự tri giác đồng thời vai trò của cả người cha lẫn người mẹ trong gia đình giúp trẻ so sánh, nhận thức không chỉ sự khác biệt giữa hai giới, mà cả sự thống nhất của hai giới

Trang 7

trong một tổng thể

Như vậy, nguồn gốc cơ bản để trẻ lĩnh hội vai trò giới chính là hình ảnh cuộc sống của người

lớn, mà trước hết là gia đình Môi trường gia đình có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển giới tính của

trẻ Vai trò giới của cha mẹ càng được thể hiện rõ bao nhiêu thì sự phát triển vai trò giới ở trẻ càng thuận lợi bấy nhiêu Sự tri giác không rõ ràng về vai trò giới trong gia đình sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức và hành vi của trẻ

Hiện nay, việc nghiên cứu về tâm lí học giới tính và giáo dục học giới tính ở nước ta đang được quan tâm và phát triển Đây là vấn đề phức tạp và còn nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm cũng như cách thức giáo dục giới tính cho trẻ Tuy nhiên, các nhà khoa học đã thống nhất rằng, nên giáo dục

giới tính cho trẻ càng sớm càng tốt Mỗi lứa tuổi nhất định cần có nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục thích hợp Tùy theo đặc điểm văn hóa, điều kiện của từng vùng mà việc giáo dục giới tính cho trẻ có thể bắt đầu ở những lứa tuổi khác nhau

Đề tài “Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi dưới ảnh hưởng của việc phân công

vai trò giới trong gia đình” đáp ứng được nhu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu và giáo dục giới tính

hiện nay Để giáo dục giới tính cho trẻ, trước hết phải hiểu được đặc điểm hình thành và phát triển nhận

dạng giới tính ở trẻ Sự tìm hiểu các đặc điểm nhận dạng giới tính trong lứa tuổi mẫu giáo tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận cá thể trong quá trình giáo dục bé trai và bé gái, ngăn ngừa những rối loạn trong quá trình hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ, phòng tránh những sai lầm trong công tác giáo dục

trẻ Việc giáo dục giới tính rập khuôn, cứng nhắc theo một khuôn mẫu về giới ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển cái Tôi tự nhiên và khả năng sáng tạo của trẻ Ngược lại, việc đồng nhất hóa trong giáo dục bé trai và bé gái – không chú ý đến sở thích, định hướng giá trị và nhu cầu của từng giới – ảnh hưởng không chỉ đến sự phát triển nhân cách, trong việc chuẩn bị kiến thức và kĩ năng cho trẻ thực

hiện vai trò giới trong gia đình và xã hội nói chung, mà có thể còn dẫn đến thái độ đối kháng hoặc không tôn trọng người khác giới nói riêng

Trang 8

3.1.Khách th ể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) và cha mẹ của trẻ

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Sự nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua việc phân công

vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình

4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

4.1 Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về nhận dạng giới tính

4.2 Sự phân công vai trò giới trong gia đình trọn vẹn có ảnh hưởng tích cực đến nhận dạng

giới tính ở bé trai và bé gái 5-6 tuổi

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Phân tích các quan điểm về vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo và vấn đề phân

công vai trò giới trong gia đình

5.2 Khảo sát thực trạng sự nhận dạng giới tính ở bé trai và bé gái 5-6 tuổi

5.3 Phân tích sự hiểu biết của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi về vai trò, chức năng của nam giới và nữ

giới trong gia đình

5.4 Khảo sát thực trạng việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình

5.5 Phân tích ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến

nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi

6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình toàn vẹn (có cả cha và mẹ), không tìm hiểu ảnh hưởng của cơ cấu gia đình (số lượng, thành phần, mối quan

hệ giữa các thành viên và các thế hệ…) đến sự hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ

Đề tài chỉ nghiên cứu 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cùng 60 cặp cha mẹ của trẻ trong 4 trường mầm non ở TP.HCM

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 9

7.1 Cách ti ếp cận

7.1.1 H ướng tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo được

nghiên cứu như một bộ phận trong sự phát triển nhận thức nói riêng và sự phát triển nhân cách nói chung của trẻ Nhận dạng giới tính luôn được đặt trong mối quan hệ thống nhất với các quá trình nhận

thức khác

Ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với các kênh trung gian của quá trình

xã hội hoá vai trò giới ở trẻ như: các thành viên khác trong gia đình, bạn bè, trường mẫu giáo và các

phương tiện truyền thông đại chúng

7.1.2 H ướng tiếp cận lịch sử - logic: Ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình

đến nhận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo được nghiên cứu trong tiến trình phát triển của vấn đề, so sánh trong một chừng mực với những thời điểm khác nhau trong tiến trình phát triển của xã hội (về nghiên

cứu lí luận, về sự phát triển lứa tuổi của trẻ em ở các quốc gia khác nhau, về sự phân công vai trò giữa cha và mẹ trong các gia đình khác nhau…)

7.1.3 H ướng tiếp cận lịch sử - văn hóa: Trẻ em học được từ người lớn các khuôn mẫu về giới

và vai trò giới Hiện nay, khuôn mẫu về giới có ít nhiều thay đổi, nó có thể mang tính truyền thống

nhưng cũng có thể mang phong cách hiện đại Các khuôn mẫu về giới trong các gia đình khác nhau

hoặc nền văn hóa khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình nhận thức của trẻ

7.1.4 Hướng tiếp cận thực tiễn: Việc nghiên cứu đảm bảo thu thập được những cứ liệu thực

tiễn và mới để phân tích lí luận đã có; đưa ra những đề xuất thiết thực, phục vụ cho giáo dục mầm non

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tập hợp, phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để làm rõ các khái niệm, các

vấn đề lí luận liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp đàm thoại với trẻ

Tìm hiểu sự nhận dạng giới tính của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và sự hiểu biết của trẻ về vai trò, chức năng của đàn ông và phụ nữ trong gia đình

Phương pháp điều tra

Điều tra bằng hệ thống phiếu phỏng vấn đối với cha mẹ trẻ để thu thập thông tin thực trạng cách

Trang 10

phân công vai trò giữa cha và mẹ trong gia đình

Phương pháp thống kê

Tập hợp toàn bộ số liệu nghiên cứu và xử lí bằng chương trình SPSS 11.5 Từ đó, rút ra kết luận

và đề xuất hướng giải quyết

8 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Xác định ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình đến sự hình thành nhận dạng giới tính của trẻ em Việt Nam 5-6 tuổi

Kết quả nghiên cứu góp phần giúp giáo viên mầm non và phụ huynh có định hướng giáo dục

giới tính cho trẻ và có cách tiếp cận cá thể hiệu quả - tùy thuộc vào giới tính của trẻ - ngay từ lứa tuổi

mẫu giáo

Trang 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Ngay từ thời Cổ đại, vấn đề giới tính, những khác biệt giới tính gắn liền với vai trò giới đã được quan tâm tìm hiểu và ghi nhận như một hiện tượng tự nhiên, tất yếu Đàn ông là “phái mạnh”, biểu tượng của quyền lực và sự mạnh mẽ, là trụ cột gia đình, là lực lượng sản xuất chính; phụ nữ là “phái

yếu”, hiện thân của đức tính dịu dàng và cần được che chở, là người đảm nhận việc nội trợ và chăm sóc con cái [8,12]

Vào thời kỳ tiền khoa học, giới tính kèm theo vai trò giới được xem xét theo quan điểm của tôn giáo và đạo đức Người ta chú ý dạy dỗ các em gái theo mô hình giống bà và mẹ, còn các em trai theo

mô hình của ông và bố Ở một số nước phương Đông – trong đó có Việt nam – vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, sự phân biệt giữa đàn ông và phụ nữ lại càng nặng nề Nguyên tắc tam tòng: “Tại gia tòng phụ Xuất giá tòng phu Phu tử tòng tử” đã đặt người con gái, người vợ vào vị thế phụ thuộc người đàn ông - người cha, người chồng và con trai [7, 10]

Phải trải qua một chặng đường phát triển lâu dài, đến đầu thế kỷ XX, vấn đề giới tính với tư cách là một khoa học về con người mới được chú ý và đề cao ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt là thuyết của S.Freud Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu nó cũng vấp phải không ít sự phản ứng vì bị hạn chế bởi vấn đề tính dục [12, tr.10]

Từ giữa thế kỷ XX trở đi, trong lĩnh vực nghiên cứu sự hình thành và phát triển giới tính của con người đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về lí luận cũng như thực tiễn của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh học, y học, tâm lí học, xã hội học

Trong khoa học tâm lí, vấn đề nhận dạng giới tính và nhận thức về vai trò giới ở trẻ em được

nghiên cứu và giải thích rõ ràng trong các công trình của các nhà khoa học phương Tây: Lawrence

Kohlberg(1966), Ullian (1974); Martin & Halverson (1981), Martin & Little (1990), Berm (1989

Trong tâm lí học Liên Xô cũ có các đại diện tiêu biểu như D.V.Kolexev (1973), L.L.Kolominxki (1985),

I.X.Kon (1981), V.X.Mukhina (1999), Kagan V.E (1981)

Các tác giả đã sử dụng hàng loạt kỹ thuật điều tra bao gồm các câu hỏi đóng – mở, câu lựa chọn,

thang tỉ lệ để thăm dò ở trẻ em những biểu tượng đặc trưng về đàn ông và phụ nữ cũng như vai trò,

chức năng của họ trong gia đình và xã hội

Qua kết quả nghiên cứu, Broverman (1972), Spence, Helmvich & Stapp (1975), Ruble (1983) đã

Trang 12

đưa ra mô hình khuôn mẫu giới tính với những đặc điểm đặc trưng cho từng giới Cho đến nay, khuôn

mẫu giới tính này vẫn phổ biến ở nhiều nước

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, các nghiên cứu của GS Trần Trọng Thủy, GS Đặng Xuân

Hoài, PGS.TS Nguy ễn Quang Uẩn và PGS.TS Bùi Ngọc Oánh là những bước đi đầu tiên trong việc

nghiên cứu tâm lí học giới tính Các công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề đa dạng về giới tính và giáo

dục giới tính ở nước ta

Riêng trong lĩnh vực giáo dục mầm non, những nghiên cứu về giới tính của trẻ mẫu giáo chưa nhiều và chưa có hệ thống Các luận án Thạc sĩ của Thái Lan Chi, 1995; Trần Thị Nga, 1995; Nguyễn

Th ị Thu Hà, 1997; Nguyễn Thị Bích Liên, 1997 (được thực hiện tại trường Đại học sư phạm I Hà Nội)

đã đề cập đến sự nhận dạng và những biểu hiện giới tính ở trẻ mẫu giáo, chủ yếu là trong hoạt động vui chơi Người nghiên cứu chưa tìm thấy các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc phân công vai trò giới trong gia đình đến nhận dạng giới tính của trẻ mẫu giáo Các nghiên cứu kể trên là những gợi ý cho cô giáo mầm non cần chú ý đến đặc điểm giới tính trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ Mặc dù

số lượng còn khiêm tốn nhưng đây chính là những đề tài khai phá cho việc nghiên cứu giới tính của trẻ

em lứa tuổi mẫu giáo ở Việt Nam và là tài liệu quí giá cho việc nghiên cứu của đề tài này

1.2 VẤN ĐỀ NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH

1.2.1 Khái ni ệm giới tính và nhận dạng giới tính

1.2.1.1 Gi ới và giới tính

Gi ới (Gender) là một khái niệm phức tạp, được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau

Gi ới có thể được hiểu theo mặt sinh học, là một tập hợp những đặc điểm sinh lí cơ thể đặc trưng

ở con người Những đặc điểm sinh lí cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lí cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục Cũng có thể nói một cách khác, những đặc điểm sinh lí cơ thể là căn cứ để xác định giới, là cơ sở hình thành giới [12, tr.23]

Loài người được chia làm hai giới cơ bản (hai tập hợp người): giới nam và giới nữ Giới theo nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di truyền Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số người không thuộc về hai giới trên, người ta gọi là giới thứ ba Giới này xuất hiện do nguyên nhân chủ yếu là

hệ cơ quan sinh dục không được bình thường về cấu tạo hoặc chức năng, dẫn dến việc phát triển tâm lí, sinh lí cơ thể không bình thường [12, tr.24]

