1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học lịch sử: Quan hệ Hoa Kì – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1972 – 1991)

162 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Khoa học lịch sử: Quan hệ Hoa Kì – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1972 – 1991) bao gồm những nội dung về quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa trước năm 1972; quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa từ 1972 đến khi CNXH ở Liên Xô tan rã; nhận xét về quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa (1972 – 1991.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THẾ HỒNG

QUAN HỆ HOA KÌ – CỘNG HÒA

NHÂN DÂN TRUNG HOA (1972 – 1991)

CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI

MÃ SỐ : 60 22 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGÔ MINH OANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và nghiêm túc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Hồng

Trang 3

Xin chân thành cảm ơn

TPHCM, tháng 8 năm 2011

Học viên

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ sau chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kì (gọi tắt là Mĩ) là nước phát triển nhất thế giới, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (CHNDTH – gọi tắt là Trung Quốc) là nước đang phát triển nhất thế giới, quan hệ Hoa Kì – CHNDTH (gọi tắt là quan hệ Mĩ – Trung) trở thành cặp quan hệ quan trọng nhất có ảnh hưởng rộng nhất không chỉ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà cả trong toàn bộ hệ thống quan

hệ quốc tế Thật vậy, nếu chúng ta ví mối quan hệ này như một bản nhạc hòa tấu thì những cung bậc thăng trầm của bản nhạc đều tác động nhất định đến cảm xúc người nghe Nhiều nhà phân tích đã khái

quát mối quan hệ Mĩ – Trung bằng hai từ: Thăng trầm và đa diện Nhìn lại lịch sử trong quan hệ giữa

hai nước thì nhận định này là có cơ sở

Cuộc chiến tranh lạnh đã ra đời thay thế ngay sau khi một cuộc chiến tranh nóng trước đó vừa kết thúc Cuộc chiến thể hiện sự đối đầu của hai hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa (TBCN) và Xã hội chủ nghĩa (XHCN), nó đã chi phối cục diện quan hệ quốc tới đến tận năm 1991 Và quan hệ Mĩ – Trung cũng chịu sự tác động của cuộc chiến này Ngày 01.10.1949 nước CHNDTH ra đời, góp phần gia tăng lực lượng của Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong cuộc đối đầu với Chủ nghĩa tư bản (CNTB) Có thể thấy, qua sự kiện này đã tác động một cách mạnh mẽ vào lòng tự hào của chính quyền Washington với

sứ mệnh lãnh đạo “thế giới tự do”, ngăn chặn, chống lại sự “đe dọa của chủ nghĩa cộng sản” Trong

cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng cộng sản với Quốc Dân Đảng, Mĩ đã nổi lên với vai trò là nhân tố quan trọng, trong quá trình chống chủ nghĩa phát xít Nhật ở Châu Á, Mĩ đã có những chính sách giúp đỡ Trung Quốc giải phóng đất nước, nhưng khi Nhật đầu hàng, thái độ của Mĩ cũng dần thay đổi, Mĩ tiếp tục là lực lượng hậu thuẩn cho Quốc Dân Đảng trong cuộc tranh giành quyền lãnh đạo toàn Trung Quốc với Đảng cộng sản, ngay cả khi Cách mạng vô sản nước này thành công Sau khi

CHNDTH ra đời, nước này cũng xem Mĩ là một đế quốc cần phải đối phó, chính sách “nhất biên đảo”

là chiến lược ngoại giao mà nước này áp dụng, ngả hẳn về phía Liên Xô trong cùng một hệ thống XHCN, đối lập với hệ thống TBCN do Mĩ đứng đầu Cuộc chiến tranh ở Triều Tiên 1950 – 1953 là một biểu hiện cho những căng thẳng đi đến xung đột trong quan hệ giữa Mĩ với Trung Quốc trước

1970 Mĩ đã đặt Triều Tiên vào tuyến phòng thủ của mình ở Viễn Đông, áp đặt lệnh cấm vận đối với Trung Quốc, hơn nữa Mĩ lại đặt Đài Loan trong chiếc ô bảo hộ của nước này, điều này chẳng khác nào

“dầu đổ thêm vào lửa” trong quan hệ giữa hai nước vốn đã căng thẳng, vì Trung Quốc xem hòn đảo này là một bộ phận của quốc gia Trung Quốc lên án Mĩ can thiệp vào công việc nội bộ của họ, nước

Trang 8

này bắt đầu những hành động quân sự để thu hồi Đài Loan dưới quyền quản lí của Đại lục, điển hình từ đầu năm 1954, Mĩ và Chính quyền Tưởng Giới Thạch xúc tiến các cuộc đàm phán để đi đến việc kí kết

“Hiệp ước phòng thủ chung” Để cảnh cáo âm mưu của Mĩ và Đài Loan, và tỏ rõ lập trường kiên quyết giải phóng Đài Loan, Đại lục quyết định “đánh đòn trừng phạt” bằng cách bắn phá một số hòn đảo do Chính quyền Đài Loan kiểm soát (ngày 3 tháng 9 năm 1954) Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần

thứ nhất bắt đầu Trước động thái đó, Mĩ đã có phản ứng “Bộ đội cộng sản chiếm lĩnh Đài Loan, sẽ uy

hiếp trực tiếp đến an ninh của khu vực Thái Bình Dương và quân đội Mĩ có trách nhiệm thi hành chức

vụ hợp pháp và cần thiết ở khu vực này” [56;44]

Trong giai đoạn trước khi đi đến bình thường hóa Mĩ, Trung Quốc cũng có duy trì đàm phán ở cấp đại sứ nhưng kết quả không được như mong đợi giữa các bên, giới phân tích đã đưa ra nhận xét đầy

ẩn dụ, đó chỉ là “cuộc đối thoại giữa những người điếc”

Đến những năm cuối thập niên 60, quan hệ quốc tế tiếp tục có những chuyển biến, tất cả đã tác động đến sự chuyển biến trong quan hệ Mĩ – Trung Điều này được thể hiện, khối XHCN với những bất đồng lan rộng, nó được biểu hiện bằng các cuộc chiến tranh biên giới Xô –Trung, học thuyết ba thế giới của Mao Trạch Đông, cuộc chiến tranh ở Việt Nam với nhiều quan điểm khác nhau giữa các nước lớn……đã làm cho Trung Quốc có cái nhìn, thái độ khác về người “anh cả” XHCN Liên Xô Mĩ đang

sa lầy ở cuộc chiến tranh Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao trở thành nguy cơ đe dọa trực tiếp đến chủ nghĩa đế quốc, thêm vào đó đồng minh của Mĩ như Tây Âu, Nhật đang vươn lên mạnh mẽ với mong muốn chia sẽ vai trò lãnh đạo thế giới với nước này

Diễn biến của tình hình quốc tế giai đoạn cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 đã đưa Mĩ, Trung

Quốc xích lại gần nhau Khi Nixon lên nhậm chức tổng thống 1969, ông đã “khám phá” việc bình

thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ có lợi trong đối trọng với Liên Xô và cả những khó khăn trong quan hệ quốc tế mà nước này đang gặp phải Di chuyển theo hướng này các cuộc tiếp xúc giữa Mĩ và Trung Quốc đã được xúc tiến: ngoại giao bóng bàn, chuyến thăm Trung Quốc bí mật của Henry.A Kissinger năm 1971 đã mở đường cho chuyến thăm lịch sử năm 1972 của tổng thống Nixon đến Trung

quốc với kết quả “tuần lễ làm thay đổi thế giới”

Thật vậy, cú bắt tay hòa hoãn Mĩ – Trung đã tác động, ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ quốc tế bấy giờ Liên Xô không duy trì được mối quan hệ theo tinh thần Hệp ước tương trợ lẫn nhau Xô –Trung như đã kí năm 1950 với Trung Quốc; cuộc kháng chiến thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam trở nên khó khăn hơn dưới sức ép của các nước trước đây đã từng có mối quan hệ, viện trợ, giúp

đỡ Việt Nam; Nhật Bản với “cú sốc Nixon”; chính quyền Đài Loan bị cô lập sau Thông cáo chung Thượng Hải giữa Washington và Bắc Kinh

Trang 9

Mối quan hệ Mĩ –Trung tiếp tục phát triển trong những năm 80 sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1979 Nhưng trong tiến trình đó, mối quan hệ này cũng bị cản trở bởi nhiều yếu

tố như sự kiện Thiên An Môn 1989 ở Trung Quốc, Mĩ lên án nước này vi phạm nhân quyền, dân chủ

đã ra sức vận động cộng đồng quốc tế “trừng phạt” Quan hệ Mĩ –Trung trở lại lạnh nhạt

Nhìn lại quan hệ Mĩ – Trung, đúng như nhiều nhà nghiên cứu nhận định: thăng trầm và đa diện Với mong muốn tái hiện lại bức tranh quan hệ Mĩ – Trung trong cuộc chiến tranh lạnh, đặc biệt là giai đoạn 1972 – 1991, một giai đoạn quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước: chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác Đâu là những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại giữa Mĩ và Trung Quốc; quá trình thực hiện chính sách đối ngoại giữa hai nước dành cho nhau diễn ra như thế nào và nó

có tác động gì đến bản thân hai nước cũng như những nhân tố góp phần chi phối mối quan hệ này Đây

là một vấn đề khó, bởi lịch sử ngoại giao luôn bao hàm nhiều yếu tố phức diện, song với niềm đam mê

nghiên cứu, học hỏi tôi mạnh dạn chọn vấn đề “ Quan hệ Mĩ – Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1972

2 Lịch sử vấn đề

Quan hệ Mĩ – Trung giai đoạn 1972 – 1991 đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình :

“ Một thiên sử sáu đời tổng thống Mĩ – Trung” của Patric Tyler (NXB CAND, năm 2008), ấn

phẩm trình bày “ Một bức tranh đầy bất ngờ và đáng lưu tâm hiện ra từ điều tra rất lí thú về diễn biến

quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kì qua 6 đới tổng thống Mĩ Với sự qua chạm ở mức độ cao giữa hai cường quốc, đây là một giai đoạn lịch sử với nhiều diễn biến không thể đoán định”, tất yếu chính sách

đối ngoại Mĩ – Trung dành cho nhau luôn nổi bật, tâm điểm là vấn đề Đài Loan; nhân tố Liên Xô cũng được đề trong quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước với những nhận định cơ bản

Hoàng Gia Thụ (Trung Quốc) với tác phẩm “Đài Loan – Tiến trình hóa rồng” (NXB VH Thông

tin, năm 2004) tác phẩm trình bày bước phát triển đầy thăng trầm của hòn đảo Đài Loan dưới mối quan

hệ cũng đầy thăng trầm Trung – Mĩ, Đài Loan được xem là một nhân tố chủ chốt ảnh hưởng rõ nét đến quan hệ Mĩ – Trung từ khi vấn đề này nảy sinh đến hiện nay

“Ngoại giao CHNDTH 30 năm cải cách (1978 -2008)” Lê Văn Mĩ (NXB KHXN, năm 2009)

Trình bày chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ công cuộc cải cách 1978 – 2008 với những điều chỉnh để thích ứng với tình hình trong nước và thế giới nhằm chấn hưng đất nước, đưa Trung Quốc từng bước có vị trí, vai trò ngày càng quan trọng trên trường quốc tế Tác phẩm cung cấp cho độc giả

Trang 10

cái nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của quốc gia này với từng nước, từng khu vực trên thế giới

Mĩ được xem là nước lớn, có vai trò quan trọng để Trung Quốc vạch ra đường lối đối ngoại phù hợp

Thomas J.Mc Conmick “America’s Half – century United states Foreign Policy in the cold War

and after” (Nước Mĩ nữa thế kỉ, chính sách đối ngoại của Hoa kì trong và sau chiến tranh lạnh – NXB

CTQG, năm 2004), tác giả phân tích sâu sắc, có hệ thống nhiều khía cạnh trong chính sách đối ngoại

của Mĩ trong nữa thế kỉ qua… “kiềm chế Liên bang Xô Viết……kiềm chế Đức và Nhật Bản, hai đối thủ thời chiến của Mĩ và Anh – một đồng minh trong chiến tranh của Mĩ – cũng như thế giới thứ ba và bản thân các công dân Mĩ” Đó là tư tưởng trong chính sách bá quyền của Mĩ mà tác giả muốn gửi đến độc giải khi nghiên cứu về chính sách đối ngoại của cường quốc này trong và sau chiến tranh lạnh Trung Quốc cũng nằm trong chính sách đối ngoại chung của Mĩ

Lê Vinh Danh “Chính sách công của Hoa kì giai đoạn 1935 – 2001” (NXB Thống kê, năm

2001) tác giả cho chúng ta cái nhìn toàn diện về các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Mĩ từ

1935 đến 2001: giáo dục, an sinh xã hội, ngân sách kinh tế, quốc phòng….và quan trọng cung cấp một cách có hệ thống chính sách đối ngoại của Mĩ từ trước 1935 đến đầu thế kỉ 21 Chính sách đối ngoại với Trung Quốc cũng được đề cập ở một mảng trong toàn bộ tác phẩm nhưng chỉ mang tính khái quát

Phi Bằng với “Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mĩ –Trung Quốc”, (NXB Trẻ, năm

2001) trình bày, phân tích mối quan hệ Trung – Mĩ trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ XX Nhưng tác phẩm vẫn cho chúng ta cái nhìn về mối quan hệ lịch sử giữa hai nước và vấn đề Đài Loan trở thành điểm nhấn, “con át chủ bài” trong lịch sử quan hệ hai nước đến hiện nay

“Bảy cuộc đàm phán siêu cấp” của tác giả người Trung Quốc Mô Kiệt (NXB VHTT, năm

2006), ấn phẩm tường thuật về cuộc tiếp xúc ngoại giao bóng bàn giữa Mĩ và Trung Quốc năm 1971 đến chuyến thăm của Nixon 1972, sau đó là các cuộc tiếp xúc để đi đến bình thường hóa quan hệ năm

1979

Lý Kiện (Trung Quốc) với tác phẩm “ Xô Trung Mĩ cuộc đối đầu lịch sử” (NXB Thanh niên,

năm 2008), tác giả cho người đọc một cái nhìn tổng thể mối quan hệ chiến lược Trung – Xô – Mĩ Hàng loạt sự kiện được dẫn chứng để làm sáng toả sự chuyển biến trong mối quan hệ tay ba cùng những vấn đề có liên quan Nhưng nhận định cho mối quan hệ này còn bỏ ngõ

“ Nixon và vụ Watergate” của George Sandra (NXB Lao động, năm 2003) “phát hoạ chân dung

một con người của một thời đại lịch sử đã qua còn hằn những dấu ấn khó phai mờ, từ thưở thiếu thời đến khi “thành đạt” tời đỉnh cao quyền lực với biết bao sự kiện trong hoạt động đối ngoại cùng nghững thăng trầm….” Đó chính là Nixon, nhân vật có vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt

Nam cũng như tiến trình bình thường hoá quan hệ giữa Mĩ với Trung Quốc

Trang 11

Lê Phụng Hoàng “Lịch sử quan hệ quốc tế ở Châu Âu trong chiến tranh lạnh” (1949 – 1991)

(ĐHSP TPHCM, năm 2005) cung cấp cho người đọc bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ quốc tế ở Châu Âu trong chiến tranh lạnh Mối quan hệ Xô – Mĩ cũng được đế cập Đây là mối quan hệ xuyên suốt trong thời kì chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của nhiều nước hầu như dựa trên nền tảng mối quan hệ này

Với “ Lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh

lạnh 1945 – 1991” của Lê Phụng Hoàng (ĐHSP TPHCM, năm 2005) cho người đọc thấy Đông Á cũng

như nhiều khu vực trên thế giới không thoát khỏi ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh lạnh do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô tạo nên Trung Quốc cũng phải nổ lực để xác lập cho mình một vị thế Mối quan

hệ giữa Trung Quốc với các nước lớn trong đó có Mĩ cũng được tác giả đề cập một cách có hệ thống từ khi CHNDTH ra đời đến khi kết thúc chiến tranh lạnh Các vấn đề như chiến tranh Triều tiên, vấn đề Đài Loan cũng được đề cập để cho thấy nó chính là những nhân tố góp phần chi phối quan hệ Mĩ – Trung Quốc trong và hậu chiến tranh lạnh

Ngoài ra còn nhiều công trình, bài viết liên quan đến vấn đề, tất cả phần nào khái quát, nhận định về mối quan hệ Mĩ – Trung từ 1949 – 1991 cùng với những yếu tố tác động đến mối quan hệ này, tuy nhiên một công trình cụ thể để nghiên cứu giai đoạn 1972 – 1991 vẫn còn bỏ ngõ (theo nhận thức của tác giả), trên cơ sở tiếp thu những công trình đi trước, hy vọng phần nào hoàn chỉnh thêm những nhận định về mối quan hệ này, giai đoạn bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đến kết thúc chiến tranh lạnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quan hệ Mĩ – Trung (Trung Quốc được hiểu trong công trình nghiên cứu này là Trung Quốc đại lục giai đoạn 1972 – 1991), một mối quan hệ đầy thăng trầm cùng với những “toan tính” của mỗi nước; những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại Mĩ – Trung; những tác động từ mối quan hệ này đến một số mối quan hệ quốc tế đương thời

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong khoảng thời gian 1972 – 1991 Đây là giai đoạn mà tình hình quốc tế có nhiều biến đổi, đặc biệt là trong quan hệ giữa các nước lớn, xu thế hòa bình, hợp tác đã kéo các nước vốn trước đây đối đầu từng bước đi đến thỏa thuận kết thúc chiến tranh lạnh Tuy nhiên chính sự thỏa thuận, hòa hoãn đó đã ảnh hưởng ít nhiều đến quan hệ quốc tế cả mặt tích cực và tiêu cực Để bảo đảm tính lôgíc của nội dung, thì mối quan hệ Mĩ – Trung trước 1972 cũng được khái quát để thấy được sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của hai nước dành cho nhau tùy theo hoàn

Trang 12

cảnh và điều kiện lịch sử Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trên lĩnh vực ngoại giao chính trị là chủ yếu

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm Mác –xít, quan điểm đối ngoại của Đảng, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tác giả có cái nhìn khách quan về mối quan hệ này, thực thế cho thấy chuyển biến trong quan hệ Mĩ – Trung giai đoạn hai thập niên cuối chiến tranh lạnh có ảnh hưởng nhất định đến Việt Nam

Về phương pháp nghiên cứu, vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc; thu thập, sưu tầm, nghiên cứu, xử lí các nguồn tài liệu trên cơ sở đó khái quát, nhìn nhận vấn đề đảm bảo các sự kiện diễn ra theo đúng lịch sử và cho thấy các sự kiện có liên quan với nhau Lí giải mối quan hệ này để hiểu đúng, sâu sắc bức tranh quan hệ Mĩ – Trung trong quá khứ và hiện tại

Khôi phục lại bức tranh quan hệ Mĩ – Trung (1972 – 1991) có thể đậm nhạt khác nhau, điều này xuất phát từ đặc điểm quan hệ hai nước Hy vọng với sự nỗ lực của tác giả vấn đề nghiên cứu sẽ được tái hiện theo những gì lịch sử đã diễn ra

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở tiếp thu kết quả của các nhà nghiên cứu trước đó Dù vậy chúng tôi vẫn cố gắng có những đóng góp nhất định trong luận văn của mình, dựng lại bức tranh tương đối toàn diện về mối quan hệ Mĩ –Trung từ 1949 – 1991 đặc biệt giai đoạn hòa hoãn 1972 -1991 Với những nhận định, đánh giá có hệ thống những nhân tố góp phần tác động đến mối quan hệ đầy thăng trầm, phức tạp này

Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành lịch sử thế giới, quan hệ quốc tế và cho những ai quan tâm tìm hiểu vấn đề này

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa trước năm 1972

Chương 2 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa từ 1972 đến khi CNXH ở Liên Xô

tan rã

Chương 3 Nhận xét về quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa (1972 – 1991)

Trang 13

Chương 1 QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA TRƯỚC NĂM 1972

1.1 Bối cảnh quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập niên 70

Khi đại chiến thế giới thứ hai sắp kết thúc, nhân loại tiến bộ hi vọng giá trị hòa bình sẽ được đề cao trên đóng tro tàn do cuộc chiến tranh gây ra Nhưng sự hi vọng và niềm tin đó nhanh chóng bị phá

vỡ, “tương lai chợt bừng sáng Bóng tối xua tan Rừng rực một không khí cuồng hoan…Người ta đang

hoan hô Người ta đang nhảy múa Họ tưởng chiến tranh đã chấm dứt Mà chiến tranh lại mới chỉ bắt đầu” [26;3] Một cuộc chiến tranh mới diễn ra ngay sau đó – Chiến tranh Lạnh, góp phần tạo nên cục

diện quan hệ quốc tế đầy biến động hơn nửa thế kỉ, trong đó Mĩ đứng đầu khối TBCN và Liên Xô đứng đầu khối XHCN đóng vai trò chủ đạo

Chiến tranh lạnh là một trong những chương lạ nhất trong lịch sử quan hệ quốc tế, cuộc chiến xoắn tất cả các quốc gia vào cùng một quỹ đạo, nhưng lại bị chi phối bởi các siêu cường

Có nhiều ý kiến về thời điểm khởi đầu cuộc chiến, chẳng hạn năm 1917 với sự ra đời của nước Nga Xô Viết do Lênin lãnh đạo đã “đe dọa” trực tiếp đến nền chính trị của CNTB, nhưng đa số các học giả thừa nhận đến giai đoạn cuối chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà quan hệ giữa Washington và Moscow xấu đi vì những bất đồng trong việc thỏa thuận một số vấn đề liên quan đến lợi ích hai nước Tại hội nghị Ianta (2/1945), đặc biệt là hội nghị Postdam (17/7 – 2/8/1945), đã diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa các nước đồng minh tham gia chống phát xít, mặc dù kết quả các cuộc tranh luận, trao đổi ý kiến đã thông qua được một số nghị quyết quan trọng, các hiệp nghị được thỏa thuận,

một số văn kiện được phê chuẩn, nhưng kết quả không thể làm hài lòng các nước tham gia có tư tưởng

nước lớn Hội nghị Postdam được nhận định, nó không phải là “điểm cuối cùng” trong cuộc chiến tranh giữa các nước lớn, mà là “điểm khởi đầu” của cuộc chiến tranh lạnh [26;124] Một trật tự thế giới mới

đã được hình thành do thỏa thuận từ các hội nghị - đó là trật tự hai cực Xô – Mĩ, tuy được cấu thành và duy trì bởi một hệ thống các yếu tố, nhưng tất cả được phân tuyến một cách triệt để

Liên Xô hay Mĩ đã làm cho mối quan hệ quốc tế trở nên căng thẳng từ 1945 đến 1991, để thế giới luôn sống trong tình trạng chiến tranh thường trực Đặc trưng của chiến tranh lạnh được tạo nên bởi sự nghi ngờ lẫn nhau, sự mất lòng tin, hiểu lầm giữa Mĩ và Liên Xô, cùng các đồng minh của họ

Mĩ cáo buộc Liên Xô tìm cách tuyên truyền, mở rộng CNCS trên phạm vi toàn cầu Trong khi đó, Liên

Xô lập luận Mĩ đang tiến hành ý đồ đế quốc và ra sức ngăn chặn nền độc lập, tự do ở các nước Mĩ muốn một thế giới của các quốc gia độc lập với nguyên tắc tự do dân chủ là nền tảng – hòa bình kiểu

Trang 14

Mĩ ( Pax America) Liên Xô thì muốn giữ những khu vực quan trọng cho lợi ích quốc gia [86] Theo

lập luận trên, do sự “hiểu lầm” giữa Mĩ và Liên Xô đã tạo nên cục diện đối đầu Đông – Tây

Với ưu thế nổi trội trên tất cả các lĩnh vực, Mĩ có điều kiện triển khai chiến lược toàn cầu của mình sau chiến tranh thế giới thứ hai Trong số các nước tư bản hùng mạnh trước chiến tranh thì Ý, Đức, Nhật Bản đã bị đánh bại; Anh, Pháp cũng không tránh khỏi sự tàn khốc do chiến tranh gây ra Năm 1946, Mĩ chiếm đến 62% sản lượng công nghiệp và 40,1% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của thế giới tư bản, trở thành nước cung cấp và chủ nợ cho các nước tư bản phụ thuộc Giữ ưu thế tuyệt đối về mặt quân sự, độc quyền về vũ khí nguyên tử, có 1,2 triệu quân đóng ở 58 nước, trên 400 căn cứ không quân và hải quân khắp thế giới, nhiều tổ chức quốc tế, quân sự có sự tham gia và chịu sự chi phối rõ nét của Mĩ [22;46] Rõ ràng, sau chiến tranh thế giới thứ hai là thời đại của Mĩ, nước này đã không bỏ lỡ

cơ hội ra sức gia tăng vị thế, vai trò trong quan hệ quốc tế

Nếu xem xét tổng thể khối TBCN, thì những năm đầu sau thế chiến thứ hai, khối này giảm sút

về địa vị quốc tế trên nhiều mặt, khi đó với vai trò là lực lượng chủ chốt trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít, vị thế và hình ảnh của Liên Xô, CNXH được nâng cao hơn bao giờ hết CNXH trở thành

hệ thống thế giới, làm chổ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc xuất hiện ngay trong lòng chiến tranh thế giới thứ hai và sau chiến tranh đã nhanh chóng phát triển thành cao trào Điều này đã thách thức nghiêm trọng ưu thế chủ nghĩa đế quốc, sự ảnh hưởng của Liên Xô và CNXH trên thế giới ngày càng tăng, do đó nó có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Washington Trong giai đoạn khoảng thời gian hai thập niên sau thế chiến thứ hai Mĩ triển khai đường lối đối ngoại với một số điểm nổi bật:1) Củng cố liên minh quân sự với các nước đồng minh phương Tây cũ; 2) Mở rộng các liên minh mới để hạn chế sự bành chướng của khối CNXH; 3) Phát triển viện trợ, tái thiết sau chiến tranh và giúp đỡ cần thiết các quốc gia sụp đổ từ cuộc chiến, các quốc gia mới giành độc lập không rơi vào ảnh hưởng của khối XHCN [6;604] Theo đó, với nhiều biện pháp được triển khai một cách cụ thể nhằm ngăn ngừa

“sự mở rộng của CNCS”, bảo vệ “thế giới tự do” Mục tiêu cơ bản chiến lược toàn cầu của Mĩ phản ánh đậm nét bản chất giai cấp và cơ sở kinh tế xã hội của nước này – nhà nước Hoa Kì là đại diện các thế lực tư bản độc quyền, các tổ chức quân sự công nghiệp, luôn tìm cách bành trướng sức mạnh, kinh

tế, chính trị, quân sự ra bên ngoài Sau chiến tranh thế giới thứ hai, CNTB độc quyền ở Mĩ phát triển ngày càng cao tạo điều kiện cho sự tập trung, tích tụ tư bản…làm công cụ để thực hiện chiến lược toàn cầu Đa phần giới lãnh đạo Nhà Trắng đều ủng hộ mục tiêu chống Liên Xô, CNXH, Lucius D.Clay – tư

lệnh Mĩ nắm quyền thời tạm chiếm tại Đức cho rằng “Liên Xô thực sự muốn xây dựng một chế độ

giống họ ở khắp các nước Đông Âu bằng cách hậu thuẫn cho Đảng cộng sản từng nơi Hoàn toàn không có việc họ sẽ chấp nhận để các nước tự quyết định hệ thống chính trị cho mình” [6;604] G

Trang 15

Kennan – nhà ngoại giao Mĩ, năm 1947 đã phát biểu “một chính sách ngăn chặn làm cho người Nga

phải đương đầu với những lực lượng đối trọng không thể thay thế Ở bất cứ thời điểm nào khi họ có dấu hiệu xâm phạm đến lợi ích của thế giới hòa bình và ổn định” [95] Ngày 12/3/1947, tổng thống Mĩ

– Truman trong bài diễn văn trước Quốc hội chính thức phát động cuộc chiến tranh Lạnh chống Liên

Xô, CNXH Mĩ đã chọn Châu Âu là chiến trường chính để chống lại sự lan rộng của CNCS, thông qua gói viện trợ 400 triệu USD về quân sự, kinh tế cho chính phủ Thổ Nhĩ Kì và Hy Lạp, sau khi Anh thông báo với các quan chức ngoại giao Mĩ là nước này không đủ sức cung cấp tài chính cho các nước

nói trên, yêu cầu Mĩ phải can thiệp vì nếu “không kiểm soát được hai quốc gia này, CNCS có khả năng

sẽ lan rộng về phía Nam Iran và tận phía Đông Ấn Độ” [80] Trong bài diễn văn Tổng thống Truman

tuyên bố: chính sách của Mĩ để hỗ trợ các dân tộc tự do, những người đang chống lại sự cố gắng chinh phục có mục đích của số ít có vũ trang hay áp lực bên ngoài Với nhận định, những khó khăn và sự phục hồi chậm chập kinh tế - xã hội ở các nước Châu Âu đã mang đến cho châu lục này một cảm giác tuyệt vọng và thất vọng Châu Âu dường như sẵn sàng ngã theo lực lượng nào giúp đỡ họ khôi phục lại

vị thế trước chiến tranh Như vậy, chiến lược ngăn chặn của Mĩ không chỉ giới hạn, hạn chế sử mở rộng của Liên Xô mà còn mở rộng đến việc ngăn chặn sự bành trướng của CNCS ở bất cứ nơi nào trên thế giới Mĩ tin tưởng sự thành công của kế hoạch “ngăn chặn” phải dựa vào việc chính phủ và nhân dân Mĩ cùng toàn thể nhân dân các quốc gia “tự do” nhận thức được: chiến tranh lạnh thực tế là một cuộc chiến tranh thực sự có quan hệ đến sự sống còn của thế giới tự do

Những động thái từ Moscow luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Washington, điển hình như

sự kiện tháng 9/1949 điện Kremlin thử thành công bom nguyên tử Sự kiện này tác động một cách

mạnh mẽ vào lòng tự hào của người Mĩ về loại vũ khí hủy diệt, bởi vì “độc quyền về bom nguyên tử

của Hoa Kì là thứ để dành và mang ra sử dụng khi có mâu thuẫn về quyền lực hậu chiến với Liên Xô”

[5;151] Ngay sau đó, kế hoạch mang tên bản ghi nhớ 68 của Hội đồng an ninh quốc gia (NSC – 68) được Quốc hội Mĩ thông qua, chính thức khởi động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô kéo dài suốt mấy thập kỉ Cuộc chạy đua này trở thành một bộ phận quan trọng của chiến tranh Lạnh, đồng thời góp phần lớn chi phối các vấn đề trong quan hệ quốc tế cũng như quan hệ song phương Mĩ – Xô từ sau thế chiến thứ hai Với kế hoạch NSC – 68, quốc hội đề nghị tăng ngân sách quốc phòng từ 13 tỉ USD lên

50 tỉ USD trong năm tài khóa đầu tiên, kế hoạch này được đánh giá là sự mở rộng học thuyết Truman

lúc đầu chỉ áp dụng cho Tây Âu, kế hoạch quán triệt nội dung “một chiến lược quân sự mới mà lý do

chủ yếu là Hoa Kì đã mất độc quyền vũ khí hạt nhân… Hoa Kì công khai lo lắng là Liên Xô có kế hoạch khuất phục Tây Âu bằng vũ lực vì thế Hợp chủng quốc Hoa Kì cần nhanh chóng thiết lập một mặt trận mới….Mặt trận ấy có nghĩa vụ làm thành một vòng cung mạnh bao vây Liên Xô từ nhiều