Gi ới còn được hiểu theo góc độ xã hội, là những đặc điểm mà xã hội tạo nên ở người nam và

Trang 13

người nữ, là qui định của xã hội về người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ Đó

là giới xã hội [12, tr.23]

Như vậy, giới bao gồm hai thuộc tính - thuộc tính sinh lí cơ thể và thuộc tính xã hội Giới được

hiểu như là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau [12, tr.23]

Mỗi một tập hợp người này bị chi phối và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội khác nhau, tạo nên những giá trị khác nhau Từ đó hình thành những đặc tính riêng của từng giới và dần dần hình thành những đặc điểm xã hội đặc trưng cho mỗi giới (về chức năng, vai trò xã hội, nghĩa vụ, quyền lợi…)

Ở Việt Nam, “giới” là một khái niệm mới, nó chỉ được sử dụng từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước Quan niệm này chưa được nhìn nhận ở tầm chiến lược Một mặt thì nó khích lệ và đòi hỏi phụ

nữ phải học hành như nam giới, có các cơ hội nghề nghiệp như nam giới; mặt khác, nó không đòi hỏi hay khích lệ phụ nữ giảm bớt công việc nhà để đàn ông gánh vác 1Có thể nói, quan niệm về giới ở 1Việt Nam1chưa hoàn toàn thoát ly ý thức phụ quyền

Gi ới tính (Sex) – theo Từ điển Tâm lí học (2008) – “là những khác biệt giữa nam và nữ về cả

y ếu tố sinh học lẫn yếu tố tâm lí”

Từ góc độ sinh học, giới tính là tập hợp những dấu hiệu gen tương phản của những cá thể một loài

Từ góc độ xã hội, giới tính là tổ hợp những đặc điểm cơ thể, di truyền, văn hóa - xã hội, hành vi đảm bảo vị thế cá nhân, xã hội và pháp lí của từng người nam giới và phụ nữ” [1, tr.243]

Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới Những đặc điểm

này rất phong phú và đa dạng

Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giới (cả về mặt sinh học

lẫn tâm lí xã hội), giúp chúng ta phân biệt giới này với giới kia

Về mặt sinh học, con người sinh ra đã xác định những đặc điểm khác nhau về giới tính Sự khác

biệt giới về mặt sinh học dễ nhận thấy và quan trọng nhất là cấu tạo và chức năng của hệ cơ quan sinh

dục, sau đó là hình thái, cấu tạo và chức năng của các hệ cơ quan khác trong cơ thể (bộ xương của phụ

nữ nhỏ hơn, xương chân tay ngắn hơn; cơ bắp của nam giới phát triển tốt hơn; lượng mỡ trong cơ thể

của phụ nữ nhiều hơn so với nam giới, đặc biệt là ở mông, ngực, bụng ); hiện tượng dậy thì (bé gái

dậy thì sớm hơn bé trai), tuổi thọ (bình quân tuổi thọ của nam giới ngắn hơn nữ giới 6-8 năm) [12, 20]

Về mặt xã hội, sự khác biệt giới tính thể hiện qua hành vi xã hội, nhu cầu, thái độ, hoạt động,

Trang 14

tình cảm, ý chí, tính cách, năng lực, xu hướng của nam giới và phụ nữ; vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho từng giới; các mối quan hệ và hoạt động xã hội; tư thế, tác phong, cách ăn mặc, trang điểm; các vấn đề thẩm mỹ giới tính và đạo đức giới tính

Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân mình những đặc tính giới mà họ tiếp thu được từ

giáo dục, nề nếp của gia đình, quy ước của xã hội và những giá trị, chuẩn mực của một nền văn hoá [12, 20]

Như vậy, giữa hai giới có nhiều đặc điểm rất khác biệt Sự khác biệt giới tính này chi phối hành

vi, nếp sống của con người Những đặc điểm giới tính về sinh lí, tâm lí làm cho hành vi, cử chỉ, tư thế, tác phong, nếp sống của đàn ông có nhiều đặc điểm khác biệt so với phụ nữ: khác biệt từ dáng điệu, cách đi đứng đến thói quen trong sinh hoạt, “lời ăn tiếng nói” và thể hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào phong tục, tập quán, đạo đức xã hội Ví dụ, người đàn ông thường cao to, khỏe mạnh, tính tình cứng

rắn, mạnh dạn, có ưu thế trong các hoạt động đòi hỏi sức mạnh và kỹ năng vận động thô ; còn người

phụ nữ thường nhỏ bé, tính tình hiền dịu, nhẹ nhàng, kín đáo, giàu tình cảm, vị tha, có ưu thế trong các

hoạt động đòi hỏi sự khéo léo và kỹ năng vận động tinh Thậm chí còn có những đặc điểm chỉ có ở người nam, hoặc ở người nữ (ví dụ, chỉ có phụ nữ mới mang thai ) Do có sự khác biệt đó mà giới nam và giới nữ thường có những vai trò, vị trí khác nhau trong xã hội và trong gia đình [8, 19]

Giới tính ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của con người trong xã hội Những đặc điểm giới tính quy định hoặc chi phối phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động và phần nào chi phối hiệu quả hoạt động của con người Trong xã hội, có những lĩnh vực hoạt động mà nam giới dễ đạt hiệu quả cao hơn

và ngược lại, có những công việc phù hợp với nữ giới hơn

Do sự khác biệt giới tính không mang tính chất loại trừ nhau, đối lập nhau, mà phối hợp bổ sung cho nhau, nên hoạt động của con người sẽ thuận lợi hơn nếu như có mối quan hệ cân bằng, hài hòa với người khác giới

1.2.1.2 Nh ận dạng giới tính

Nh ận thức của cá nhân về bản thân mình là nam hay nữ ở mặt đặc điểm sinh học và tâm lí được

bi ểu hiện ra ở hành vi của người đó được gọi là nhận dạng giới tính [1, tr.54]

Như vậy, nhận dạng giới tính (Gender Identity) dùng để chỉ đặc tính cá nhân, ý thức chủ quan

của một người là nam hay nữ – có nghĩa là sự khẳng định bên trong rằng “Tôi là đàn ông” hay “Tôi là

phụ nữ”

Trang 15

Nhận dạng về giới bắt nguồn từ đâu? Có phải chúng ta sinh ra đã có? Chúng ta học mới biết? Hay cả hai?

1.2.2 Các y ếu tố ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính

Trong việc hình thành nhận dạng giới tính có sự tham gia của các yếu tố sinh học, tâm lí và xã hội Di truyền, các hooc môn trước và sau khi sinh, sự khác biệt trong bộ não và cơ quan sinh sản,

những khuôn mẫu giới tính trong xã hội , tất cả – đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận

dạng giới tính ở trẻ em Thực tế này tạo nên mô hình tâm sinh lí xã hội về giới

Với mục đích phân loại những ảnh hưởng khác nhau đến nhận dạng giới tính, trước hết người nghiên cứu đề cập đến các cơ chế sinh học được cho là đã mang đến nhận dạng về giới ở trẻ em và cả những điều kiện nảy sinh từ sự bất thường trong các cơ chế này

1.2.2.1 Ảnh hưởng của yếu tố sinh học đến nhận dạng giới tính

Nam giới và phụ nữ khác nhau về mặt sinh học từ trước và sau khi sinh ra Trên thực tế, 6sự khác biệt về giới tính6hay quá trình sinh học khiến cho bào thai trở thành nam giới hoặc nữ giới bắt đầu từ rất sớm trong thời kỳ thai nghén Sự khác biệt do các quá trình sinh học này tương tác với những ảnh hưởng trong nhận thức xã hội sau khi sinh hình thành nên nhận dạng về giới của một người Sự khác biệt giữa đàn ông và phụ nữ về mặt sinh học hay tâm lí được gọi là 6những khác biệt giới

6

Sự khác biệt về nhiễm sắc thể và tuyến sinh dục.6 Di truyền là yếu tố quyết định giới tính của bào thai và nó xuất hiện khi thụ thai Trên thực tế, đây là vấn đề liên quan đến 6nhiễm sắc thể 6– các cấu trúc sinh học có chứa các gien, hay “các thiết kế” sinh học Trứng luôn mang một nhiễm sắc thể X Tinh trùng hoặc là mang nhiễm sắc thể X, hoặc là mang nhiễm sắc thể Y Bé trai (XY) là kết quả của

sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y; còn bé gái (XX) là kết quả của sự kết hợp

giữa trứng và tinh trùng mang nhiễm sắc thể X Đó là giới tính di truyền [2,12,14]

Sự thụ tinh như vậy (X + Y hay X + X) trong những điều kiện thông thường, sẽ làm cho thai nhi

có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hoặc nữ trong quá trình phát triển của nó Do cấu tạo khác nhau

nên hoạt động sinh lí của mỗi giới có những đặc điểm khác nhau Các tuyến sinh dục và các hooc môn

(nội tiết tố) tiết ra từ các tuyến này sẽ qui định những đặc điểm sinh lí cơ thể riêng biệt và các thành

phần tạo nên những nét tính cách đặc trưng cho mỗi giới [12, tr.31]

Các tác giả IU.I.Kusniruk và A.P.Serbakov [12, tr.32] cho rằng, chính các tuyến sinh dục (buồng trứng hoặc tinh hoàn) tạo nên “giới tính đích thực” của con người Giới tính đích thực là giới

Trang 16

tính được xác định do sự hoạt động thực tế của hệ cơ quan sinh dục Ở những người có hệ cơ quan sinh dục nam nhưng hoạt động của nó không bình thường, chẳng hạn không tiết ra được nội tiết tố nam đủ tỉ

lệ cần thiết sẽ không thể trở thành một người nam giới bình thường và họ sẽ không có giới tính bình thường Một số trường hợp đặc biệt sẽ được người nghiên cứu đề cập dưới đây

6

Sự khác biệt về hooc môn và cấu trúc giới tính.6 Hooc môn có ảnh hưởng trực tiếp và có tác động mạnh đến giới tính là những hooc môn được sản sinh bởi tuyến sinh dục – đặc biệt là hooc môn 2estrogens2 và 2progesterone2của buồng trứng và hooc môn 2testosterone2của tinh hoàn [3, 22]

Mặc dù người ta vẫn nói đến hooc môn giới tính nam hoặc hooc môn giới tính nữ, tuy nhiên, khoa học đã chứng minh, trong cơ thể nam giới và phụ nữ đều có cả 2estrogens và testosterone, có điều với nồng độ khác nhau Nam giới có nồng độ testosterone nhiều hơn phụ nữ năm lần, trong khi nồng độ estrogens chỉ bằng một phần mười Chính vì thế, 2quan điểm đàn ông là đàn ông và phụ nữ là phụ nữ có

thể cứng nhắc [14, tr.281]

6

Sự khác biệt ở bộ não.6Theo các nghiên cứu, sự khác biệt về giới tính trước khi sinh cũng xuất hiện trong bộ não Điều này thường liên quan đến hai vùng chính: (1) 2các bán cầu não2 (phía bên trái và bên phải của não), và (2) 2cấu tạo dưới đồi2(vùng não điều khiển các phản ứng động cơ và cảm xúc) [3, 22]

Sự khác biệt về giới tồn tại trong các bán cầu não của nam giới và nữ giới Đàn ông có não bộ

trung bình lớn hơn phụ nữ 11% và họ có số lượng thần kinh trên vỏ não nhiều hơn so với phụ nữ Vùng

vỏ não đảm trách ham muốn tình dục ở đàn ông lớn hơn ở phụ nữ Và mặc dù những khác biệt này là khá nhỏ, nhưng theo nhiều nghiên cứu, ở đàn ông các vùng vỏ não liên quan đến tính hiếu chiến, hưng phấn … đặc biệt phát triển và họ thường thể hiện khả năng nhận biết không gian tốt hơn Ở phụ nữ,

vùng hải mã đảm trách ghi nhớ đặc biệt phát triển, họ thường thể hiện khả năng ngôn ngữ tốt hơn (Jill

Godstein) Với những trải nghiệm cảm xúc, bán cầu não trái của phụ nữ phản ứng mạnh hơn và sau đó thường chỉ nhớ chi tiết, trong khi đó bán cầu não phải của đàn ông hoạt động tích cực hơn và vì thế đàn

ông nhớ chính xác hơn nội dung cơ bản của sự kiện (Lary Cahill…)[6, 22]