Trang 16

phía” [35;124] Có thể thấy, bằng những chính sách, biện pháp ngoại giao Mĩ đã góp phần thổi bùng ngọn lửa chiến tranh Lạnh phục vụ cho chiến lược toàn cầu của nước này Hầu hết các đời tổng thống đều đưa ra những học thuyết để làm nền tảng cho chính sách ngoại giao, qua đó thể hiện một phần tham vọng lãnh đạo thế giới Chủ nghĩa Aixenhao và chiến lược trả đũa ồ ạt thực hiện chính sách bên miệng hố chiến tranh, đem vũ khí nguyên tử ra hù dọa nhằm buộc đối phương lùi bước; chiến lược phản ứng linh hoạt và chính sách đối ngoại “vì hòa bình” của G.Kennedy (1961 – 1968) với tuyên bố

“chúng ta hãy làm cho mọi người biết rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, gánh vác bất cứ gánh nặng nào, đương đầu với bất cứ sự gian khổ nào để đảm bảo sự sống còn và thắng lợi của thế giới tự do” Trước năm 1970, trong các học thuyết, quan trọng nhất là học thuyết Truman với chiến lược ngăn chặn CNCS (1946 -1952) đặt nền tảng cho các học thuyết toàn cầu về sau, với học thuyết này đánh dấu bước ngoặt can dự sâu rộng của Mĩ trong quan hệ quốc tế, do ý thức về một nước Mĩ siêu việt, là trung tâm của mọi quốc gia được xây dựng trên nền tảng tự do, dân chủ, Mĩ phải có trách nhiệm ủng hộ, đẩy mạnh sự “tự do” ở khắp nơi Vì vậy, phát động một cuộc chiến tranh chống lại sự “độc đoán, thiếu tính

tự do dân chủ” là đều tất yếu, để thành công thì trước hết phải ngăn chặn nơi đã sinh ra nó, ngăn chặn

để trách sự lây lan toàn cầu “cộng sản vừa là một khối thống nhất, vừa có tính quốc tế với trung tâm

đầu não là Moscow” [57;53] Trong chính sách ngăn chặn, Truman đã vạch ra mục tiêu cụ thể, điều

cần thiết nhất vẫn là ngăn chặn CNCS

Quan điểm Liên Xô cũng là nhân tố góp phần đưa quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới hai trong tình trạng nóng, lạnh Lý giải cho nhận định này, dựa trên cơ sở sự hiện diện quân sự của Liên Xô khắp Đông Âu, hướng các quốc gia Đông Âu theo hệ tư tưởng cộng sản và điều quan trọng Liên Xô ra

sức truyền bá hệ tư tưởng này ở khắp nơi trên thế giới “Liên Xô từ chối bầu cử tự do tại Ba Lan và

Tiệp Khắc, sự can thiệp của họ ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kì và Iran, hỗ trợ cho lực lượng cộng sản ở Trung Quốc, và sự phản đối của Mĩ với các kế hoạch hậu chiến cho việc kiểm soát và thúc đẩy phát triển kinh tế- như kế hoạch Buruch, kế hoạch Marshall” [80] Quan điểm nhìn nhận, các phản ứng của Mĩ chỉ là

sự “tự vệ”, khi mà các nhà lãnh đạo Liên Xô bám vào giấc mơ của họ về việc áp đặt CNCS trên thế giới, các nước phương Tây không có cách nào, trừ đầu hàng, để mau kết thúc tình trạng đó Trong bài

phát biểu của Stalin ngày 9/02/1946, có đoạn “nhân dân Liên Xô không bao giờ quên được bài học về

cuộc chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc gây ra những năm 30, phải luôn sẵn sàng chuẩn bị, phải phát triển các ngành công nghiệp cơ sở, giảm bớt sản xuất hàng tiêu dùng Liên Xô sẵn sàng chấp nhận hy sinh trong thời kì thực hiện 3 kế hoạch năm năm” [26;126] Ngay sau đó, tham tán sứ Mĩ G.Kennan ở

Liên Xô đã gửi về Washington một bản báo cáo phân tích quan điểm của nước này đối với Mĩ qua bài phát biểu từ vị tổng bí thư: Khi nào còn tồn tại CNTB thì thế giới không thể sống trong hòa bình, Liên

Trang 17

Xô không bao giờ tin tưởng CNTB, nước này tiến hành hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm mục đích lợi ích quốc gia, ra sức liên hệ chặt chẽ với các nước để chống lại các cường quốc phương Tây Bản báo cáo nhấn mạnh, Mĩ phải dùng thực lực để ngăn cản Liên Xô, vì cho rằng, Mĩ đang đối mặt với một lực lượng chính trị (Liên Xô) theo một tư tưởng bất dịch không thể có một sự thỏa thuận lâu dài với

Mĩ Liên Xô đang ra sức làm rối loạn sự hài hòa của xã hội Mĩ, thủ tiêu lối sống truyền thống, phá hoại

uy tín quốc tế của Mĩ “Liên Xô là một nước theo chủ nghĩa cực đoan, bành trướng” [26;127]

Nước Anh – đồng minh thân cận của Mĩ trong cuộc đối đầu mang tính lịch sử với Liên Xô gần nữa thế kỉ chiến tranh lạnh Trong bài diễn văn tại Mĩ ngày 05/3/1945, thủ tướng đương nhiệm Churchill đã công khai coi Liên Xô là mối đe dọa chủ yếu đối với nền an ninh, tự do của nhân dân thế giới, kêu gọi các nước phải đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của Anh, Mĩ và phải dùng vũ lực để chấm dứt

tình trạng đe dọa này, “một bức màn sắt (Iron Curtain) đã chia Châu Âu thành hai nữa” Quy đổi trách

nhiệm cho Liên Xô còn rất nhiều quan điểm: cuộc chiến tranh lạnh là do Liên Xô, nó đã được duy trì

và kết thúc khi nước này sụp đổ Chiến tranh lạnh là do sự cố gắng từ một nhà nước áp đặt tư tưởng của mình trên phần còn lại của thế giới Đó là nhà nước không phải là Hoa Kì Đó là ý thức hệ không được dân chủ

Từ các quan điểm trên cho thấy “chiến tranh lạnh là kết quả của cuộc tranh giành và mở rộng

phạm vi thế lực giữa Liên Xô và Mĩ” [36;305], phía Mĩ và Liên Xô đều có những lập luận lên án, quy

đổi trách nhiệm cho nhau vì đã gây nên tình trạng căng thẳng trong quan hệ quốc tế nói chung và quan

hệ giữa hai nước nói riêng từ 1945 – 1991 Mĩ và Liên Xô đều là những siêu cường duy nhất sau chiến tranh thế giới thứ hai, những chính sách đối ngoại của hai nước đều có ảnh hưởng nhất định đến quan

hệ quốc tế giai đoạn này

Như vậy, sự liên minh Mĩ – Xô trong chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít chỉ là liên minh tạm

thời do tình thế bắt buộc, theo các nói của một sử gia, đó là “cuộc hôn nhân không có tuần trăng mật”

Cuộc hôn nhân đầy toan tính này sớm tan vỡ, hai bên đã công khai lên án chính sách lẫn nhau Hàng loạt các công cụ, biện pháp, thiết chế, chiến lược đã được huy động để phục vụ cho cuộc chiến, làm toàn bộ đời sống quốc tế bị bao phủ bởi không khí băng giá, đối đầu

Cuộc chiến diễn ra khắp các mặt trận từ kinh tế, chính trị đến quân sự, khắp các châu lục từ Âu sang Á, từ Mĩ sang Phi Nó đã gây ra tình trạng nóng, lạnh trong quan hệ giữa hai nước và lôi cuốn cả thế giới luôn tồn tại trạng thái chiến tranh thường trực Và đây là một đặc điểm quan trọng của chiến tranh lạnh Điều này được thể hiện:

Châu Âu là chiến trường chính để tranh giành ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xô Bằng kế hoạch Marshall, trước hết nhằm cung cấp viện trợ tái thiết Châu Âu, Mĩ muốn không chỉ phục vụ ý đồ củng

Trang 18

cố nhanh tiềm lực các đồng minh Tây Âu nhằm xây dựng mặt trận ngăn ngừa CNXH mà còn phát triển thị trường hàng hóa cho nước này Năm 1949, Mĩ đã lập ra khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vừa mang tính quân sự vừa có mục đích chính trị, dưới chiếc ô hạt nhân, NATO chính là sự

mở rộng học thuyết Monroe của Mĩ sang Châu Âu

Ở Châu Á cuộc chiến đã hoàn tất việc phân chia thế giới với sự chia cắt điển hình: Trung Quốc,

Triều Tiên, Việt Nam Đánh giá đảo Đài Loan là “hàng không mẫu hạm không thể chìm” để can thiệp

vào Trung Quốc; kí kết Hiệp ước phòng thủ an ninh với Nhật năm 1951 Khu vực Đông Nam Á, từ

1946 cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam gây chú ý đối với Mĩ “nếu Mĩ và đồng minh

để phe CNXH thắng lợi ở Việt Nam, toàn vùng Đông Nam Á sẽ mất hẳn và an ninh Mĩ bị đe dọa”

[6;609] Các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin dần trở thành đồng minh hợp tác với Mĩ trong cuộc chiến chống CNCS thông qua các viện trợ kinh tế, quân sự (khối SEATO)

Các khu vực khác Trung Đông theo quan điểm của Mĩ, nếu kiểm soát được khu vực này sẽ ngăn được bước tiến của Liên Xô xuống phía Nam Khu vực châu Phi, từ những năm 50 phong trào giải

phóng dân tộc ở đây có bước tiến mới, được gọi là “lục địa trỗi dậy”, mục đích của Mĩ ngăn chặn cái gọi là “sự xuất khẩu cách mạng” từ các nước sang đây Ở khu vực Mĩ La tinh, tiếp tục quan điểm truyền thống “Châu Mĩ là của người Châu Mĩ” Như vậy, khoảng thời gian từ giữa thập niên 40 về cơ

bản chiến lược toàn cầu của Mĩ đã triển khai trên phạm vi toàn cầu

Từ một nước XHCN đều tiên trên thế giới, sau chiến tranh thế giới thứ hai, CNXH có điều kiện

để phát triển, Liên Xô là nước đi tiên phong Các nước Đông Âu sau khi giành độc lập đều đi theo con đường Liên Xô Khu vực Châu Á, Liên Xô cũng gia tăng ảnh hưởng như Mĩ: công nhận và quan hệ hữu nghị với CHND Trung Hoa, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa….Đến đầu thập niên 60, Moscow cũng tập hợp được một liên minh vững chắc để đối đầu với khối TBCN Chạy đua vũ trang, kinh tế giữa hai cường quốc không nằm ngoài mục tiêu loại trừ đối phương, năm 1949 Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV); ngày 14/5/1955, Liên Xô và đồng minh thành lập khối quân sự Vacsava

Như vậy, cuộc đối đầu Mĩ – Xô đã được triển khai khắp các mặt trận

Tóm lại quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai nổi bật là mối quan hệ Mĩ – Xô, tạo thành hai cực với hai hệ tư tưởng đối nhau, góp phần tác động đến đường lối đối ngoại của nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới Cuộc chiến tranh lạnh được khởi xướng bởi Mĩ và Liên Xô Hai bên tham gia vào chạy đua vũ trang từ vũ khí thông thường đến vũ khí hạt nhân, tạo lập một hệ thống liên minh, liên quan đến các chiến dịch quân sự nhưng không trực tiếp đối nhau, cung cấp viện trợ đáng kể cho đồng minh, tận dụng các hoạt động gián điệp, bí mật, tham gia vào các cuộc chiến tranh tuyên truyền

để giúp duy trì các mục tiêu hơn nữa thế kỉ Nhìn lại 2 thập kỉ đầu của cuộc chiến thì tình trạng căng

Trang 19

thẳng giữa hai cực là đặc điểm nổi bật nhất, quan hệ giữa Hoa Kì với các nước đồng minh Liên Xô cũng trong tình trạng tương tự, với CHND Trung Hoa là một điển hình

1.2 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa (1949 – 1970)

Đây là thời kì căng thẳng và xung đột trong quan hệ giữa hai nước, đỉnh cao là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), có hai lí do chủ yếu:

- Mĩ xem Trung Quốc là đồng minh của Liên Xô;

- Trung Quốc xem Mĩ là đế quốc đã can thiệp vào cuộc xung đột giữa Đảng cộng sản - Quốc Dân đảng (1945 – 1949) làm cho vấn đề thống nhất Trung Quốc trở nên khó khăn

Ngay sau khi CHNDTH tuyên bố thành lập chính quyền Bắc Kinh đã triển khai đường lối ngoại giao mà trước đó trong bài phát biểu ngày 30/6/1949 của Mao Trạch Đông đã đề cập Đó là đường lối

ngoại giao “nhất biên đảo”, kiên quyết đứng về phe CNXH do Liên Xô đứng đầu chống lại phe TBCN,

bốn mươi năm kinh nghiệm của Tôn Dật Tiên và 28 năm kinh nghiệm của Đảng cộng sản Trung Quốc

đã khiến chúng ta tin rằng để giành được thắng lợi và củng cố nó, chúng ta phải ngã về một bên Theo những kinh nghiệm này, nhân dân Trung Quốc phải ngã hoặc về một phía chủ nghĩa đế quốc, hoặc về phía CNXH, không có trường hợp ngoại lệ, không có chuyện ngồi thòng chân sang hai bên, không có con đường thứ 3” và “liên minh với Liên Xô, với các nước dân chủ nhân dân, liên hiệp với giai cấp vô sản và đông đảo nhân dân các nước khác” [16;229] Có thể thấy, chính sách ngã hẳn về một bên của

Trung Quốc từ lí thuyết đến thực hành đều dựa trên những chuyển biến sâu sắc của thời đại Điều này lí giải, không phải từ đầu những người cộng sản Trung Quốc và người Mĩ chọn đối đầu nhau, đó là cả quá trình bắt đầu từ sự không tin tưởng và kết thúc là sự căng thẳng, xung đột vũ trang

Trong cuộc nội chiến Trung Quốc, Mĩ đã từng đứng ra nhận trách nhiệm trung gian hòa giải giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng, nhưng sự “nỗ lực” của nước này không mang lại kết quả như mong đợi – một chính phủ liên hiệp không được thành lập bởi các đảng phái ở Trung Quốc, cuối cùng khi chiến tranh lạnh diễn ra, nhận thấy CNCS có nguy cơ thôn tính toàn bộ Trung Quốc, Mĩ đã dần ngả sang viện trợ tích cực cho Quốc Dân Đảng

Vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ hy vọng một nước Trung Quốc mạnh, thống nhất, dân

chủ sẽ ra đời, góp phần gìn giữ nền hòa bình ở Viễn Đông, “đối với chúng ta (Mĩ) có hai mục tiêu, thứ

nhất là cùng chung tiến hành chiến tranh một cách hiệu quả Thứ hai, là nhìn nhận và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc ngang hàng với 3 đồng minh phương Tây của nó: Nga, Anh và Hoa Kì cả trong và sau thời gian chiến tranh, vừa để chuẩn bị cho công cuộc cải tổ thời hậu chiến, vừa tạo sự phồn thịnh và ổn định ở phương Đông” [16;182] Thực tế cho thấy Trung Quốc thống nhất, phồn thịnh

Trang 20

sau chiến tranh thế giới thứ hai theo quan điểm của Mĩ là Trung Quốc không cộng sản, ngay thời kì

tổng thống Rudơven đã có ý tưởng “dùng Trung Quốc Quốc Dân Đảng làm nhân tố quan trọng chế

ngự thế lực của Liên Xô, cùng nước Trung Quốc thống nhất, thân Mĩ làm nền tảng cho hoàn bình và ổn định ở Viễn Đông” [26;148] Đóng vai trò là trung gian hòa giải nhưng Mĩ có ý nghiêng về chính phủ

Tưởng Giới Thạch, mặc dù không phải lúc nào chính quyền Washington cũng mặn mà với Quốc Dân Đảng Điều này xuất phát từ chính sách ngoại giao có tính toán của Mĩ

Ngay khi cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc, ở Trung Quốc tiếp tục cuộc tranh giành quyền lực giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng Từ khoảng thời gian 1945 -1949, ít nhất hai lần hai Đảng này xung đột với quy mô lớn Liên minh thống nhất kháng Nhật ra đời 1937 nhanh chóng bị tan vỡ vào

hồi kết của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bởi vì là “kết quả mang tính gượng ép do sự bó buộc

của tình thế” [15;26] Mặt dù nhận thức được phát xít Nhật là kẻ thù chính của toàn thể nhân dân

Trung Quốc, nhưng cả hai đảng không phải dùng lực lượng chống phát xít mà ra sức bảo toàn và phát

triển lực lượng dành cho cuộc nội chiến “Tưởng Giới Thạch thường xuyên sử dụng 40 vạn quân tinh

nhuệ bao vây căn cứ Thiểm – Cam – Ninh và đã tổ chức một số đột kích vào các căn cứ hay phục kích đội hình của quân cộng sản”, năm 1937 Mao cũng đã xác định “chính sách cố định của chúng ta (ĐCSTQ) là dành 70% để phát triển lực lượng, 20% để đối phó với Quốc Dân Đảng và 10% để chống Nhật” [15;26] Rõ ràng, mầm móng nội chiến vẫn còn, dù nền độc lập dân tộc bị đe dọa, nó chỉ chờ có

cơ hội để tái phát Khi Đồng minh vào giải giáp phát xít trên đất Trung Quốc, cả hai thế lực đều tranh thủ những thuận lợi tối đa để gia tăng thế và lực Các cuộc đàm phám giữa Cộng sản và Quốc Dân từ 28/02/1945 và việc kí hiệp định Song Thập (10/10/1945) đó là các biện pháp để tranh thủ thời gian củng cố, bổ sung lực lượng Các cuộc đàm phán được tiến hành được tiến hành do sự tác động từ nhiều nhân tố, thứ nhất dư luận trong nước; thứ hai áp lực từ bên ngoài, trong đó Mĩ đóng vai trò quan trọng Trên bình diện quan hệ quốc tế, vấn đề Trung Quốc cũng được đưa ra bàn luận, trong hội nghị ngoại trưởng giữa Liên Xô, Anh, Mĩ tháng 12/1945 đã đi đến những thỏa thuận có tính nguyên tắc trong việc giải quyết vấn đề ở Trung Quốc, cả Mĩ, Liên Xô đi đến thống nhất rút lực lượng vũ trang của cả hai ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc trong một thời hạn ngắn nhất sau khi xong việc giải giáp quân đội phát xít Nhật, theo đó người Trung Quốc phải tự giải quyết công việc của mình, mọi sự can thiệp của người

nước ngoài là không phù hợp Hội nghị đi đến quyết nghị quan trọng “thống nhất và dân chủ hóa

Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của chính phủ dân tộc, thu hút một cách rộng rãi các phần tử dân chủ vào trong tất cả các cơ quan của chính phủ dân tộc và chấm dứt nội chiến” [40;220] Ngày 7/11/1945

tổng thống Hoa Kì Harry S Truman đã cử Marshall làm đại diện đặc biệt sang Trung Quốc làm trung

Trang 21

gian hòa giải nội chiến, mang theo bản tuyên bố về chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Trung Quốc gồm 4 nội dung:

- Giữa quân đội của Chính phủ Quốc dân và lực lượng vũ trang của Đảng cộng sản Trung Quốc

cũng như các phái có ý kiến bất đồng khác, cần phải ngừng ngay hành động đối địch

- Cần triệu tập một cuộc hội nghị toàn quốc bao gồm các đại biểu cảu các lực lượng chính trị chủ yếu, trù tính bàn bạc biện pháp sớm giải quyết những tranh chấp nội bộ hiện nay

- Nước Mĩ thừa nhận Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân quốc hiện nay là chính phủ hợp pháp duy nhất, Chính phủ này là cơ quan thích hợp để đạt được mục đích là đoàn kết thống nhất của Trung Quốc

- Nước Mĩ bảo đảm không bao giờ sử dụng phương thức can thiệp bằng quân sự để ảnh hưởng đến quá trình tranh chấp nội bộ của Trung Quốc

Qua đây có thể thấy dù Mĩ tán thành việc triệu tập hội nghị gồm các bên liên quan để giải quyết

xung đột đi đến một nước Trung Quốc thống nhất, nhưng thể hiện rõ ý đồ của Nhà Trắng "không đánh

mà vẫn chiếm được cả Trung Hoa", từ đó thành lập nên một chính quyền thân Mĩ tại Châu Á

Trước đó, vào tháng 10/1/1942 các bên tham gia thảo luận để đi đến một hiệp thương chính trị nhằm xây dựng đất nước theo phương châm hòa bình, dân chủ đoàn kết Tuy nhiên, không bên nào đạt được sự đồng thuận với các điều khoản được đề xuất và các hoạt động quân sự vẫn tiến hành

Mọi chuyện tiếp tục diễn ra làm tất cả đã trở nên quá muộn, bởi những chiến thắng liên tiếp từ những người cộng sản trong các trận chiến với Quốc Dân Đảng, Mãn Châu năm 1948 và sau đó là một loạt các thành phố quan trọng bị chinh phục Chính quyền Tưởng lúc này nghĩ đến giải pháp hòa giải trước đó với Đảng cộng sản trong cuộc chiến chống Nhật, với đề nghị các nước Mĩ, Liên Xô, Anh, Pháp làm trung gian hòa giải, nhưng Đảng cộng sản không còn quan tâm đến bất kì sự liên minh hay đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp nào Cuối cùng nước CHNDTH chính thức được thành lập Nhiều nghiên cứu cho rằng cuối năm 1949 nữa đầu những năm 1950, chính phủ Mĩ đang hướng tới việc công nhận ngoại giao với chính quyền của Mao, nhưng cuối cùng không thực hiện được, do một loạt các sự kiện ảnh hưởng trong đó có cuộc chiến ở Triều Tiên Ngay thời điểm này Washington xem Đài Loan là một phần thiết yếu trong chiến lược toàn cầu ở Châu Á vì thế không thể để hòn đảo này dưới sự kiểm soát của cộng sản Với quyết định này một cách công khai trong đường lối đối ngoại và cuộc chiến đang diễn ra ở bán đảo Triều Tiên, Mĩ muốn kìm chế Mao trước hết là phủ nhận vị trí của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc, làm cho người Trung Quốc có cơ sở tin rằng chính quyền Tưởng ở Đài Loan đang nhận sự bảo trợ của Mĩ chờ ngày phản công Đại lục và tin Liên Hiệp Quốc là công cụ của

Mĩ Quan hệ Mĩ – Trung bước vào cuộc xung đột vũ trang trực tiếp

Trang 22

Chiến tranh Triều Tiên là cuộc đối đầu quân sự cục bộ đầu tiên giữa phe CNXH và TBCN từ sau thế chiến thứ hai, góp phần tạo nên một sự phân tuyến rõ ràng giữa một bên là các nước theo chế

độ cộng sản và bên còn lại theo “thế giới tự do” ở khu vực Đông Bắc Á Bản chất cuộc chiến này là nội

chiến mục tiêu thống nhất hai miền Triều Tiên nhưng trong tính toán của nhiều nước cuộc chiến đã bị quốc tế hóa Cả Mĩ và Liên Xô, Trung Quốc cộng sản trở thành những lực lượng hậu thuẫn cho Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên Cuộc chiến ảnh hưởng sâu sắc đến nền chính trị Châu Á và mối quan hệ giữa người Châu Á với người ngoài châu lục này trong các vấn đề của khu vực

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đồng minh vào giải giáp phát xít, với sự phân chia Bắc Triều do Liên Xô chịu trách nhiệm, Nam Triều do Mĩ và đồng minh Vĩ tuyến 38 từ tạm thời đã trở thành biên giới chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai nước độc lập Chiến tranh giữa hai miền là giải pháp cuối cùng khi các bên không đạt được thỏa thuận bằng con đường hòa bình Ngày 25/6/1950 quân Bắc Triều bất ngờ tấn công Nam Triều, cuộc chiến bắt đầu Nguyên nhân do Miền Bắc hay Miền Nam

là một vấn đề luôn gây tranh cãi, cả hai đều đưa ra những luận cứ biện hộ cho hành động của đối phương Có thể thấy sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, Mĩ đã mất bàn đập chiến lược quan trọng ở Đông Á, vì thế khi Quốc Dân Đảng thất bại Mĩ đã chuyển vai trò đồng minh chủ chốt sang Nhật Bản, nước này muốn thiết lập bàn đạp chiến lược trên bán đảo Triều Tiên để ngăn ngừa CNCS, trước hết là từ Trung Quốc đại lục Theo các nhà phân tích, chính trên quan điểm chiến lược này mà quyền lợi của Mĩ đã gặp gỡ quyền lợi của chính quyền Nam Triều – đang có tham vọng thôn tính Bắc

Triều “đó chính là nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ và bị

quốc tế hóa ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc chưa được bao lâu” [40;238] Luận điểm

này có cơ sở khi dựa vào một loạt các cam kết của Washington dành cho chính quyền Seoul, khoảng thời gian cuối năm 1949 quân đội Nam Triều tăng lên đến 100.000 người, viện trợ của Mĩ từ 1949 đến

1950 tăng 110 triệu USD, lực lượng cố vấn quân sự là 500 người và trong khoảng thời gian từ tháng 1/1949 đến tháng 4/1950 lực lượng vũ trang Nam Triều đã tiến hành 1.274 cuộc tấn công trên bộ và

133 lần vi phạm vùng trời, vùng biển nhằm vào Bắc Hàn [40;238]

Ngay sau hành động quân sự của Bắc Triều Tiên, Hội đồng Bảo An Liên hiệp Quốc được triệu tập, Nghị quyết 82 do phần lớn các nước Phương Tây bảo trợ được thông qua Theo đó, yêu cầu chấm dứt tất cả các hoạt động thù địch và Bắc Triều Tiên phải rút quân về vĩ tuyến 38; một ủy ban đặc trách

về Triều Tiên sẽ được thành lập để giám sát tình hình và báo cáo cho Hội đồng Bảo An; yêu cầu tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc ủng hộ nghị quyết, không giúp đỡ chính phủ Bắc Triều Tiên Một lực lượng quân đội Liên Hiệp Quốc được thành lập dưới sự chỉ huy của tướng Mĩ Douglas MacArthur làm nhiệm vụ “quốc tế” đẩy lùi các cuộc tấn công quân sự từ đối phương Cuộc chiến nhanh chóng được

Trang 23

quốc tế hóa, Nam Triều Tiên dưới sự hậu thuẩn của Mĩ và liên quân Liên Hiệp Quốc, trong khi đó Bắc Triều được sự giúp đỡ về vũ khí, có vấn quân sự, quân đội tình nguyện từ Trung Quốc và Liên Xô

Khi quân Bắc Triều Tiên gặp nhiều khó khăn bởi các cuộc phản công từ đối phương, đã yêu cầu

sự viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc Mặc dù không công khai giúp đỡ nhưng Liên Xô đã yêu cầu Trung Quốc đưa quân giúp theo lời đề nghị phía Bắc Triều Tiên dưới dạng quân tình nguyện Lúc này Trung Quốc chưa nghĩ đến lời đề nghị này, dù được cảnh báo rằng: nếu Trung Quốc áp dụng chính

sách tiêu cực “chờ và xem” thì chẳng những không đạt được các nhượng bộ cần thiết với Mĩ mà sẽ

không thể thu hồi Đài Loan, mãi đến ngày 14/10/1950 những chuyển biến của cuộc chiến tranh đã đưa

Trung Quốc quyết định “viện Triều kháng Mĩ” CHND Trung Hoa chính thức tham chiến, đưa quan hệ

Hoa Kì với nước này tiếp tục dấn sâu vào tình trạng đối đầu

Việc Trung Quốc đồng ý đưa quân hỗ trợ Bắc Triều Tiên là kết quả bởi mối quan tâm an ninh của nước này Trong bức điện tín ngày 13/10/1950 giữa Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai bày tỏ sự quan ngại: nếu Trung Quốc không chủ động, Trung Quốc không thể chắc chắn các lực lượng của Mĩ không thể vượt sông để xâm nhập vào lãnh thổ nước này Ngay cả khi các lực lượng liên quân đã không tấn công vào lãnh thổ Trung Quốc nhưng việc thành lập một chính phủ Hàn Quốc thống nhất thân phương Tây như chính quyền Lý Thừa Vãn sẽ gây ra một mối đe dọa cho an ninh Trung Quốc Hơn nữa, viện trợ của Mĩ cho Tưởng theo Đạo luật viện trợ Trung Quốc; chuyến thăm của tướng Mĩ MacArthur đến Đài Loan ngay sau khi cuộc chiến bùng nổ; sự kiện quân Mĩ vượt qua vĩ tuyến 38 áp sáp biên giới Trung Quốc; những cuộc tranh luận công khai lợi ích chiến lược của Mĩ trên các hòn đảo vùng Thái Bình Dương và khả năng quân Tưởng sẽ phản công lại Đại lục – tất cả làm tạo nên những nhân tố khiến Bắc Kinh tin rằng Mĩ đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh quy mô chống CNCS giống như nhiều nơi trên thế giới Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh vẫn xác định rằng liên quân do Mĩ dẫn đầu đang cố gắng siết chặt Trung Quốc bằng cách phong tỏa bắt đầu từ Triều Tiên và kết thúc ở Việt Nam Chu Ân Lai đưa ra luận cứ can thiệp vào cuộc chiến: trong quan điểm về những bài học đau đớn từ lịch

sử và xem xét về lợi ích sống còn của họ, người dân Trung Quốc không thể không làm tình nguyện viên hỗ trợ cho Bắc Triều Tiên chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, người dân Trung Quốc không thể cho phép việc Bắc Triều Tiên có thể được sử dụng một lần nữa làm bàn đạp xâm lược chống Trung QuốcP

Trang 24

Tiên và sẽ tốt hơn nếu Trung Quốc có thể hướng liên quân Mĩ ra khỏi Bắc Triều Tiên thậm chí rút khỏi bán đảo Triều Tiên

Theo quan điểm của Mĩ, nếu liên quân thực hiện nhiệm vụ thống nhất Triều Tiên với tốc độ nhanh, Bắc Kinh sẽ không có thời gian can thiệp, người Trung Quốc sẽ không dám làm và nếu có liên

quân sẽ nhanh chóng tiêu diệt “nếu quân Trung Quốc mà tiến đến Bình Nhưỡng thì chắc chắn sẽ hứng

chịu một cuộc tàn sát” vì “đối phương trang bị vũ khí thô sơ và thậm chí không có không quân” [90]

Trước đó, khi liên quân vượt qua vĩ tuyến 38, tướng MacArthur đã nhận định Trung Quốc lẫn Liên Xô

sẽ không can thiệp vào, nhưng đây là sự nhận định chủ quan, đối với Liên Xô thì đúng

Giới quân sự Mĩ đã bị bất ngờ ngay sau khi Trung Quốc tham chiến, cuộc chiến diễn ra quyết liệt Xét ở một góc độ, bán đảo Triều Tiên được sử dụng làm chiến trường để giải quyết xung đột giữa các nước lớn Hậu quả, dân tộc Triều Tiên tiếp tục bị chia đôi Giữa lúc cuộc chiến diễn ra căng thẳng, nhất là khi liên minh Trung – Triều được hình thành, Mĩ đã tính đến khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân nhưng vấp phải sự phản đối từ nhiều phía P