Vùng dưới đồi – trong nhiều chức năng quan trọng của mình – đóng vai trò kiểm soát sự sinh

sản và tiết ra hooc môn sinh dục bằng cách điều hòa tuyến yến, tuyến yên kích thích các tuyến nội tiết khác sản sinh ra các hooc môn tương ứng Đến tuổi dậy thì vùng dưới đồi phân biệt nam giới chỉ đạo tuyến yên thúc đẩy việc sản sinh0 0liên tục0 0các nội tiết tố sinh dục nam Vùng dưới đồi phân biệt nữ giới chỉ huy tuyến yên thúc đẩy việc sản xuấtđịnh kỳcác nội tiết tố sinh dục nữ

Trang 17

Hầu hết các khác biệt giới tính hoạt động theo như sắp xếp Tuy nhiên, đôi khi, một trong những

cơ chế đó lại làm việc sai chức năng Nếu các cơ quan sinh dục không tạo ra được sự khu biệt, đứa trẻ

có thể được sinh ra với sự kết hợp của các cơ quan sinh dục của cả hai giới, đây được xem là0 0lưỡng tính2[3, tr.36]

Theo các dẫn chứng của George D Zgourides và Christie S Zgourides (2007), ba hội chứng

mắc phải do những vấn đề liên quan đến sự khu biệt giới tính ở cấp độ nhiễm sắc thể là0 0H ội chứng Turner, H ội chứng Klinefelter, và Hội chứng XYY

2

Hội chứng0 0Turner0 0được dùng để chỉ tình trạng bào thai chỉ có một nhiễm sắc thể - OX Trẻ em

bị mắc hội chứng Turner sẽ phát triển vùng sinh dục bên ngoài của nữ giới, và thường cho mình là phụ

nữ Tuy nhiên, các cơ cấu sinh dục bên trong của chúng lại không bao giờ phát triển Những phụ nữ trưởng thành mắc hội chứng này không có khả năng sinh đẻ Có khoảng 1 trong 2.500 trẻ sơ sinh nữ sinh ra có nhiễm sắc thể OX

Trẻ em sinh ra mắc0 0Hội chứng0 0Klinefelter0 0là do có cấu trúc nhiễm sắc thể XXY, và do đó về giải phẫu sinh lý đứa trẻ là con trai do có sự xuất hiện của nhiễm sắc thể Y Mặc dù, những đứa trẻ này bề ngoài trông bình thường giống như những đứa trẻ khác, nhưng họ cũng không có khả năng sinh sản, đôi khi trí tuệ chậm phát triển Có khoảng 1 trong 400 trẻ sơ sinh nam có nhiễm sắc thể XXY này

0 0Hội chứng0 0XYY0 0dùng để chỉ tình trạng bào thai có cấu trúc nhiễm sắc thể XYY Nam giới có thêm một nhiễm sắc thể Y thường có trí thông minh thấp hơn mức bình thường và có chiều cao cao hơn bình thường Có khoảng 1 trong 1000 trẻ sơ sinh nam có nhiễm sắc thể XYY

Như vậy, hầu hết nhận dạng về giới của các cá nhân thường được đưa ra dựa trên cấu tạo sinh lí

và ngoại hình, nhưng điều này không có nghĩa là các quá trình tâm lí và xã hội không có ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính Có hàng loạt các yếu tố xã hội và tâm lí liên hệ mật thiết với quá trình này

1.2.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố xã hội và tâm lí đến nhận dạng giới tính

Trong vô vàn các tác động của xã hội đối với sự phát triển của con người – trước hết là sự phát triển giới tính – phải kể đến tác động của cha mẹ, anh chị em trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè Trong đó, môi trường gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với sự nhận dạng và phát triển giới tính

của trẻ Và đặc biệt quan trọng khi trẻ còn thơ ấu, vào lúc cha mẹ thậm chí còn chưa ý thức được là mình đang dạy con

Từ những phản ứng chủ quan khi biết được giới tính của đứa con sắp hạ sinh cho đến những thái

Trang 18

độ và chọn lựa như đặt tên cho con, chọn đồ chơi, quần áo và đồ đạc, cách biểu lộ tình cảm đối với con

trẻ…, cha mẹ có ảnh hưởng sâu đậm đến quá trình hình thành nhận dạng giới tính của con cái mình

hơn bất cứ một tương quan xã hội nào khác

Theo Rubin, Prorenzano và Luria (1974), Stern và Karraker (1989), các bậc cha mẹ thường

dùng những từ: nhỏ bé, thanh tú, mảnh mai, xinh xắn, dịu dàng… cho bé gái; và các từ: khỏe mạnh, lanh lợi… cho bé trai Các bậc cha mẹ cũng xử sự với con cái theo quan điểm của mình về giới tính của

trẻ là gái hay trai Cha mẹ đối xử với các cậu bé một cách mạnh mẽ hơn so với các cô bé Khi lựa chọn

đồ chơi cho con, cha mẹ cũng quan tâm đến những đồ chơi phù hợp với giới tính của trẻ (Caldera,

1989 ; Maccoby, Jacklin, Lytton & Romney) Cha mẹ thường bày tỏ thái độ rõ ràng trước những hành

vi và các hoạt động trong trò chơi của trẻ sao cho chúng đi vào đúng quĩ đạo, khuôn mẫu giới tính của trẻ Ví dụ, bé gái thường được hướng vào những trò chơi với búp bê, trò chơi gia đình; bị ngăn cản trong việc leo trèo, chạy nhảy; còn bé trai được khuyến khích chơi với ô tô hoặc các trò chơi vận động

và bị ngăn cản khi chơi với búp bê, nấu ăn Các nghiên cứu cũng cho thấy, cha mẹ thường củng cố những hành vi trò chơi đóng vai (role playing) phù hợp với giới tính và không khuyến khích những

hành vi không phù hợp với giới tính của trẻ [6,10]

Khi chơi với con trai, các ông bố thường không ngại các trò chơi đuổi bắt, những động tác nhanh và mạnh ; trong khi đó, họ ít có những cử chỉ mạnh mẽ đối với con gái, thường họ âu yếm bé gái

một cách nhẹ nhàng và dường như dịu dàng hơn (Carsin, Burks và Parke, Siegal) Ngược lại, các bà

mẹ ít tỏ ra thái quá trong việc phân biệt giữa bé trai và bé gái Tuy nhiên, mẹ cũng hay chuyện trò với con gái hơn, dùng ngôn ngữ nhiều hơn trong giao tiếp với bé gái, hay bắt chước cách phát âm của bé

gái hơn là đối với bé trai (Silgel, 1987) [8, tr.26]

Theo nghiên cứu của Turner và cộng sự (1993), kiểu đối xử khác biệt này giữa các ông bố và bà

mẹ ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính của trẻ rất sớm Hơn nữa, các ông bố – qua cách xử sự khác nhau đối với con trai và con gái – đóng vai trò quan trọng hơn các bà mẹ trong việc hình thành nhận dạng giới tính cho con trẻ Qua quan sát, người ta thấy các ông bố thường yêu cầu gắt gao đối với các kiểu thể hiện giới tính của con hơn các bà mẹ Ví dụ, người bố có xu hướng không khuyến khích con trai chơi các trò chơi “của con gái” [8, 10]

Trong gia đình, tính cách của cha mẹ có ảnh hưởng đến việc nhận dạng và học tập vai trò giới ở trẻ có cùng giới tính với cha hoặc mẹ Uy quyền của cha mẹ cũng có tác động tương đương đối với giới tính của con cái, đặc biệt là con trai Trong gia đình mà người mẹ có uy quyền hơn (và người cha thụ

Trang 19

động) thì khả năng nhận dạng giới tính của bé trai sẽ bị giảm sút nhiều Tuy vậy, nữ tính ở bé gái không bị ảnh hưởng gì

Và không cần phải mất nhiều thời gian, những điều liên quan đến cách cư xử thiên kiến về giới

của cha mẹ bắt đầu ảnh hưởng đến nhận dạng giới tính ở chính đứa trẻ Hơn nữa, đứa trẻ cũng không

phải là một chủ thể thụ động trong quá trình xã hội hóa giới tính của mình

Trong một thời gian rất ngắn – theo các chuyên gia là khoảng hai năm – trẻ em bắt đầu xây dựng

cho mình những hiểu biết về việc chúng là con trai hay con gái, và thường tiếp sau đó là mong muốn thể hiện hành vi phù hợp với giới của mình

Ngoài cha mẹ, trong gia đình nếu trẻ có anh chị em cùng giới hoặc khác giới thì trẻ cũng chịu

ảnh hưởng bởi giới tính của anh chị em mình Về vấn đề này, các nghiên cứu đưa ra các ý kiến trái ngược nhau

Brim, Stoneman, Brody, Mackina kết luận, trẻ có anh chị em cùng giới sẽ có điều kiện thể hiện hành vi và kiểu giới tính thuận lợi hơn so với những trẻ có anh chị em khác giới [4, tr.30] Trong điều

kiện nghiên cứu tự nhiên về hoạt động vui chơi của trẻ từ 4-9 tuổi ở gia đình cho thấy, việc lựa chọn trò chơi thường do người anh hoặc chị của trẻ quyết định, vì vậy, các trò chơi này thường mang những đặc điểm giới tính của anh hoặc chị Ví dụ, nếu em gái mà có anh trai thì bao giờ cũng chơi những trò có tính chất nam tính nhiều hơn; nếu em trai có chị gái sẽ chơi trò chơi búp bê, bán hàng, nấu ăn ngang

với mức của hai chị em gái

Trái lại, Tauber, Grotevant, Levethan lại cho rằng, trẻ trong gia đình có anh chị em cùng giới

(con một bề) hay chọn những đồ chơi, trò chơi khác giới hơn là cùng giới với trẻ để chơi; những trẻ có anh chị em cùng giới thường có những đặc điểm tính cách giới tính kém hơn so với những trẻ có cả anh

lẫn chị

Để giải thích mâu thuẫn này, các tác giả cho rằng, mỗi anh chị em trong gia đình đều cố tỏ ra khác với anh chị em mình, để mình sẽ là người duy nhất được cha mẹ chú ý đến, mình là nhân vật trung tâm trong gia đình Vì vậy, trẻ thường cố tình xử sự khác đi Biểu hiện này đặc biệt phổ biến ở

những gia đình có anh chị em cùng giới và những gia đình đông con Hơn nữa, trong các gia đình có con một bề này dường như cha mẹ thả lỏng việc ép buộc con cái vào khuôn mẫu giới tính phù hợp; các

bà mẹ thường chọn đồ chơi khác giới cho con mình hơn; hoặc trẻ thường phải làm các công việc khác

giới hơn, như con trai nấu cơm, rửa bát, con gái sửa chữa đồ dùng…(Stoneman, Brody, Kackinon) Như

Trang 20

vậy, chính các gia đình có con một bề có thể sẽ tạo cơ hội đặc biệt để trẻ mở rộng lĩnh vực hoạt động sang phạm vi của giới khác [4, 8]

Nhìn chung, ảnh hưởng của anh chị em trong gia đình đối với kiểu giới tính của trẻ ít trực tiếp hơn so với các yếu tố khác như cha mẹ và bạn bè Ảnh hưởng này đến trẻ rất đa dạng và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô gia đình, khoảng cách lần sinh, thứ tự sinh, quan điểm giáo dục con cái…

Khi trẻ rời gia đình đến trường học, bé trai và bé gái tiếp tục được đối xử khác nhau Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ, giáo viên mầm non và tiểu học thiên về giáo

dục nữ tính hơn là nam tính khi đề cao sự vâng lời, phụ thuộc – những phẩm chất mà xem ra chỉ phù

hợp với vai trò giới của con gái Còn những phẩm chất khác như hăng hái, quyết đoán, cạnh tranh, độc

lập hầu như ít được tán thành ở trường học Giáo viên có xu hướng rèn dũa khuôn mẫu giới tính ở bé trai khắt khe hơn so với bé gái Ở trường mẫu giáo, các bé trai và bé gái đều được khích lệ, tạo điều

kiện tham gia vào những hoạt động nhẹ nhàng, yên tĩnh thay vì chạy nhảy, nô đùa, đuổi bắt…Tuy vậy,

bé trai vẫn bị cô giáo, bạn bè để ý, phê phán khi có những hành vi của giới khác như khi chơi các trò chơi được cho là “của con gái” hoặc khi quá chăm chút cho diện mạo của mình Còn các bé gái thì

dường như ít bị cô và các bạn chỉ trích khi chơi trò chơi của con trai (Fagot, 1985) Trong lớp học, cô

giáo thường chấp nhận sự nhõng nhẽo, giao tiếp bằng cử chỉ điệu bộ của con gái nhiều hơn con trai Đó

là một sức mạnh ngẫu nhiên khiến bé trai có được hành vi giới tính phù hợp hơn bé gái, còn bé gái có

cơ hội để “lấn sâu” vào các hành vi giới tính của con trai, vì thế hành vi xử sự của bé gái cũng phong phú hơn bé trai [4,8]

Khi nghiên cứu những phương tiện, thiết bị được sử dụng ở các lớp học của 42 trường mẫu giáo

tại 2New Zealand, Meade (1985) thấy rằng, số thiết bị dành cho bé trai nhiều gấp hai lần số dành cho bé gái; các đồ chơi mang tính chất “nam tính” rất đa dạng, cho phép các bé trai có những cơ hội khám phá, thí nghiệm, tìm hiểu thế giới khoa học kĩ thuật, phát triển các kĩ năng cơ bắp, kĩ năng toán học, kĩ năng

tổ chức, tạo cơ sở để hình thành vai trò thủ lĩnh Còn đồ chơi mang tính chất “nữ tính” dành cho các

bé gái chủ yếu là để thực hiện vai trò giới trong gia đình như chăm sóc, nội trợ giúp bé gái phát triển

những cơ nhỏ, phối hợp tay mắt, sự tập trung chú ý Điều này có thể nhìn nhận như một sự chuẩn bị cho các hành vi sau này của trẻ [8, tr.36]

2

Chính vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi các bé gái thường học tốt hơn bé trai ở những

năm đầu phổ thông, nhất là về các kĩ năng đọc, viết (Lummin & Stevensai, 1990) và thực hiện các qui

tắc, nội qui của trường học trong khi bé trai thể hiện sự thiếu hụt trong những mặt này

Trang 21

Trong suốt giai đoạn mẫu giáo và tiểu học, giáo viên luôn phải khống chế các hành vi gây gổ

hoặc không phù hợp của cả trẻ gái lẫn trẻ trai, song họ phải bận tâm đến con trai nhiều hơn Kết quả là,

trẻ gái có xu hướng thích gần gũi và nói chuyện với cô giáo nhiều hơn, còn trẻ trai thể hiện tính dứt khoát ở mức độ cao hơn Chính vì vậy mà giáo viên thường nhận xét “con gái ngoan hơn con trai ”

Kiểu hành vi thụ động và phụ thuộc được giáo viên chấp nhận, khuyến khích ở trẻ gái khi học mẫu giáo

và tiểu học về lâu dài trở thành những bất lợi, cản trở sự thành đạt của trẻ trong các lĩnh vực khoa học

sau này Dweck & Leggentt (1988) cho r ằng, sự thành đạt về trí tuệ liên quan tỉ lệ nghịch với tính phụ

thuộc vì tính độc lập, quyết đoán và không tuân thủ một cách máy móc thường dẫn đến khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và mức độ thành đạt cao hơn ở cả bé gái và bé trai

Thêm vào đó, các nghiên cứu của Dweck Gietz & Strauss (1980); Dweck & Elliott (1983) cho

thấy, phản ứng mang tính phân biệt giới tính với kết quả học tập của học sinh từ phía giáo viên cũng có

thể góp phần tạo nên sự khác biệt giới tính ở trẻ Học sinh nữ gặp khó khăn khi giải quyết bài tập thì thường bị xem là thiếu năng lực, còn học sinh nam thì bị cho rằng thiếu động cơ học tập hoặc do các tác động bên ngoài Sự quy kết này làm các em gái ngày càng giảm đi tính kiên trì, việc thực hiện nhiệm vụ ngày càng kém đi, đôi khi dẫn đến sự thất bại dưới cả mức giới hạn [4,8]

Nhìn chung, những hành vi giới tính một khi đã hình thành sẽ khó sửa Chính vì vậy, trên nhiều phương diện, trường học với những điều kiện học tập, phương pháp giáo dục, thái độ, cách ứng xử của giáo viên… có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển nhận dạng giới tính và đến sự hình thành khuôn mẫu giới tính ở trẻ ngay từ khi còn nhỏ

Theo các quan sát, kiểu hành vi giới tính ở trẻ được thể hiện rất sớm (đặc biệt là trong nhóm) và

bạn bè là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc duy trì kiểu giới tính này Trong mối quan hệ bạn bè, trẻ

vừa là sản phẩm vừa là người tạo ra những mối quan hệ đó Cũng chỉ trong xã hội trẻ em thì trẻ mới

thực sự sống hết mình, cởi mở, bộc lộ một cách chân thành nhất con người của mình, đồng thời tự khẳng định bản thân, khẳng định vị trí, vai trò giới của mình [8, tr.39]

Trang 22

Quan sát hoạt động của trẻ mẫu giáo trong điều kiện tự nhiên cũng như qua nghiên cứu cho thấy, trẻ chủ động điều chỉnh kiểu hành vi giới tính cho nhau thông qua các kiểu tán thành, ủng hộ nhau… thể hiện ở cách bắt chước nhau hoặc gia nhập nhóm chơi Nghiên cứu của Fagot (1977) trên

200 trẻ mẫu giáo trong khi chơi đã cho thấy rằng, trẻ có những phản ứng đặc biệt đối với những bạn không thực hiện đúng mẫu hành vi giới tính Ví dụ, bé trai thích chơi với búp bê sẽ bị bạn chỉ trích nhiều hơn 5-6 lần so với số trẻ tuân thủ vai trò giới Mặt khác, những trẻ gái thích chơi làm lính cứu hỏa hơn là làm y tá thì lại không bị chỉ trích gì [4,8]

Sự bắt buộc, động viên trong nhóm trẻ cũng tạo ra những hiệu quả khác nhau Ví dụ, Fagot

(1985) trong một nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng, trẻ hay đáp lại thông tin phản hồi của bạn cùng giới hơn là bạn khác giới Kiểu phản hồi này tạo ra sự thể hiện khác nhau trong hành vi của trẻ Theo

các nghiên cứu của Lamb (1979) và Holden (1980), sự chỉ trích của bạn bè chính là một biện pháp hữu

hiệu để chấm dứt những hoạt động không phù hợp với giới tính của trẻ Đồng thời, những trẻ có hành

vi vai trò giới phù hợp, được bạn bè khen ngợi sẽ duy trì hoạt động đó lâu hơn Cũng chính vì thế mà con gái có xu hướng tìm đến con gái, con trai tìm đến con trai để chơi nhiều hơn là tìm đến bạn khác

giới Các nghiên cứu của Maccoby, Powlishta, Jacklin cho biết, trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi sử dụng thời gian

lớn hơn gấp 3 lần để chơi với bạn cùng giới; đến 5-6 tuổi, con số này là 11 lần [4, 8, 22]

Kết quả là hiện tượng tách nhóm giới tính xảy ra ở trẻ em, đồng thời đây cũng là đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong liên kết bạn bè của trẻ Sự chia tách giới tính này, đến lượt nó, lại tạo điều kiện để trẻ học được những vai trò giới phù hợp với trẻ tốt hơn Rõ ràng, sự chia tách giới tính hoàn toàn không phải do sức ép từ phía cha mẹ hoặc thầy cô, mà là trẻ tự chọn bạn cùng giới để chơi cho dù người lớn không hướng dẫn, khuyến khích hoặc cấm đoán

Tại sao lại như vậy? Maccoby (1990) đưa ra một số nguyên do để lý giải như sau: trước hết là

do kiểu chơi mạnh bạo, có tính cạnh tranh, trấn áp của trẻ trai hoặc các trò chơi mang tính kỹ thuật được xem là không hợp với con gái nên trẻ gái tránh không chơi với trẻ trai Mặt khác, trẻ gái biết rằng chúng khó mà thuyết phục hoặc gây ảnh hưởng đến các bạn trai với cách xử sự thiên về cảm xúc hoặc điệu bộ nhõng nhẽo…trong khi con trai vốn ưa thái độ rõ ràng, dứt khoát [4,8] Chính vì thế mà cả trẻ gái và trẻ trai đều chọn bạn cùng giới để chơi với mục đích các ảnh hưởng của mình có hiệu quả với bạn hơn Như vậy, rõ ràng quan hệ bạn bè đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành nhận dạng vai trò giới của trẻ

Trang 23

Có thể nói, sinh vật học tạo nền tảng, nhưng cuối cùng chính những tương tác của trẻ với môi

trường xã hội xây dựng nên nhận dạng về giới tính

Sự hình thành nhận dạng giới tính, cũng như bất kỳ điều gì khác, không phải lúc nào cũng đơn giản một cách hoàn hảo và không có lỗi gì Một số cá nhân trải nghiệm khó khăn lớn trong việc điều hòa và kết hợp các yếu tố sinh lí, tâm lí và xã hội với giới của mình Họ trải nghiệm những rối loạn trong tình cảm liên quan đến nhận dạng giới tính Chẳng hạn như một số cá nhân tin rằng họ bị sinh nhầm giới; giới tính "thật" của họ mâu thuẫn với diện mạo về giới bên ngoài của họ…

Hiện tượng 2rối loạn nhận dạng giới2tính (chuyển giới tính) – quan niệm chủ quan rằng một cá

nhân sở hữu nhầm cơ thể của giới khác – là dạng thức cực đoan nhất của nhận dạng nhầm về giới Hiện tượng này khác với đồng tính luyến ái, ái nam ái nữ hay luyến ái giả trang Người đồng tính luyến ái là người bị thu hút, hấp dẫn bởi những người cùng giới với mình; trong khi đó người ái nam ái nữ bị hấp dẫn bởi cả hai giới; người luyến ái giả trang cảm nhận sự hài lòng về tình dục từ việc mặc quần áo của giới tính khác [3, tr.36]

Một người 2rối loạn nhận dạng giới2 tính thường đặc biệt ghét các cơ quan sinh dục của mình, thường muốn giải thoát bản thân khỏi các đặc điểm giới tính về mặt sinh lí của mình và có được giới tính khác bằng phương pháp0 0phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Các nhà khoa học đến nay chưa khám phá ra nguyên nhân rõ ràng của hiện tượng rối loạn nhận dạng giới tính Một số học thuyết cho rằng, đó là do sự mất cân bằng hooc môn sau khi sinh, sớm nhận dạng với cha mẹ thuộc giới khác, và những trải nghiệm kiến thức hỗn hợp từ sớm Do không có những bằng chứng trực tiếp chứng minh cho bất kỳ sự lý giải nào, nên hiện tượng chuyển đổi giới tính rất có thể do nhiều nguyên nhân

1.2.3 S ự phát triển nhận dạng giới tính ở trẻ em

Các ảnh hưởng sinh học, tâm lí và xã hội không phải là những yếu tố duy nhất quyết định nhận

dạng giới tính ở trẻ Sự hiểu biết của chính trẻ về giới và vai trò giới cũng góp phần vào quá trình phát triển nhận dạng giới tính này

Trong đề tài này, người nghiên cứu tập trung phân tích hai cách tiếp cận khác nhau trong việc xem xét, đánh giá sự phát triển nhận thức về giới tính và vai trò giới ở trẻ em là: Thuyết phát triển nhận

th ức của L Kohlberg và Thuyết về sơ đồ giới tính của Martin và Halverson

Cả hai thuyết nêu trên đều giả thiết rằng, các cá thể có vai trò tích cực trong việc lĩnh hội và giải

Trang 24

thích thông tin từ môi trường bên ngoài Thay vì cho rằng, con người chịu ảnh hưởng của môi trường

một cách thụ động, các nhà khoa học có định hướng nhận thức về việc mỗi cá thể sử dụng “những lí

luận” bên trong (ẩn) để giải thích các thông tin của môi trường và khi làm như vậy, họ đã tạo ra môi

trường để củng cố những lí luận của họ (Martin, 1992) [8, tr.34]