2

P

Tướng Mĩ, Mac Arthur đã từng đề nghị “ném 30 đến 50

quả bom nguyên tử xuống các căn cứ không quân và trọng điểm khác ở Mãn Châu, đổ bộ lên hai địa điểm thuộc biên giới Trung -Triều một lực lượng đông 50 vạn quân Đài Loan cùng với 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ và sau khi Trung Quốc bị đánh bại, thiết lập một phóng tuyến bằng chất cobalt phóng

xạ dọc theo sông Áp Lục” [15;63]

Mĩ bị chia rẽ vì những quan điểm khác nhau về cuộc chiến tranh ở Triều Tiên “Những thanh

niên Mĩ đang chết ở Triều Tiên là bởi vì một nhóm những người không thể đụng đến Bộ ngoại giao và những cố vấn cấp cao nhuộm màu “đỏ” trong chính phủ Mĩ, còn nguy hiểm hơn nhiều so với những tay súng Đỏ (cộng sản) ở Triều Tiên” [5;255] Việc mở rộng cuộc chiến sang lãnh thổ Trung Quốc sẽ

không tránh khỏi đụng độ với Liên Xô đã tác động đến suy nghĩ tổng thống Truman và những ai nhận thức được tầm nghiêm trọng của vấn đề này Sự đối nghịch trong suy nghĩ chính quyền Washington

cho thấy “khác biệt giữa sự kiểm soát của giới dân sự và đặc quyền của phe quân sự, giữa chính sách

đẩy lùi đang được tiếp tục và chính sách ngăn chặn đang được tái khẳng định” [5;226]

Ngày 26/12 quân đội Trung Quốc vượt vĩ tuyến 38 và chiếm Seoul vào ngày 4/01/1951 Từ ngày 25/01 đến ngày 31/3/1951 liên quân Mĩ phản công đẩy mặt trận trở về vĩ tuyến 38 Kể từ đó cuộc chiến diễn ra chủ yếu xung quanh vĩ tuyến này, không có những cuộc Bắc tiến hay Nam chinh như trước kia Đây cùng là giai đoạn mà hai phía lâm vào tình trạng bế tắc, khi mục tiêu của cả hai là kiểm soát toàn bộ bán đảo đang ngày trở nên khó đạt được Vì thế một thỏa thuận ngừng bắn là yêu cầu bắt

Trang 25

buộc cho các bên tham chiến Một loạt các cuộc hội đàm kêu gọi các bên liên quan hòa giải, ngày 23/06/1951 Nga đã đề xuất một thỏa thuận ngừng bắn, theo đó sẽ giữ nguyên hiện trạng và sẽ được đàm phán tại cố đô Keasong (sau đó đổi sang địa điểm Panmunjon – Bàn Môn Điếm) Trãi qua các cuộc tiếp xúc đến ngày 27/07/1953 hiệp định Bàn Môn Điếm được kí kết, theo thỏa thuận: thiết lập giới tuyến phi quân sự trên cơ sở vĩ tuyến 38 trước đây; cấm các bên không được đưa quân đội và vũ khí từ bên ngoài vào; thành lập ủy ban giám sát đình chiến……nhưng điều quan trọng của hiệp định là chính thức hợp thức hóa chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai nhà nước với hai hệ tư tưởng đối lập nhau Góp phần đưa Châu Á – Thái Bình Dương hội nhập vào hệ thống chiến tranh lạnh Đây cũng là sự kiện tiêu biểu thể hiện mối quan hệ từ căng thẳng dẫn đến đỉnh cao là xung đột trong quan hệ Mĩ – Trung Quốc từ sau thế chiến thứ hai đến kết thúc chiến tranh lạnh Hội nghị quốc tế Giơnevơ khai mạc tháng 4/1954 nhằm giải quyết vấn đề chiến tranh Triều Tiên và Đông Dương vẫn không đi đến một tuyên bố cuối cùng thỏa mãn yêu cầu các bên Mặc dù chấp nhận hiện trạng tại Triều Tiên và không can thiệp quân sự trực tiếp tại Đông Dương 1954 nhưng không có nghĩa là Mĩ đã rút lui khỏi Châu Á Mục tiêu chính trong chính sách ngăn chặn của Washington là ngăn chặn sự mở rộng địa bàn của chủ nghĩa cộng sản thông qua các biện pháp chinh phục hoặc lật đổ, do Trung Quốc đã trở thành cội nguồn sự lan rộng mới của Chủ nghĩa cộng sản nên cần phải chặn đứng từ đây

Tác động từ cuộc chiến ngoài biên giới này đã thúc đẩy một loạt các vấn đề trong quan hệ giữa hai nước vốn ầm ĩ có cơ hội bộc phát Đó là vấn đề Đài Loan độc lập và sự không công nhận chính quyền Mao Trạch Đông là đại diện duy nhất của toàn thể người dân Trung Quốc trong các tổ chức quốc tế từ phía Mĩ

Sau chiến thắng của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1949, chính phủ quốc gia Tưởng Giới Thạch phải giới hạn phạm vị trên đảo Đài Loan Đến khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính quyền tổng thống Truman vẫn chưa có chính sách rõ ràng về Đài Loan mặc dù một số nhà chiến lược công nhận tầm quan trọng của hòn đảo này Trong tuyên bố ngày 12/01/1950 ngoại trưởng Mĩ Acheson đã

nhấn mạnh “tuyến phòng thủ của Mĩ ở Thái Bình Dương bắt đầu chạy từ Philippin qua quần đảo

Ryukyu, trong đó có căn cứ quân sự Okinawa của Mĩ và chạy suốt lên phía Bắc nước Nhật” [57;32]

Như vậy, đảo Đài Loan không nằm trong tuyến phòng thủ của Mĩ lúc này và Triều Tiên được coi là nước nằm dưới quyền bảo trợ của Liên Hiệp Quốc Mặc dù Mĩ vẫn có chính sách giúp đỡ chính quyền

Tưởng Giới Thạch, nhưng sự giúp đỡ đó “chẳng làm ai hài lòng cũng như chẳng có lợi ích gì cả” vì

“ ưu tiên của Mĩ là Châu Âu và họ rất thận trong không cam kết quá mức ở đâu cả” [57;33] Từ khi

Trung Quốc quyết không thể bỏ qua vấn đề Triều Tiên Mĩ thì cho rằng: chiến tranh Triều Tiên là một cái cớ mà Mĩ mong đợi từ lâu, Washington đã điều hạm đội 7 từ Philippin về án ngữ eo biển Đài Loan

Trang 26

phòng Đại lục tấn công hòn đảo này Đến đây, sự quan tâm của Mĩ đối với an ninh Đài Loan được tăng cường, xem hòn đảo này trở thành một biểu tượng cuộc chiến tranh giữa tự do và cộng sản: Đài Loan là một tuyến phòng thủ của Mĩ ở Thái Bình Dương hình thành một vòng cung từ quần đảo Ahusan đến Nhật Bản, Okinawa đến Philippin và nó dần trở thành một hàng không mẫu hạm không thể chìm của

Mĩ ở khu vực Viễn Đông Trong quan điểm Mĩ luôn tồn tại hai tư tưởng đối nhau, khái niệm vòng cung phòng vệ có thể bị sứt mẻ nếu Trung Quốc chiếm được đảo Đài Loan, và nếu Mĩ tìm cách “bảo vệ” Đài Loan thì đều này sẽ gây thù với Trung Quốc, do ngăn cản mục tiêu thống nhất đất nước của họ, chẳng khác đẩy Trung Quốc kết thân hơn với Liên Xô Điều này sẽ trái với chính sách của Mĩ là sẽ tách Trung Quốc ra khỏi tầm ảnh hưởng Liên Xô

Trong cuộc họp Hội đồng Bảo An ngày 20/09/1950 Mĩ yêu cầu đem vấn đề Đài Loan ra thảo luận, Trung Quốc thì phản đối mạnh mẽ việc Hạm đội 7 của Mĩ có mặt trên lãnh thổ Đài Loan xem đây

là hành động trực tiếp vào công việc nội bộ nước này, và Liên Hiệp Quốc không có quyền đem vấn đề Đài Loan ra thảo luận trong bất kì trường hợp nào khác Tuyên bố Cairo và Công bố Postdam là hai căn

cứ pháp lí mang tính quốc tế mà Trung Quốc dựa vào phản đối việc “Mĩ tự làm theo ý mình” Kết quả

một văn bản thảo luận địa vị Đài Loan đình lại không kì hạn đã được thông qua bởi đề xuất từ Anh Điều này hợp với ý đồ của Mĩ là lành “đông lạnh” địa vị Đài Loan tức vẫn duy trì địa vị chính phủ Trung Hoa Dân Quốc trong Liên Hiệp Quốc, không để Đài Loan trở thành căn cứ quân sự của Liên Xô

ở vùng Tây Thái Bình Dương Vì vậy, Mĩ luôn có những động thái làm cho Bắc Kinh tin tưởng rằng nước này luôn ủng hộ Tưởng Giới Thạch với ý đồ xâm lược Đại lục nhằm lật ngửa kết quả cuộc nội chiến trước đó Tháng 12/1954 Hiệp ước phòng thủ chung được kí kết giữa Mĩ – Tưởng, Trung Quốc lên án đây là một sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền, là hành động khiêu chó một cuộc chiến tranh

Hiệp ước phòng thủ chung Mĩ – Đài Loan là phi pháp, không có hiệu lực” [19;71] Cuộc khủng hoảng

eo biển Đài Loan lần thứ nhất bắt đầu (1954 – 1955), Mĩ quyết định trên cơ sở chính trị chiến lược hay tổng thể là sẽ không bỏ bất kì lãnh thổ nào nữa Đến năm 1958 Trung Quốc Đại lục tiếp tục các hoạt động quân sự nhằm thu hồi Đài Loan trên một số đảo nhỏ, Mĩ cung cấp các hỗ trợ cho chính quyền Tưởng, vẫn từ chối xác lập Đài Loan là một bộ phận Trung Quốc Thực tế, cuộc xung đột giữa Mao –

Tưởng không còn là một cuộc xung đột dân sự đơn thuần, mà đã phát triển thành xung đột toàn cầu

giữa thế giới cộng sản và thế giới tự do

Trước cuộc khủng hoảng eo biển lần hai bùng phát, năm 1955 tại hội nghị Budăng, phía Bắc Kinh đề nghị chính thức đàm phán với Washington để giảm bớt căng thẳng trong khu vực, hai nước cũng đã tiến hành đàm phán cấp Đại sứ tại hội nghị Giơnevơ nhưng không đạt được sự thỏa thuận cho các bên liên quan Có thể nói, Đài Loan không chỉ là một nhân tố chi phối quan hệ Mĩ – Trung mà còn

Trang 27

là yếu tố tạo nên sự căng thẳng xung đột trong mối quan hệ này trước khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và kéo dài đến hiện nay

Kết quả cuộc chiến tranh Triều Tiên, vấn đề Đài Loan dẫn đến Washington phong tỏa các khoản tài sản của Bắc Kinh tại Mĩ, thực hiện hạn chế sau đó cấm toàn bộ các hoạt động thương mại, từ chối cấp thị thực cho bất cứ người Mĩ nào muốn du lịch sang Trung Quốc Thực tế tại cuộc họp giữa tháng 5

năm 1951, Mĩ yêu cầu Liên Hợp Quốc thông qua “Nghị quyết thi hành cấm vận đối với Trung Quốc”

Cuộc chiến Triều Tiên cũng góp phần mở rộng chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản từ Châu Âu đến Châu Á, theo đó các tổ chức quân sự, hiệp ước, căn cứ quân sự được Mĩ tăng cường ở Đông Á Và

Mĩ tiếp tục bác bỏ đề nghị cộng nhận CHND Trung Hoa vào Liên Hiệp Quốc thay thế cho Trung Hoa Dân Quốc Mĩ cho rằng để công nhận chế độ cộng sản Trung Quốc và thừa nhận nước này tại Liên Hiệp Quốc cần một quá trình, điều quan trọng Trung Quốc phải nhân nhượng một số vấn đề trong quan

hệ quốc tế Do vậy nhiều năm sau cuộc xung đột với Trung Quốc tại Triều Tiên, Mĩ tích cực giữ thái

độ không công nhận nước này Đến năm 1960 chính sách không công nhận Bắc Kinh và hỗ trợ trực

tiếp cho “Trung Quốc tự do” đã trở thành cứ điểm trong chính sách đối ngoại của Mĩ, đa phần dân Mĩ

ủng hộ chính sách này “chính phủ Trung ương (Mĩ) không quan tâm đến các cam kết quốc tế của Trung Quốc, nó là một quốc gia xâm lược, Liên Hiệp Quốc đã công nhận khi nước này tiến hành chiến tranh ở Triều Tiên, can thiệp gián tiếp vào Đông Dương bằng cách hỗ trợ vũ trang cho Việt Minh trong cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa cộng sản và thế giới tự do Có sự bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ có một ghế trong Liên Hiệp Quốc dưới sự ủng hộ của Liên Xô để tạo nên đồng minh” Mĩ còn cho rằng, Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch tuyên truyền không thân thiện khi lên án nước này là “con hổ giấy” với sức mạnh đế quốc hiếu chiến, sự thù địch giữa đế quốc Mĩ với Đại lục đã đến giới hạn Mĩ là kẻ thù của nhân dân thế giới

Để thể hiện là một quốc gia theo đuổi chính sách hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc từ khi thành lập nước, Trung Quốc thực hiện một loạt các biện pháp để giảm bớt căng thẳng trong quan hệ quốc tế như: thỏa thuận chấm dứt xung đột tại Triều Tiên; những đóng góp cho nỗ lực hòa bình tại Đông Dương thông quan hội nghị Giơnevơ 1954; tham gia hội nghị Á – Phi năm 1955, đề xuất 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình P

3

P Đây là sự thừa nhận của Bắc Kinh mong muốn sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế về vị thế, vai trò trên thế giới, trước hết là vào Liên Hiệp Quốc

Khái quát lại chính sách của Mĩ đối với Trung Quốc qua các đời tổng thống có sự thay đổi theo biến đổi trong quan hệ quốc tế Thời kì tổng thống Einsenhower (1952 - 1960) chính sách ngoại giao

3

- Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; - Không xâm lược lẫn nhau; - Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

- Bình đẳng và hai bên cùng có lợi; - Cùng tồn tại hòa bình

Trang 28

của Mĩ vẫn “dậm chân trên con đường đối đầu với Liên Xô” [6;69] để ngăn ngừa sự lan rộng của chủ

nghĩa cộng sản Giai đoạn đầu Mĩ từng bước thỏa thuận kết thúc chiến tranh Triều Tiên nhưng bắt đầu can thiệp vào Việt Nam Một điều lưu ý, Mĩ đã từng xem vấn đề Triều Tiên, vấn đề Việt Nam gắn chung với vấn đề Trung Quốc, theo đó: xem Đông Dương và Triều Tiên là hai bên sườn với lực lượng lớn nằm ở trung tâm là Trung Quốc Nếu như Trung Quốc can thiệp vào hai bên sườn thì không thể mong đợi một nền hòa bình nào sẽ được thiết lập ở cả Triều Tiên và Đông Dương khi lực lượng đó không gặp bất cứ trở ngại nào Dulles – bộ trưởng ngoại giao Mĩ đã nhấn mạnh: cần phải uy hiếp vùng trung tâm bằng cách nào đó có thể giữ và dìm lực lượng này xuống, Mĩ sẽ có cơ hội tốt hơn để giành thắng lợi ở hai bên sườn Như vậy thời kì này Mĩ tiếp tục đóng băng trong quan hệ với Trung Quốc Thời kì chính quyền Kennedy có những tuyên bố trở nên cứng rắn, đã không mang lại sự cải thiện nào

đáng kể cho quan hệ giữa hai nước “cộng sản Trung quốc dưới quyền lãnh đạo của Mao được xem là

mầm móng gây nguy hiểm hơn là Liên Xô” [57;136] Cả Kennedy và sau này là Johnson vẫn xem