1.2.3.1 H ọc thuyết phát triển nhận thức của L Kohlberg

Công trình của L Kohlberg là nghiên cứu đầu tiên ứng dụng lối tiếp cận nhận thức nhằm tìm

hiểu sự phát triển nhận dạng giới và vai trò giới ở trẻ em Theo L Kohlberg, thái độ và niềm tin về vai trò giới ở chính đứa trẻ giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hướng dẫn hành vi tương tác của trẻ

với môi trường xung quanh Thuyết này cho rằng, khả năng phân biệt vai trò giới và tự nhận thức về

bản thân của trẻ trước hết là dựa vào các khuôn mẫu cùng giới chứ không phải dựa vào khả năng tự

nhận dạng về mình Khi đứa trẻ – trên cơ sở những khác biệt về thể chất và vai trò giới như quần áo,

kiểu tóc hoặc công việc – tự phân loại được mình là con trai hay con gái, luôn mong muốn có những cư

xử phù hợp với giới tính và bắt chước các khuôn mẫu cùng giới với nó Quá trình này được gọi là “tự

xã hội hóa” (self-socialization) Bé gái thường nói: “Mình là con gái vì mình giống mẹ và các bạn gái hơn là giống bọn con trai, cho nên mình mặc quần áo con gái, chơi trò chơi con gái ” Ở đây, tính chất

nhất quán giữa giới tính của trẻ, sự tự phân loại bản thân, các tiêu chuẩn ứng xử đạo đức và các hành vi thích hợp là điều cốt lõi để duy trì lòng tự trọng ở trẻ [4, 6, 8]

L Kohlberg xem xét s ự phát triển của ý thức giới tính như là quá trình hình thành khả năng

nh ận thức tính bất biến của giới tính (Gender constansy) Theo ông, quá trình này trải qua ba giai

đoạn:

a) Giai đoạn gọi tên giới tính (2 – 3,5 tuổi)

Độ tuổi này, trẻ bắt đầu hiểu được các từ: con trai, con gái, đàn ông, phụ nữ và sử dụng các

từ này khi nói về người này hoặc người khác Dưới 3,5 tuổi, trẻ mới chỉ nhận biết được mình là trai hay gái nhờ những đặc điểm bên ngoài như trang phục, đầu tóc song khả năng nhận diện này mang tính tình huống rõ nét, trẻ chưa hiểu được tính ổn định của nó Khi hỏi: “Khi lớn lên, cháu có trở thành đàn ông/phụ nữ được không?”, trẻ có thể trả lời rất thoải mái là: “Có” Và cũng không ít trường hợp trẻ hỏi:

“Mẹ ơi, khi mẹ còn là em bé thì mẹ là con trai hay con gái?” Trẻ chưa ý thức được rằng, giới tính là

không thay đổi và do vậy, những ước mơ khi nào lớn sẽ trở thành một nhân vật nổi danh khác giới là

hiện tượng dễ bắt gặp ở trẻ [4, 6, 8]

Như vậy, đến 3,5 tuổi, trẻ nhận thức về giới hoàn toàn căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài,

Trang 25

còn sự khác nhau của bộ phận sinh dục lại chưa có ý nghĩa gì đối với trẻ trong việc phân biệt giới tính

b) Giai đoạn hiểu sự ổn định của giới tính ( 3,5 – 4,5 tuổi)

Đây là giai đoạn đầu của việc nhận thức về tính bất biến của giới tính Trẻ bắt đầu quen dần với suy nghĩ: con trai lớn lên sẽ trở thành đàn ông (chồng/ cha/ chú), còn con gái sẽ trở thành phụ nữ (vợ/

mẹ/ cô) Tuy nhiên, sự hiểu biết về tính bất biến của giới ở trẻ còn mang tính thiếu bền vững, cục bộ, chưa đầy đủ và còn mâu thuẫn với nhau Đôi khi trẻ vẫn cho rằng, sự thay đổi trang phục, kiểu đầu tóc,

quần áo hay công việc có thể làm thay đổi giới tính của người này hay người khác Chẳng hạn, con gái

để tóc giống con trai sẽ trở thành con trai và con trai chơi búp bê sẽ trở thành con gái (Fagot, 1985) [6,

tr.229]

c) Giai đoạn hiểu tính bất biến của giới tính ( 4,5 – 7 tuổi)

Đây là giai đoạn củng cố nhận thức về tính bất biến của giới tính Tuy còn mang tính tình huống, song vào tuổi này trẻ đã ý thức được giới tính của mình là không thay đổi trong các tình huống và do ý

muốn cá nhân Nhìn chung, trẻ biết được rằng hình thức bề ngoài không làm thay đổi giới tính của mọi người, thậm chí ngay cả trong trường hợp mặc quần áo hoặc làm công việc của giới đối lập Trẻ 6-7

tuổi thường giải thích tính bất biến của giới bằng nhiều cách Ví dụ, việc mặc váy không làm đàn ông

trở thành phụ nữ, hoặc nếu mẹ đẻ em gái thì lớn lên bé vẫn là con gái Còn trẻ 4 tuổi cũng có thể trả

lời đúng câu hỏi về tính bất biến giới tính, nhưng hiếm khi trẻ giải thích được lí do tại sao, bởi trẻ vẫn

bị ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến bản chất vấn đề như quần áo, kiểu đầu tóc, công việc

Theo L Kohlberg, phải cho tới sau 7 tuổi trẻ mới hoàn toàn hiểu được rằng, giới tính của chúng

được quyết định bởi bộ phận sinh dục (Mc Conaghy, Thompson, Bentler) Từ vô số các đặc điểm của

giới tính, trẻ biết tách riêng những đặc điểm ổn định, bản chất để xác định giới, nhờ đó nhận thức về giới

của trẻ được hoàn chỉnh [4, 8]

Nhận dạng giới tính chỉ là bước đầu tiên trong sự lĩnh hội kiến thức về vai trò giới Trong những

kiểm nghiệm trực tiếp thuyết của L Kohlberg, các nhà nghiên cứu cũng đồng ý rằng, ở trẻ, việc nhận

dạng giới tính xuất hiện trước tiên, sau đó đến sự hiểu biết về tính ổn định giới và cuối cùng là sự đánh giá về tính bất biến giới tính

Trình tự xuất hiện những hiểu biết về vai trò giới này phù hợp với dự báo của L Kohlberg cho cả

trẻ trai và trẻ gái (Martin & Little, 1990) Hơn nữa, trẻ em ở những nền văn hóa khác nhau (Kenia, Nepal & American Samia) cũng có các giai đoạn hiểu biết về giới tính tương tự như vậy (Munroe &

Trang 26

Shimmin, 1984) [4, 8]

Nghiên cứu của Berm (1989) đã chỉ ra rằng, việc hiểu biết về bộ phận sinh dục là một yếu tố

quyết định quan trọng về tính bất biến của giới tính

Như vậy, theo thuyết của L Kohlberg, khả năng nhận thức về tính bất biến của giới tính là yếu tố

cơ bản nhất quyết định hành vi giới tính của trẻ mẫu giáo Tuy nhiên, cũng chính thực tế cho thấy, từ

3-4 tuổi trẻ đã có khả năng lựa chọn kiểu hành vi giới tính phù hợp Nhờ những yếu tố tác động của môi trường xã hội, mà quan trọng nhất là người lớn – những tấm gương về hành vi giới tính – mà ngay từ khi nhận thức giới tính của trẻ chưa đạt tới mức 3, thậm chí mức 2, trẻ đã có thể lựa chọn và thực hiện hành vi phù hợp với giới tính của mình Bởi trẻ cho rằng, phải làm như vậy thì mới đúng là con trai hay con gái

Mỗi bước tiến bộ trong khả năng nhận thức về tính bất biến giới tính giúp trẻ hiểu ra rằng, giới tính của bản thân là tồn tại vĩnh viễn mà không liên quan gì đến vai trò giới Điều đó có nghĩa, việc thực

hiện công việc của người khác giới cũng không thể làm thay đổi giới tính Ví dụ, đàn ông cũng có thể

nấu ăn rất giỏi và việc một người phụ nữ lái máy bay cũng không phải là điều không thể Kết quả là,

việc lựa chọn các hoạt động và cách ứng xử của người khác giới không còn là điều đáng sợ đối với trẻ

nữa

1.2.3.2 H ọc thuyết về sơ đồ giới tính

Học thuyết của L Kohlberg nêu cụ thể khi nào trẻ bắt đầu tìm hiểu hành vi và hoạt động thích

hợp với giới tính (một khi trẻ đã hiểu tính ổn định giới tính) nhưng không tìm hiểu việc đó diễn ra như

th ế nào Học thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Halverson (1981) giải thích về điều này

Theo quan điểm thuyết của Martin và Halverson, trẻ thiết lập sơ đồ giới tính (các lí luận sơ

đẳng) và nhờ đó trẻ định hướng được trong môi trường thông tin bao quanh, đồng thời thiết kế và tổ

chức hành vi của bản thân một cách phù hợp với sơ đồ đó Thuyết của Martin và Halverson được biểu

diễn theo sơ đồ dưới đây [6, tr.230]

Trang 27

Trong thuyết sơ đồ giới tính, trước tiên trẻ xác định xem đồ vật, hoạt động hoặc hành vi là nam

tính hay n ữ tính rồi sau đó sử dụng thông tin này để quyết định liệu mình có nên tìm hiểu về đồ vật,

hoạt động hoặc hành vi đó nhiều hơn hay không [6, tr.230]

Lấy một ví dụ: Bé trai lứa tuổi mẫu giáo nhìn thấy các bé gái chơi bán hàng sẽ xác định rằng, chơi bán hàng là trò chơi dành cho con gái, vì mình là con trai, chơi bán hàng không phù hợp Thấy một nhóm bé trai lớn tuổi hơn chơi đá bóng, cậu bé xác định rằng, đá bóng là trò chơi dành cho con trai, vì mình là con trai nên chơi đá bóng phù hợp và cậu tìm hiểu về đá bóng nhiều hơn

Như vậy, sau khi trẻ hiểu được giới tính, điều này như thể nó nhìn thế giới bằng cặp kính đặc biệt

chỉ gom hoạt động điển hình cho giới tính vào trong tiêu điểm (Liben & Signorella, 1993; Martin,

Eisenbud & Rose, 1995) [6, tr.230]

Các nghiên cứu khác (Martin & Ruble, 1989; Bigle & Liben, 1990) đã rút ra kết luận rằng, bằng

sơ đồ giới tính, con gái ghi nhớ những đồ chơi, đồ vật của mình dễ hơn nhiều so với việc nhớ đồ vật

của con trai, và tương tự như vậy đối với con trai (Bradrard & Endsley, 1984)

Ảnh hưởng của sơ đồ giới tính đến hành vi của trẻ thay đổi theo lứa tuổi Dưới 4 tuổi, trẻ phụ thuộc nhiều hơn vào sơ đồ so với trẻ lớn hơn Trẻ 5 tuổi và trên 5 tuổi không chỉ nhận thức được sơ đồ

giới tính mà còn có khả năng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về vai trò giới Do vậy, trẻ vận dụng những tri thức đó vào việc giải thích thế giới xã hội cũng linh hoạt và ít cứng nhắc hơn [4, 8]

Trẻ cũng rất khác nhau ở mức độ xác lập các sơ đồ giới tính (Carter và Levy, 1988) Các nghiên

cứu chỉ ra rằng, trẻ càng có sơ đồ giới tính cao bao nhiêu thì càng nhạy cảm bấy nhiêu đối với khía

và tìm hi ểu

Nên tránh

Cho ai?

Trang 28

cạnh giới tính của hiện thực xung quanh Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn lưu ý thêm về hiện tượng do ảnh hưởng của sơ đồ giới tính mà đôi khi trẻ xử lí thông tin một cách méo mó, cốt sao cho phù hợp với

sơ đồ giới tính mà chúng có Ví dụ, con trai chơi với búp bê sẽ thành con gái chơi với búp bê

Biết mình là con trai (hay con gái), trẻ 5-6 tuổi đồng thời ý thức được rằng mình phải hành động

giống ba, giống chú (hoặc giống mẹ, giống cô) Như vậy, trẻ không chỉ có khả năng tự nhận dạng giới tính mà còn biết phải hành động như thế nào cho phù hợp với giới tính của bản thân

Tóm lại, học thuyết phát triển nhận thức về giới của L Kohlberg đưa ra các giai đoạn trong sự

hiểu biết về tính bất biến giới tính ở trẻ Trước 5 tuổi, ở trẻ ít có những hiểu biết về các hoạt động phù

hợp với giới tính Thuyết sơ đồ giới tính của Martin và Halverson – mặt khác – lại cho rằng khi ở trẻ

nhỏ có cơ sở thông tin về giới tính (như tên gọi hoặc nhận dạng của hai giới) cũng đủ để giúp trẻ bắt đầu hình thành những qui tắc liên quan đến giới tính

K ết hợp cả hai nghiên cứu này cho thấy mối liên kết giữa việc lĩnh hội khái niệm về giới và hành

vi bi ểu hiện ở trẻ tùy thuộc vào cả giai đoạn của sự hình thành nhận dạng giới tính cũng như các dạng hành vi gi ới tính

1.3 VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

1.3.1 Khái ni ệm vai trò giới và khuôn mẫu về giới

1.3.1.1.Vai trò gi ới

Từ điển Tâm lí học (2008) định nghĩa: “Vai trò giới là sự phân chia các hoạt động, quy chế,

quyền hạn và nghĩa vụ của các cá nhân phù thuộc vào giới tính của họ”

Vai trò gi ới (Sex role) là một dạng vai xã hội Nó biểu lộ sự mong đợi và yêu cầu nhất định mà

xã hội gửi đến cho con người theo giới tính là nam hay nữ, được thể hiện dưới các dạng hành vi bền

vững, tương ứng với giới tính của các cá nhân Ở mức độ văn hóa, vai trò giới tồn tại trong một hệ

thống nhất định của biểu tượng giới và trong khuôn mẫu tính nam giới và tính phụ nữ Sự tiếp nhận và hoàn thiện của cá nhân về vai trò giới đem lại cho cá nhân tính đồng nhất giới Với sự đồng nhất này,

sau này hình thành tự ý thức của nhân cách và tất cả các thuộc tính của hành vi [1, tr.983]

Vai trò giới là khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của con người trong

một ý nghĩa tổng thể Các vai trò giới cơ bản gồm: vai trò sản xuất (các công việc tạo thu nhập và công việc sản xuất ra của cải vật chất); tái sản xuất (gồm việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, chăm

Trang 29

sóc người già, người ốm, công việc nội trợ); quan hệ cộng đồng (quan hệ với họ hàng, quan hệ với bạn

bè, quan hệ với các tổ chức, đoàn thể…) [16, 31] Vai trò giới bị chi phối bởi độ tuổi, giai cấp, chủng

tộc, dân tộc, tín ngưỡng và bởi môi trường địa lý, kinh tế, văn hóa và chính trị (UNDP, 2002) Những

vai trò và trách nhiệm đối với từng giới cũng thường bị quy định bởi cấu trúc hộ gia đình, bởi những tác động của kinh tế

Như vậy, vai trò giới gần như có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của đời sống, nó hình thành nên mối liên hệ giữa nhận dạng giới tính và sự thể hiện giới Vai trò giới mang cả yếu tố cá nhân lẫn văn hóa, nó quyết định phụ nữ và đàn ông ăn mặc, nói năng, ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào trong đời

sống xã hội

Vai trò giới được chấp nhận từ thời thơ ấu và thường được mang theo cho đến khi trưởng thành Trong gia đình, con người có những giả định nhất định về vai trò giới liên quan đến việc đưa ra quyết định, đến trách nhiệm công việc, tài chính và cách nuôi dạy con cái Ở nơi làm việc, con người có những giả định về vai trò giới liên quan đến việc phân công lao động, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Điều này không nhằm để nói rằng vai trò giới là tốt hay xấu Đơn thuần nó chỉ tồn tại, nó là thực tế

trong cuộc sống của hầu hết mọi người Đối với một số người, những vai trò giới truyền thống mang lại

sự an toàn (mọi thứ đã, đang và sẽ là như thế) nhưng đối với những người khác, nó là nguồn gốc gây ra những hạn chế và thất vọng Như vậy, vấn đề đặt ra đối với giá trị của vai trò giới phụ thuộc vào các cá nhân và các nhóm liên quan [3,10,20]

Đặc trưng của vai trò giới thay đổi theo lịch sử Nội dung cụ thể của vai trò giới trong các xã hội khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, vào đặc điểm văn hóa và lối sống cụ thể Trong xã hội truyền thống, hệ thống vai trò giới thường được phân biệt một cách rõ ràng và nghiêm

khắc, mặc dù nó không hoàn toàn giống nhau trong các nền văn hóa khác nhau Trong gia đình, người đàn ông là người quyết định các công việc quan trọng, từ sản xuất, quản lý tài sản đến việc học hành

của con cái Còn người phụ nữ phải đảm nhận phần lớn các công việc nội trợ, chăm sóc con cái Trong

xã hội đầu thế kỉ XXI, dải vai trò giới có thể chấp nhận đối với nam giới và nữ giới có sự thay đổi đáng

kể - đàn ông nuôi con và phụ nữ kiếm thu nhập cho gia đình [6, tr.231] Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi hiện nay trong nhiều gia đình, cha mẹ nuôi dạy con cái theo khuôn mẫu giới tính truyền

thống, nhưng trong một số gia đình khác, đàn ông và phụ nữ cùng làm việc nhà, cùng kiếm tiền và chăm sóc con

Vai trò giới được dạy và được củng cố trong suốt cuộc đời cá nhân bởi vô số nhữngtác nhân xã

Trang 30

h ội0 0- cha mẹ, thầy cô, bạn bè, phương tiện truyền thông, tôn giáo – và không còn nghi ngờ gì nữa, cha mẹ là những người có ảnh hưởng lớn nhất, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ trong nhận thức của chúng về vai trò giới

1.3.1.2 Khuôn m ẫu về giới

Vấn đề vai trò giới sẽ là không hoàn chỉnh nếu như không đề cập đến 6khuôn mẫu về giới

Khuôn mẫu về giới (Sex stereo types) là sự khái quát hóa về vai trò, sự khác biệt và thuộc tính về

giới của những nhóm hay các cá nhân cụ thể Khuôn mẫu về giới là những đặc điểm phù hợp với giới

này mà không phải với giới kia [8, tr.54]

Đâu là điểm khác biệt giữa vai trò giới và khuôn mẫu giới tính? Mọi người sống theo vai trò giới

mà họ học được từ khi còn nhỏ – những giả định về cái gì được mong đợi và được cho là bình thường

trên phương diện giới nam và giới nữ Tuy nhiên, khi mọi người tự động áp dụng những giả thuyết về

giới của mình lên người khác, 2b ất chấp những bằng chứng cho thấy điều ngược lại2, thì nghĩa là họ đang tham gia vào việc đưa ra các khuôn mẫu về giới

Tất cả các nền văn hóa đều có suy nghĩ rập khuôn về giới tính – khuôn mẫu này có thể hoặc không thể đúng Chẳng hạn, nhiều người nghĩ rằng, đàn ông là chủ động, duy lý, độc lập, ganh đua và gây hấn Đồng thời, quả quyết rằng, phụ nữ là bị động, tình cảm, lệ thuộc, nhạy cảm và nhu mì

(Williams & Best, 1990) [6, tr.225] Hoặc khuôn mẫu giới của phụ nữ là lấy chồng và sinh con - gia đình và tổ ấm Phụ nữ phải đặt những nhu cầu của gia đình lên trước nhu cầu của bản thân; phải biết thông cảm, chăm sóc, yêu thương, có lòng trắc ẩn, và cũng phải tìm đủ thời gian để làm cho mình trở nên đẹp đẽ Khuôn mẫu của nam giới là người cung cấp tài chính Một người đàn ông phải quyết đoán, độc lập, có tính tranh đua, tập trung cho công việc, kiểm soát được tình cảm và luôn luôn là người chủ động trong mọi việc Anh ta phải 2không 2được thể hiện nữ tính trong bất kỳ trường hợp nào

Thêm vào đó, yêu cầu đối với anh ta là phải thành công, mạnh mẽ và luôn luôn tự chủ…[6, tr.15]

Dựa vào khuôn mẫu giới tính, chúng ta nghĩ rằng, nam giới và phụ nữ hành động và suy nghĩ

theo cách riêng, và chúng ta phản ứng đối với hành vi của họ khác nhau, tùy theo giới tính (Bigler,

1995) Chẳng hạn, nếu chúng ta nhìn thấy một đứa trẻ khoảng 1- 1,5 tuổi đang chơi búp bê, rất có thể chúng ta nghĩ đó là con gái Ngoài ra, giả định này sẽ khiến chúng ta nghĩ rằng, bé thích các trò chơi tĩnh… Như vậy, một khi chúng ta giả định đứa trẻ ấy là con gái thì suy nghĩ rập khuôn về giới tính của chúng ta dẫn đến toàn bộ các suy luận khác về hành vi và nhân cách của trẻ

Trang 31

Nhưng ai dám khẳng định, con trai không nên khâu vá còn con gái không nên đấu vật, con trai khi ngã đau không nên khóc còn con gái không nên leo trèo…? Có nên áp đặt các khuôn mẫu truyền thống về giới tính cho trẻ em? Và liệu các khuôn mẫu về giới có bao giờ liên quan đến những hậu quả tiêu cực?0

Theo George D Zgourides và Christie S Zgourides (2002), thì các khuôn mẫu giới có thể là tích cực và cũng có thể là tiêu cực Chúng có thể dập tắt khả năng sáng tạo và sự thể hiện của cá nhân Chúng có thể “cản trở con người trong việc tìm ra chính mình” Nói tóm lại, các khuôn mẫu về giới có

thể gây ảnh hưởng lên hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – kinh tế, xã hội, tự nhiên và tâm lí [3, tr.41]

Các nghiên cứu của Best (1977), Etaugh & Liss (1992), Serbin, Powlishta & Gulko (1993),

Levy, Taylo & Gelman (1995) chỉ ra rằng, con người – đặc biệt là trẻ nhỏ – đã học được các khuôn

mẫu truyền thống về giới từ các tác nhân xã hội qua sơ đồ về giới Trẻ 5 tuổi nghĩ rằng, con trai mạnh

mẽ và áp đảo, trong khi con gái yếu ớt và nhu mì Đến lứa tuổi học sinh tiểu học, trẻ tìm hiểu nhiều hơn

về khuôn mẫu giới tính và cũng có khả năng linh động hơn khi cho ý kiến về khuôn mẫu giới tính Trẻ hiểu rằng, đối với trẻ con sẽ dễ chấp nhận hơn khi đi lệch khỏi khuôn mẫu giới tính – bé gái có thể có tham vọng trong khi bé trai mang tính nhu mì [6, tr.226]

1.3.2 Gia đình và vấn đề phân công vai trò giới trong gia đình

1.3.2.1 Khái ni ệm gia đình

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình

Trong “Tâm lý học gia đình”, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người

có cùng huyết thống, sống chung trong một nhà và chủ yếu là gồm cha mẹ và con cái”

Tr ần Trọng Thủy xem “Gia đình là một tập thể nhỏ, trong đó mọi người quan tâm đến nhau, chú

ý đến những yêu cầu, hứng thú của nhau Gia đình là trường học đầu tiên, gần gũi đối với trẻ”

Trong bản tuyên bố về sự tiến bộ xã hội, Liên hợp quốc định nghĩa: “Gia đình là đơn vị cơ bản

của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em”

Từ các quan điểm khác nhau về gia đình, có thể rút ra được các đặc trưng cơ bản của gia đình như sau [5, tr.7]:

1 Gia đình là một nhóm xã hội, nhất thiết phải có từ hai người trở lên;

Trang 32

2 Trong gia đình phải có các giới tính khác nhau qua quan hệ hôn nhân Đây là đặc trưng cơ

bản của gia đình (gọi là đặc trưng giới tính);

3 Giữa các thành viên trong gia đình có mối quan hệ gắn bó về đặc điểm tâm sinh lý (di truyền,

nếp sống, phong tục, truyền thống );

4 Các thành viên trong gia đình có quan hệ kinh tế, sống và hoạt động bằng một ngân sách

chung, do lao động trong gia đình đem lại;