Trung Quốc là “kẻ xúi giục hàng đầu trong việc gây hấn của cộng sản Việt Nam ở Đông Dương” [57;136] Trong bài phát biểu năm 1963 trước các giới chức Pháp, Kennedy chỉ rằng “Trung Quốc

chuẩn bị hy sinh hàng trăm triệu dân nếu cần để thực hiện chính sách quân sự hiếu chiến của mình”

[57;137] Điều này thể hiện một phần trong chính sách đối ngoại của ông trong buổi lễ nhậm chức ngày 20/01/1961 “hãy để cho mọi quốc gia biết, cho dù họ mong muốn chúng ta tốt hay đều xấu, mà chúng

ta phải trả giá bất cứ giá nào, chịu gánh nặng, đáp ứng bất kì khó khăn, hỗ trợ bất kì người bạn, phản đối mọi kẻ thù, để bảo đảm sự sống và thành công của tự do” [99] Mặc dù có những tuyên bố cứng

rắn đối với Trung Quốc Đại lục nhưng chính quyền Kennedy đã dần không còn chấp nhận tư tưởng duy nhất Đài Loan đại diện cho toàn bộ đất nước Trung Quốc, cai trị ở Đại lục không còn là tạm thời như thời Aixenhao hay ngoại trưởng Dulles đã từng nghĩ Tuy vậy, sự hỗ trợ tiếp tục cho chế độ Quốc Dân

Đảng vẫn còn trong việc đảm bảo lợi ích ở Viễn Đông, Trung Quốc đã đặt cho Kennedy bí danh “con

hổ có bộ mặt tươi cười” [57;138] để đánh giá về đường lối đối ngoại của vị tổng thống này đối với Bắc

Kinh

Đường lối đối ngoại thời chính quyền L.B.Johnson trên cở sở tiếp thu chính quyền tiền nhiệm Đây là thời kì Mĩ tham gia sâu rộng vào cuộc chiến tại Việt Nam Washington nhấn mạnh bất kì sự cải thiện trong quan hệ giữa nước này với Trung Quốc phụ thuộc vào sự thay đổi, nhiệt tâm từ phía Bắc Kinh, Johnson đã tái khẳng định cam kết với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc về điều này Cuộc chiến

ở Việt Nam đang leo thang, nhiều thành viên trong nội các Johnson cho rằng: Bắc Việt Nam không thể xâm nhập vào Nam và làm suy yếu Việt Nam Cộng hòa mà không có sự hỗ trợ của chính quyền Bắc Kinh Ngay cả tổng thống Johnson cũng tuyên bố, chúng ta phải đối mặt với một Trung Quốc đầy tham

Trang 29

vọng và hùng hổ, nhưng chúng ta có ý chí và sức mạnh để giúp bạn bè (đồng minh) của chúng ta ở Châu Á để chống lại tham vọng đó Cả Washington và Bắc Kinh luôn trong tình trạng căng thẳng nhưng đều nhận thức được không thể xảy ra một cuộc xung đột vũ trang trực tiếp giữa hai nước Bắc Kinh đưa ra quan điểm: chỉ can thiệp nếu cảm thấy bị đe dọa trực tiếp, cuộc chiến tranh (ở Việt Nam)

có thể là một cuộc chiến tranh giới hạn, nếu Mĩ không xâm lược miền Bắc Việt Nam và không tiến hành các hoạt động quân sự biên giới Trung Quốc Mao Trạch Đông đã khẳng định quan điểm này trong bài phỏng vấn tháng 2/1965 “Quân đội Trung Quốc sẽ không tiến hành một cuộc chiến bên ngoài

lãnh thổ của mình… chỉ chiến đấu trong trường hợp Mĩ tiến công….chiến đấu bên ngoài lãnh thổ nước mình (Trung Quốc) là một tội ác” [15;148]

Từ 1966, Mĩ có sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc từ “ngăn chặn và cô lập” sang “ngăn

chặn mà không cô lập” Tư tưởng không cô lập Trung Quốc vì nhận thức được rằng nước này đang dần

có một vị thế trên thế giới, tư tưởng ngăn chặn vì Trung Quốc vẫn là một đối thủ ở Châu Á, luôn luôn

hỗ trợ thế giới thứ 3 làm cách mạng ở nhiều nơi Trong suốt thập niên 60, có nhiều sự kiện diễn ra tác động đến quan hệ giữa hai nước Mĩ dần bế tắc trong chiến tranh Việt Nam; sự phân chia ý thức hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc…Khi Nixon nhậm chức tổng thống 1969 đã nhận ra việc tiến hành bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc có lợi cho việc giải quyết những khó khăn trong quan hệ quốc tế

mà nước này đang gặp phải Bắc Kinh cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc bình thường hóa quan hệ với Washington

Sau một thời gian đối đầu, Mĩ – Trung bước vào giai đoạn đàm phán

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ và Liên Xô trở thành hai cực đối nhau, mối quan hệ đồng minh trong thế chiến thứ hai nhanh chống tan vỡ, theo cách nói của một sử gia “đó là cuộc hôn nhân không có tuần trăng mặt” Một loạt các công cụ, biện pháp, thiết chế, chiến lược đã được huy động để phục vụ cho cuộc chiến lạnh, làm toàn bộ đời sống quốc tế bị bao phủ bởi không khí băng giá, đối đầu Tạo nên cục diện hai cực Ianta và quan hệ quốc tế bị chi phối mạnh mẽ bởi 2 cực này

Quan hệ với đồng minh hai cực cũng trở nên căng thẳng

Khi CHND Trung Hoa ra đời, quan hệ Mĩ – Trung bước vào thời kì đối đầu, từ năm 1949 đến cuối thập niên 60 trở nên căng thẳng trong quan hệ hai nước Trung Quốc đã lựa chọn chính sách ngoại giao nhất biên đảo theo Liên Xô chống Mĩ, trong khi đó Washington xem Bắc Kinh là lực lượng hậu thuẫn cho CNCS phủ lên toàn bộ khu vực Châu Á Mĩ đã thi hành một loạt các biện pháp để cô lập Trung Quốc: cấm vận kinh tế, không công nhận ngoại giao, phủ quyết vào Liên Hiệp Quốc Đỉnh cao

là cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953, thể hiện cho mâu thuẫn hai nước không thể đàm phán bằng con đường hoà bình, Mĩ – Trung trở thành lực lượng hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất giữa 2 miền Triều Tiên

Kết quả cuộc chiến tranh Triều Tiên không ngã ngũ dù hiệp định đình chiến đã được kí kết, vì thế với ý đồ tiếp tục ngăn chặn sự lan rộng của CNCS từ Trung Quốc, Mĩ đã can thiệp vào nước này qua trường hợp Đài Loan Ý nghĩ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước không tồn tại trong khoảng hai thập niên, khi luôn coi nhau là kẻ thù Trong các hội nghị quốc tế các nhà ngoại giao hai

nước đã tiến hành đàm phán cấp Đại sứ nhưng không đi đến kết quả tích cực nào vì đó là các cuộc “đối

thoại giữa những người điếc” Bởi Mĩ tiếp tục công nhận chính quyền Tưởng tại Đài Loan, bác bỏ việc

công nhận CHND Trung Hoa là đại diện duy nhất ở Liên Hiệp Quốc Bắc Kinh tuyên bố chỉ khi nào

Mĩ chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ thì sẽ tiến hành các cuộc thảo luận đi đến chấm dứt đối đầu giữa hai nước

Trãi qua các đời tổng thống từ năm 1949 đến cuối thập niên 60, chính sách đối ngoại mà Mĩ áp dụng đối với Bắc Kinh cơ bản không thay đổi, vẫn là chính sách ngăn chặn, cô lập rồi tiến tới tiêu diệt CNCS – một mục đích nằm trong chiến lược toàn cầu chung của Mĩ Khi Nixon lên nắm quyền tại Nhà Trắng; Mĩ đang bế tắc trong cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam, Đông Dương; Liên Xô – đối thủ chính của Mĩ ngày càng lớn mạnh; các đồng minh Tây Âu, Nhật Bản trở thành những thế lực cạnh tranh ảnh hưởng ngang với Washington….tất cả đã buộc Mĩ phải linh hoạt trong đường lối ngoại giao

để từng bước thoát khỏi khó khăn nhằm khẳng định vị trí cường quốc của mình Bên cạnh đó, Trung

Trang 31

Quốc cũng có sự nhận thức cần thay đổi trong đường lối đối ngoại nhằm khẳng định vị trí và vai trò trên trường quốc tế mà trước hết là trong khối XHCN

Những biến chuyển trong quan hệ quốc tế, trong nội bộ từng nước cuối thập niên 60 thế kỉ XX

đã đưa hai nước tiến hành tiếp xúc, thảo luận đi đến bắt tay hòa giãi

Trang 32

Chương 2 QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA TỪ 1972 ĐẾN KHI CNXH Ở

LIÊN XÔ TAN RÃ 2.1.Tình hình quốc tế giai đoạn 1972 – 1989

Trong giai đoạn này, có nhiều thay đổi lớn xảy ra trong lịch sử quan hệ ngoại giao thời hậu chiến thế giới Cuộc đối đầu Đông – Tây khung cơ bản của chính trị quốc tế đã được duy trì hơn ¼ thế

kỉ đã có những biến đổi ít nhất là vẻ bề ngoài, các nước hướng về việc xây dựng một trật tự quốc tế mới

đã và đang được hình thành Thay đổi diễn tiến không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà còn kinh tế Trong chính trị quốc tế rõ lên là sự phân cực, Mĩ – Xô hai cực chi phối cục diện quan hệ quốc tế đang dần bị xói mòn bởi các “lực lượng” mới nổi lên, nó được bắt đầu từ thập niên 70

Sau khi kết thúc Cách mạng văn hóa, Trung Quốc ra sức khắc phục hậu quả do cuộc cách mạng này gây ra đồng thời tăng cường hoạt động ngoại giao, trước hết cải thiện quan hệ với phương Tây, luôn vận động để được kết nạp vào Hội đồng Bảo An Trong quan hệ với Mĩ (từ năm 1969) sự đối đầu

đã giảm giữa hai nước bởi những động thái tích cực của hai phía, mặc dù Washington và Bắc Kinh chưa diễn ra các cấp cao nào để thỏa thuận, thiết lập quan hệ chính thức, điều mà hai nước nổ lực đến tận năm 1979 mới chính thức đạt được Dường như cả Mĩ và Trung Quốc chưa bao giờ thỏa mãn được những điều kiện mà các bên đưa ra trong đàm phán quan hệ, để đạt được mục tiêu chiến lược thì các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này chỉ tạm thời được gác lại và khi có cơ hội thì nó lại những nguyên nhân gây ra tình trạng nóng, lạnh giữa Washington và Bắc Kinh

Mối quan hệ Xô – Trung đóng băng sau các cuộc đụng độ vũ trang dọc biên giới hai nước, và phải trải qua một quá trình đàm phán vì những khác biệt trong quan điểm, đến thập niên 80 về cơ bản tình hình biên giới cũng như những bất đồng trong quan hệ hai nước đã được giải quyết, điều này không chỉ phù hợp với xu thế phát triển trong quan hệ quốc tế là hòa bình, ổn định mà còn vì lợi ích chiến lược của cả hai

Khối TBCN, sự gia tăng vị thế quốc tế của Nhật Bản trong thời gian này càng rõ nét, nước này trở thành một trong ba trung kinh tế - tài chính của thế giới tư bản khi đang trong giai đoạn phát triển thần kì, mặt dù sau đó chịu sự tác động bởi khủng hoảng năng lượng năm 1973 nền kinh tế nước này có những tác động nhất định nhưng điều này không ảnh hưởng đến việc Nhật Bản gia tăng vai trò, vị thế trên chính trường quốc tế Kinh tế Tây Âu bắt đầu từ thập niên 70 đang phát triển sánh ngang với Mĩ và Liên Xô Bên cạnh đó sự mở rộng của cộng đồng Châu Âu tạo nên sự ổn định, phát triển cao hơn cho khu vực này trên nhiều mặt, với nhiều nổ lực đã giảm bớt sự căng thẳng Đông – Tây, thông qua các giải pháp về vấn đề Berlin (Đức), các hội nghị an ninh Châu Âu hoạch định các kế hoạch giảm sự gia

Trang 33

tăng quân sự không cần thiết Đồng minh của Mĩ ngày càng có tiếng nói độc lập hơn trong nhiều vấn

đề quốc tế không phải chịu ảnh hưởng hay sức ép nào từ bên ngoài

Từ thập niên 1970 Châu Á cũng bị tác động theo những chuyển biến trong quan hệ quốc tế Sau chiến tranh Triều Tiên, hai miền Nam – Bắc phát triển theo hai hướng khác nhau nhưng trong tình trạng luôn căng thẳng, tuy vậy trong khoảng thời gian các nước lớn có những cuộc gặp nhau nhằm giảm bớt căng thẳng thì hai miền cũng theo xu thế này tiến hành các cuộc tiếp xúc, đối thoại chẳng hạn đàm phán tiềm kiếm dân mất tích, thất lạc trong chiến tranh Cuộc chiến tranh ở Việt Nam cuối những năm 60 trong quá trình đàm phán để tìm kiếm một giải pháp hòa bình nhưng những hoạt động quân sự của Mĩ và đồng minh đã làm cho tiến trình đàm phán bị đình lại, đến mãi năm 1975 hòa bình mới trở lại Đông Dương, cần phải nói thêm với việc Việt Nam thống nhất tổ quốc đã giáng một đòn mạnh vào chính sách toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc, góp phần ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì dân chủ, tự do và hòa bình cho các lực lượng tiến bộ Trong quá trình xây dựng CNXH Việt Nam, nước này gặp nhiều khó khăn phát sinh từ trong nước và tác động từ bên ngoài, đến giữa những năm 80 thì mới có những chuyển biến đáng kể nhờ công cuộc đổi mới phù hợp với sự biến đổi tình hình thế giới

Các nước ASEAN theo đuổi lập trường “trung hòa” và kêu gọi các quốc gia khác tôn trọng quan điểm này Điều này cho thấy các nước nhỏ đang muốn tìm kiếm và bảo đảm vị trí trong cuộc đồng quốc tế một cách tự chủ, độc lập, không bị lệ thuộc, ảnh hưởng bởi cực nào của thế giới Các khu vực khác trên thế giới: Trung Đông, Châu Phi, Trung và Nam Mĩ cũng có những biến đổi về kinh tế - chính trị - xã hội mặc dù một số vấn đề xung đột biên giới, chủng tộc luôn ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước, khu vực Nhìn chung, đây là một lực lượng quan trọng trong “thế giới thứ ba” đang vươn lên khẳng định tiếng nói độc lập trên các diễn đàn quốc tế

Điều quan trọng là mối quan hệ Mĩ – Xô với những biến đổi tiếp theo một cách đầy thăng trầm, mối quan hệ này biến đổi phù hợp trước hết là vì lợi ích bản thân hai nước Xu hướng hòa dịu trong quan hệ Đông – Tây bắt đầu xuất hiện từ giữa những năm 50, sau một thời gian chững lại đến giai đoạn này được khơi dậy Cả Mĩ và Liên Xô xuất hiện không ít khó khăn để duy trì thế cân bằng chiến lược, những khoản chi tiêu khổng lồ cho việc chạy đua vũ trang đã khiến hai nước mất dần ưu thế cạnh tranh

về kinh tế với các nước khác Do vậy, vấn đề đi đến thỏa thuận hạn chế vũ khí chiến lược là cách để hai nước chú tâm phát triển hơn các vấn đề khác, đàm phán, cắt giảm chạy đua vũ trang đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm trong quan hệ hai nước Các cuộc gặp cấp cao giữa lãnh đạo hai nước luôn nhận được sự quan tâm lớn của thế giới, sau nhiều lần gặp mặt hai nước đã đi đến kí kết nhiều

hiệp định quan trọng, như hội nghị cấp cao Xô – Mĩ tháng 5/1972 kí hiệp ước SALT “lần đầu tiên thế

cân bằng Xô – Mĩ được chính thức công khai thừa nhận” [22;23], góp phần đưa thế giới đến gần hơn