5 Các thành viên sống trong cùng một nhà

Dựa trên các tiêu chí khác nhau (số thế hệ, số lượng con, thành phần và mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình ) người ta phân loại gia đình thành: gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng; gia đình toàn vẹn/không toàn vẹn, gia đình bình yên/ gia đình không bình yên

Trong phạm vi của đề tài này, vấn đề xã hội hóa giới tính của trẻ được tập trung nghiên cứu trong gia đình có cả cha và mẹ

1.3.2.2 V ấn đề phân công vai trò giới trong gia đình

Sự khác biệt giới dẫn đến sự phân công vai trò giới khác nhau giữa nam và nữ trong gia đình

“Phân công lao động theo giới” như Mác-Ăngghen đã nhận xét trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình

của chế độ tư hữu và nhà nước” là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữa nam và nữ Lúc đầu,

đó chỉ là sự phân công vai trò giới trong hành vi tình dục, về sau nó chuyển thành sự phân chia phạm vi

hoạt động theo giới một cách tự nhiên và dẫn đến sự sở hữu có tính đặc trưng theo giới, mỗi giới làm

chủ trong lĩnh vực hoạt động riêng của mình [11, 20, 23]

Phân công vai trò giới là một dạng phân công lao động mà trong đó người lao động được phân

chia công việc dựa trên những giả định về “việc của đàn ông” và “việc của đàn bà” Trong gia đình,

nó được thể hiện trong sự phân công lao động, trong sự phân chia quyền lực và uy tín giữa vợ và

chồng Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết “Sự phân công lao động

theo giới đầu tiên là phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà trong việc sinh đẻ Trong vai trò này,

phụ nữ là người đảm nhận chính do cấu trúc sinh học chỉ có phụ nữ mới có thể mang thai, sinh đẻ và nuôi con Việc tái sản xuất sinh học là thiên chức của người phụ nữ” [21, tr.25]

Điều đáng chú ý là sự phân công vai trò giới trong gia đình không đơn thuần dựa vào sự khác

biệt về các đặc điểm sinh học giữa nam và nữ mà luôn gắn liền với thói quen, suy nghĩ và quan điểm về

vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội Theo Jary D & Jary J (1991), hình thức phân công vai

trò giới thường gắn với sự phân biệt giữa lao động gia đình không được trả công và lao động được trả

Trang 33

công, giữa lĩnh vực tư (gắn với phụ nữ) và lĩnh vực công (gắn với nam giới)

Sự phân công vai trò giới giữa vợ và chồng trong gia đình rất đa dạng Có một số mảng công

việc chính như sau [20, 22, 26]:

Phân công vai trò trong công vi ệc nội trợ

“Công việc nội trợ” là một khái niệm cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thật rõ ràng, vì đó

là “những nhiệm vụ thường lặp đi lặp lại và rất nhiều” nhằm duy trì hoạt động của một hộ gia đình (Từ

điển Harper Collins về Xã hội học)

Theo sự tính toán của các chuyên gia thì người nội trợ phải thực hiện 216 dạng hoạt động khác nhau từ đính khuy áo đến việc chăm sóc người ốm Mặc dù được coi là hoạt động thiết yếu để duy trì

sự tồn tại của con người song nó lại không thường được hoặc khó quy đổi thành giá trị kinh tế, vì vậy

những công việc nội trợ trong gia đình cho đến nay vẫn được xem xét là loại hình lao động không được

tr ả công Ở nhiều quốc gia trên thế giới vẫn xếp các công việc nội trợ vào lĩnh vực “không hoạt động

kinh tế” và xem đó là công việc dành riêng cho phụ nữ

Trong xã hội hiện đại, chăm lo cho các thành viên trong gia đình đã được coi là một công việc quan trọng theo đúng nghĩa của nó, trong đó vai trò của người phụ nữ được đặc biệt đề cao

Phân công vai trò trong vi ệc sửa chữa đồ dùng trong nhà

Phân công vai trò giữa vợ và chồng trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình dường như phù

hợp với đặc điểm sinh học của mỗi giới, người chồng thường đảm nhiệm những công việc phức tạp và

nặng nhọc, còn người vợ thường đảm nhiệm những công việc mang tính khéo léo và tỉ mỉ hơn

Phân công vai trò trong công vi ệc chăm sóc và giáo dục con cái

Gia đình là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Ngay từ khi

lọt lòng cho đến hết cuộc đời, con người tìm thấy sự đùm bọc về vật chất, tinh thần trong gia đình Vì

một lí do nào đó, có lúc điều này đã bị hiểu sai lệch dẫn đến quan niệm cho rằng việc chăm sóc và giáo

dục con cái thuộc về trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình

Chúng ta hiểu rằng, sự quan tâm, chăm sóc con cái không chỉ là vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ

mà hơn thế nữa đó còn là vấn đề tình cảm, là một niềm hạnh phúc lớn lao của các bậc làm cha, làm mẹ

Và trẻ sẽ phát triển tốt hơn, học tốt hơn, trưởng thành hơn nếu có sự chỉ bảo thường xuyên của cả cha

và mẹ

Trang 34

Liệu trong các gia đình hiện nay có sự thay đổi trong phân công vai trò giới giữa vợ và chồng trong việc chăm sóc, giáo dục con cái?

Phân công vai trò trong các công vi ệc cộng đồng

Công việc cộng đồng là những công việc liên quan đến các hoạt động mang tính tập thể như lễ

tết, thăm hỏi, ma chay, cưới xin, sinh hoạt của dòng họ hay của phường xã… Những công việc này thể

hiện vị thế và trong nhiều trường hợp là quyền lợi của mỗi người trong cộng đồng Trong các gia đình truyền thống ở Việt Nam, từ xưa những công việc này vẫn được gọi là “việc họ việc làng” và tuân thủ nguyên tắc “nam ngoại, nữ nội”, chỉ do nam giới đảm nhận, không phải chỗ cho đàn bà, trẻ nhỏ

Phân công vai trò trong vi ệc ra quyết định các công việc quan trọng trong gia đình

Hình thức phân công truyền thống thường đề cập đến vai trò giới đặc thù của người đàn ông như

là người sản xuất ra của cải vật chất, là trụ cột gia đình, là người ra các quyết định liên quan các công việc quan trọng Nhưng trong điều kiện sống của các gia đình hiện nay, người vợ - người phụ nữ đã

thực sự trở thành người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đời sống kinh tế Chính từ

thực tế này mà vị thế kinh tế của người phụ nữ trong các gia đình ngày càng được nâng cao, điều này được thể hiện rõ trong quyền ra quyết định đối với các công việc kinh doanh, sản xuất và các việc khác liên quan đến những khoản chi tiêu có ảnh hưởng đáng kể đến đời sống kinh tế của các gia đình

Trong đề tài này, với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ đến nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi, người nghiên cứu không đề cập đến quyền ra quyết định các công việc quan trọng trong gia đình khi đàm thoại với trẻ vì cho rằng vấn đề này không phù hợp với

nhận thức của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

1.3.3 S ự phân công vai trò giới của cha mẹ trong gia đình như một yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nh ận dạng giới tính ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Chúng ta biết rằng, bé trai và bé gái không tự trưởng thành với các phẩm chất của đàn ông hay

của phụ nữ Các phẩm chất giới tính không phải “vốn có” hoặc tự nhiên sinh ra Chúng có được nhờ

quá trình giáo dục có định hướng và phải được bắt đầu từ khi trẻ còn rất nhỏ, ngay từ lứa tuổi mẫu giáo

Đối với mỗi người, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên, trong đó cha mẹ là những người

có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nhân cách của con cái Nói cách khác, 1xã h ội hóa1 5gi ới tính luôn là m ột trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình Cha mẹ cho con cái chất liệu di

Trang 35

truyền định hình cấu trúc giới tính nhưng không dừng lại ở đó 5Gia đình5 1là nơi đầu tiên truyền cho

những thành viên mới sinh ra của xã hội những ý niệm về1 5giống phái1,1 5giới tính1 1Như là một người đàn ông và như là một người phụ nữ, cha và mẹ – trong toàn thể lối sống của mình – trở thành khuôn mẫu giới tính cho con trẻ định hình nhân cách trong cả quá trình dài xây dựng nhận dạng giới tính của chúng Trong sự kết hợp hòa điệu giữa cha và mẹ, gia đình trở thành một sân khấu nhỏ, trong đó mỗi người học sống vai trò giới của mình 1Trong lĩnh vực này, phần lớn những gì chúng ta xem là bẩm sinh

ở bản thân thực ra đều là sản phẩm của1 5văn hóa1, kết hợp vào nhân cách của chúng ta thông qua việc xã

hội hóa

1 Chính tại1 5gia đình1, trong hầu hết các nền văn hóa, trẻ nhỏ được dạy rằng, con gái cần phải dịu dàng, con trai cần phải mạnh mẽ, dũng cảm Và c1ách cư xử giữa bố và mẹ là bài học sớm nhất đối với

trẻ về cách ứng xử giới tính giữa một người nam và một người nữ Trẻ sẽ tiếp thu dần dần những kiến

thức giới tính từ chính gia đình mình Từ đó, dần theo năm tháng, ở trẻ hình thành những hành vi, thái

độ mang tính chất giới nam hay nữ được mọi người và xã hội chấp nhận [21, 22, 25]

Nghiên cứu của Walter Mischel (1970) cho rằng, người lớn – mà trước hết là cha mẹ – trực tiếp

định hình hành vi của trẻ hướng đến vai trò đi kèm với giới tính Con trai được thưởng vì có hành vi kiểu con trai và bị phạt khi có hành vi kiểu con gái [29, 25] Về mặt truyền thống, người cha chỉ cho con trai cách xây dựng và sửa chữa đồ đạc, trong khi các bà mẹ dạy con gái dọn nhà, thổi cơm, khâu vá Điều này đi suốt thời thơ ấu và niên thiếu của trẻ nhỏ Theo cách này, trẻ em nhận được sự tán đồng của cha mẹ bằng cách tuân theo những kỳ vọng về giới và chấp nhận những vai trò giới như tập quán và văn hóa Tất cả những điều này tiếp tục được củng cố bởi các tác nhân xã hội khác như thầy

cô, bạn bè và các phương tiện truyền thông đại chúng

Trong chức năng đồng nhất hóa (Identitative), cha mẹ với tư cách là người đại diện cho giới

nam và giới nữ, qua các công việc hàng ngày trong vai trò giới của mình mang lại cho những đứa con –

cả hai giới – hình ảnh đầu tiên của người đàn ông và người phụ nữ Con gái có nhu cầu được cha yêu thương để đồng nhất mình với người phụ nữ, còn con trai có nhu cầu về hình ảnh nam nhi của người cha để đồng nhất mình với một người đàn ông [6, 21]

Điều thú vị qua các nghiên cứu ở chỗ, việc giới tính hóa của bé gái không liên quan gì đến nữ tính của người mẹ Không phải người mẹ có nữ tính cao thì con gái cũng có nó Chính ở đây, người bố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con gái nhận dạng và phát triển giới tính thông qua việc thừa

nhận người mẹ như một khuôn mẫu giới tính cần học tập và bắt buộc con gái tham gia vào các hoạt

Trang 36

động nữ tính đó Đặc điểm nam tính của người cha cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc giới tính

hóa ở bé gái (Hetherington, 1967) [4, 8]

Theo Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura (1977, 1986) và Walter Mischel (1970), trẻ em

tập quen vai trò giới tính giống hệt như cách tập quen các hành vi xã hội khác, bằng củng cố và tập quen quan sát Cha mẹ và những người khác định hình vai trò giới tính thích hợp ở trẻ em và trẻ em tập quen những gì mà nền văn hóa của mình cho đó là thích hợp đối với nam và nữ bằng cách quan sát người lớn và các bạn đồng tuổi hành động ra sao [6, tr.228]

Walter Mischel cho rằng, vai trò giới nam/giới nữ hình thành và phát triển ở mỗi cá nhân là do cá nhân đó học tập, tức là lĩnh hội và làm theo những hành vi của cha mẹ, anh chị em hay những người trong/ngoài gia đình Quá trình học tập có thể diễn ra một cách vô thức, tự phát khi đứa trẻ tự động bắt chước hành vi của người cùng giới [27, 29]

Trẻ dễ bắt chước những người có ảnh hưởng lớn đối với trẻ, những ai đáp ứng được nhu cầu yêu thương mà trẻ cần đến, những ai gần gũi và yêu thương trẻ Những người quan trọng đầu tiên đối với trẻ, đó chính là cha mẹ Những người quan trọng đầu tiên đó, dần dần trở thành hình mẫu của trẻ, là niềm tin mãnh liệt đối với trẻ

Lúc đầu trẻ bắt chước một cách tự nhiên Sau đó, trẻ sẽ cảm nhận trong tình huống nào thì người

ta làm những hành vi đó, và cách thực hiện như thế nào Trẻ nối kết được hành vi và tình huống Từ sau 2 tuổi, trẻ bắt chước có chọn lọc và mất dần kiểu bắt chước máy móc Lớn hơn một chút, trẻ sẽ nối kết được hành vi với tình huống và hậu quả của hành vi đó ra sao – trẻ sẽ được gì và bị gì khi thực hiện hay không thực hiện hành vi đó Khi đi học, trẻ được cung cấp thông tin: khi nào thì sử dụng hành vi nào; trẻ học cách chọn lọc hành vi dựa trên thái độ, nền tảng, niềm tin mà trẻ có được trong gia đình [4, 8]

Câu hỏi được đặt ra là: Những khuôn mẫu về vai trò giới mà trẻ có được từ trong gia đình có đủ mạnh để ảnh hưởng đến trẻ trong sự chọn lựa của mình không?

Nếu khuôn mẫu giới trong gia đình không đủ mạnh, cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn với nhau, trẻ sẽ không biết theo ai, không biết chọn bên nào Nếu cha mẹ tạo ra hình mẫu không đủ vững cho con cái, trẻ sẽ tìm hình mẫu ở người khác, ở môi trường xung quanh mà trẻ đang sống

Trong gia đình, mỗi người cha, người mẹ đều mang những định hướng giá trị của giới mình và

là khuôn mẫu để trẻ noi theo Các bé trai hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của đàn ông (của cha,

Trang 37

của anh), còn các bé gái – bắt chước những hành vi của phụ nữ (của mẹ, của chị)

Trong cuộc sống gia đình, nếu thiếu người cha vì một lí do nào đó, hoặc người cha thiếu trách nhiệm trong việc giáo dục con cái đều dẫn đến sự lệch lạc của con cái sau này trong các mối quan hệ

với những người khác giới Nghiên cứu của Hetherington (1989) đã nhấn mạnh vai trò thiết yếu của

người cha trong việc giới tính hóa con cái Việc vắng mặt một hình mẫu nam giới hoặc thiếu cơ hội tiếp xúc với cha có thể gây khó khăn cho quá trình giới tính hóa của con, đặc biệt là đối với trẻ dưới 5 tuổi [8, tr.33]

Như vậy, một gia đình có sự yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa cha và mẹ sẽ là tấm gương, là nhân tố giáo dục đắc lực tác động đến trẻ, giúp trẻ phát triển những đặc điểm giới tính phù

hợp Qua khuôn mẫu giới của cha và mẹ mà con trẻ tiếp nhận mô hình văn hóa giới tính để hình thành nên nhân cách, giới tính của mình

Theo quan điểm của tâm lí học hoạt động, chính đứa trẻ mẫu giáo cũng là chủ thể tích cực trong quá trình phát triển nhân cách của mình Đ.B.Enconhin cho rằng, xu hướng muốn trở thành người lớn

được thể hiện rất rõ trong cuộc sống của tất cả trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Nhưng nhu cầu này không thể

thực hiện được trong hoàn cảnh hiện tại vì có sự khác biệt giữa mức độ phát triển thực (trẻ em) và hình

thức lí tưởng mà trẻ muốn trở thành (người lớn) Vì vậy, trò chơi đóng vai là hoạt động duy nhất cho

phép trẻ va chạm với các khía cạnh của cuộc sống người lớn mà trẻ chưa có khả năng bước vào Đối

tượng của trò chơi đóng vai chính là người lớn – người mang các vai trò, chức năng xã hội nhất định

trong các hoạt động thực tiễn của mình, người tham gia vào các mối quan hệ xã hội với người khác và tuân theo các luật lệ nhất định trong xã hội

Chính vì vậy, trẻ mẫu giáo quan sát người lớn, “lĩnh hội” người lớn và lấy người lớn làm khuôn

mẫu để “chơi mà học” Trẻ học người lớn để “làm người lớn”, để “trở thành” chồng, thành vợ, thành bác sĩ, giáo viên trong trò chơi đóng vai của mình Đây chính là cơ chế lĩnh hội quan hệ giữa người

với người trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo Khuôn mẫu giới của đàn ông và phụ nữ trước hết

trẻ học được trong gia đình - từ cha mẹ Nếu nội dung cơ bản trong trò chơi đóng vai của trẻ từ 3-4 tuổi đơn thuần là mô phỏng lại các hoạt động của người lớn, thì đến 5-6 tuổi trẻ đã quan tâm nhiều đến các

mối quan hệ qua lại giữa người với người trong xã hội Sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ trong gia đình cũng vì vậy mà được phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc trong nhận thức và hành vi giới tính của trẻ

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua kết quả tổng thuật và phân tích cơ sở lí luận của đề tài, người nghiên cứu nhận thấy:

Th ứ nhất, việc nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam là một lĩnh vực khoa

học còn khá trẻ Trong tâm lí học, vấn đề nhận dạng giới tính ở trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều

Th ứ hai, trong tiến trình phát triển cá thể, từ 3 tuổi ở trẻ xuất hiện sự tự ý thức về bản thân như

một chủ thể độc lập Việc khám phá ra “cái Tôi” gắn liền với sự tự nhận thức về giới tính của bản thân

là dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách Các thành tố quan trọng của nhận dạng giới tính là việc nhận biết giới và vai trò giới

Th ứ ba, trong lứa tuổi mẫu giáo, sự nhận dạng giới tính phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ 5 tuổi

trở đi Theo các nghiên cứu lí luận, kết quả của sự tự nhận thức về giới tính của lứa tuổi mẫu giáo lớn này là sự hình thành ở trẻ:

a) Các tiêu chí về đặc tính giới (“nam tính” và “nữ tính”) Trên cơ sở này, trẻ bắt đầu biết đánh

giá bản thân như đại diện của một giới;

b) Hệ thống những biểu tượng về bản thân như đại diện của một giới (ngoại hình, các phẩm

chất nhân cách và hành vi giới tính);

c) Hệ thống các chuẩn mực, qui tắc thuộc vai trò giới mà trẻ phải thực hiện để được công nhận

là con trai hoặc con gái

Th ứ tư, gia đình là môi trường xã hội hóa giới tính đầu tiên của trẻ Trẻ rất cần một gia đình

toàn vẹn có đầy đủ khuôn mẫu giới của đàn ông và phụ nữ để định hướng và phát triển tự nhận thức

giới tính

Trong gia đình, sự phân công vai trò giới giữa cha và mẹ rất đa dạng và nó có ảnh hưởng quan

trọng đến quá trình hình thành nhận dạng giới tính ở trẻ

Trang 39

C HƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN NHẬN DẠNG GIỚI TÍNH Ở TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

2.1 Tổ chức nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn của đề tài, dựa trên kết quả tổng hợp và phân tích lí

luận, người nghiên cứu xây dựng các bảng hỏi cho trẻ 5-6 tuổi và phiếu khảo sát cho phụ huynh của

trẻ

2.1.1 M ục đích nghiên cứu

- Khảo sát ở trẻ 5-6 tuổi nhận dạng giới tính và nhận dạng vai trò giới trong gia đình, phân tích sự

hiểu biết của trẻ về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình

- Khảo sát cha mẹ trẻ về việc phân công vai trò giới trong gia đình, phân tích ảnh hưởng của nó đến

nhận dạng giới tính ở trẻ 5-6 tuổi

2.1.2 Địa bàn và khách thể nghiên cứu

Khảo sát được tiến hành ở 4 trường Mầm non tại TP.HCM:

− Trường Mầm non Thực hành của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM;

− Trường Mầm non Măng non 3, P.2, Q.10, TP.HCM;

− Trường Mầm non Ước mơ, P.Tân phong, Q.7, TP.HCM;

− Trường Mầm non dân lập Hoa Hồng Đỏ, P Phước Long B, Q.9, TP.HCM

Người nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 60 trẻ 5-6 tuổi, cân đối số lượng bé trai và bé gái Đồng thời, người nghiên cứu phát phiếu điều tra cho cha mẹ của 60 trẻ

2.1.3 N ội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1.3.1 Kh ảo sát sự nhận dạng giới tính của trẻ 5-6 tuổi bằng phương pháp đàm thoại (xem

Ph ụ lục: Khảo sát trẻ - 1)

Bảng hỏi giúp người nghiên cứu tìm hiểu ở trẻ các vấn đề sau:

- Sự xác định giới tính của bản thân (trẻ có biết mình là con trai/con gái?);

- Mức độ hiểu tính ổn định của giới tính (trẻ có biết: con trai lớn lên được gọi là

Chú/Ch ồng/Bố; con gái được gọi là Cô/Vợ/Mẹ?);

- Ý thích về giới tính của bản thân (trẻ mong muốn trở thành người thuộc giới nào?);

- Sự xác định tính bất biến của giới tính (trẻ có biết: giới tính là không thay đổi?);

Ngoài ra, để kiểm chứng mức độ nhận dạng giới tính của trẻ trong mẫu khảo sát, người nghiên

Trang 40

cứu tiến hành phỏng vấn sâu đối với trẻ về:

- Các dấu hiệu được trẻ đưa ra để giải thích cho việc xác định bản thân là con trai/con gái

(t ại sao trẻ biết mình là con trai/con gái?);

- Mức độ hiểu tính bất biến của giới tính (trẻ có biết: giới tính không thay đổi khi thay đổi

b ề ngoài như kiểu tóc, trang phục ?);

- Những điểm khác biệt giữa con trai/con gái

Nội dung đàm thoại với từng trẻ được ghi lại trong Bảng tổng hợp khảo sát nhận dạng giới tính

của trẻ 5-6 tuổi (Xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 2)

2.1.3.2 Kh ảo sát sự hiểu biết của trẻ 5-6 tuổi về vai trò, chức năng của nam giới và nữ giới trong gia đình bằng phương pháp đàm thoại (xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 3: 3a) Hình vẽ; 3b) Bảng

hỏi – Khảo sát nhận dạng vai trò giới trong gia đình ở trẻ 5-6 tuổi)

Để thực hiện nội dung nghiên cứu này người nghiên cứu sử dụng 18 hình vẽ diễn tả người đang

thực hiện các công việc khác nhau như: công việc trong sinh hoạt (nấu ăn, giặt quần áo, sửa vòi nước,

đóng bàn ghế ); hoạt động với con cái (cho con ăn, chơi với con, dạy con học )

Nhằm giúp trẻ không bị chi phối khi trả lời các câu hỏi về vai trò giữa nam giới và nữ giới, người nghiên cứu sử dụng hình vẽ người trung tính, không thể hiện đặc điểm giới tính cụ thể

Khảo sát được thực hiện với từng trẻ Người nghiên cứu lần lượt cho trẻ xem hình vẽ và đặt câu

hỏi để làm sáng tỏ các vấn đề cụ thể xoay quanh nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tên công việc (Người này đang làm gì?)

- Vai trò giới đối với từng công việc (Theo cháu, ai thường hay làm việc này? Lựa chọn:

Đàn ông/Phụ nữ/Cả hai)

- Sự phân công vai trò giới trong gia đình trẻ (Trong gia đình cháu, ai thường làm việc

này? Lựa chọn: Ba/Mẹ/Cả hai)

- Sự lựa chọn vai trò giới của trẻ trong tương lai đối với từng công việc (Khi nào lớn lên,

cháu có làm việc này không? Lựa chọn: Có/Không/Không biết)

- Lí do trẻ lựa chọn vai trò giới trong tương lai đối với từng công việc (Tại sao cháu sẽ

làm/không làm vi ệc này?

Kết quả đàm thoại với trẻ được ghi lại trong Bảng tổng hợp khảo sát nhận dạng vai trò giới của

trẻ 5-6 tuổi (Xem Phụ lục: Khảo sát trẻ - 4)

Ngày đăng: 17/01/2020, 19:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w