Trang 34

với “hòa bình” Nhưng sự phức tạp, thăng trầm trong quan hệ Mĩ – Xô khó đoán định được, bước sang cuối thập niên 70 đầu những năm 80 lại xuất hiện những căng thẳng trong quan hệ hai nước, vượt khỏi khả năng khống chế của cả hai siêu cường, Mĩ với cuộc khủng hoảng chính trị tại Iran (11/1979), khó khăn trong nước; Liên Xô đưa quân vào Apganixtan gây nên sự phản đối mạnh mẽ từ cộng đồng quốc

tế (12/1979); khủng hoảng vấn đề Campuchia… Quan hệ hai nước trở nên xấu đi khi R.Reagan vào Nhà Trắng thi hành chính sách ngoại ngoại cứng rắn với Moscow, cuộc chạy đua vũ trang mới bắt đầu khởi động Đến khi Goocbachop lên nắm quyền, Liên Xô đang lâm vào tình trạng khó khăn bởi chính sách cải tổ không thành công Mĩ cũng trở nên suy yếu nhiều so với đồng minh Tất cả đã đưa hai nước tiến hành cuộc gặp cấp cấp cao đầu tháng 12/1989 tại Malta với tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh –

mở ra một kỉ nguyên mới trong quan hệ quốc tế

Chiến tranh lạnh kết thúc đồng nghĩa với việc kết thúc cuộc đối đầu Đông – Tây, dẫn đến sự thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế và chính “sự tương tác giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế là nhân tố quyết định sự vận động thường xuyên của hệ thống quan hệ quốc tế”

Như vậy, tình hình quốc tế giai đoạn 1972 – 1989 có những biến chuyển quan trọng, điều này ảnh hưởng đến quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc

2.2 Bình thường hóa quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa

2.2 1 Vận động ngoại giao của Hoa Kì thời tổng thống Richard Nixon

Từ ngày 21/02/1972, Tổng thống Mĩ R.Nixon đã có mặt tại Trung Quốc, khởi đầu cho một hội nghị thượng đỉnh kéo dài một tuần lễ nhằm chấm dứt hơn hai thập kỉ lạnh nhạt trong quan hệ giữa hai nước Nixon là vị tổng thống Mĩ đầu tiên viếng thăm CHND Trung Hoa từ khi nước này tuyên bố thành lập năm 1949 Sau các cuộc hội đàm giữa Nixon với chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu

Ân Lai, sau đó một Thông cáo được thông qua ngày 27/2, đặt cơ sở cho việc thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Chu Ân Lai đã mô tả của hành trình của tổng thống Nixon đến Trung Quốc như

là một động thái tích cực đáp ứng được mong muốn của nhân dân hai nước Phía tổng thống Nixon cũng đáp lại “không có lí do gì để chúng ta coi là kẻ thù của nhau” và “chúng tôi không tìm cách chiếm lãnh thổ của người khác, chúng tôi không tìm cách thống trị và không tìm cách mở rộng đồng minh và thống trị thế giới”

Nhưng để đạt được sự bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mĩ đã trải qua một quá trình vận động ngoại giao từ nhiều phía, nhằm thăm dò phản ứng của Bắc Kinh

Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên hai bên thỉnh thoảng gặp nhau bàn về các vấn đề liên quan ở cấp Đại sứ tại Warsaw (Ba Lan) từ năm 1955 Khoảng thời gian 1955 – 1968 có 134 lần gặp nhau giữa Đại

Trang 35

sứ hai nước “đàm phán thời gian ngoại giao dài, số lần nhiều, tranh luận gay gắt hiếm thấy trong lịch sử quan hệ quốc tế cận đại” nhưng kết quả “chỉ là cuộc đối thoại giữa những người điếc”, hai bên chỉ đạt được một kết quả duy nhất là hồi hương một số phần tử quốc gia đã theo Tưởng Giới Thạch tháo chạy sang Đài Loan

Nixon là nhân vật khơi màu trong việc nhận ra sự cần thiết phải thay đổi thái độ ngoại giao với Trung Quốc cộng sản Trong chiến dịch tranh cử tổng thống, Nixon phát biểu trong một cuộc phỏng

vấn (9/1968) “Bất cứ chính sách nào của Mĩ đối với Châu Á vừa bắt đầu đều phải đối mặt với hiện

thực Trung Quốc Xét về lâu dài chúng ta quả thực không thể mãi mãi để Trung Quốc đứng ngoài đại gia đình quốc tế…….không cho phép một tỉ nhân dân có tài năng nhất sống trong trạng thái cô lập căm phẫn Nhưng khi theo đuổi mục đích lâu dài đó, nếu chúng ta không rút bài học lịch sử trong thời gian ngắn thì chúng ta sẽ phạm sai lầm có tai họa” [27;456] Ngay trong diễn văn nhậm chức ngày

20/01/1969, Nixon cũng phát tín hiệu ngầm cho phía Bắc Kinh “hãy để cho chúng tôi đi đến mục tiêu:

nơi nào hòa bình không biết làm cho nó được chào đón, nơi nào hòa bình dễ vỡ làm cho nó mạnh mẽ, nơi hòa bình là tạm thời làm cho nó vĩnh viễn….Hãy để cho tất cả các quốc gia biết rằng trong thời kì cầm quyền của chính phủ này quan hệ sẽ thông suốt Chúng tôi tìm kiếm một thế giới mở - mở cửa từ ý tưởng, mở cửa từ trao đổi hàng hóa và dân tộc, một thế giới dù dân tộc của họ nhiều hay ít, sẽ không sống trong tình trạng cô lập” [100] Phía chính quyền Bắc Kinh chưa có phản ứng tích cực về động

thái này trong bài diễn văn, mặc dù trước đó Bắc Kinh có đề nghị nối lại đàm phán cấp đại sứ bị tạm ngừng từ tháng 3/1968 và gợi ý cuộc họp sẽ diễn ra hạ tuần tháng 2/1969 Nhân Dân nhật báo số ra

ngày 27/01/1969 đã châm biến bài phát biểu của Tổng thống Nixon “Nixon ở ngõ cụt lại nói đến tương

lai, một người sắp xuống mồ lại tự an ủi bằng giấc mộng thiên đường, nó phản ánh sự đau khổ và tuyệt vọng của một giai cấp đang hấp hối” [42;311] Có thể thấy, thái độ của Trung Quốc lúc này vẫn coi Mĩ

là nước đang có ý đồ mở rộng chiến tranh xâm lược với mưu đồ thống trị thế giới, thiện chí của Nixon trong bài phát biểu đã phản lại chính ông Điều này không làm Washington bất ngờ vì sự căng thẳng trong quan hệ hai nước hơn hai thập kỉ qua không thể được khai thông chỉ từ một số lời tuyên bố đơn phương Trong một bức thư gửi cho cố vấn Kissinger, Nixon nêu: Chính quyền chúng ta đang xem xét đến khả năng đi đến thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, đương nhiên việc này không thể tiến hành công khai và yêu cầu cố vấn khi tiếp xúc với bạn đồng minh, đưa ý tưởng thiết lập quan hệ với Trung Quốc dưới góc độ một nhà phân tích Mục đích của Mĩ là thăm dò phản ứng của đồng minh, đối phương và phản ứng trong nước khi nước này chính thức công khai thừa nhận Trung Quốc cộng sản Nhiều nội dung đã được Kissinger đưa ra trong cuộc họp với các nhà nghiên cứu chính trị: thực trạng

Trang 36

quan hệ Mĩ – Trung trong vấn đề Đài Loan; mối tương quan trong quan hệ Mĩ và các nước lớn về đối sách với Trung Quốc; thách thức và cơ hội trong việc cải thiện quan hệ Trung – Mĩ [42; 313]

Ngay trong cuộc hội đàm với người đồng cấp là Tổng thống Pháp De Gaul nhân chiến công du tới Châu Âu, vấn đề Trung Quốc cũng được Nixon đề cập cùng với vấn đề Liên Xô, Việt Nam Tổng thống Pháp đã đề nghị, phương Tây nên cố gắng hiểu Trung Quốc qua các cuộc tiếp xúc, sau đó gây ảnh hưởng đến họ và không nên để người Trung Quốc trong một trạng thái tức giận, cách biệt với thế giới Nixon cũng bày tỏ thái độ muốn thiết lập vị trí có lợi với Trung Quốc trong khi tiến hành đối thoại

với Liên Xô “Bây giờ ngài thừa nhận Trung Quốc vẫn tốt hơn sau khi Trung Quốc lớn mạnh buộc phải

làm như vậy” [27;457] – theo ý kiến De Gaul Quan điểm phía Washington là vậy, nhưng từ khi Nixon

nhậm chức đến tháng 3/1969 quan hệ với Bắc Kinh chưa có chuyển biến, bởi Nhà Trắng vẫn coi Trung Quốc cộng sản là một đối thủ lớn, coi nước này là mục tiêu nằm trong chương trình chống tên lửa đạn

đạo Kế hoạch này được Nixon khơi lại vốn có từ thời tổng thống Johnson năm 1967 “đe dọa của

Trung Quốc đối với nhân dân chúng ta…không thể coi thường được… Bằng cách thông qua hệ thống này, có thể giảm xuống mức tồi thiểu những rủi ro của Mĩ trong trường hợp các cuộc tiến công hạt nhân của Trung Quốc trong những năm 1970…Tôi có thể tưởng tượng rằng Liên Xô sẽ như chúng ta không thích để cho nước của họ không được bảo vệ trước một đe dọa tiềm tàng của Trung cộng”

[1;361] Với tuyên bố này phía Trung Quốc đã lên án Mĩ đang muốn cấu kết với Liên Xô núp dưới danh nghĩa bảo vệ nhân dân thế giới, thực tế là đang nhằm vào nước này Do đó, mọi động thái tích cực

từ Washington trước đó trở về vị trí ban đầu, ý tưởng bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh của Washington đã có nhưng chưa gặp cơ hội thì không thể phát triển thành chính sách Đầu tháng 3/1969 xung đột biên giới Xô – Trung bùng phát, một cơ hội để Mĩ – Trung “hiểu nhau” theo ý đồ riêng của mỗi nước

Trong tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mĩ luôn là nước chủ động thông qua các tuyên bố, chính sách đến hành động để tạo sự tin tưởng từ đối phương Ngày 26/6/1969 Tổng thống

Mĩ quyết định thay đổi một số điều về kiểm soát thương mại với Bắc Kinh vì cho rằng “thương mại có

lẽ là sự khích lệ để thu hút Trung Quốc, vì thương mại của Trung Quốc với Moscow đã sụp đổ”

[50;117] – thể hiện trong cuộc trò chuyện với thứ trưởng bộ ngoại giao Marshall Green Điều này một

phần cho thấy “Washington đã quyết định lợi dụng cuộc xung đột Xô – Trung với thái độ kiên quyết

hơn” [50;116] nhằm tranh thủ hạ nhiệt trong quan hệ với Trung Quốc, dù rằng Mĩ đã tuyên bố không

cố gắng khai thác sự thù địch giữa Liên Xô và Trung Quốc “sự khác biệt tư tưởng giữa hai người

khổng lồ cộng sản không phải là vấn đề của nước Mĩ” [50;125] Tuy nhiên lại cho rằng “chúng ta (Mĩ) không thể quên đi những mối lo lắng sâu xa trong trường hợp leo thang của sự tranh chấp này (xung

Trang 37

đột Xô – Trung) trở thành một sự tan vỡ của nền an ninh và hòa bình thế giới” [50;125] Rõ ràng Mĩ

biết tận dụng những cơ hội hợp lí và đưa ra những biện luận cho việc sử dụng những cơ hội đó

Nhà Trắng không ngừng gửi các tín hiệu cho Bắc Kinh, ngày 25/7/1969 Nixon đã công bố học

thuyết mang tên ông (còn gọi là học thuyết Guam), trình bày chính sách ngoại giao “Châu Á mới” của

nước này Theo đó, cam kết tiếp tục thực hiện các hiệp ước đã kí kết với các nước đồng minh Châu Á,

sẽ cung cấp một “lá chắn” nếu một sức mạnh hạt nhân đe dọa đến tự do của một quốc gia đồng minh hoặc của một quốc gia có vai trò đến an ninh nước Mĩ; trong các trường hợp liên quan đến các thế lực xâm lược khác Mĩ sẽ cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế khi có yêu cầu theo hiệp ước đã cam kết, nhưng nhấn mạnh sẽ không đưa quân trực tiếp, các nước đồng minh phải tự gánh trách nhiệm phòng vệ của mình, tức theo quan điểm mới của Mĩ lúc này công việc của người Châu Á phải tự người Châu Á giải quyết Thực tế cho thấy, học thuyết này ra đời khi Mĩ đang sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam,

đang tìm cách thúc đầy một chiến thắng “hòa bình trong danh dự” Đối với Trung Quốc, qua học

thuyết này thì sự đe dọa của Mĩ đang giảm dần Tháng 7 cùng năm Nixon cho phép dùng hộ chiếu Mĩ

đi Trung Quốc Thông qua “con đường Pakistan” và “con đường Rumani” Mĩ tiếp tục thăm dò phản ứng từ Bắc Kinh bắt đầu khi Nixon đắc cử tổng thống Đầu tháng 8/ 1969, Tổng thống Mĩ có cuộc hội đàm bí mật với người đồng cấp Pakistan – Ziaunhad, bày tỏ quan điểm: Mĩ quyết không tham gia bất

cứ hoạt động nào nhằm cô lập Trung Quốc và nhờ Pakistan chuyển suy nghĩ trên cho lãnh đạo Bắc Kinh Cuộc tiếp xúc với Tổng thống Rumani – Ceausescu, Nixon cũng bày tỏ “Tôi muốn nhiệm kì của

tôi cải thiện quan hệ giữa Mĩ và Trung Quốc, có thể nhờ ông (Ceausescu) làm trung gian chuyển ý muốn của tôi đến người Trung Quốc được không” [27;460] Để cho người đồng cấp có cơ sở, sự tin

tưởng hơn nữa thái độ của Mĩ đối với Trung Quốc, Nixon nhấn mạnh “Mĩ phản đối hệ thống an ninh

Châu Á do Liên Xô đưa ra, xây dựng tập đoàn nhỏ chống Trung Quốc ở Châu Á là sai lầm Trung Quốc tài nguyên dồi dào, dân số đông đúc bị cô lập một cách sai lầm, sẽ biến thành một lực lượng mang tính bùng nổ, chính sách của Mĩ là xây dựng tốt đẹp với hai nước Trung –Xô” [27;460]

Với các quan điểm thẳng thắng trong các cuộc hội đàm dù là gián tiếp, Washington đã bắt đầu thành công trên con đường tìm kiếm sự hữu hảo với Bắc Kinh Nhưng để đạt được mục đích cuối cùng thì Mĩ còn nhiều việc phải làm Sự kiện Chu Ân Lai có cuộc tiếp xúc với Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin sau khi dự tang lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sự lo lắng cho chính quyền Nixon, dù

Xô – Trung đang trong tình trạng đối đầu gay gắt Điều gì sẽ xảy ra khi Moscow và Bắc Kinh đi đến giải quyết bất hòa Tại cuộc tiếp xúc giữa đại diện hai nước Xô – Trung ngày 11/9/1969 đi đến thỏa thuận kí kết một hiệp định tạm thời về việc duy trì hiện trạng biên giới ngăn chặn các cuộc xung đột vũ trang; tránh đụng độ vũ trang trong các khu vực đang tranh chấp, sau đó qua đàm phàn sẽ giải quyết

Trang 38

vấn đề Nhưng những thỏa thuận này không được bảo đảm bởi các văn bản chính thức, điều này kết hợp với các tin tức tình báo phía Mĩ về khả năng sớm đi đến giải quyết tranh chấp Xô – Trung sẽ không nhanh làm cho Mĩ không phải lo lắng nhiều, theo đó tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ không bị chững lại Đầu tháng 11/ 1969, Mĩ thay đổi cách tuần tra hải quân ở eo biển Đài Loan, không còn việc tuần dương hạm luôn trong tình trạng báo động để bảo vệ chính quyền Tưởng tư khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Marshall Green đã trình bày với Nhà Trắng một bản ghi nhớ sau

khi phát hiện rằng “Nixon đã bị cuốn hút vào việc cố gắng cải thiện mối quan hệ với Bắc Kinh là sự

tiến bộ rõ rệt nhất” “chúng tôi khuyến nghị rằng chúng ta sẽ cố gắng sử dụng cơ hội hiện tại bằng việc rút hai tàu tuần tra eo biển Đài Loan để cải thiện bầu không khí… chúng ta sau đó sẽ tiếp cận Bắc Kinh… về các cuộc đối thoại mới được trình bày trong bối cảnh của những biểu trưng quan trọng mà Bắc Kinh có thể nắm được về việc di chuyển tại eo biển Đài Loan” [50;134]

Trước cuộc hội đàm lần thứ 135 với Trung Quốc tại Warsaw ngày 20/1/1970 [50;138], Nixon đã chỉ thị cho đại sứ Mĩ tại Ba Lan tìm cách tiếp xúc với đại diện Trung Quốc tại đây với thông điệp sẵn sàng xét việc cử một đại diện đi Bắc Kinh để thảo luận trực tiếp với các quan chức Trung Quốc, hoặc ngược lại Với hàng loạt các động thái mang tính chủ động từ phía Mĩ, Bắc Kinh đã đáp lại thiện chí đó ngay trong cuộc gặp thứ 135, đến cuộc đàm phàn 136 vào tháng 2/1970, Trung Quốc dần tỏ thái độ

thiện chí hơn “nếu chính phủ Mĩ mong muốn gửi một đại diện cấp Bộ hoặc một phái viên đặc biệt của

tổng thống Mĩ tời Bắc Kinh để thăm dò những vấn đề nguyên tắc cơ bản giữa Trung Quốc và Mĩ, chính phủ Trung Quốc sẽ sẵng sàng đón tiếp” [50;138] Tác động của diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng dến

quan hệ Mĩ – Trung Thực tế cho thấy, trước khi Trung Quốc đưa ra quan điểm sẵn sàng tiếp xúc với

Mĩ, nước này vẫn còn trong tình trạng lưỡng lự, chưa dứt khoát Trong cuộc nói chuyện với đại sứ Pakistan, Chu Ân Lai bày tỏ thái độ chưa sẵn sàng hội đàm cấp cao với Mĩ, để phía Mĩ chủ động thì tốt hơn Những sự kiện diễn tiến đã đưa Trung Quốc “rất cần lập quan hệ với Hoa Kì”, đó là sự lo lắng cho việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật, nhưng mối lo ngại chủ yếu từ Liên Xô vì thời điểm hiện tại

có khoảng 40 sư đoàn Liên Xô đóng dọc theo biên giới chung giữa hai nước

Tiến trình bình thường hóa quan hệ Mĩ –Trung chính thức khởi động

Trong bài phỏng vấn tháng 10/1970, Nixon công khai bày tỏ: Nếu có một điều tôi muốn làm trước khi nhắm mắt thì đó là đi Trung Quốc Nếu tôi không làm được, tôi muốn con tôi sẽ làm Mao Trạch Đông trong bài phỏng vấn cũng trả lời tương tự, tổng thống Mĩ sẽ được hoan nghênh tại Trung Quốc, cho dù ông ta đến với tư cách là nhà du lịch hay tư cách tổng thống của một nước Điều này tạo nên thông điệp, cuộc chiến tranh giữa Mĩ và Trung Quốc bây giờ là điều rất xa xôi, ngoại trừ những trường hợp bất ngờ ngoài sự kiểm soát từ hai phía Hạ tuần tháng 10/1970, Nixon tiến hành hội đàm

Trang 39

với hai nước mà Mĩ nhờ làm trung gian hòa giải trước đó với Trung Quốc là Pakistan và Rumani đề nghị xúc tiến hơn nữa với chính quyền của Mao Trạch Đông Trên trường quốc tế, nỗ lực quan trọng và trước hết của CHND Trung Hoa là gia nhập Liên Hiệp Quốc, yêu cầu tổ chức này trục xuất đại diện Đài Loan, nhưng điều này lại luôn là nhân tố trở ngại bởi lá phiếu phủ quyết từ Washington Mặc dù đang ra sức vận động ngoại giao đàm phán quan hệ với Trung Quốc Đại lục nhưng chính quyền Nixon chưa bỏ ngõ vấn đề này Trong tuyên bố của phát ngôn viên Nhà Trắng ngày 24/10/1970 đã thể hiện lập trường: Mĩ phản đối việc tách Trung Hoa Dân Quốc khỏi Liên Hiệp Quốc để tiếp nhận chính quyền Bắc Kinh Với tuyên bố trên Washington đã thừa nhận việc tồn tại hai nước Trung Quốc, trước đó chỉ thừa nhận chính quyền Đài Loan của Tưởng Từ đầu năm 1970 tên gọi mà chính quyền Nixon sử dụng đối với Trung Quốc cũng thay đổi, từ Trung Cộng sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Thông qua kênh ngoại giao Pakistan, Trung Quốc bày tỏ sự thất vọng việc Mĩ ngăn cản nước này vào Liên Hiệp Quốc nhưng Chu Ân Lai vẫn thay mặt chính phủ Trung Quốc đồng ý các cuộc hội đàm với Mĩ ở bất cứ nơi đâu và bất kì lúc nào đặc biệt là vấn đề Đài Loan là một phần lãnh thổ Trung Quốc sẽ là nút khai thông bế tắc quan hệ hai nước, lời chuyển này được gửi đến Nhà Trắng vào ngày 9/12/1970 Cả Washington và Bắc Kinh đều dùng những ngôn từ ngoại giao “ưu ái hơn, phong thái và cách hành văn

tỉ mĩ hơn” tránh những tuyên bố với giọng điệu thẳng thừng Mĩ vẫn đang tiến hành chiến tranh tại Đông Dương, những động thái quân sự của Mĩ phần nào gây chậm tiến độ bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Sự kiện 30/4/1970 Mĩ đưa quân vào Campuchia, Trung Quốc phản ứng bằng cách hủy

bỏ các cuộc hội đàm tại Warsaw, mặc dù chính quyền Nixon đảm bảo về phía Bắc Kinh việc có mặt

quân Mĩ ở đây không ảnh hưởng đến quan hệ hai nước “Mĩ không có ý định gây hấn ở Đông Dương” [50;144] Nhưng tuyên bố này không làm giảm những tuyên ngôn lên án mạnh mẽ từ Bắc Kinh “mọi

quốc gia trên thế giới nên đoàn kết và đánh bại quân xâm lược Mĩ và đồng minh của chúng” so sánh đế

quốc Mĩ như một con hổ giấy đang trong cơn giãy chết Và khi cuộc chiến tranh mở rộng sang Lào

năm 1971, Trung Quốc lại tiếp tục tố cáo Mĩ “Bằng việc mở rộng ngọn lửa chiến tranh đến cửa ngõ

Trung Quốc, Chủ nghĩa đế quốc Mĩ đi vào một tiến trình gây đe dọa nghiêm trọng cho Trung Quốc….Nixon thực vậy, đã hoàn toàn phơi bày bản chất hung bạo và đã đạt đỉnh cao của sự ngạo mạn” [101] Trước những phản ứng mạnh mẽ từ Bắc Kinh vì những hoạt động quân sự gần biên giới

Trung Quốc đã khiến Washington đi đến nghi ngờ rằng “Bắc Kinh một mặt mong muốn một cuộc đối

thoại, mặt khác đang quyết tâm cổ vũ các lực lượng cách mạng tấn công Hoa Kì” [50;145] Mĩ đã có

hành động phản ứng từ các tuyên ngôn đó, ra lệnh cho Hạm đội 7 trở lại eo biển Đài Loan, để phía

Trung Quốc hiểu rằng Mĩ “không chơi trò của trẻ ngây thơ” Có một điều đáng lưu ý, mặc dù tuyên bố

mạnh mẽ như thế nhưng Mĩ không hành động, vì hiểu điều đó sẽ xóa đi mọi nỗ lực mà Washington

Trang 40

đang cố gắng lấy lại thiện chí từ Bắc Kinh trong khoảng thời gian đã qua Giới lãnh đạo Nhà Trắng

nhận ra “Trung Hoa quan tâm đến nhiều vấn đề khác hơn là chiến tranh Việt Nam, họ có thể phản đối

công khai nhưng các cuộc thảo luận thì vẫn cứ tiếp tục” [1;365,366]

Thực tế, trước khi tiếp xúc công khai với giới lãnh đạo Nhà Trắng, Bắc Kinh luôn tạo ra những dấu hiệu ngầm đồng ý các gợi ý từ Mĩ, như sự có mặt của nhà báo Mĩ – Edgar Snow trong lễ kỉ niệm

20 năm quốc khánh CHND Trung Hoa, với những lời nói mà Snow chưa bao giờ nghe Mao chủ tịch nói về nước Mĩ trong cuộc tiếp xúc này: Trung Quốc có thể chia sẽ trách nhiệm tài chính với Mĩ và trong sự nghiệp cách mạng của mình Trung Quốc có thể tiếp thu những kinh nghiệm của Mĩ để bổ sung những sai lầm do chủ nghĩa bảo thủ gây ra Trung Quốc cũng không quên so sánh, bày tỏ thái độ khi nói về mối quan hệ với Liên Xô Dấu hiệu này cho Washington khẳng định đó là thời điểm thích hợp

để tiến hành các mục tiêu đặt ra

Ngày 25/2/1971, Tổng thống Nixon trình bày báo cáo tình hình đối ngoại hàng năm với Quốc hội, trong phần đề cập đến Trung Quốc, ông nhắc lại quan điểm muốn cải thiện quan hệ với nước này: năm tới, tôi sẽ nghiên cứ kĩ những biện pháp có thể áp dụng thêm nữa để tạo cơ hội lớn cho việc tiếp xúc giữa nhân dân hai nước Dù chưa hoàn toàn tin tưởng một số vấn đề Mĩ tuyên bố khi nước này mở rộng cuộc chiến tại Đông Dương nhưng vì mục tiêu riêng mà mỗi nước cần đạt được, trong cuộc tiếp xúc với một số quan chức ngoại giao phương Tây bàn về vấn đề Đông Dương và quan hệ Trung – Mĩ,

Chu Ân Lai đi đến nhấn mạnh quyết định: hai nước có thể tiến hành đối ngoại từ giới lãnh đạo để mở

ra một cuộc diện mới cho quan hệ hai quốc gia Kênh ngoại giao Pakistan tiếp tục được sử dụng trở thành cầu nối thông tin từ hai phía, tháng 4/1971 Kisinger nhận được thông điệp từ Chu Ân Lai qua đại

sứ Pakistan: chính phủ Trung Quốc xác nhận lại sự sẵn sàng để đón tiếp một cách công khai một phái viên đặc biệt của tổng thống Mĩ hoặc bộ trưởng ngoại giao hoặc tổng thống Mĩ tại Bắc Kinh và thảo luận trực tiếp những vấn đề gây chia rẽ trong quan hệ hai nước, khoảng thời gian thích hợp để gặp Nixon đã được Mao gợi ý trong cuộc tiếp xúc với nhà báo Mĩ Snow là năm 1972 – thời điểm cuộc bầu cửa tổng thống Mĩ diễn ra Trên tinh thần chung đã tuyên bố, nhưng để bảo đảm cuộc gặp diễn ra vào tháng 2/1972 giữa chính phủ hai nước đạt được kết quả cao nhất, cả Mĩ và Trung Quốc cần thêm một

khoảng thời gian tiến hành công tác tiền trạm, như lời tổng thống Pakistan phát biểu “hai nước Trung –

Mĩ tích oán quá sâu, thù cũ không dễ trở thành bạn mới Sự việc sẽ tiến hành rất chậm, vả lại Ngài (Nixon) phải có sự chuẩn bị tinh thần khi bị ngăn cản” [27;466]

Động thái cải thiện quan hệ ngoại giao với Mĩ được giao lại cho Trung Quốc Ngày 17/3/1971 khi giải bóng bàn lần thứ 32 tổ chức tại Nhật Bản, Bắc Kinh sau khi cân nhắc đã chủ động mời các vận động viên Mĩ sang thi đấu biễu diễn tại nước này Điều này gây nên sự ngạc nhiên cho Washington

Ngày đăng: 17/01/2020, 18:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.Amtơ, 1985, Lời phán quyết về Việt Nam , NXBCAND , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời phán quyết về Việt Nam
Nhà XB: NXBCAND
2. Phi Bằng, 2001, Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mĩ – Trung Quốc, NXB Trẻ, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mĩ – Trung Quốc
Nhà XB: NXB Trẻ
3. Mai Văn Bộ, 1985, Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật , NXBTPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật
Nhà XB: NXBTPHCM
4. U. Bơcset, 1986, Ta m giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, NXBTT Lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam
Nhà XB: NXBTT Lý luận
58. 6T http://afe.easia.columbia.edu/special/china_1950_taiwan.htm 6T , Taiwan and U.S.- China Relations Link
59. 6T http://www.arts.auckland.ac.nz/FileGet.cfm?ID=9a619a76-5008-494e-a510-9b015591ec00 6T , The Taiwan issue in US – China relations Link
61. 6T http://www.atimes.com/china/DD24Ad02.html 6T , Henry CK Liu, US - China: The politics of ambiguity Link
62. 6T https://beardocs.baylor.edu/bitstream/2104/8053/1/Y_Shi_master.pdf 6T , Yan Shi, M. A. Mentor: Douglas Ferdon, Ph D, Sino-Soviet Border Clashes of 1969 and its Implications on the Making of U.S.Foreign Policy Link
64. 6T http://www.china.org.cn/english/china-us/26243.htm&rurl 6T Link
65. 6T http://countrystudies.us/china/128.htm 6T , Sino-Soviet Relations Link
67. 6T http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/muoi-cau-chuyen-ngoai-giao 6T , Tiền Kì Tham, Mười câu chuyện ngoại giao Link
68. 6T http://www.findingdulcinea.com/news/on-this-day/Feb/On-this-Day--Nixon-Leaves-on-Diplomatic-Trip-to-China.html6T, On This Day: Nixon Leaves for China Link
69. 6T http://www.foreignpolicyjournal.com/2010/05/17/sino-soviet-us-relations-and-the-1969-nuclear-threat/all/16T, Dr. K R Bolton, Sino-Soviet-US Relations and the 1969 Nuclear Threat Link
70. 6T http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3713/3715/t19064.htm 6T , The Taiwan Question in China-U.S. Relations Link
80. 6T http://library.by/portalus/modules/english_russia/referat_readme.php? subaction=showfull&id=1190295132&archive=&start_from=&ucat=20& 6T , Cold war origins Link
83. 6T http://www.nara.gov/exhall/featured-document/marshall/marshall.html 6T , Why Did China Normalize Relations With The United States in 1972 Link
84. 6T http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/21/newsid_2728000/2728761.stm 6T , 1972: Nixon makes historic visit to China Link
86. 6T http://revolution.allbest.ru/history/00003291_0.html 6T , Graduation Paper on theme: US - Soviet relations Link
89. 6T http://www.taiwandocuments.org/communique01.htm 6T , Shanghai Communiqué 28 February 1972 Link
95. 6T http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0406_iii.html 6T . Những sự kiện quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Hoa Kì (1900-2001) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w